Qua một số biện pháp tôi đã áp dụng xuyên suốt trong quá trình dạy nhằm giúp các em phát âm rõ hơn, phân biệt âm vần dễ lẫn lộn, nắm được nghĩa của từ nhằm giáo dục các em tính cẩn thận [r]
Trang 1Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN HỌC SINH LỚP 3 VIẾT ĐÚNG
CHÍNH TẢ
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ở bậc tiểu học môn Tiếng Việt có vai trò rất quan trọng, là môn học có quan hệ khăng khít với các môn học khác Học sinh tiểu học muốn tiếp thu tri thức phải bằng con đường nghe, đọc và viết
Người thầy giáo muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh phải kiểm tra qua năng lực đọc, viết của học sinh Chính vì vậy chính tả là một trong những phân môn cần quan tâm nhiều hơn Nếu các em viết còn sai nhiều lỗi sẽ hạn chế đến các môn học khác
Xuất phát từ suy nghĩ trên và để đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay, tôi tìm ra một số biện pháp“Rèn học sinh lớp 3 viết đúng chính tả”
II.THỰC TRẠNG CỦA LỚP:
Đứng trước tình hình lớp Tôi nhận thấy việc học tập, tiếp thu bài của các em rất
chậm so với yêu cầu về kiến thức nội dung bài học hiện nay Lớp tôi đang chủ nhiệm là lớp có nhiều học sinh yếu nhất so với khối lớp 3 của trường Qua khảo sát chất lượng đầu năm có 8 học sinh yếu môn Tiếng Việt đạt tỉ lệ 32%, học sinh khá, giỏi là 9 (36%) Có một em thuộc diện cá biệt (em Tịnh): khó khăn về ngôn ngữ, giao tiếp (nói không thành câu) Yêu cầu về chính tả lớp 3 là đạt tốc độ từ 4 - 5 chữ/ 1phút, nhưng ở lớp 3 này còn một số em viết với tốc độ từ 2 - 3 chữ/1 phút
Đọc và viết chậm như vậy thì làm sao có thể học tốt được các môn học khác
Đã vậy mà gia đình các em chỉ lo công viêc đồng áng ít quan tâm đến việc học hành của các em ở nhà Các em chỉ học trên lớp với những tiết theo Thời khoá biểu
Từ thực tế tình hình chung của lớp Tôi tìm ra một số biện pháp giúp các em viết đúng chính tả qua các bài tập đọc đã học và bài tập chính tả để hạn chế học sinh yếu, kém của lớp
III GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
* Biện pháp 1: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập có âm đầu s/
x:
- Vào thời gian tuần 1, tôi phát hiện những em phát âm chưa rõ, chưa chính xác, tôi kịp thời luyện tập và uốn nắn ngay:
Ví dụ: Dạy bài tập đọc: “Cậu bé thông minh” – ( Tuần 1).
Tôi luyện cho các em đọc câu ở đoạn đầu: “Ngày xưa có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước”
Có em đọc: “Ngày sưa có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước” (Đọc
sai âm đầu: xưa/ sưa).
Nếu các em đọc sai âm đầu nghĩa của nó sẽ khác đi Đọc như vậy khi viết chính tả
sẽ viết sai
Sau đó tôi phân tích cho các em hiểu nghĩa xưa và sưa:
Xưa: đã quá lâu (ngày xưa, thuở xưa, đời xưa, …)
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐINH BỘ LĨNH * GV: LÊ THỊ HẢO SKKN ĐẠT LOẠI C CẤP HUYỆN NĂM HOC: 2007 - 2008
Trang 2 Sưa: thưa (răng thưa) Hiểu nghĩa khác: say sưa.
