1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá rủi ro sức khỏe của việc chơi bóng tại sân cỏ nhân tạo đến sức khỏe của cầu thủ

104 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều khu dân cư đô thị tự phát hình thành ở nhiều phường, xã trước đây là nông thôn vùng ven như các phường: Phú Mỹ quận 7, phường Trung Xã hội phát triển con người ngày càng quan tâm n

Trang 1

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA

SỨC KHỎE CỦA CẦU THỦ

Lĩnh vực nghiên cứu: Công nghệ Sinh – Y sinh Chuyên ngành đăng ký dự thi: Y tế công cộng

Mã công trình:………

(phần này do BTC giải thưởng ghi)

Trang 2

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

TÓM TẮT 1

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 4

PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

1.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CỎ NHÂN TẠO 6

1.1.1 Định nghĩa 6

1.1.2 Nguồn góc hình thành và phát triển 6

1.1.3 Các đặc tính của cỏ nhân tạo 12

1.1.4 Các lợi thế của cỏ nhân tạo 15

1.1.5 Các lĩnh vực sử dụng cỏ nhân tạo 16

1.2 THÀNH PHẦN CỎ NHÂN TẠO 19

1.2.1 Các chất có trong cỏ 19

1.2.2 Các chất có trong lớp vật liệu đệm 20

1.2.3 So sánh và tìm ra chất nguy hại lý thuyết 21

1.3 MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO 29

1.3.1 Khái quát về đánh giá rủi ro 29

1.3.2 Lập mô hình đánh giá rủi ro 32

1.3.3 Tác dụng của đánh giá rủi ro đem lại 36

1.4 NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 37

Trang 3

1.4.4 Mục đích của hướng đi 39

PHẦN 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 VẬT LIỆU VÀ THIẾT BỊ 40

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.2.1 Sơ Đồ Nghiên Cứu 42

2.2.2 Phương Pháp Nghiên Cứu Cụ Thể 44

2.2.3 Phạm Vi Lấy Mẫu 48

2.3 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ RỦI RO 50

PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53

3.1 KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG SÂN CỎ NHÂN TẠO TPHCM 53

3.2 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TẠI MỘT SỐ SÂN CỎ NHÂN TẠO 61

3.3 ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE ĐẾN CẦU THỦ KHI SỬ DỤNG SÂN CỎ NHÂN TẠO 63

3.3.1 Rủi ro đến sức khỏe của Benzene 67

3.3.2 Rủi ro đến sức khỏe của Formaldehyt 69

3.3.3 Rủi ro đến sức khỏe của Toluen: 72

3.4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ, GIẢM THIỂU RỦI RO 75

PHẦN 4: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC A

Trang 4

AQI (Air quality index): Chỉ số chất lượng không khí

AT (Averaging time): Thời gian phơi nhiễm trung bình (cả cuộc đời)

BTEX (Benzene, Toluene, Ethylbenzene, and Xylene): Tên gọi tắt chung của các chất

dễ bay hơi

BW (Body Weight): Trọng lượng cơ thể

C av (Concentration at exposure point): Nồng độ hóa chất trong không khí

CDI (Chronic daily intake): Liều lượng chất độc đi vào cơ thể hằng ngày

ĐTH: Đô thị hóa

ED (Exposure duration): Thời gian phơi nhiễm

EF (Frequency Exposure): Tần số phơi nhiễm

FIFA (Fédération Internationale de Football Association): Hiệp hội Bóng đá Quốc tế FIH (field hockey): Khúc côn cầu trên cỏ

GC/FID Phương pháp sắc ký khí đầu dò ion hóa ngọn lửa

GC/MS (Gas chromatography mass spectrometry): Sắc ký khí ghép khối phổ hai lần liên

tiếp

INH av: Lượng chất hít vào

KHP: Không phát hiện

KHTDTT: Khoa học thể dục thể thao

NFL (National Football Leauge):Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia

NIOSH 1501(National Institute of Safety and Health): Phương pháp xác định tuloen,

benzene theo quy chuẩn

OEHHA (The Office of Environmentel Health Hazard Assessment): Văn phòng đánh

giá rủi ro về sức khỏe môi trường

PAH (Polycyclic Aromatic Hydrocarbon): Hydrocacbon thơm đa vòng

Trang 5

Sân 3G: Sân cỏ nhân tạo đạt tiêu chuẩn

SF (Slope Facter): Hệ số dốc

TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh

VOCs (Volatile organic compound): Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi

Trang 6

Bảng 2.2: Các phương pháp phâp tích khí theo tt 24/2017/TT-BTNMT 45

Bảng 2.3: Phân loại mức độ rủi ro 52

Bảng 3.1: Kết quả khảo sát chất lượng môi trường không khí 62

Bảng 3.2: Kết quả phân tích benzen trong 2 giờ sân nhà thiếu nhi Thủ Đức 67

Bảng 3.3: Kết quả phân tích benzen trong 3 giờ sân nhà thiếu nhi Thủ Đức 67

Bảng 3.4: Kết quả phân tích benzen trong 5 giờ sân nhà thiếu nhi Thủ Đức 68

Bảng 3.5: Kết quả phân tích benzen trong 2 giờ sân đại học Sưu Phạm Kỹ Thuật 68

Bảng 3.6: Kết quả phân tích benzen trong 3 giờ sân đại học Sưu Phạm Kỹ Thuật 69

Bảng 3.7: Kết quả phân tích benzen trong 5 giờ sân đại học Sưu Phạm Kỹ Thuật 69

Bảng 3.8: Kết quả phân tích formaldehyt trong 2 giờ sân nhà thiếu nhi Thủ Đức 70

Bảng 3.9: Kết quả phân tích formaldehyt trong 3 giờ sân nhà thiếu nhi Thủ Đức 70

Bảng 3.10: Kết quả phân tích formaldehyt trong 5 giờ sân nhà thiếu nhi Thủ Đức 71

Bảng 3.11: Kết quả phân tích formaldehyt trong 2 giờ sân đại học Sưu Phạm Kỹ Thuật 71

Bảng 3.12: Kết quả phân tích formaldehyt trong 3 giờ sân đại học Sưu Phạm Kỹ Thuật 72

Bảng 3.13: Kết quả phân tích formaldehyt trong 5 giờ sân đại học Sưu Phạm Kỹ Thuật ………72

Bảng 3.14: Tổng hợp kết quả rủi ro của benzene……… 73

Bảng 3.15: Tổng hợp kết quả rủi ro của formaldehyt 74

Trang 7

Hình 1.3: Chất hó học trong vật liệu đệm 12

Hình 1.4: Cấu tạo sân cỏ nhân tạo 12

Hình 1.5: Nguồn nguyên liệu tự nhiên 13

Hình 1.6: Nguồn nguyên liệu tái chế 14

Hình 1.7: Sân tennis từ cỏ nhân tạo 17

Hình 1.8: Sân golf từ cỏ nhân tạo 17

Hình 1.9: Cỏ nhân tạo trong trang trí cảnh quan 18

Hình 1.10: Sân bóng đá từ cỏ nhân tạo 19

Hình 1.11: Sân cỏ nhân tạo ảnh hưởng đến sức khỏe 27

Hình 1.12: Mô hình đánh giá rủi ro sơ bộ 33

Hình 1.13: Mô hình đánh giá rủi ro 35

Hình 2.1: Sơ đồ lấy mẫu và phân tích 43

Hình 2.2: Sơ đồ về quy trình lấy mẫu 44

Hình 2.3: Máy GC/MS trong phân tích chỉ tiêu NIOSH Methol 1501 47

Hình 2.4: Cấu tạo máy GC/MS 47

Hình 2.5: Sân cỏ nhà thiếu nhi Thủ Đức 48

Hình 2.6: Sân cỏ trường đại học sư phạm kỹ thuật Thủ Đức 49

Hình 3.1: Khảo sát thời điểm bắt đầu chơi bóng 54

Hình 3.2: Khảo sát thời gian tham gia chơi bóng 55

Hình 3.3: Khảo sát số lần chơi bóng trong tuần 56

Hình 3.4: Khảo sát hoảng thời gian chơi bóng 57

Hình 3.5: Khảo sát số người biết về sân cỏ nhân tạo gây hại 58

Hình 3.6: Khảo sát các chấn thương khi chơi bóng 59

Hình 3.7: Khảo sát các triệu chứng bệnh 60

Hình 3.8: Khảo sát về việc thay đối chất lượng sân cỏ 61

Trang 8

TÓM TẮT

Đời sống xã hội ngày càng phát triển nên việc bảo vệ sức khỏe của con người cũng rất cần phải quan tâm Hiện nay đang tồn tại nghi vấn sân cỏ nhân tạo gây ung thư cho cầu thủ Chính vì thế, việc đánh giá rủi ro sức khỏe của việc chơi bóng tại sân cỏ nhân tạo đến sức khỏe của cầu thủ là hết sức cần thiết Nghiên cứu tập trung vào 3 mục tiêu: (1) xác định các chất gây ảnh hưởng, (2) xác định nồng độ các chất ô nhiễm, và (3) đánh giá khả năng gây ảnh đến người tham gia chơi bóng Xác định được ba chất có nguy cơ cao nhất là benzene, toluene, formaldehyt Kết quả phân tích nồng độ của benzene từ 0,034 – 0,04mg/kg ở các mẫu lấy vào buổi trưa, formaldehyt 0,09 – 0,6 mg/kg vượt quy chuẩn cho phép ở tất cả các thời điểm lấy mẫu Mức độ rủi ro trong 10 – 20 năm phơi nhiễm, thời gian chơi bóng từ 3 – 5 giờ đối với benzen là ở mức rủi ro an toàn và rủi ro thấp mức từ 4,3.10-7 – 2,1.10-5 mg/kg, đối với formaldehyt là ở mức rủi ro cao từ 1.10-4 – 5.10-4 mg/kg

