1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu quy trình nhân giống hoa đồng tiền in vitro

98 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1.1 Những vấn đề chung về kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp 1.1.1 Khái ni

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, dần hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới theo xu hướng toàn cầu hóa Việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức kinh tế thế giới WTO đã mang lại rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho kinh tế nước nhà, đứng rước những thuận lợi và nguy cơ ấy Việt Nam cần cố gắng nhiều hơn nữa để có thể phát triển mạnh hơn, vì vậy song song với việc thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư thì nhu cầu minh bạch hóa tài chính ngày càng trở nên cấp thiết

Vì vậy sự ra đời của các công ty kiểm toán Việt Nam cùng với sự tham gia của các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới là rất cần thiết, hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính đã và đang từng bước khẳng định vai trò không thể thiếu của nó đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý kinh doanh tại Việt Nam Do đó nhiệm vụ của những kiểm toán viên là đảm bảo các khoản mục trên báo cáo tài chính trung thực và hợp lý

Trong số các khoản mục trên báo cáo tài chính, khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và kèm theo nợ phải thu là những khoản mục nhận được nhiều quan tâm nhất của người sử dụng báo cáo tài chính Bởi lẽ đây là khoản mục phản ánh hiệu quả hoạt động cũng như tình hình tài chính của một doanh nghiệp Khi doanh nghiệp thực hiện hiệu quả chu trình này tức là vốn đã được huy động đúng mức tạo tiền đề cho sản xuất và cho các chu kì tiếp theo được thực hiện hợp lý Chính vì thế, việc ghi chép minh bạch khoản mục doanh thu và nợ phải thu đặc biệt là phải thu khách hàng có ý nghĩa rất lớn vì nó ảnh hưởng không nhỏ đến tài sản, khả năng thanh toán và tình hình tài chính của doanh nghiệp Bởi vậy, đối với bất kì một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính nào thì kiểm toán phần hành doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng cũng luôn được coi là một phần hành trọng yếu

và rất được lưu ý Các kiểm toán viên thường rất thận trọng khi kiểm toán khoản mục này với mục tiêu cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính một cái nhìn chính xác đối với hoạt động của một doanh nghiệp

Nhận thức được các vấn đề trên, trong quá trình thực tập tôi đã lựa chọn đề tài:

“Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng do công ty

Trang 2

kiểm toán AASCS thực hiện”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm kiếm và phát hiện rủi ro, gian lận và sai sót;

- Đề xuất các biện pháp ngăn chặn các phát hiện rủi ro;

- Kiểm tra, giám sát các ngăn chặn rủi ro trên;

- Đồng thời nâng cao kiến thức về quy trình kiểm toán tai một DN

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

- Chuyên đề lấy công tác tổ chức và thực hiện kiểm toán doanh thu bán hàng và nợ phải thu tại Công Ty Kiểm Toán AASCS làm đối tượng nghiên cứu

- Chuyên đề tập trung nghiên cứu phân tích về thực trạng, giải pháp nhằm hoàn

thiện công tác kiểm toán doanh thu và nợ phải thu tại Công ty Kiểm toán AASCS

4 Phương pháp nghiên cứu :

- Phương pháp thu thập: thu thập các quy định của pháp luật về công tác kiểm toán, các quy định của công ty, doanh thu và các khoản phải thu

- Phương pháp tập hợp: tập hợp các chứng từ, sổ sách liên quan đến công tác khoản phải thu

- Phương pháp so sánh đối chiếu: so sánh giữa lý thuyết với thực tế

5 Bố cục đề tài: ngoài mở đầu, kết luận gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng

trong kiểm toán báo cáo tài chính

Chương 2: Thực trạng quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và nợ phải thu

khách hàng tại công Kiểm toán AASCS

Chương 3: Hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách

hàng tại Công Ty Kiểm Toán AASCS

Trang 3

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM

TOÁN BCTC

1.1 Những vấn đề chung về kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về kiểm toán báo cáo tài chính

- Kiểm toán Báo Cáo Tài Chính là cuộc kiểm tra để đưa ra ý kiến nhận xét về sự trình bày trung thực và hợp lý của BCTC của một đơn vị Kết quả của cuộc kiểm toán BCTC có thể phục vụ cho đơn vị, nhà nước và bên thứ ba như: các cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng… để họ đưa ra các quyết định kinh tế của mình

- Khi kiểm toán BCTC thì Chuẩn mực Kế Toán và Chế độ Kế Toán được sử dụng làm thước đo, vì BCTC bắt buộc phải được lập theo các Chuẩn mực và Chế độ

Kế Toán hiện hành [1, Đoạn 3-4]

1.1.2 Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Các bước của quy trình kiểm toán

Chuẩn bị kiểm toán

Thực hiện kiểm toán

Hoàn thành kiểm toán

1.1.2.1 Chuẩn bị kiểm toán

Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán bao gồm tất cả các công việc khác nhau nhằm tạo được cơ sở pháp lý trí tuệ và vật chất cho công tác kiểm toán Đây là bước công việc đầu tiên và quyết định chất lượng kiểm toán Các bước công việc được thực hiện trong giai đoạn này được khái quát như sau:

* Tiếp cận khách hàng:

 Đối với khách hàng mới: Đầu tiên KTV sẽ tìm hiểu lý do mời kiểm toán của khách hàng, tìm hiểu các thông tin về các khía cạnh như lĩnh vực kinh doanh, tình hình tài chính thông qua các phương tiện thông tin như: sách báo, tạp chí chuyên ngành hay từ các nguồn như: luật sư của khách hàng, ngân hàng hay các doanh nghiệp có mối quan hệ với khách hàng Ngoài ra có thể tìm hiểu thông qua