Dạy bài chính tả: “Cô giáo tí hon” – ( Tuần 2)
Sau bài viết tôi cho học sinh thực hiện bài tập 2a):
+ Tìm những tiếng có thể ghép với mỗi tiếng sau:
- xét, sét
- xào, sào
- xinh, sinh
Đa số học sinh còn nhầm lẫn giữa s và x Tôi cho học sinh tìm tiếng ghép với tiếng đã cho:
xét: xét xử, xem xét, xét đơn, xét việc, xét nhà, lục xét, khám xét, …
sét: sấm sét, tiếng sét, đất sét, rỉ sét
xào: rau xào, xào xáo, …
sào: sào phơi áo, một sào đất, …
xinh: xinh đẹp, xinh tươi, xinh xẻo, xinh xắn, xinh xinh, …
sinh: ngày sinh, sinh sống, sinh sản, sinh dưỡng, sinh hoạt, …
Sau đó cho các em hiểu nghĩa của từng từ đã ghép được
Dạy bài: “Trên đường mòn Hồ Chí Minh” – (Tuần 20)
Có bài tập sau:
+ Điền vào chỗ trống s hay x ?
- sáng… uốt
- xao… uyến
- sóng… ánh
Cho các em hiểu nghĩa của các từ và điền âm đầu cho đúng (sáng suốt, xao
xuyến, sóng sánh).
Sau mỗi dạng bài tập trên, tôi cho học sinh luyện phát âm lại các từ có tiếng, âm
đã ghép (s/ x) Vừa rèn đọc vừa cho viết lên bảng con hoặc giấy nháp để ghi nhớ
Có thể cho học sinh tìm thêm một số từ mới khác ngoài các từ đã học trong giờ tự học ở nhà
*Biện pháp 2: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập có vần dễ nhầm lẫn: eo/ oeo; ui/ uôi; iêc/ iêt.
Dạy bài: “Nhớ lại buổi đầu đi học” – ( Tuần 6)
+ Bài tập: Điền vào chỗ trống eo hay oeo?
- nhà ngh `, đường ngoằn ng…, cười ngặt ngh…~, ng… đầu
Cho học sinh hiểu nghĩa của các từ trên giúp học sinh điền đúng (nhà nghèo, đường ngoằn ngoèo, cười ngặt nghẽo, ngoẹo đầu).
- Giúp học sinh nhớ lại qui tắc chính tả đã được học ở lớp dưới
ngh: được ghép với các âm nào? (e, ê, i) và không được ghép với các âm nào?
( a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư)
Từ đó các em điền được (nhà nghèo, cười ngặt nghẽo) Nếu các em điền: nhà ngèo, cười ngặt nghoẽo (sai qui tắc chính tả)
Trang 3 ng: được ghép với các âm nào? (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư) và không được ghép với các
âm nào? (e, ê, i)
Các em nắm được qui tắc và điền đúng (ngoằn ngoèo, ngoẹo đầu) chứ không thể điền: ngoằn ngèo, ngẹo đầu (sai qui tắc chính tả)
- Có thể cho học sinh thi đua tìm thêm các từ:
Có vần eo: (lẻo khoẻo, tí tẹo, dẻo dai, nẻo đường… )
Có vần oeo: khoèo chân, ngoéo tay, ngoắt ngoéo, ngoặt ngoẹo, …
Dạy bài: “Hũ bạc của người cha” – ( Tuần 15)
+ Bài tập: Điền vào chỗ trống ui hay uôi ?
- m…~ dao, con m…~
- hạt m…', m…' bưởi
- n…' lửa, n… nấng
- t…, trẻ, t…, thân
Qua bài tập cho học sinh phân biệt tiếng mũi/ muỗi, muối/ múi, núi/ nuối, nuôi/ nui, tuổi/ tủi
- Giúp học sinh hiểu nghĩa và điền đúng (mũi dao, con muỗi, hạt muối, múi bưởi;
- núi lửa, nuôi nấng, tuổi trẻ, tủi thân).
Cho học sinh tìm thêm từ mới khác với từ đã cho:
mũi: mũi thuyền, mũi súng, mũi kiếm, mũi tên, mũi đất, …; nghĩa khác: lỗ mũi, mũi dãi, mũi miệng, …
muỗi: muỗi mòng, xông muỗi, …
muối: sương muối, muối tiêu, vựa muối, …
múi: múi giờ, múi tỏi, …
núi: núi non, núi cao, …
nuối: nuối tiếc, tiếc nuối, …
nuôi: nuôi con, con nuôi, …
không có tiếng nui
tuổi: tuổi tác, tuổi đời, sống trăm tuổi, …
tủi: buồn tuỉ, tủi phận, tức tủi, …
Dạy bài: “Hai Bà Trưng” – ( Tuần 19)
+ Bài tập: Điền vào chỗ trống iêt hay iêc?