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Có thể nói TP.HCM là nơi đảm bảo những điều kiện cần thiết cho sự phát triển con người toàn diện (về giáo dục, y tế, khả năng phát triển các mối quan hệ xã hội, tìm kiếm việc làm…) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, quá trình (đô thị hóa) ĐTH đang diễn ra nhanh chóng ở nhiều quận, huyện mới của TP.HCM như các quận 2, 7, 9, 12, Bình Tân, Tân Phú, Thủ Đức với nhiều khu đô thị mới như Phú Mỹ Hưng, Thủ Thiêm, Nam Sài Gòn, Hiệp Phước Nhiều khu dân cư đô thị tự phát hình thành ở nhiều phường,

xã trước đây là nông thôn vùng ven như các phường: Phú Mỹ (quận 7), phường Trung

Xã hội phát triển con người ngày càng quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe từ đó các dịch vụ như sân golf, sân tennis, sân bóng đá và nhiều dich vụ khác ra đời, thay vì các sân vận động như truyền thống thì các mặt sân có nguồn gốc từ các sản phẩm công nghệ ra đời đặc biệt là các sân cỏ nhân tạo đang phát triển rất mạnh mẽ

Hiện nay từ sân cỏ nhân tạo không còn xa lạ gì với người dân đặc biệt là người đam mê bóng đá, các giải bóng đó đa phần đều tồ chức trên các sân cỏ nhân tạo thay cho sân cỏ tự nhiên và các giải bóng đá “phủi” thì 100% diễn ra trên sân cỏ nhân tạo, không chỉ phục vụ các giải bóng đá mà còn phục vụ người đam mê bóng đá từ chuyên nghiệp đến nghiệp dư

Trang 10

Các sân cỏ nhân tạo có thể nói là đang phát triển nhanh chóng mặt, không quá khi nói điều đó vì nhìn lại quá khứ thì sân cỏ nhân tạo du nhập vào Việt Nam từ 2010 do một trường đại học xây dựng để phục vụ sinh viên thì đến năm 2013 số lượng sân cỏ nhân tạo tăng lên khoảng 1000 sân và đến nay thì luôn tăng theo cấp số nhân Có thể thấy nhu cầu con người ngày càng tăng thì cung ứng dịch vụ cũng tăng lên đáng kể Vậy

có bao giời bạn đặt ra cho mình câu hỏi liệu tốc độ tăng nhanh như vậy thì chất lượng sân cỏ nhân tạo sẽ như thế nào, liệu vấn đề sân cỏ nhân tạo có thật sự gây ung thư hay không và liệu bạn có đang vướng vào vấn đề rèn luyện sức khỏe để rồi gây hại cho sức

khỏe hay chưa Để trả lời cho câu hỏi đó thì đề tài: “Đánh giá rủi ro sức khỏe của việc chơi bóng tại sân cỏ nhân tạo đến sức khỏe của cầu thủ” ra đời, nhắm đánh giá giả

thuyết: “Có hay không việc sân cỏ nhân tạo gây ung thư cho cầu thủ?” để đưa ra các biện pháp tích cực nhất về vấn đề này

Trong quá trình thực hiện đề tài người thực hiện luôn trăn trở bởi câu nói "Thật

đau lòng khi biết rằng, môn thể thao mà nó yêu thích đã giết chết nó.", Bà June Leahy

đến từ Seattle, Washington, Mỹ chia sẻ trên tờ Daily Star Trước đó, con gái của bà Leahy- cô Austen Everett đã chết ở tuổi 25 vì bệnh ung thư hạch non Hodgkin sau thời gian chơi bóng trên mặt sân cỏ nhân tạo Còn bạn nghĩ như thế nào nếu những người thân yêu của bạn hay chính bản thân bạn đang đứng trước con đường tương tự vì dựa trên thực tế thì cô Austen Everett mất sau khoảng 10 năm chơi bóng trên sân cỏ nhân tạo (nói thêm: đây là một cầu thủ bán chuyên), thật sự rất cần thiết và cấp bách vì không thể

để chính giấc mơ, niềm đam mê của bạn giết chính bạn

Đề tài thực hiện với mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng, góp phần bảo vệ sức khỏe, tạo không gian sống trong sạch, lành mạnh, hướng tới mục tiêu phát triển bềnh vững Góp thêm tư liệu, kiến thức thực tế cho vấn đề và tạo hướng đi mới cho những nghiên cứu sau

Trang 11

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá được nồng độ các chất ô nhiễm tồn tại trong sân cỏ nhân tạo do quá trình bay hơi hoặc phân hủy các vật liệu làm cỏ

Đánh giá rủi ro sức khỏe của sân cỏ nhân tạo đến sức khỏe cầu thủ khi tham gia chơi bóng

Đề xuất các giải pháp quản lý và giảm thiểu rủi ro cho các cầu thủ khi tham gia chơi bóng tại các sân cỏ nhân tạo

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu dựa trên các đối tượng sau:

Cỏ nhân tạo, các vật liệu đệm được trải thêm trên sân cỏ nhân tạo (các vụn cao su được làm từ lóp xe cũ cắt nhỏ giúp tăng độ đàn hồi cho bóng), các cầu thủ tham gia chơi

bóng trên sân cỏ nhân tạo

Các mẫu cỏ được chia ra hai nguồn:

- Các mẫu cỏ mới chưa qua sử dụng

- Các mẫu cỏ được lấy từ sân vận động (cỏ đã qua sử dụng)

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Như tên gọi của đề tài được giao nhiệm vụ là “Đánh giá rủi ro sức khỏe của việc chơi bóng tại sân cỏ nhân tạo đến sức khỏe của cầu thủ” nên phạm vi của đề tài được

giới hạn ở việc đánh giá rủi ro sức khỏe khi chơi bóng trên sân cỏ nhân tạo

Do thời gian cũng như kinh phí thực hiện ít nên đề tài chỉ nhầm vào việc phân tích mẫu để thực hiện đánh giá rủi ro còn vấn đề kiểm tra sức khỏe cầu thủ chỉ dựa trên

ý kiến của người khảo sát

Thời gian thực hiện đề tài:

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

5.1 Ý nghĩa khoa học

Việc thực hiện đề tài “ Đánh giá rủi ro sức khỏe của việc chơi bóng tại sân cỏ nhân tạo đến sức khỏe của cầu thủ “ góp thêm tư liệu, cở sở khoa học tiền đề để tạo ra

Trang 12

các hướng đi mới trong tương lai Tạo thêm sự quan tâm từ phía cộng đồng về vấn đề này Kết quả nghiên cứu có thể sẽ là nền tảng, cung cấp các cơ sở dữ liệu cũng như là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nhằm đánh giá về khả năng gây tác động của sân cỏ nhân tạo tới sức khỏe cầu thủ một cách chính xác hơn Đưa ra lời giải thích cho các thắc mắc còn tồn tại lâu nay, các kết quả của đề tài đều nhằm mục đính phục vụ cộng đồng là nâng cao sức khỏe

và tránh những tác động tiêu cực Tạo ra các hướng đi và các cải cách mới cho cuộc sống góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững

Trang 13

PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CỎ NHÂN TẠO

1.1.1 Định nghĩa

Hình 1.1: Sân cỏ nhân tạo

Cỏ nhân tạo (tiếng Anh: artificial grass hoặc artificial turf) là một sản phẩm được làm từ vật liệu nhựa tổng hợp, mô phỏng theo hình dáng và cấu trúc của cỏ tự nhiên Chúng được sử dụng trong các sân chơi thể thao, sau này nó dần được phổ biến và được

sử dụng trong trang trí sân vườn và các ứng dụng công nghiệp khác Lý do chính của việc dùng cỏ nhân tạo là do nó có thể được sử dụng liên tục mà ít phải chăm sóc hay bón tỉa như cỏ tự nhiên Các sân vận động có mái che hoàn toàn có thể dùng cỏ nhân tạo, không cần ánh sáng giống như cỏ thật vì cần ánh nắng mặt trời để quang hợp

Một số nhược điểm của cỏ nhân tạo như: không được sử dụng xăng dầu, hóa chất độc hại, chất cháy, giá thành đầu tư ban đầu lớn hơn nhưng thực tế giá trị kinh tế lại tốt hơn so với cỏ thật