Trang 4

KTV tiền nhiệm nếu khách hàng đó đã được kiểm toán trước đó

 Đối với khách hàng cũ: Hàng năm sau khi hoàn thành cuộc kiểm toán thì KTV sẽ cập nhật thông tin để đánh giá lại các khách hàng hiện hữu của mình để xem nên tiếp tục kiểm toán cho họ hay không Có cần thay đổi nội dung của hợp đồng kiểm toán hay không

* Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán [4, Đoạn 7d]

Theo Chuẩn mực kiểm toán chung, quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ, thành thạo như một KTV Việc lựa chọn đội ngũ KTV dựa trên: yêu cầu về số người, trình độ khả năng của KTV, yêu cầu về chuyên môn và có kinh nghiệm hay kiến thức về ngành nghề kinh doanh của khách hàng

* Hợp đồng kiểm toán:

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam - VSA 210 Hợp đồng kiểm toán [3, đoạn 10]

“Hợp đồng kiểm toán: là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia ký kết (công ty kiểm toán, khách hàng) về các điều khoản và điều kiện thực hiện kiểm toán của khách hàng và công ty kiểm toán, trong đó xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, hình thức báo cáo kiểm toán, thời gian thực hiện và các điều khoản về phí, về xử lý khi tranh chấp hợp đồng.”

Như vậy, hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và của công ty kiểm toán [2, Đoạn 2]

- Thông tin về yếu tố nội tại của chính khách hàng được kiểm toán như: tình hình kinh doanh, khả năng tài chính, hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ,

Trang 5

hình thức sở hữu và nghĩa vụ pháp lý của khách hàng…

Những thông tin trên có thể thu thập thông qua việc trao đổi với kiểm toán viên tiền nhiệm, xem xét hồ sơ kiểm toán năm trước, trao đổi với nhân viên hay Ban Giám Đốc, tham quan nhà xưởng, giấy phép thành lập và điều lệ công ty, qua tạp chí chuyên ngành…

* Xác định mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 [5, Đoạn 08-11] – Trọng yếu:

“Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính.”

Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV đánh giá mức trọng yếu nhằm:

- Ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được

- Xác định phạm vi của cuộc kiểm toán

- Từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm kiểm soát Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: là sai sót có thể chấp nhận được của toàn bộ BCTC nhưng chỉ mang tính xét đoán của KTV và có thể điều chỉnh trong suốt quá trình kiểm toán

Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra ý kiến kiểm toán không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai phạm nghiêm trọng Rủi ro này bao gồm ba yếu tố, đó là: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện

Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên xác định mức rủi ro mong muốn (DAR) cho từng khoản mục Mức rủi ro mong muốn quyết định khối lượng công việc kiểm toán cần thực hiện

Để giúp kiểm toán viên ước tính về mức độ rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được dựa trên sự đánh giá rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng, có ma trận rủi ro phát hiện như sau:

Trang 6

Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát (CR) Cao Trung bình Thấp Đánh giá của

KTV về rủi ro

tiềm tàng (IR)

Cao Tối thiểu Thấp Trung bình

Trung bình Thấp Trung bình Cao

Thấp Trung bình Cao Tối đa

Nguồn: Giáo trình kiểm toán, trường ĐHKT TPHCM, NXB Lao Động Ngoài ra, trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu mức sai sót có thể chấp nhận tăng lên, rõ ràng là rủi ro kiểm toán sẽ giảm xuống

và ngược lại

* Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và rủi ro kiểm soát

Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng tức là thực hiện những công việc sau: tìm hiểu môi trường kiểm soát, tìm hiểu hệ thống thông tin, tìm hiểu các thủ tục kiểm soát, mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc

Từ các thông tin tìm hiểu được ở trên, KTV có những đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát nhằm: nhận diện các mục tiêu kiểm soát, nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù, nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ Rủi ro kiểm soát được đánh giá là cao trong trường hợp: hệ thống KSNB không hoạt động hoặc không hiệu quả, việc áp dụng hệ thống KSNB không đầy đủ, việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để thu thập bằng chứng về tính hiệu quả của hệ thống KSNB mất nhiều thời gian hơn là thực hiện các thử nghiệm cơ bản

* Xây dựng kế hoạch và chương trình kiểm toán

Nội dung của kế hoạch kiểm toán tổng quát bao gồm: tình hình kinh doanh của khách hàng, những rủi ro kinh doanh khách hàng thường gặp, những mục tiêu kiểm toán trọng tâm, đánh giá sơ bộ hệ thống KSNB, khả năng hoạt động liên tục của khách hàng, chính sách kế toán của khách hàng

Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về:

+ Các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm toán

+ Thời gian hoàn thành

+ Phân công lao động giữa các KTV

+ Các tài liệu thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập [2, Đoạn 2]

Trang 7

1.1.2.2 Thực hiện kiểm toán

Thực hiện thử nghiệm kiểm soát

KTV kiểm tra, thu thập các bằng chứng về sự thiết kế phù hợp và việc hiện hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó cho thấy được khả năng đảm bảo, ngăn chặn phát hiện các sai phạm trọng yếu trên BCTC của hệ thống kiểm soát nội bộ

Có ba khía cạnh của hệ thống kiểm soát nội bộ mà KTV cần xem xét kiểm tra Đó là sự tồn tại, sự hiện hữu và sự liên tục của hệ thống kiểm soát thông qua việc phỏng vấn, kiểm tra tài liệu, quan sát thực hiện hay thực hiện lại các quy trình áp dụng [6, Đoạn A42-A65]

Thực hiện thủ tục phân tích

Là việc so sánh các thông tin tài chính, các chỉ số, các tỷ lệ để phát hiện và nghiên cứu các trường hợp bất thường, hiểu rõ về hoạt động kinh doanh của khách hàng và giới hạn phạm vi kiểm tra chi tiết [6, Đoạn A7-A10]