- đi biền b…
- thấy tiêng t…'
- xanh biêng b…'
Cho học sinh hiểu nghĩa từ và điền đúng (đi biền biệt, thấy tiêng tiếc, xanh biêng biếc)
- Học sinh thi đua tìm các từ ngoài bài học:
biệt: biệt tích, biệt tăm, biệt dạng, biệt hiệu, …
tiếc: tiếc nuối, tiếc thương, …
Trang 4 biếc: xanh biếc, nước biếc, …
Qua suốt quá trình dạy học chính tả ở HKI, bản thân tôi luôn cho học sinh làm quen với cách học tìm các từ có âm, vần dễ nhầm lẫn có liên quan đến bài viết, học sinh có
thói quen tự tìm ra các từ mới để dần dần viết đúng chính tả hơn trong các bài tập chính tả
*Biện pháp 3: Giúp học sinh viết đúng chính tả thông qua trò chơi:
Trò chơi là một hoạt động nhằm thu hút học sinh hứng thú học tập sau một giờ học căng thẳng Vì vậy tôi thường tổ chức trò chơi cuối giờ học chính tả, thường
có nội dung sát với chủ đề bài tập tránh sự nhàm chán cho các em
Ví dụ: Tự tìm tiếng, từ có âm đầu s/x.
Thi tìm nhanh những tiếng, từ có âm đầu s/x hoặc các tiếng, từ có vần khó như uêch, uya, en/oen, oai/oay, … cho các đội chơi cùng trình độ thi tiếp sức, mỗi đội không quá 5 em, viết các từ có vần khó do giáo viên yêu cầu Có thể cho các em đặt câu với từ vừa tìm được để hiểu nghĩa của từ
Ví dụ: Em bé nhoẻn miệng cười.
Bác Tư cứ loay hoay bên chiếc máy tuốt lúa.
Nhằm khắc sâu kiến thức đã học
- Thi tìm cặp từ có thanh hỏi, thanh ngã
Ví dụ: vui vẻ ‡ vẽ vời
thi đỗ ‡ đổ rác
mở cửa ‡ thịt mỡ
bửa cau ‡ bữa cơm
Đối với những học sinh có trình độ khá, giỏi, tôi cho các em thi tìm nhanh tiếng gồm 5, 6 hoặc 7 chữ cái:
Ví dụ: 5 chữ cái: trong, ngoài, khuỷu, khuya, …
6 chữ cái: khuyên, truyện, chuyển, thưởng, trường, …
7 chữ cái: nghiêng
Trò chơi: Điền Đ hoặc S vào ob
Đáp án:
a) say sưa d) xay xác a) Đ d) S
b) ngẹn ngào e) nghon ngọt b) S e) S
c) cũ khoai g) cũ kỹ c) S g) Đ
Qua trò chơi nhằm giúp các em khắc sâu được kiến thức đã học các từ
*Biện pháp 4: Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các môn học khác:
Rèn cho học sinh viết đúng chính tả không chỉ rèn trong giờ chính tả hay giờ tập đọc mà rèn cho các em ở các môn học khác như: giờ tập viết cũng cần rèn cho các
em viết đúng chính tả, đúng mẫu chữ, đều nét, viết đúng mẫu chữ hoa Các em chỉ
Trang 5rèn viết đẹp quên chú ý đến lỗi chính tả, do đó cũng còn rơi rớt một số em còn viết sai ở câu ứng dụng trong bài viết
Ví dụ: Viết câu ứng dụng: “ Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc, dỡ hay đỡ đần”
Có em viết “dỡ hay” tôi cho sữa ngay “dở hay” và cho các em hiểu nghĩa từ để phân biệt từ đúng: dở hay ‡ dỡ (dỡ dang, dỡ chừng)
Đối với môn Luyện từ và câu:
+ Bài tập 3: Đặt câu theo mẫu “Ai là gì?” để nói về:
- Bạn Tuấn trong truyện Chiếc áo len (TV3 – T1 trang 33):
Dẫn chứng HS viết: - Bạn Tuấn trong truyện Chiết áo len.