1.1.2 Nguồn góc hình thành và phát triển

Thảm cỏ nhân tạo (còn được gọi là cỏ nhân tạo, cỏ tổng hợp hoặc cỏ nhân tạo) là một bề mặt được làm từ sợi nhân tạo thay cho cỏ tự nhiên Nó thường được sử dụng

Trang 14

trong các không gian chơi trên cỏ hoặc thể thao Tuy nhiên, hiện nay nó đang được sử dụng rộng rãi về tính ứng dụng thương mại Lý do chính là bảo dưỡng sân cỏ nhân tạo chống lại việc sử dụng nặng, chẳng hạn như trong thể thao, và không cần tưới hoặc trang trí Các sân vận động có mái che, được che phủ và che phủ một phần có thể yêu cầu cỏ nhân tạo vì khó khăn để có được ánh sáng mặt trời đủ để cỏ tự nhiên khỏe mạnh

Sân cỏ nhân tạo lần đầu tiên được chú ý nhiều trong những năm 1960, khi nó được sử dụng trong Astrodome mới được xây dựng Sản phẩm cụ thể được sử dụng được gọi là AstroTurf và thuật ngữ này từ đó thường được sử dụng thông tục để diễn tả bất kỳ sân cỏ nhân tạo nào

Sân cỏ nhân tạo đã có mặt trong vài thập kỷ qua Có thể lập luận rằng cỏ nhân tạo ban đầu được phát triển để giải quyết những hạn chế của cỏ tự nhiên Tuy nhiên, phiên bản sớm nhất đã không được thiết kế cho bóng đá và thay đổi các trò chơi đáng kể Do

đó, bóng đá không bao giờ triệt để chấp nhận ý tưởng của trận đấu cấp cao phù hợp trên

bề mặt nhân tạo

Sân cỏ nhân tạo có sự đột phá xảy ra khi các nhà sản xuất bắt đầu phát triển các

bề mặt được thiết kế đặc biệt cho bóng đá Việc xây dựng cơ bản của thế hệ cỏ nhân tạo mới nhất là sự pha trộn của các sợi cỏ giống như một lớp đặc biệt với hỗn hợp cát hoặc cao su Đã được chứng minh là phù hợp nhất cho bóng đá cho đến nay David Chaney - người đã chuyển đến Raleigh, Bắc Carolina vào năm 1960 và sau đó làm giám đốc Đại học Dệt May Đại học bang Bắc Carolina - đứng đầu nhóm các nhà nghiên cứu của Research Triangle Park đã tạo ra sân cỏ nhân tạo đầu tiên đáng chú ý Sự thành công đó đã dẫn Sports Illustrated tuyên bố Chaney là người đàn ông "chịu trách nhiệm về giải đấu bóng chày trong nhà và hàng triệu tấm chào mừng" Sân cỏ nhân tạo lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1966 khi AstroTurf được lắp đặt tại Astrodome ở Houston, Texas Sân vận động trong nhà tân tiến nhất đã cố gắng sử dụng cỏ tự nhiên trong mùa giải đầu tiên của mình vào năm 1965, nhưng điều này đã thất bại thảm hại và

Trang 15

các điều kiện sân đã không đáng kể trong nửa sau của mùa giải, với thảm cỏ màu xanh

lá cây chết

Do việc cung cấp cỏ nhân tạo mới chỉ hạn chế, nên chỉ có khu vực được lắp đặt trước khi Houston Astros mở cửa vào tháng 4 năm 1966, sân chơi ngoài trời được lắp đặt vào đầu mùa hè trong chuyến đi bộ đường dài của Astros và lần đầu tiên được sử dụng sau khi nghỉ All-Star Tháng Bảy Việc sử dụng AstroTurf và các bề mặt tương tự

đã trở nên phổ biến ở Hoa Kỳ và Canada vào đầu những năm 1970, được lắp đặt ở cả sân vận động trong nhà và ngoài trời dùng cho bóng chày và bóng đá Duy trì một sân chơi cỏ trong nhà, trong khi về mặt kỹ thuật có thể, là tốn kém Các đội đã chọn để chơi trên bề mặt nhân tạo ngoài trời đã làm như vậy vì chi phí bảo trì giảm, đặc biệt là trong thời tiết lạnh hơn với sân vận động "cắt cookie" đa mục đích ở thành thị như Cincinnati's Riverfront

Toàn bộ thời gian các hệ thống cỏ nhân tạo đã được phát triển cho đến nay đã được thông qua gần như tất cả các Cơ quan quản lý thể thao như; FIFA (Hiệp hội Bóng

đá Quốc tế), IRB (Hội bóng bầu dục quốc tế), FIH (Hiệp hội quần vợt quốc tế), ITF (Liên đoàn Quần vợt Quốc tế), GAA, MLB (bóng chày), NFL (National Football Leauge)

 Cỏ nhân tạo trong Lịch sử bóng chày

Sân cỏ nhân tạo lần đầu tiên được sử dụng trong bóng chày Major League Baseball tại Houston Astrodome năm 1966, thay thế cho sân cỏ được sử dụng khi sân vận động mở một năm trước đó Mặc dù cỏ được trồng đặc biệt để sử dụng trong nhà, mái vòm Lucite nửa trong suốt của mái vòm, đã được sơn trắng để cắt giảm ánh sáng chói mà làm phiền các cầu thủ, đã không vượt qua đủ ánh sáng mặt trời để hỗ trợ

cỏ Trong hầu hết mùa giải 1965, Astros chơi trên đất màu xanh lá cây và cỏ chết Giải pháp là lắp đặt một loại cỏ nhân tạo mới trên thực địa, ChemGrass, được biết đến dưới cái tên AstroTurf Bởi vì nguồn cung cấp của AstroTurf vẫn còn thấp, chỉ có một

số lượng hạn chế có sẵn cho các trò chơi nhà đầu tiên Không có đủ cho toàn bộ sân chơi, nhưng có đủ để trang trải phần cỏ truyền thống của đồng nội Sân chơi vẫn được sơn bẩn

Trang 16

cho đến sau khi All-Star Break Nhóm đã được gửi đi trong một chuyến đi đường dài trước khi nghỉ, và vào ngày 19 tháng 7 năm 1966, việc lắp đặt phần ngoài sân của AstroTurf đã được hoàn thành

Sau đó, sân cỏ nhân tạo được lắp đặt tại các sân vận động chơi các môn thể thao khác nhau như sân vận động Three Rivers của Pittsburgh, sân vận động Veterans của Philadelphia Sự khác biệt lớn nhất trong việc chơi cỏ nhân tạo là quả bóng bật cao hơn

cỏ thật, và cũng đi nhanh hơn, làm cho người chơi phải chơi xa hơn bình thường, do đó

họ sẽ có đủ thời gian để phản ứng Quả bóng cũng có độ nẩy hơn so với trên sân cỏ

Tuy nhiên, tác động lớn nhất của trò chơi "sân cỏ", như nó được gọi là, đã được quan sát thấy trên cơ thể của các cầu thủ Bề mặt nhân tạo, thường được đặt trên nền bêtông, ít hơn nhiều so với sân cỏ tự nhiên, gây ra nhiều hao mòn trên đầu gối, mắt cá, chân và lưng dưới, thậm chí còn rút ngắn sự nghiệp của những người chơi đóng một phần đáng kể các trò chơi của họ trên bề mặt nhân tạo Người chơi cũng phàn nàn rằng sân cỏ nóng hơn sân truyền thống, đôi khi gây gai kim loại đốt chân của họ, hoặc những phần nhựa tan chảy Những yếu tố này cuối cùng đã gây ra ở một số sân vận động, chẳng hạn như Sân vận động Kauffman ở Kansas City, Missouri, để chuyển từ sân cỏ nhân tạo trở lại cỏ tự nhiên

 Sân cỏ nhân tạo trong lịch sử bóng đá Mỹ

Năm 1969, sân vận động Griffin của Đại học Pennsylvania, Philadelphia, Pennsylvania, chuyển từ cỏ thành sân cỏ nhân tạo Cũng là quê hương của Philadelphia Eagles, đó là sân vận động bóng đá quốc gia đầu tiên sử dụng sân cỏ nhân tạo Vào năm

2006, Sân vận động Gillette, sân vận động bóng đá New England Patriots và New England Revolution, chuyển từ cỏ sang sân cỏ nhân tạo do xung đột về thời tiết xấu và nhiều hoạt động thể thao và các sự kiện âm nhạc tại sân vận động Đây là một trong 13 sân vận động bóng bầu dục quốc gia có sân cỏ thay vì sân cỏ

 Sân cỏ nhân tạo trong Lịch sử Hockey Field

Trang 17

Việc đưa ra các bề mặt tổng hợp đã làm thay đổi đáng kể môn thể thao của môn khúc côn cầu Kể từ khi được giới thiệu vào những năm 1970, các cuộc thi ở các nước phương Tây hiện nay chủ yếu được chơi trên bề mặt nhân tạo Điều này đã làm tăng tốc

độ của trò chơi và thay đổi hình dạng của cây gậy hockey để cho phép các kỹ thuật khác nhau, chẳng hạn như bẫy dính ngược và đánh