Thực hiện các thủ tục chi tiết

Là việc kiểm tra trực tiếp các nghiệp vụ hay các số dư

- Kiểm tra nghiệp vụ: kiểm tra chi tiết một số hay toàn bộ nghiệp vụ phát sinh

để xem xét độ chính xác của các khoản mục.[8, Đoạn 5]

- Kiểm tra số dư: kiểm tra để đánh giá mức độ về mức độ trung thực của số dư các tài khoản có nhiều nghiệp vụ phát sinh [7, Đoạn 6]

1.1.2.3 Hoàn thành kiểm toán

- Xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ.[10, Đoạn 2]

- Xem xét hoạt động liên tục của khách hàng.[11, Đoạn 2]

- Đánh giá tổng quát kết quả hoạt động kiểm toán

- Lập Báo cáo kiểm toán [9, Chương VII]

1.2 Ý nghĩa và mục tiêu kiểm toán doanh thu bán hàng & cung cấp dịch vụ và nợ phải thu khách hàng

1.2.1 Ý nghĩa

Nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho những người sử dụng để họ đưa ra các quyết định kinh doanh, BCKQHĐKD giữ vai trò rất quan trọng trong hệ thống BCTC của doanh nghiệp Trong khi BCĐKT cho biết về tình hình tài chính

Trang 8

của doanh nghiệp thì BCKQHĐKD lại cho biết về kết quả kinh doanh của niên độ, từ

đó giúp người sử dụng đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp

Doanh thu bán hàng là một khoản mục trọng yếu trên BCKQHĐKD vì đó là cơ

sở để người sử dụng đánh giá tình hình hoạt động và qui mô kinh doanh của doanh nghiệp Do đó khoản mục này là đối tượng của nhiều sai phạm dẫn đến BCTC bị sai lệch trọng yếu làm cho BCTC không phản ánh trung thực tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, khoản mục nợ phải thu khách hàng cũng là một khoản mục không kém phần quan trọng vì nó là khoản mục liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh Vì vậy, kiểm toán doanh thu và nợ phải thu là một nội dung quan trọng trong kiểm toán BCTC

1.2.2 Mục tiêu kiểm toán

1.2.2.1 Mục tiêu kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Bảng 1.1:Mục tiêu kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ [9, Trang

526]

Cơ sở dẫn

Phát sinh Các khoản thu nhập và chi phí được ghi nhận phải thật sự phát

sinh và thuộc về đơn vị

Đầy đủ Mọi khoản thu nhập và chi phí phát sinh đều được ghi nhận

Ghi chép

chính xác

Thu nhập và chi phí được tính toán chính xác và thống nhất giữa

sổ chi tiết và sổ cái

Đánh giá Thu nhập và chi phí được phản ánh đúng số tiền

Trình bày

và công bố Thu nhập và chi phí được trình bày đúng đắn và khai báo đầy đủ

1.2.2.2 Mục tiêu kiểm toán nợ phải thu khách hàng

Bảng 1.2_Mục tiêu kiểm toán nợ phải thu khách hàng [9, Trang 393]

Cơ sở dẫn

Hiện hữu Các khoản nợ phải thu khách hàng đã ghi chép đều có thực tại thời

điểm lập báo cáo

Trang 9

Đầy đủ Tất cả các khoản nợ phải thu khách hàng có thực đều phải được ghi

Đánh giá

Các khoản dự phòng phải thu khó đòi được tính toán hợp lý để giá trị thuần của nợ phải thu KH gần đúng với giá trị thuần có thể thực hiện được

Trình bày

và công bố

Sự đúng đắn trong trình bày và công bố khoản nợ phải thu khách hàng, bao gồm việc trình bày đúng đắn các khoản nợ phải thu KH, cũng như công bố đầy đủ những vấn đề có liên quan như các khoản cầm cố, thế chấp,

Nguồn: Giáo trình kiểm toán, trường ĐHKT TPHCM, NXB Lao Động

1.3 Tổng quan về khoản mục doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng 1.3.1 Khái quát về chu trình bán hàng

Bán hàng là quá trình chuyển quyền sở hữu của sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ cho khách hàng để đổi lấy tiền hoặc quyền thu tiền từ khách hàng Với ý nghĩa như vậy, quá trình này được bắt đầu từ yêu cầu mua của khách hàng (đơn đặt hàng, hợp đồng mua hàng…) và kết thúc bằng việc chuyển đổi hàng hóa thành tiền Trong trường hợp này, hàng hóa và tiền tệ được xác định theo bản chất kinh tế của chúng Hàng hóa

là những tài sản hay dịch vụ chứa đựng giá trị và có thể bán được, tiền tệ là phương tiện thanh toán nhờ đó mọi quan hệ giao dịch và thanh toán được giải quyết tức thời

Thông thường với một số doanh nghiệp, chu trình bán hàng được phân chia thành các chức năng như sau:

- Lập lệnh bán hàng (phiếu xuất kho)

Trang 10

- Theo dõi thanh toán

- Xét duyệt hàng bán trả lại, hay giảm giá

- Cho phép xóa sổ các khoản nợ không thu hồi được [9, Trang 393-397] 1.3.2 Nội dung và đặc điểm khoản mục doanh thu bán hàng và phải thu khách hàng

1.3.2.1 Khoản mục doanh thu

1.3.2.1.1 Khái niệm

Theo Chuẩn mực kế toán số 14 (VAS 14) “Doanh thu và thu nhập khác” định nghĩa:

“Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ

kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu

Doanh thu gồm có doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ và doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia (doanh thu hoạt động tài chính)” [9, Trang 527]

1.3.2.1.2 Đặc điểm

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bao gồm: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các khoản giảm trừ và doanh thu thuần