Tôi sửa ngay: “chiết” thành “chiếc” và cho các em biết: chiếc là một cái trong một đôi Còn chiết là chiết cành, chiết khấu Điền như vậy nghĩa của câu sẽ khác đi
Đối với phân môn Tập làm văn cũng vậy, tôi luôn rèn cho các em đọc đúng, viết đúng, trả lời đúng sau những câu gợi ý hoặc tranh minh hoạ, đó cũng giúp cho các
em nói đúng, viết đúng Trong các bài văn viết về một đoạn văn ngắn từ 5 - 7 câu vẫn còn sai lỗi thông thường như thanh hỏi, thanh ngã, âm, vần …
Ví dụ: “Kể lại buổi đầu em đi học” - (TV3 -T1 trang 52)
Có em viết: Buổi xáng mai hôm ấy tôi được mẹ dẩn đi đến trường …
Khi chấm bài tôi sửa ngay “xáng” thành “sáng”, “dẩn” thành “dẫn” và cho các
em viết lại từ đó nhiều lần để khỏi nhầm lẫn
Đối với môn Đạo đức và môn Tự nhiên - xã hội, tôi cũng luôn sửa lỗi sai trong các lần làm bài tập và nhắc nhở các em chú ý
Ngoài giờ học ở lớp, tôi còn tổ chức cho các em học nhóm ở nhà (nhóm đôi, nhóm ba) chọn những em cạnh nhà: Em giỏi, khá dìu dắt em trung bình, yếu
Tôi luôn kiểm tra vở bài tập chính tả, chú ý đến học sinh yếu nhiều hơn, phát hiện lỗi sai cho các em viết lại nhiều lần ra giấy nháp
IV KẾT QUẢ SAU KHI THỰC HIỆN:
Qua một số biện pháp tôi đã áp dụng xuyên suốt trong quá trình dạy nhằm giúp các em phát âm rõ hơn, phân biệt âm vần dễ lẫn lộn, nắm được nghĩa của từ nhằm giáo dục các em tính cẩn thận hơn trong các môn học khác không những riêng phân môn Chính tả
Từ việc học trên học sinh có thể nắm vững những kiến thức đã thu nhận được Nhờ kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp dạy học mà học sinh ham thích hơn Biết tự giác học tập, nắm được qui tắc chính tả nhằm khắc phục tính thụ động của học sinh trong giờ chính tả
Qua quá trình áp dụng những biện pháp này, tổ tôi đã tổ chức khảo sát 116 HS/4 lớp Chất lượng học môn Chính tả tăng lên một cách rõ rệt Thống kê môn Tiếng Việt giữa HK II của tổ 3 như sau:
Tổng số học sinh trong tổ: 116 em
Trang 6Kết quả Giỏi Khá Trung bình Yếu
Riêng lớp tôi chất lượng môn Tiếng Việt đạt tỉ lệ như sau:
Tổng số học sinh: 25 em
THỜI
ĐIỂM
SỐ LƯỢNG
BÌNH
YẾU
Khảo sát
đầu năm
V BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
GV cần luyện giọng, phát âm chuẩn, rõ ràng (hạn chế đọc tiếng địa phương)
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực “lấy học sinh làm trung tâm”
Nghiên cứu thiết kế kế hoạch bài dạy theo hướng đổi mới phương pháp dạy học
Tổ chức nhiều hình thức hoạt động nhằm gây hứng thú cho các em trong giờ học
Cần chú ý rèn luyện thực hành cho học sinh qua các bài tập sát với chủ
đề bài học
Rèn cho các em viết đúng chính tả qua các môn học
Khuyến khích học sinh đọc trước đoạn văn, bài thơ ở nhà, tìm ra những
từ có âm,vần dễ lẫn lộn trong bài chính tả
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm đúc kết trong thực tiễn giảng dạy của tôi
đã áp dụng xuyên suốt HK I nhằm giúp học sinh lớp 3 học tốt môn Chính tả Rất mong sự đóng góp chân thành của tất cả anh chị em trong Hội đồng sángkiến khoa học các cấp để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn
Tam Mỹ Đông, ngày 20 tháng 02 năm 2008 Người thực hiện
Lê Thị Hảo
ĐẠT LOẠI C CẤP HUYỆN NĂM HỌC: 2007 - 2008