Sân cỏ ngoài trời khác với sân cỏ nhân tạo ở chỗ nó không cố gắng tạo ra cảm giác cỏ, được làm bằng sợi ngắn hơn tương tự như sợi được sử dụng trên lĩnh vực của Dunfermline Cấu trúc sợi ngắn hơn cho phép cải thiện tốc độ mang lại bởi các lớp cỏ nhân tạo trước đó được giữ lại

Sự phát triển này trong trò chơi tuy nhiên có nhiều vấn đề đối với nhiều cộng đồng địa phương, những người thường không có khả năng xây dựng hai lĩnh vực nhân tạo: một cho hockey thực địa và một cho các môn thể thao khác FIH và các nhà sản xuất đang nghiên cứu để tạo ra các lĩnh vực mới phù hợp với nhiều môn thể thao

 Sân cỏ nhân tạo trong Hiệp Hội Bóng Đá

Một số hiệp hội bóng đá châu Âu đã lắp đặt sâ cỏ nhân tạo vào những năm 1980, được gọi là "sân chơi bằng nhựa" (thường là châm biếm) ở các quốc gia như Anh Tại Anh, một số địa điểm của câu lạc bộ chuyên nghiệp đã chấp nhận họ; Đường Loftus của QPR, Đường Kenilworth của Thị trấn Luton, Công viên Ranh giới của Oldham Athletic

và Prestdale's Deepdale QPR đã là đội đầu tiên lắp đặt sân chơi nhân tạo tại sân vận động của họ vào năm 1981, nhưng là đội đầu tiên loại bỏ nó khi họ làm như vậy vào năm

Trang 18

nguy cơ bị bỏng thảm Không có gì ngạc nhiên khi người hâm mộ phàn nàn rằng bóng

đá thật khủng khiếp khi xem và, sau đó các câu lạc bộ đã trở lại với cỏ tự nhiên

Vào những năm 1990, nhiều câu lạc bộ bóng đá ở Bắc Mỹ cũng đã gỡ bỏ các bề mặt nhân tạo và lắp đặt lại cỏ, trong khi những người khác di chuyển đến sân vận động mới với những bề mặt cỏ tiên tiến được thiết kế để chịu được nhiệt độ lạnh Tuy nhiên, trong những năm gần đây, FIFA, UEFA và nhiều hiệp hội bóng đá trong nước đã cấm

sử dụng sân cỏ nhân tạo

Nhằm khắc phục các hạn chế trên một thế hệ cỏ mới ra đời (thế hệ cỏ thứ 3) được kết hợp giữa nhựa PE và các thành phần phụ gia theo công thức chuẩn Người ta dùng lóp xe tái chế cắt nhỏ thay cho cát giúp bóng đi chính xác như trên nền cỏ thật

Các sân cỏ nhân tạo ngày nay đã trả qua ba thế hệ cỏ:

Thế hệ thứ 1: sợi cỏ được làm từ nylon

Thế hệ cỏ thứ 2 và thứ 3: được làm bằng polyethylene (PE), polypropylene (PP) hoặc polyamide (PA)

Nhưng ở thế hệ cỏ thứ 2: người ta sử dụng mật ong làm chất kết dính, cát làm lớp đệm nên quá trình mài mòn diễn ra nhanh và kém hiệu suất trong quá trình chơi

Thế hệ cỏ thứ 3 ra đời giải quyết được hầu hết các yêu cầu của người chơi cũng như nhà cung ứng dịch vụ đưa ra như:

- Độ thẩm mỹ cao

- Độ mài mòn ít

- Hiệu suất chơi bóng tốt

- Độ đàng hồi bóng cao

- Tuổi thọ sân cao

- Thời gian cung ứng dịch vụ tăng

- Giá thành thấp

Thành phần tạo nên cỏ nhân tạo chia ra 2 phần:

Trang 19

Hình 1.3: Chất hó học trong vật liệu đệm

1.1.3 Các đặc tính của cỏ nhân tạo

 Cấu Tạo Của Cỏ Nhân Tạo

Hình 1.1: Cấu tạo sân cỏ nhân tạo

Sân cỏ nhân tạo thực tế bao gồm hai vật liệu chính là nilon và cao su Trong đó nilon được giả làm cỏ và cao su để tăng độ đàn hồi cho nền đất

Hình 1.2: Chất hóa học trong cỏ

Trang 20

Nilon sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, hoặc nhựa PTE và các chất phụ gia chủ yếu được sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại nặng, phẩm màu… Đây được coi là những chất cực kỳ nguy hiểm tới sức khoẻ và môi trường sống của con người

Nếu như đốt nilon chúng sẽ tạo ra khí thải có chất độc dioxin và Fura gây ngộ độc, ảnh hưởng tuyến nội tiết, gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá và các dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ

Đặc biệt các loại nilon nhuộm màu sẽ còn chứa kim loại nặng như: chì, cadimi những chất gây tác hại cho bộ não và là nguyên nhân chính gây ung thư

Theo phân tích của các chuyên gia, nilon được làm từ nhựa PTE không độc hại nhưng các chất phụ gia thêm vào để làm nilon mềm, dẻo, dai lại vô cùng độc hại Nếu đựng đồ nóng ở nhiệt độ từ 70-80 độ C thì những chất phụ gia sẽ có phản ứng phụ và khó mà biết được nó độc hại tới đâu

Còn đối với cao su được chia làm hai loại chính là cao su tự nhiên và cao su tổng hợp Cao su tự nhiên được lấy từ cây cao su và không gây những tác động xấu lên cơ thể con người Tuy nhiên cao su tổng hợp lại được sản xuất từ các chế phẩm từ dầu mỏ, bởi vậy nó cũng độc hại không kém gì nilon

Hình 1.5: Nguồn nguyên liệu tự nhiên

Trang 21

Hình 1.6: Nguồn nguyên liệu tái chế

 LƯU Ý:

Với hai thành phần này được sử dụng trên sân cỏ nhân tạo, khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe là có nhưng không chắc chắn Bởi nilon hoặc cao su tổng hợp chỉ gây độc khi chúng gặp phải nhiệt độ từ 70-80°C khi vật liệu này cháy và tỏa khí Còn việc tiếp xúc thân thể vào các vật liệu này cho đến nay mới chỉ được các nhà khoa học ghi nhận những trường hợp kích ứng da đối với một số người có cơ địa đặc biệt

Bởi vậy trừ khi bạn hít phải khí độc hại từ các vật liệu này hoặc vô tình đưa vào

cơ thể một khối lượng lớn thì khả năng gây ung thư mới chắc chắn có thể xảy ra

Có thể thấy rằng với những đặc tính của hai vật liệu trên, nếu kết luận việc chơi thể thao trên mặt sân cỏ nhân tạo có khả năng gây ung thư sẽ là điều khá mơ hồ và không hợp lý

 Các Đặc Tính Của Cỏ:

Cỏ nhân tạo có tính linh hoạt tốt Các đặc tính về độ đàn hồi, lực ma sát,… của

cỏ nhân tạo được mô phỏng tương tự như đối với các đặc tính của cỏ tự nhiên

Khả năng thấm hút của cỏ nhân tạo nhanh, không bị đọng nước sau cơn mưa Bởi các sân cỏ nhân tạo có khả năng thoát nước sau 20 phút sau cơn mưa

Trang 22

Chi phí bảo trì cỏ nhân tạo thấp Điều này là cực kỳ cần thiết đối với các khu đô thị khi mà nguồn nước ngọt đang trở nên khan hiếm

Ngày nay cỏ nhân tạo được sản xuất trên các dây chuyền hiện đại dựa trên các thí nghiệm vật lý và hóa học khắt khe nên các sản phẩm cỏ nhân tạo đều tuân thủ các yêu cầu đảm bảo thân thiện với môi trường, lớp cỏ có thể được tái chế

Tăng diện tích hoạt động thể chất, giảm tiếng ồn trên sân chơi, giảm ma sát, hạn chế các tai nạn trong quá trình vận động.Ít đòi hỏi về nền đất, có thể được lắp đặt trên nền bê tông, nhựa đường, cát hoặc cũng có thể là một bề mặt cứng khac

Kinh tế và thiết thực Cỏ nhân tạo có tuổi thọ cao, chi phí bảo trì thấp, hiệu suất khai thác sử dụng cao nên mang lại nhiều lợi ích về kinh tế cho người đầu tư

1.1.4 Các lợi thế của cỏ nhân tạo

Trong điều kiện ngoài tự nhiên: cỏ nhân tạo không bị chịu tác động của thời tiết, địa lý, nhiệt độ nóng hay lạnh, độ cao và các vùng khí hậu khắc nghiệt khác, vì vậy mà

cỏ nhân tạo có tuổi thọ dài mà không cần chăm bón, cắt tỉa

Cỏ nhân tạo ngày nay có các đặc tính mang lại cảm giác vận động tốt hơn Tốc

độ đàn hồi trong quá trình tiếp xúc thể chất với bề mặt tương tự như cỏ tự nhiên Đặc biệt, hiệu suất hoạt động của các lớp thảm cỏ nhân tạo cao hơn rất nhiều so với cỏ tự nhiên Bởi với cùng một hoạt động thể chất, thì sân cỏ tự nhiên chỉ có thể đáp ứng tốt yêu cầu phục vụ khoảng 4-6h/ngày, sau đó cần thời gian phục hồi chăm sóc bề mặt thảm

cỏ mất khoảng 1-2 ngày Nhưng đối với các sân cỏ nhân tạo thì hiệu suất hoạt động có thể lên đến 24h/ngày, và chỉ cần bảo dưỡng bề mặt sân cỏ với chu kỳ khoảng 3-6 tháng