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá trị hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp đã bán hay cung cấp trong kỳ Đối với doanh nghiệp là đối tượng chịu thuế gía trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, doanh thu không bao gồm thuế giá trị gia tăng

Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã khấu trừ các khoản được giảm trừ, như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu tính trên doanh thu thực hiện trong kỳ (nếu có) Riêng đối với các doanh nghiệp là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp, thuế giá trị gia tăng đầu ra được tính vào doanh thu bán hàng nhưng sau đó được đưa vào trong các khoản được giảm trừ để loại khỏi doanh thu thuần

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là một khoản mục trọng yếu trên báo

Trang 11

cáo tài chính vì đó là cơ sở để người sử dụng đánh giá về tình hình hoạt động và quy

mô kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, khoản mục này là đối tượng của nhiều sai phạm dẫn đến báo cáo tài chính bị sai lệch trọng yếu vì những lý do sau:

- Trong nhiều trường hợp, việc xác định thời điểm thích hợp và số tiền để ghi nhận

doanh thu đòi hỏi sự xét đoán, thí dụ đối với doanh thu của hợp đồng xây dựng hoặc cung cấp dịch vụ có liên quan đến nhiều niên độ

- Doanh thu có quan hệ mật thiết với kết quả lãi lỗ, nên những sai lệch về doanh thu

thường dẫn đến lãi lỗ bị trình bày không trung thực và không hợp lý

- Tại nhiều đơn vị, doanh thu còn là cơ sở để đánh giá kết quả hoặc thành tích,

nên chúng có khả năng bị thổi phồng cao hơn thực tế

- Tại Việt Nam, do doanh thu có quan hệ chặt chẽ với thuế giá trị gia tăng đầu ra

nên cũng có khả năng bị khai thấp hơn thực tế để trốn hay tránh thuế [9, Trang 528]

527-1.3.2.1.3 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu

Theo VAS 14, doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau:

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua; hoặc xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập báo cáo kế toán Doanh nghiệp phải xác định rõ ràng thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phầm, hàng hóa cho người mua Thông thường thời điểm này trùng với thời điểm chuyển giao quyền lợi ích kinh tế gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát sản phẩm hàng hóa cho người mua

- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát sản phẩm hàng hóa Khi đó, sản phẩm, hàng hóa không còn là tài sản của DN nữa và giá trị của nó được chuyển dịch vào chi phí để xác định lợi nhuận trong kì, đồng thời doanh thu bán hàng được ghi nhận

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn Doanh thu bán hàng được đo lường dựa trên số lượng sản phẩm, hàng hóa bán cho khách hàng và giá bán trên hóa đơn bán hàng

- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ bán hàng Các khoản doanh thu được ghi nhận có thể là một khoản lợi doanh nghiệp đã nhận

Trang 12

được (thu tiền ngay hoặc qua chuyển khoản) hoặc chưa nhận được (một khoản phải thu khách hàng) nhưng phải chắc chắn rằng đó là khoản mà doanh nghiệp chắc chắn nhận được trong tương lai

Xác định được chi phí liên quan đến việc bán hàng Theo nguyên tắc phù hợp, doanh thu và chi phí liên quan đến cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời Các chi phí bao gồm cả chi phí phát sau ngày giao dịch (như chi phí bảo hành và chi phí khác) thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện doanh thu được ghi nhận thỏa mãn [12, Đoạn 10]

Theo VAS 14, doanh thu cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả giao dịch

đó được xác định một cách đáng tin cậy và thỏa mãn tất cả 4 điều kiện sau:

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn

- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó

- Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng cân đối kế toán

- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao

Nợ phải thu khách hàng được trình bày trên báo cáo tài chính theo hai khoản mục như sau:

- Nợ phải thu ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc thanh toán dưới 1 năm

- Nợ phải thu dài hạn có thời gian thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm

Trên Bảng Cân Đối Kế Toán, khoản mục nợ phải thu khách hàng được trình bày tại phần Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, gồm khoản mục nợ phải thu khách hàng được ghi theo số phải thu gộp và khoản mục dự phòng phải thu khó đòi được ghi

âm Do đó, phần nợ phải thu khách hàng trừ đi phần dự phòng chính là nợ phải thu thuần

Dự phòng nợ phải thu: Là khoản mà doanh nghiệp lập ra cho mục đích dự

Trang 13

phòng phần giá trị bị tổn thất từ những khoản nợ không có khả năng thu hồi được Phương pháp lập dự phòng được thực hiện theo Thông tư số 228/2009/TT-BTC [9, Trang 392]

1.3.2.2.2 Đặc điểm

Là một tài sản khá nhạy cảm với những gian lận như bị nhân viên chiếm dụng hoặc tham ô

Là khoản mục có liên quan mật thiết đến kết quả kinh doanh, do đó là đối tượng

để sử dụng các thủ thuật thổi phồng doanh thu và lợi nhuận của đơn vị

Được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được Tuy nhiên, do việc lập dự phòng phải thu khó đòi thường dựa vào ước tính của các nhà quản lý nên có nhiều khả năng sai sót và khó kiểm tra [9, Trang 392]