Lắp đặt và bảo trì: Các khóm cỏ nhân tạo được dệt thành dạng thảm với lớp đế dày dặn và vững trãi (2-3 lớp đế) nên cỏ nhân tạo có thể dễ dàng lắp đặt trên nền xi măng, nhựa đường và rút ngắn được thời gian thi công Đặc biệt thích hợp cho các sân tập cần thời gian luyện dài, sử dụng với mật độ cao

Việc bảo trì, bảo dưỡng sân cỏ nhân tạo cũng rất đơn giản và ít tốn kém chi phí Các thảm cỏ nhân tạo không cần tưới nước, chăm bón, cắt tỉa như đối với cỏ tự nhiên

Trang 23

mà chỉ cần được đánh cỏ bằng các máy chuyên dụng được cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ thi công sân cỏ

Đa năng: cỏ nhân tạo có màu sắc đa dạng, bền màu với môi trường xung quanh, được sử dụng ở các các tòa nhà, các địa điểm thể thao, vườn giải trí, vườn mái nhà,… Tính vật lý và hóa học: sân cỏ nhân tạo đã được trải qua hàng trăm các thử nghiệm

mà trọng lượng sợi chỉ mất 2% -3% Ngoài ra, tính thấm nước tốt, tính linh hoạt cao, khoảng 20 phút sau khi mưa lớn nước có thể thoát sạch

Được sản xuất bằng cách sử dụng khoa học hiện đại và công nghệ nên bền, độ cứng, tính linh hoạt, khả năng chịu mài mòn, chống lão hóa, độ bền mầu đều đạt đến mức độ cao

An toàn: việc sử dụng lý thuyết y tế và chuyển động, nhằm sản xuất ra các thảm

cỏ để các chuyển động trong các hoạt động trên bãi cỏ, dây chằng, cơ, khớp,…được bảo

vệ, giảm đáng kể các ma sát

Cỏ nhân tạo có tuổi thọ cao Đời sống trung bình của của cỏ nhân tạo là khoảng

10 năm Một số loại ỏ nhân tạo còn có tuổi thọ lên đến 12-16 năm

Cỏ nhân tạo hiện đại được sản xuất từ các nguyên liệu thân thiện môi trường và phải trải qua các thí nghiệm khắt khe nhằm đảm bảo mức độ an toàn với sức khỏe con người và vật nuôi Chính vì vậy mà các sản phẩm cỏ nhân tạo chất lượng không chứa bất kỳ chất có hại nào mà có chức năng hấp thụ tiếng ồn

1 1 5 Các lĩnh vực sử dụng cỏ nhân tạo

Với các ưu điểm và tính năng vượt trội, cỏ nhân tạo ngày nay được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như trong thể thao, trang trí nội ngoại thất,…

Sân tennis

Trang 24

Hình 1.7: Sân tennis từ cỏ nhân tạo

Đối với cỏ nhân tạo chất lượng cao, các vận động viên không ngần ngại để làm thực hiện các động chẳng hạn như chơi bóng hay trượt, mà không lo sợ gây tổn hại cơ thể Khi chơi trên các sân vận động cỏ nhân tạo chất lượng cao các vận động viên cũng

có thể sử dụng những đôi giày cùng như trên sân cỏ tự nhiên, với không gian tốt người chơi trên sân cỏ nhân tạo có thể chơi bắt kịp với một hiệu ứng tốt hơn, để các vận động viên được tự do để hoàn thành nhiều di chuyển khó khăn

Thảm cỏ nhân tạo xanh mượt mà trên các sân golf

Hình 1.8: Sân golf từ cỏ nhân tạo

Trang 25

Golf là môn thể thao có tính đặc thù là các thảm cỏ phải luôn xanh tươi Điều này đòi hỏi các sân golf cỏ tự nhiên phải có các chế độ chăm sóc đặc biệt và thời gian sử dụng sân cỏ cỏ tự nhiên sẽ không được nhiều, làm ảnh hưởng đến việc vui chơi và tập luyện của các golf thủ Do vậy mà sân golf cỏ nhân tạo là một lựa chọn tuyệt vời để bạn

có thể vui chơi và tập luyện golf hàng ngày

Nhà đẹp vườn xinh có thêm sân chơi cho trẻ nhỏ từ cỏ nhân tạo thêm không gian vui chơi với cỏ nhân tạo tại trường học, công viên

Hình 1.9: Cỏ nhân tạo trong trang trí cảnh quan

Sự ra đời của các sản phẩm cỏ nhân tạo đã góp phần giải quyết bài toán ngày càng hạn hẹp sân chơi cho trẻ nhỏ hiện nay Với các thảm cỏ nhân tạo xanh tươi trong mọi điều kiện khắc nghiệt của thời tiết mà không cần chăm bón phun thuốc nhưng lại “tuyệt đối an toàn với con người và môi trường”, đã góp phần không nhỏ trong việc làm gia tăng thêm diện tích sân chơi cho trẻ em hiện nay Ngày nay bạn sẽ bắt gặp các sân chơi

cỏ nhân tạo ở khắp mọi nơi Từ công viên cho đến các sân chơi của trẻ mầm non

Cỏ nhân tạo được sử dụng phổ biến trong các sân bóng đá

Trang 26

Hình 1.10: Sân bóng đá từ cỏ nhân tạo

Từ mùa giải 2005-2006, Liên đoàn bóng đá châu Âu đã quyết định cho phép các trận đấu của giải được diễn ra trên sân cỏ nhân tạo Từ quyết định này, Champions League, UEFA Cup đã công bố các trận đấu trong khuôn khổ tổ chức của các giải này cũng có thể được diễn ra trên sân cỏ nhân tạo Trong khi đó, Liên đoàn bóng đá quốc tế (FIFA) đã công bố năm 2006 vòng loại World Cup được diễn ra trên nền sân cỏ nhân tạo Tuy nhiên, Liên đoàn quốc tế của Hiệp hội bóng đá (FIFA) yêu cầu, các trận đấu trên sân cỏ nhân tạo phải được công bố hai tháng trước đó, và cho phép đội khách được luyện tập trên cỏ nhân tạo ít nhất hai lần

Liên đoàn bóng đá Quốc tế (FIFA) và (UEFA) đã được công nhận cỏ nhân tạo chất lượng cao có thể ngoài việc được dùng cho vòng chung kết World Cup thì cũng có thể được dùng trong quá trình luyện tập, rất nhiều câu lạc bộ bóng đá hàng đầu quyết định sử dụng cỏ nhân tạo chất lượng cao cho lĩnh vực bóng đá

1.2 THÀNH PHẦN CỎ NHÂN TẠO

1.2.1 Các chất có trong cỏ

Được làm bằng Polystyrene (PS), polyethylene (PE), polypropylene (PP) hoặc polyamide (PA)

Trang 27

Các vật liệu làm nền là polyester hoặc PP, được gia cố một phần bằng sợi thủy tinh Các vật liệu chèn làm bằng cao su hoặc polyurethane (PUR)

Màu Epoxy chuyên dùng để pha vào các sản phẩm nhựa

Các chất dung môi: Toluen, Xylen,

1.2.2 Các chất có trong lớp vật liệu đệm

Lốp xe tái chế (SBRr - cao su tái chế styren-butadien)

Ngoài ra còn có EPDM (ethylene-propylene-diene monomer) được sản xuất từ cao su tổng hợp được tạo thành từ terpolyme ethylene, propylene, TPE được hình thành

từ elastomer nhiệt dẻo và các nhựa tái chế được sản xuất từ một monomer đơn kiềm

Chất chống oxy hóa methyl isobutyl ketone (MIBK)

Carbon đen được sử dụng như một chất naphthalen nguyên liệu

Chất làm mềm toluene, benzen, axeton, MIB

Hydrocarbon thơm đa vòng (PAH) được sử dụng làm chất dẻo và làm mềm Benzothiazoles được sử dụng để liên kết kim loại

Anilin thêm vào lốp xe để ngăn chặn sự phân hủy cao su

Các loại dầu chế biến được sử dụng làm chất làm mềm hoặc xử lý bằng phenol Diphenylnitrosamine / dimethylnitrosamine được sử dụng để ức chế quá trình lưu hóa trong quá trình sản xuất lốp xe và phân hủy sản phẩm cuối cùng

Các nguyên tố cơ bản crôm, mangan, kẽm

Kim loại nặng asen, cadmium, chì

Các bari, sắt khác

Hydrocarbon tổng hợp, TVOC, TSVOC

Các alkan hydrocarbon aliphatic (butan, propan, pentan), alkenes (butadiene, propylen)

Chất thơm benzen, toluen, ethylbenzen, xylene, alkylbenzen,

Alkyltoluen

Aldehyde acetaldehyde, formaldehyde

Trang 28

Xeton MEK, MIBK,

Rượu 2-butoxyethanol

Hydrocarbons clo hóa trichloromethane, trichloroethene

PAHs dễ bay hơi naphthalene, methylnaphthalene

Chấtdễ bay hơi

Hydrocacbon nitơ

Anilin, nitrosamine, benzothiazole

Phthalates BBP, DBP, DEP, DEHP, DIDP, DINP, DMP, DOP

Phenol 4-t-octylphenol, iso-nonylphenol

Các BPC khác

Các hợp chất

Hydrocacbon thơm đa vòng

Chất gây ung thư PAH: benzopyrene, benzoanthracen

Không gây ung thư PAHs: acenaaphthene, fluoranthrene, phenanthrene, pyrene

1.2.3 So sánh và tìm ra chất nguy hại lý thuyết

A: Mức Độ Ảnh Hưởng

 Nhựa:

Polystyrene (viết tắt và thường gọi là PS) là một loại nhựa khá rẻ tiền, có màu trắng, trọng lượng nhẹ, tính dẻo Báo cáo nghiên cứu của Chương trình độc chất học quốc gia của Mỹ cho biết, chất Polystyrene khi gặp nhiệt độ thấp hoặc nhiệt độ cao có thể giải phóng ra chất Styrene vô cùng độc hại

Styrene là một chất gây ung thư, có thể phá hủy DNA trong cơ thể người, gây dị tật thai nhi, rối loạn hệ thần kinh (mệt mỏi, căng thẳng, mất ngủ), ảnh hưởng đến nồng

độ máu (lượng tiểu cầu thấp, gây đột quỵ) Đặc biệt, chất Styrene là rất dễ xâm nhập vào

cơ thể Và dù nhiễm độc với nồng độ nhỏ cũng có thể để lại hậu quả xấu đối với sức khỏe

Trang 29

Ngoài ra, trong các sản phầm nhựa còn thường chứa một chất BPA được chứng minh có khả năng gây ung thư, tác động đến não làm chậm phát triển, gây viêm gan, rối loạn nội tiết và vô sinh

 Kim loại: chì, asen, cadimium

Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con người có thể bị mắc bệnh ung thư, trong đó thường gặp là ung thư da Ngoài ra, asen còn đầu độc hệ tuần hoàn khi uống phải nguồn nước có hàm lượng asen 0,1mg/l

Cadmium được biết gây tổn hại đối thận và xương ở liều lượng cao Nghiên cứu

1021 người đàn ông và phụ nữ bị nhiễm độc Cd ở Thụy Điển cho thấy nhiễm độc kim loại này có liên quan đến gia tăng nguy cơ gãy xương ở độ tuổi trên 50 Bệnh itai-itai là bệnh do sự ngộ độc Cd trầm trọng

 Hợp chất hữu cơ dễ bây hơi: tuloen, xylen, benzene

Nhiễm độc Benzen: Benzen là một chất lỏng dễ bay hơi khi hỗn hợp với không khí có thể gây nổ Benzen khi xâm nhập vào cơ thể qua da (tiếp xúc trực tiếp) và qua phổi Khi xâm nhập, chừng 75% - 90% được cơ thể thải ra trong vòng nửa giờ Phần còn lại tích luỹ trong mỡ và tuỷ xương, não sau đó được bài tiết chậm ra ngoài Phần benzen tích luỹ này có thể gây các biểu hiện bệnh lý: Gây ra sự tăng tạm thời của bạch cầu; gây

ra sự rối loạn oxy hoá - khử của tế bào dẫn đến tình trạng xuất huyết bên trong cơ thể; nếu hấp thu nhiều benzen cơ thể sẽ bị nhiễm độc với các hội chứng khó chịu, đau đầu, chóng mặt, nôn, có thể dẫn đến tử vong vì suy hô hấp Nếu thường xuyên tiếp xúc với benzen có thể gây nhiễm độc mãn tính Lúc đầu là rối loạn tiêu hoá, ăn kém ngon, xung huyết niêm mạc miệng, rối loạn thần kinh, đau đầu, bị chuột rút, cảm giác kiến bò, thiếu máu nhẹ, xuất huyết trong, phụ nữ hay bị rong kinh, khó thở do thiếu máu Phụ nữ bị nhiễm độc nặng có thể bị đẻ non hoặc sẩy thai

Nhiễm độc Toluen: Toluen là chất dễ bay hơi, cháy nổ Chỉ cần một nồng độ nhỏ (1/1000) Toluen đã gây cảm giác mất thăng bằng, đau đầu, nếu nồng độ cao hơn có thể gây ảo giác, choáng ngất

Trang 30

 Các tác động đến sức khỏe

Các mối nguy hiểm đối với sức khoẻ nói chung điều liên quan đến dung môi bao gồm nhiễm độc hệ thần kinh, tổn hại khả năng sinh sản, tổn hại gan và thận, suy hô hấp, ung thư và viêm da

Nhiều dung môi có thể gây ra bất tỉnh đột ngột nếu hít phải một lượng lớn Diethyl ether, chloroform và nhiều loại dung môi khác (ví dụ: có nguồn gốc từ xăng hoặc keo dán) được sử dụng để tiêu khiển được biết đến như trò "hít keo", thường dẫn đến những tác động nguy hiểm và lâu dài đến sức khỏe như nhiễm độc thần kinh hoặc ung thư Một

số dung môi trong đó có chloroform và benzene là chất gây ung thư Một số khác có thể gây tổn hại đến các cơ quan nội tạng như gan, thận hoặc não bộ Việc thường xuyên tiếp xúc với các dung môi hữu cơ trong môi trường làm việc có thể gây ra một số các phản ứng thần kinh

Theo TS Keith Prowse, viện nghiên cứu phổi Anh Quốc, hít ngay mùi của sơn nhà làm bệnh hen và xoang thêm nghiêm trọng làm xấu thêm sẽ dẫn đến bệnh hen suyễn

và viêm xoang Bởi vì phần nhiều dung môi được hít vào phổi sẽ vào máu và gây ra triệu chứng nhức đầu, muốn ói Nếu nán lại thời gian dài trong căn phòng mới sơn không có thông gió thì làm cho mất trí nhớ Khi ngửi nhằm các chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) trong sơn, chúng có thể gây nghiêm trọng kích thích mắt, mũi, họng Với con số, khối lượng lớn, vừa nghiên cứu trên loài động vật đã cho biết có sự ảnh hưởng của những các chất này với đa phần nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh, nguyên nhân gây ung thư và nguy

cơ nguy hiểm cơ quan thần kinh trung ương Hầu hết các thợ sơn chuyên nghiệp phải hứng chịu nhiều hiểm họa nhất Họ có 20% nguy cơ ung thư, trên hết là bệnh ung thư phổi, theo trung tâm nghiên cứu Y tế thế giới

 Dung môi: Methyl Ethyl Ketone

Là một chất kích ứng, có thể gây kích ứng mắt và mũi của con người gây ra các triệu chứng cụ thể như:

Trang 31

Đối với mắt: bị dị ứng mạnh mẽ, nếu không nhanh chóng tránh xa sẽ gây thương tật cho mắt và sẽ bị tật vĩnh viễn

Đối với da: tiếp xúc thường xuyên hoặc liên tục có thể gây ra dị ứng hoặc viêm

 Các aldehyde: acetaldehyde, formaldehyde

Tổ chức Y tế Thế giới liệt kê formaldehyde vào loại hóa chất độc hại đối với sức khỏe con người Cơ thể con người nếu tiếp xúc với formaldehyde trong thời gian dài thì

dù hàm lượng cao hay thấp cũng gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng cho da và hệ thống

hô hấp, các bệnh về bạch cầu, gây ung thư nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là ung thư đường hô hấp như mũi, họng, phổi, Formaldehyde là tác nhân gây ra sai lệch và biến dị các nhiễm sắc thể, phụ nữ có thai bị nhiễm có thể bị ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai

Formaldehyde là một chất có tiềm năng gây ung thư đã được tranh luận từ những năm 1980 Từ tháng 4 năm 2004, formaldehyde đã được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế phân loại thuộc nhóm 3 (chất có khả năng gây ung thư) sang nhóm 1 (chất gây ung thư)

Formaldehyde không tồn tại độc lập mà tồn tại ở dạng dung dịch hay các hợp chất khác và chỉ hóa hơi khi có điều kiện thích hợp (khi độ ẩm và nhiệt độ tăng), do đó sự tồn tại của formaldehyde ở môi trường trong nhà (do gỗ, rèm cửa, chăn gối, drap trải giường, bọc đệm ghế, thảm và các sản phẩm nhựa dùng trong nhà…) luôn cao hơn môi trường ngoài trời Vì vậy sự nhiễm formaldehyde đối với sức khỏe con người diễn ra liên tục và

có tính tích lũy

Trang 32

Formaldehyde gây những triệu chứng cấp tính như kích thích gây cay niêm mạc mắt, đỏ mắt, kích thích đường hô hấp trên gây chảy mũi, viêm thanh quản, viêm đường

hô hấp, hen phế quản, viêm phổ; gây viêm da tiếp xúc, viêm da dị ứng, nổi mề đay; làm chậm tiêu, rối loạn tiêu hóa, viêm loét dạ dày, viêm đại tràng Khi tiếp xúc, hoặc ăn phải với một hàm lượng cao có thể gây tử vong (30 ml là liều lượng có thể gây ra chết người)