1.3.3 Kiểm soát nội bộ đối với doanh thu và nợ phải thu khách hàng

Nợ phải thu và doanh thu có liên hệ với nhau và liên hệ chặt chẽ với chu trình bán hàng – thu tiền Nếu đơn vị không xây dựng hệ thống KSNB hữu hiệu đối với chu trình bán hàng – thu tiền thì việc xuất hiện sai phạm và rủi ro trên khoản mục doanh thu và nợ phải thu là điều không tránh khỏi Do đó, để tìm hiểu và đánh giá rủi ro kiểm soát của nợ phải thu khách hàng và doanh thu, KTV cần phải khảo sát

về hệ thống KSNB đối với toàn bộ chu trình bán hàng – thu tiền

Một hệ thống KSNB hữu hiệu về chu trình bán hàng – thu tiền thì đòi hỏi phải có

sự tách biệt giữa các chức năng, có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các cá nhân, bộ phận cũng như sự phê duyệt và ủy quyền của cấp có thẩm quyền Khi mức độ phân chia trách nhiệm càng cao thì các sai phạm càng dễ bị phát hiện thông qua việc đối chiếu số liệu giữa các phần hành, bộ phận khác nhau Do đó, hạn chế được khả năng xảy ra gian lận và sai sót

Chu trình bán hàng thường được chia thành các chức năng cụ thể sau:

Xét duyệt bán chịu

Trước khi bán hàng, cần căn cứ đơn đặt hàng và các nguồn thông tin khác từ trong và ngoài DN, bộ phận phụ trách bán chịu cần đánh giá về khả năng thanh toán của KH để xét duyệt việc bán chịu Đây là thủ tục kiểm soát quan trọng để đảm bảo thu hồi nợ phải thu Một số cách thức có thể hổ trợ công việc này là thiết lập chính sách bán chịu rõ ràng, vấn đề chi trả của KH Trong những môi trường kinh doanh

Trang 14

có rủi ro cao, một biện pháp khá hữu hiệu là yêu cầu khách hàng thế chấp tài sản hay

Bộ phận gửi hàng lập chứng từ chuyển hàng và gửi hàng cho KH Chứng từ này

là cơ sở để lập hóa đơn và thường bao gồm các thông tin về quy cách và chủng loại hàng hóa, số lượng và các dữ liệu có liên quan Ngoài ra, đơn vị nên thành lập

bộ phận gửi hàng độc lập để hạn chế sai sót trong khâu xuất hàng và các gian lận có thể xảy ra do sự thông đồng giữa kho với người nhận hàng

Lập và kiểm tra hóa đơn

Do hóa đơn cung cấp thông tin cho KH về số tiền mà họ phải trả nên nó cần được thiết lập chính xác và đúng thời gian Hóa đơn cần được lập bởi các bộ phận độc lập với phòng kế toán và bộ phận bán hàng, bộ phận này có trách nhiệm:

- Kiểm tra số liệu các chứng từ chuyển hàng

- So sánh lệnh bán hàng với các chứng từ chuyển hàng, đơn đặt hàng và các thông

số điều chỉnh (nếu có)

- Ghi tất cả dữ liệu cần thiết vào hóa đơn

- Ghi giá vào hóa đơn dựa trên bảng giá hiện hành của đơn vị

- Tính số tiền cho từng loại và cho cả hóa đơn

Trước khi gửi hóa đơn cho KH, cần kiểm tra lại về những số liệu ghi trên hóa đơn Tổng cộng hóa đơn phát hành từng ngày phải được ghi vào tài khoản tổng hợp trên sổ cái Từng hóa đơn được sử dụng để ghi vào tài khoản chi tiết giúp theo dõi nợ phải thu của từng KH Để tăng cường kiểm soát đối với những chức năng này, có thể:

- Thiết lập và thường xuyên cập nhập bảng giá đã được duyệt

- Quy định rõ ràng và chặt chẽ về chính sách chiết khấu

- Trước khi gửi đi, hóa đơn cần được kiểm tra lại bởi một người độc lập và một

người lập hóa đơn

Trang 15

Theo dõi thanh toán

Sau khi đã lập hóa đơn và hàng hóa đã giao cho KH, kế toán vẫn phải tiếp tục theo dõi các khoản nợ phải thu

Để theo dõi chặt chẽ việc thu tiền, cần phải liệt kê các khoản nợ phải thu theo từng nhóm tuổi để theo dõi và phân công đòi nợ, thông thường công việc này được giao cho bộ phận phụ trách bán chịu Ngoài ra, để giảm thiểu sai phạm, đơn vị có thể phân công cho hai nhân viên khác nhau phụ trách kế toán chi tiết công nợ và kế toán tổng hợp Tuy nhiên, cần lưu ý rằng gian lận vẫn có thể xảy ra nếu họ thông đồng với nhau

Ngoài ra, nên thường xuyên thực hiện thủ tục gửi thông báo nợ cho KH Điều này, một mặt sẽ giúp cho đơn vị nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu, mặt khác còn giúp đơn vị xác minh và điều chỉnh kịp thời những chênh lệch (nếu có) giữa số liệu của hai bên Thủ tục gửi thông báo nợ có thể thực hiện định kỳ hàng tuần, hàng tháng hay hàng quý trong năm, và dưới nhiều hình thức như gửi emai, fax, gửi thư qua bưu điện hay nhân viên theo dõi công nợ hai bên trực tiếp trao đổi với nhau

Xét duyệt hàng bán trả lại, hay giảm giá

Nếu KH không hài lòng với số hàng nhận được do sai quy cách hay kém phẩm chất, họ có thể gửi trả lại cho đơn vị Vì thế, DN cần có một bộ phận độc lập chịu trách nhiệm tiếp nhận, xét duyệt cũng như khấu trừ những khoản liên quan đến các hàng hóa này, và có đơn vị đã thiết kế một chứng từ riêng để phản ánh sự xét duyệt đối với hàng bị trả lại hay giảm giá, chứng từ này cũng được sử dụng làm căn cứ ghi sổ nghiệp vụ

Cho phép xóa sổ các khoản nợ không thu hồi được

Khi không còn hy vọng thu hồi các khoản nợ phải thu KH, nhà quản lý có trách nhiệm xem xét để cho phép hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền cho phép xóa sổ các khoản nợ này Căn cứ vào đó, bộ phận kế toán sẽ ghi chép vào sổ sách