 Hydrocacbon thơm đa vòng: chất gây ung thư PAH benzo (a) pyrene, benzo (a) anthracen

Con người sẽ bị nhiễm PAH nếu có quá trình tiếp xúc với chúng trong một khoảng thời gian nhất định Thông thường, PAH có trong các nguồn nước, đất và không khí ô nhiễm xâm nhập vào cơ thể người thông qua các con đường: hít thở, ăn, uống, hút thuốc hoặc tiếp xúc qua da

Theo một số nghiên cứu gần đây, hàm lượng PAH có trong môi trường không khí

ở các cùng nông thôn là 0,02-1,2 nanogam/m3 và tương ứng là 0,15-19,3 nanogam/m3 ở các vùng đô thị Do vậy, người dân sống gần những vùng đô thị và các khu công nghiệp

có nhiều khả năng tiếp xúc với PAH hơn những người sống tại các vùng nông thôn

Tại nơi ở, PAH có thể có trong khói thuốc lá, khói lò, các loại lương thực, thực phẩm được trồng, nuôi, hoặc thu hoạch ở trên những vùng đất có hàm lượng PAH cao Đặc biệt, PAH có rất nhiều trong những loại thịt, cá nướng cháy

Do độ hòa tan trong nước thấp và độ hòa tan trong dầu cao, khi xâm nhập vào cơ thể người qua những con đường khác nhau, PAH có xu hướng bị tích tụ nhiều hơn ở thận, gan, và các mô mỡ của con người Một lượng nhỏ PAH có thể bị tích tụ ở lá lách, tuyến thượng thận và buồng trứng

B Chất Nguy Hại Lý Thuyết

Dựa trên kết quả điều tra nghiên cứu của nhà nghiên cứu Amy Griffin “Mọi việc bắt đầu từ khi hãng tin NBC News đăng tải một phóng sự về Austen Everett, cô gái 25

Trang 33

tuổi đã qua đời vì bệnh ung thư hạch non Hodgkin sau thời gian chơi bóng trên mặt sân

cỏ nhân tạo

Theo một báo cáo từ Nhà nghiên cứu Amy Griffin kiêm HLV CLB nữ Đại học Washington và U20 nữ Mỹ, thì tại Hoa Kỳ có khoảng 158 cầu thủ bị ung thư đã có thời gian dài thi đấu trên mặt sân cỏ nhân tạo, các chứng bệnh trên điều liên quan đến các chứng bệnh về vùng mũi và họng”

Từ đó ta tìm ra các chất có nguy cơ gây ra các bệnh trên

- Nhựa: PE, PP, PS; Kim loại: Chì, Cadimium, asen, ; Hợp chất hữu cơ dễ bây hơi: tuloen, xylen, benzene, ; Dung môi: Methyl Ethyl Ketone

- Các aldehyde: acetaldehyde, formaldehyde ; Hydrocacbon thơm đa vòng:

chất gây ung thư PAH benzopyrene, benzoanthracen

C Bệnh Mãn Tính

Vì trên thực tế nghiên cứu thì thời gian gây bệnh trong khoảng thòi gian dài nên

sẽ chú ý đến độc mãng tính của các chất

VOCs: toluen, benzene

Nếu thường xuyên tiếp xúc với benzen có thể gây nhiễm độc mãn tính Lúc đầu

là rối loạn tiêu hoá, ăn kém ngon, xung huyết niêm mạc miệng, rối loạn thần kinh, đau đầu, bị chuột rút, cảm giác kiến bò, thiếu máu nhẹ, xuất huyết trong, phụ nữ hay bị rong kinh, khó thở do thiếu máu Phụ nữ bị nhiễm độc nặng có thể bị đẻ non hoặc sẩy thai

Toluen là chất dễ bay hơi, cháy nổ Chỉ cần một nồng độ nhỏ (1/1000) Toluen đã gây cảm giác mất thăng bằng, đau đầu, nếu nồng độ cao hơn có thể gây ảo giác, choáng ngất

 Dung môi: Methyl Ethyl Ketone

Là một chất kích ứng, ở mức gây độc mãng tính có thể gây kích ứng mắt và mũi của con người

Đối với mắt: bị dị ứng mạnh mẽ, nếu không nhanh chóng tránh xa sẽ gây thương tật cho mắt và sẽ bị tật vĩnh viễn

Trang 34

Qua đường hô hấp: các chất độc có thể gây ra dị ứng đường hô hấp, gây đau đầu, chóng mặt, chúng còn là chất gây tê và có thể ảnh hưởng tới hệ thống não bộ trung tâm

Qua đường tiêu hóa: chỉ cần một lượng nhỏ chất lỏng vào thông qua đường hô hấp hoặc từ việc nôn ói có thể gây ra viêm cuống phổi hoặc sưng phổi

D Ảnh Hưởng Đến Con Người

Hình 1.11: Sân cỏ nhân tạo ảnh hưởng đến sức khỏe

Jordan Swarthout, 22 tuổi, bắt đầu chơi bóng đá từ năm 4 tuổi Cô bắt gôn từ 9 tuổi chủ yếu chơi trên sân cỏ nhân tạo có cao su vụn

Khi cô và các đồng đội hỏi sân làm từ chất liệu gì, “lốp xe cũ” là câu trả lời mà

cô nhận được “Chúng tôi luôn tự hỏi thực ra nó là gì, và chưa bao giờ nhận được câu trả

Trang 35

lời thực sự rõ ràng”, cô nói Mùi của mặt sân bị thiêu đốt dưới ánh mặt trời nhanh chóng trở nên quen thuộc với Swarthout Ở trường cấp ba, cô chơi cho nhiều đội khác nhau, tập 2 tiếng mỗi ngày, 5 ngày một tuần, và ra sân ít nhất 2 trận/tuần Ngày nào cô cũng phải chùi cỏ ra khỏi quần áo và cơ thể mình

Mẹ của Jordan, Suzie Swarthout, nói con gái bà có lẽ đã nuốt hàng trăm vụn cao

su mỗi năm Nhưng cả Jordan và Suzie không lấy làm lo lắng lúc đó “Chúng tôi tự tin

rằng các nghiên cứu đã được thực hiện đầy đủ”, Suzie nói “Chúng tôi đều biết lốp xe

có hại thế nào” Năm 2013, sau hơn một năm gặp các vấn đề về tuyến giáp, Jordan bị

chẩn đoán ung thư máu giai đoạn ba

Hãng tin NBC (Mỹ) trong khi đi tìm câu trả lời về độ an toàn của sân cỏ nhân tạo cũng đã dành sự quan tâm tới bề mặt sân chơi dành cho trẻ nhỏ ở Mỹ Vì có nhiều mặt sân chơi cũng sử dụng loại nguyên liệu tương tự là những hạt cao su nghiền từ vỏ lốp xe hơi Câu chuyện từ một sân chơi ở thị trấn nhỏ Bandon thuộc tiểu bang Oregon Chính quyền địa phương trong khi đi tìm vật liệu để thay thế cho những mầu dăm gỗ trải nền trước kia đã chọn hạt cao su với lý do nó sẽ êm hơn, an toàn hơn nếu như trẻ nhỏ ngã xuống Thậm chí, ở đó còn làm hẳn một cái bể toàn hạt cao su đen bóng

Những hạt cao su này dính vào chân trẻ con sau những buổi vui chơi, theo chúng

về nhà Các bà mẹ gặp khá nhiều vất vả trong việc ngăn cản con cái của mình cho những hạt cao su vào miệng giống như thói quen cho tay và các đồ vật khác vào miệng

Những hạt cao su này dính vào chân trẻ con sau những buổi vui chơi, theo chúng

về nhà Các bà mẹ gặp khá nhiều vất vả trong việc ngăn cản con cái của mình cho những hạt cao su vào miệng giống như thói quen cho tay và các đồ vật khác vào miệng

Có hai cách để đưa cao su vào sân chơi để giảm đau cho trẻ khi ngã: Một là tạo

ra những tấm thảm bằng cao su, các hạt kết dính với nhau, giống như đường chạy điền kinh ở các sân vận động Hai là đổ các hạt cao su rời rạc xuống bề mặt Rắc rối nằm ở cách thứ hai Còn cách thứ nhất được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia phát triển khác

Trang 36

Những vấn đề trên không chỉ xảy ra ở cụ thể một quốc gia nào, là một vấn đề chung cần được xem xét vì về mặt tự nhiên có nhiều sự khác nhau ở những khu vực khác nhau

Nhìn nhận thực tế ở Việt Nam thì cỏ nhân tạo đang chiếm phần quan trong trong cuộc sống nó có mặt ở hầu khắp các nơi như:

- Sân chơi trẻ em

- Sân bóng, sân golr, sân vườn…

- Vật liệu trang trí

- Một môn thể thao được yêu thích

- Tất cả các sân đá bóng ( phủi ) đều phủ cỏ nhân tạo

- Nguyên liệu cỏ nhân tạo thường nhập khẩu là chủ yếu

- Khí hậu

- Quản lý

- Nghiên cứu

1.3 MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO

1.3.1 Khái quát về đánh giá rủi ro

A Khái Niệm Về Rủi Ro

a Rủi ro là gì?