Để tăng cường kiểm soát việc xóa sổ nợ phải thu khó đòi, hạn chế các gian lận có thể phát sinh, đơn vị cần quy định chặt chẽ thủ tục xét duyệt vấn đề này [9, Trang 393-397]

1.4 Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng trong báo cáo tài chính

1.4.1 Lập kế hoạch

Trang 16

a) Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán

* Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán

Để đưa ra quyết định chấp nhận hay duy trì một khách hàng KTV cần xem xét các vấn đề sau: Tính độc lập của công ty kiểm toán; khả năng phục vụ tốt khách hàng; tính liêm chính của ban quản trị doanh nghiệp được kiểm toán; hệ thống kế toán của khách hàng phải cung cấp đầy đủ bằng chứng chứng minh nghiệp vụ kinh tế phát sinh; thỏa thuận phí kiểm toán với khách hàng

Đối với khách hàng mới chưa được công ty nào kiểm toán trước đây, KTV cần nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành; thu thập thông tin từ luật sư của công

ty khách hàng, ngân hàng, các doanh nghiệp khác có quan hệ với khách hàng; thuê các nhà điều tra chuyên nghiệp

Đối với khách hàng mới đã được kiểm toán bởi công ty khác, KTV cần liên lạc với KTV tiền nhiệm (nếu được khách hàng đồng ý) để thu thập thông tin về tính liêm chính của ban quản trị; những bất đồng giữa ban quản trị với KTV tiền nhiệm, lý do khách hàng thay đổi KTV, vị trí công ty khách hàng trong ngành và tình trạng tài chính

* Tìm hiểu lý do mời kiểm toán của khách hàng

Đây là cơ sở để thiết kế phương pháp kiểm toán và lựa chọn đội ngũ KTV thích hợp

* Lựa chọn đội ngũ kiểm toán viên

Việc lựa chọn đội ngũ KTV phải dựa trên yêu cầu về số người; trình độ, khả năng của KTV; yêu cầu về chuyên môn kĩ thuật cũng như qui mô của hợp đồng kiểm toán

* Ký kết hợp đồng kiểm toán

Hợp đồng kiểm toán phải được lập và kí chính thức trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và của công ty kiểm toán Trong trường hợp đặc biệt, có thể sử dụng văn bản cam kết thay cho hợp đồng kiểm toán

* Thu thập thông tin chung về khách hàng

- Ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng: môi trường và lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý, cơ cấu vốn

Trang 17

- Các thông tin về khía cạnh kinh doanh liên quan đến bán hàng bao gồm: Sản phẩm, dịch vụ chính của doanh nghiệp; cơ cấu các loại doanh thu trong tổng doanh thu; cách thức bán hàng của doanh nghiệp áp dụng chủ yếu…

- Hệ thống kế toán: KTV tìm hiểu về bộ máy kế toán, hình thức kế toán, tổ chức chứng từ, tổ chức ghi sổ kế toán và lập báo cáo kế toán

- Hệ thống kiểm soát nội bộ

- Các bên liên quan: Các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức, các cá nhân, tổ chức có khả năng kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với đơn vị

- Hình thức sở hữu và nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

* Phương pháp tìm hiểu

- Thu thập và nghiên cứu tài liệu về tình hình kinh doanh

- Tham quan nhà xưởng, kho hàng, cửa hàng, văn phòng làm việc… của đơn vị Việc này sẽ giúp KTV hiểu khái quát về phương thức sử dụng và bảo vệ tài sản, đánh giá sơ bộ về kiểm soát nội bộ và giúp cho KTV phân tích và xác định các trọng tâm kiểm toán

- Phỏng vấn

- Phân tích sơ bộ báo cáo tài chính

* Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Như vậy, sai lệch chỉ được xem là trọng yếu khi có ảnh hưởng quan trọng đến

Trang 18

BCTC và quyết định của người sử dụng nó Sai sót có thể trọng yếu bởi số tiền (tiêu chuẩn định lượng) hoặc do bản chất của vấn đề (tiêu chuẩn định tính) Việc ước tính này mang tính xét đoán của KTV, do đó có thể điều chỉnh trong suốt cuộc kiểm toán

* Phương pháp xác lập mức trọng yếu

Mức trọng yếu là số tiền sai lệch tối đa có thể chấp nhận được của thông tin, nghĩa là nếu sai lệch vượt khỏi số tiền đó sẽ làm người đọc hiểu sai về thông tin Mức trọng yếu cần được xem xét ở mức độ tổng thể báo cáo tài chính và mức độ từng khoản mục

Việc xác lập mức trọng yếu ở cả hai mức độ là vấn đề thuộc về xét đoán nghề nghiệp của KTV, nghĩa là trong từng trường hợp cụ thể, dựa trên kinh nghiệm và

sự xét đoán, kiểm toán viên sẽ xác định và chịu trách nhiệm về phán đoán của mình Ngoài ra, KTV cũng phải cân nhắc giữa sự hữu hiện và chi phí kiểm toán, bởi vì thiết lập một mức trọng yếu thấp tuy sẽ giúp tăng khả năng phát hiện sai lệch trọng yếu, nhưng đồng thời cũng làm cho chi phí kiểm toán tăng lên

* Đánh giá rủi ro kiểm toán

“Rủi ro kiểm toán (AR) là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn những sai sót trọng yếu.” (Đoạn 7 VSA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ)

Các thành phần của rủi ro kiểm toán: Rủi ro tiềm tàng (IR), rủi ro kiểm soát (CR), rủi ro phát hiện (DR)

Theo VSA 400, mối quan hệ giữa các loại rủi ro còn được xác lập bằng một bảng dưới dạng ma trận nhằm xác định rủi ro phát hiện như sau

Bảng 1.3_Đánh giá rủi ro kiểm toán

Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát Cao Trung bình Thấp Đánh giá của

KTV về rủi ro

tiềm tàng

Cao Tối thiểu Thấp Trung hình

Trung bình Thấp Trung bình Cao

Thấp Trung bình Cao Tối đa Nguồn: VAS 400 Trong cả hai cách trình bày trên, ta thấy rủi ro phát hiện luôn tỷ lệ nghịch với rủi

Trang 19

ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát [9, Chương IV]

1.4.2 Thực hiện kiểm toán

Tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB đối với doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng

- Tìm hiểu về hệ thống KSNB

Việc nghiên cứu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát của khách hàng thể hiện sự tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp của KTV Trên cơ sở hiểu biết về hệ thống KSNB của khách hàng, các KTV sẽ phác thảo sơ bộ về khối lượng và độ phức tạp của công việc, thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm toán phù hợp với từng khách hàng

Khi kiểm toán khoản mục doanh thu và nợ phải thu khách hàng, KTV cần phải tìm hiểu về hệ thống KSNB đối với hai khoản mục này Kiểm soát nội bộ đối với các khoản mục này gồm các thủ tục kiểm soát trong việc tổ chức bán hàng và theo dõi

nợ phải thu khách hàng, tức từ khi nhận đơn đặt hàng, xem xét phương thức thanh toán, vận chuyển, lập hóa đơn, ghi chép doanh thu, nợ phải thu KH cho đến khi được

KH trả tiền và ghi tăng quỹ Để tìm hiểu về kiểm soát nội bộ đối với doanh thu và

nợ phải thu, KTV có thể thiết lập bảng câu hỏi gồm những vấn đề chính như sau: [9, Trang 397-398]

Bảng 1.4_Bảng câu hỏi về KSNB đối với chu trình bán hàng – thu tiền

1 Các khoản bán chịu có được xét duyệt trước khi gửi hàng

hay không?

2 Các chứng từ gửi hàng và hóa đơn có được đánh số thứ

tự trước khi sử dụng hay không?

3 Các hóa đơn bán hàng có được đánh số liên tục trước khi

sử dụng hay không?

4 Có bảng giá được duyệt để làm cơ sở tính tiền trên hoá

đơn hay không ?

5 Có quy định bắt buộc kiểm tra để bảo đảm rằng mọi

hàng hoá gửi đi đều được lập hóa đơn hay không?

6 Hàng tháng có gửi bảng sao kê công nợ cho khách hàng

hay không?

Trang 20

7 Hóa đơn có được kiểm tra độc lập trước khi gửi đi hay

không?

8 Định kì có tiến hành đối chiếu công nợ với khách hàng

hay không?

9 Có thực hiện việc đối chiếu giữa bảng tổng hợp chi tiết

phải thu khách hàng với sổ cái TK 131 hay không?

10 Có chính sách dự phòng nợ phải thu khó đòi hay không?

11 Việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi có hợp lý và

có sự phê duyệt của người có thẩm quyền hay không?

Nguồn: Giáo trình kiểm toán, trường ĐHKT TPHCM, NXB Lao Động Ngoài bảng câu hỏi thì KTV có thể thực hiện thêm kĩ thuật “kiểm tra từ đầu đến cuối” – Walk through, cụ thể là KTV sẽ chọn ra một vài nghiệp vụ và lần theo từng bước thực hiện, để kiểm tra thực tế có diễn ra đúng như bảng câu hỏi hay không Nếu không sẽ điều chỉnh lại bảng câu hỏi cho đúng với thực tế

Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát

Từ những hiểu biết về hệ thống KSNB của đơn vị, KTV đưa ra đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát, nhận diện những điểm mạnh và điểm yếu của kiểm soát nội bộ nhằm thiết kế các thử nghiệm kiểm soát cần phải tiến hành

Trên cơ sở các hiểu biết về KSNB, KTV đưa ra đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát Nếu rủi ro kiểm soát đối với doanh thu và nợ phải thu được đánh giá thấp hoặc trung bình, KTV sẽ thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để kiểm định lại

về mức đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu Kết quả của thử nghiệm kiểm soát là cơ

sở để KTV xác định qui mô, phạm vi của thử nghiệm cơ bản cần thiết Ngược lại, nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá cao thì KTV sẽ không thực hiện thử nghiệm kiểm soát và gia tăng phạm vi, qui mô thực hiện các thử nghiệm cơ bản.[9, Trang 399]

Thực hiện thử nghiệm kiểm soát đối với doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng

Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp thì KTV sẽ thiết kế các thử nghiệm kiểm soát Một số thử nghiệm kiểm soát đối với doanh thu và nợ phải thu khách hàng thường được sử dụng như sau:

Trang 21

Mục tiêu kiểm soát: Sự phát sinh

- Chọn mẫu các chứng từ chuyển hàng để đối chiếu với hóa đơn liên quan Thử nghiệm này nhằm đảm bảo các hóa đơn được lập trên cơ sở số hàng được giao

- KTV chọn mẫu hóa đơn bán hàng trong kì Sau đó kiểm tra chữ kí xét duyệt bán chịu và cơ sở xét duyệt để xem có tuân thủ các thủ tục xét duyệt bán chịu hay không

- Tìm hiểu chính sách chiết khấu của doanh nghiệp, và xem các sổ sách liên quan để kiểm tra việc thực hiện chính sách này

- Xem xét sự xét duyệt và ghi chép về hàng bán bị trả lại, hay bị hư hỏng

Để kiểm tra sự hiện hữu cũng như sự hữu hiệu của thủ tục kiểm soát trên, KTV có thể chọn mẫu chứng từ liên quan (như chứng từ nhận hàng bị trả lại) để kiểm tra chữ kí xét duyệt của người có thẩm quyền và đối chiếu qui trình thực tế với qui định của đơn vị