Rủi ro được Allan H Willett định nghĩa: “rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất” Rủi ro cũng được định nghĩa là: “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất” Đặc biệt Fank H.Knight lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi coi “rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được” Như vậy có thể thấy rủi ro là sự kiện không may xảy ra luôn gắn liền với hoạt động và môi trường sống của con người

b Các kết quả của các nhà nghiên cứu về rủi ro đã chỉ ra một số thuộc tính của rủi ro như sau:

Trang 37

Thứ nhất, rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn không mang tính chắc chắn Đó là một sự việc, một hành động hoặc một hiện tượng… có thể xảy ra và có thể gây ra những thiệt hại tuỳ thuộc vào các yếu tố làm nảy sinh, tác động đến nó;

Thứ hai, rủi ro được cấu thành bởi hai yếu tố: tần suất xuất hiện rủi ro và hậu quả của nó Khi xem xét rủi ro người ta thường xem xét đến khả năng chắn chắn hay không chắc chắn xảy ra của rủi ro và mức độ hậu quả khi rủi ro đó xảy ra;

Thứ ba, rủi ro có tính chất động, luôn thay đổi theo môi trường và các yếu tố tác động liên quan;

Thứ tư, rủi ro có thể đo lường được thông qua việc đánh giá về mức độ tần suất

và hậu quả của rủi ro

c Rủi ro được phân loại theo:

Tính chất của rủi ro: rủi ro suy đoán và rủi ro thuần túy;

Rủi ro suy đoán hay còn gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ, tồn tại cơ hội kiếm lời cũng như nguy cơ tổn thất Đây là loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bại trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và đầu cơ Ví dụ, mua cổ phiếu: khoản đầu tư này có thể lãi, hòa, hoặc lỗ vốn;

Rủi ro thuần túy là loại rủi ro mà nếu xảy ra thì chỉ có thể dẫn đến tổn thất mà không có cơ hội kiếm lời Ví dụ: lụt bão, sóng thần, hỏa hoạn, động đất, khủng hoảng kinh tế, đầu tư sai lầm v.v…

Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro: rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt

o Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của mọi người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường,

có ảnh hưởng tới cộng đồng và toàn xã hội Ví dụ: lạm phát, khủng hoảng kinh

Trang 38

nghiêm trọng, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội Ví dụ: cháy nổ, rủi ro thanh toán, đắm tầu v.v…

d Nguyên nhân của rủi ro bao gồm do các yếu tố khách quan và chủ quan:

Rủi ro do các yếu tố khách quan là rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của con người và không thể lường trước hay kiểm soát được Đây thường là những nguyên nhân xảy ra từ môi trường tự nhiên như: động đất, cháy nổ, gió, mưa, bão lụt, hạn hán… rủi ro do khủng hoảng kinh tế hoặc có nguồn gốc từ chính sách kinh tế và điều hành vĩ mô của chính phủ;

Rủi ro do các yếu tố chủ quan là loại rủi ro do hành vi trực tiếp từ con người hoặc

từ các tổ chức kinh doanh Ví dụ, hệ thống pháp luật luôn thay đổi, thể chế chính trị không ổn định, quyết định một chính sách quản lý vĩ mô lệch hướng

Tác động môi trường vĩ mô gây nên rủi ro: rủi ro do điều kiện tự nhiên, rủi ro chính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro pháp luật, rủi ro văn hóa…

B Khái Niệm Về Đánh Giá Rủi Ro

a Đánh giá rủi ro là gì?

Đánh giá rủi ro là một cuộc sát hạch tỉ mỉ về những gì có thể gây thiệt hại đến con người tại nơi làm việc Đánh giá rủi ro cho phép bạn giải quyết vấn đề nếu bạn đã thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa hay hơn thế nữa

Quan niệm của việc đánh giá rủi ro là đảm bảo không có ai bị thương hoặc mắc bệnh Sức khoẻ, bệnh tật và tai nạn có thể làm phá vỡ cuộc sống và ảnh hưởng đến việc kinh doanh của bạn nếu sản xuất bị mất đi, hoặc tài sản, máy móc bị tổn hại vì chúng

b Mối nguy hại

Mối nguy là bất cứ việc gì có tiềm năng gây ra thiệt hại (thí dụ như hoá chất, điện, làm việc ở độ cao…)

c Làm thế nào để đánh giá rủi ro?

Trước hết điều quan trọng là bạn không làm quá phức tạp phần công việc Trong

đa số ngành công nghiệp, mối nguy hại thường ít và đơn giản Phần lớn, việc kiểm tra

Trang 39

chúng chỉ là một vấn đề thường, nhưng thật ra nó rất cần thiết Có thể bạn đã đánh giá được một vài mối nguy trong số đó rồi, thí dụ như việc sử dụng những hoá chất và dung môi độc hại

Còn đối với những mối nguy hại khác ít thiệt hại hơn mà có lẽ bạn cũng đã biết nếu có máy móc mà có thể gây ra thiệt hại, hay nếu có một lối đi, đường cầu thang nào

đó rất bất tiện có khả năng gây ra tai nạn Vì thế, hãy kiểm tra những gì cần sự đề phòng hợp lý để bạn có thể tránh được các tổn thương do chúng gây ra

d Các bước đánh giá rủi ro

Bước 1: Nhận diện các mối nguy hại

Bước 2: Xem người nào có thể bị tổn thương và mức độ tổn thương như thế nào? Bước 3: Đánh giá các rủi ro và đưa ra phương án phòng ngừa

Bước4: Ghi chép những phát hiện của bạn và cách khắc phục Bước 5: Cập nhật và đưa ra các giải pháp an toàn mới

1.3.2 LẬP MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO

Mô hình đánh giá rủi ro sơ bộ:

Trang 40

Hình 1.12: Mô hình đánh giá rủi ro sơ bộ

• Mô tả rủi ro và thu thập dữ liệu đầu vào:

- Sát định được nếu xảy ra rủi ro thì sẽ gây ra những tác hại nào, có ai đã từng gặp phải chưa

- Thu thập dữ liệu

- Xử lý thông tin ban đầu

- Đưa ra nhận xét

- Bắt đầu chuyển sang giai đoạn tiếp theo

• Xác định rủi ro và định lượng hoá:

- Nêu rõ từng tác hại và đưa ra dẫn chứng lẫn chứng minh cụ thể:

- Có tác hại gì và đã gập phải chưa, nếu chưa thì xác định khả năng găp phải

Mô tả đặc tính rủi ro

Rủi ro có chấp nhận được không

Điều hành quản

lý với rủi ro

Tránh khỏi, giảm thiểu và chuyển đổi

Ngày đăng: 05/03/2021, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Huy Bá và Thái Văn Nam (2018): “Độc học môi trường”. NXB đại học quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc học môi trường”
Tác giả: Lê Huy Bá và Thái Văn Nam
Nhà XB: NXB đại học quốc gia TPHCM
Năm: 2018
[2] Nguyễn Duy Động (2008). “Thông gió và kỹ thuật xử lý khí thải”. NXB Giáo Dục [3] Lê Thị Hồng Trân, “Đánh giá rủi ro sức khỏe và đánh giá rủi ro hệ sinh tháiHRA”. NXB khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông gió và kỹ thuật xử lý khí thải”". NXB Giáo Dục [3] Lê Thị Hồng Trân, “Đ"ánh giá rủi ro sức khỏe và đánh giá rủi ro hệ sinh thái "HRA”
Tác giả: Nguyễn Duy Động
Nhà XB: NXB Giáo Dục [3] Lê Thị Hồng Trân
Năm: 2008
[6] Thể thao & Văn hóa Cuối (2017). “Bài phỏng vấn bà Đặng Thị Hồng Nhung”, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thể dục Thể thao về việc có hay không khả năng các hạt cao su trên sân cỏ nhân tạo có thể gây ung thư.Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phỏng vấn bà Đặng Thị Hồng Nhung”, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thể dục Thể thao về việc có hay không khả năng các hạt cao su trên sân cỏ nhân tạo có thể gây ung thư
Tác giả: Thể thao & Văn hóa Cuối
Năm: 2017
[1] Birkholz DA, Belton KL, Guidotti TL (2003). “Toxicological evaluation of hazard assessment of tire crumb for use on public playgrounds”. J Air Waste Manag Assoc; 53:903–7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toxicological evaluation of hazard assessment of tire crumb for use on public playgrounds”
Tác giả: Birkholz DA, Belton KL, Guidotti TL
Năm: 2003
[4] QCVN 06:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w