- Kiểm tra các bản đối chiếu công nợ với khách hàng và xem xét việc xử lý chênh lệch

Mục tiêu kiểm soát: Sự đầy đủ

- Kiểm tra số thứ tự của các đơn đặt hàng, chứng từ chuyển hàng và hóa đơn bán hàng Thử nghiệm này nhằm đảm bảo các nghiệp vụ bán hàng đều được ghi chép đầy đủ vào sổ sách

Mục tiêu kiểm soát: Sự đánh giá

- So sánh giá trên hóa đơn với bảng giá đã được duyệt

- Kiểm tra việc trích lập dự phòng có đúng tài khoản, số tiền hay không

Mục tiêu kiểm soát: Sự ghi chép chính xác

KTV chọn mẫu các hóa đơn phát hành trong kì:

- Đối chiếu với đơn đặt hàng, lệnh bán hàng, chứng từ chuyển hàng về chủng loại, qui cách, số lượng, giá cả, ngày gửi hàng, chữ kí…nhằm thu thập bằng chứng rằng hóa đơn được lập trên cơ sở các nghiệp vụ bán hàng thực sự xảy ra và quá trình thực hiện nghiệp vụ đã tuân thủ đúng các qui định nội bộ của đơn vị

- Xem xét số tổng cộng từng loại hàng, tổng cộng từng loại hóa đơn

Trang 22

- Đối chiếu số liệu giữa bảng tổng hợp chi tiết phải thu khách hàng với sổ cái

TK 131 xem thử có chênh lệch không [9, Trang 399-400]

Đánh giá lại rủi ro kiểm soát và thiết kế các thử nghiệm cơ bản

Sau khi thực hiện các thử nghiệm trên, KTV sẽ đánh giá mức rủi ro kiểm soát cho mỗi cơ sở dẫn liệu liên quan đến khoản nợ phải thu khách hàng Khi đánh giá KTV nên nhận diện những điểm yếu của hệ thống kiểm soát nội bộ để mở rộng các thử nghiệm cơ bản và những điểm mạnh cho phép giảm thiểu các thử nghiệm cơ

bản [9, Trang 401]

Thực hiện thử nghiệm cơ bản

* Đối với kiểm toán doanh thu

Các thử nghiệm cơ bản đối với khoản mục doanh thu bán hàng được thể hiện tóm lược qua Bảng 1.5 – Các thử nghiệm cơ bản đối với doanh thu bán hàng

Bảng 1.5 Các thử nghiệm cơ bản đối với doanh thu bán hàng

Thủ tục

phân tích

- Lập bảng phân tích doanh thu theo từng tháng, từng đơn vị trực thuộc…và xem xét các trường hợp tăng hay giảm bất thường

- So sánh doanh thu của kỳ này với kỳ trước theo từng tháng Các biến động bất thường cần được giải thích nguyên nhân

- Tính tỷ lệ lãi gộp của những mặt hàng, loại

hình dịch vụ chủ yếu và so sánh với năm trước

Phát sinh, đầy đủ, đánh giá

Kiểm tra việc ghi chép đầy đủ các khoản

Kiểm tra tính chính xác của số tiền ghi nhận

Kiểm tra sự phân loại doanh thu Trình bày, đánh giá

Trang 23

Kiểm tra việc khóa sổ đối với nghiệp vụ bán

đã dự kiến.”

Để kiểm tra tính hợp lý chung của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, KTV

có thể sử dụng một số thủ tục phân tích như đã trình bày trong Bảng 1.5 – Các thử nghiệm cơ bản đối với doanh thu bán hàng – trang 22 Nhưng cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Đối với thủ tục tính tỷ lệ lãi gộp của những mặt hàng, loại hình dịch vụ chủ yếu và

so sánh với năm trước, nếu chênh lệch quá cao cần tìm ra nguyên nhân cụ thể hoặc những sai phạm có thể xảy ra Bởi vì thông thường lãi gộp là một chỉ tiêu tương đối ổn định nếu doanh nghiệp không có những phương án kinh doanh mới hoặc thay đổi mặt hàng kinh doanh

- Trong quá trình phân tích có những biến động lớn thì có thể dự đoán những nguyên nhân xảy ra như sau:

+ Những thay đổi trong chính sách kinh doanh của đơn vị như thay đổi giá bán, thay đổi mặt hàng…

+ Có sai sót trong số liệu của kế toán như ghi chép trùng, thiếu…

+ Doanh thu và các khoản giảm trừ đã bị khai khống hoặc khai thiếu.[9, Trang 529]

528-Thử nghiệm chi tiết

Kiểm tra sự có thực của các khoản doanh thu bán hàng & cung cấp dịch vụ

đã được ghi chép

- Mục tiêu thử nghiệm là để phát hiện các nghiệp vụ bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ không xảy ra nhưng lại được ghi trên sổ nhật ký bán hàng Kiểm toán

Trang 24

viên có thể thực hiện các thủ tục sau:

+ Đối chiếu các khoản doah thu bán hàng được ghi chép trên nhật ký bán hàng với các chứng từ gốc liên quan như đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, lệnh bán hàng hoặc phiếu xuất kho, vận đơn, hóa đơn,…Còn đối với doanh thu cung cấp dịch vụ, các chứng từ gốc chứng minh cho nghiệp vụ phát sinh rất đa dạng

vì phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng đơn vị Trong trường hợp này, KTV căn cứ vào hiểu biết của mình về hệ thống kiểm soát nội bộ để lựa chọn thủ tục kiểm toán phù hợp

+ Lấy mẫu các nghiệp vụ bán hàng và xem xét quá trình thu tiền Đối với các khoản đã được thanh toán, đó chính là bằng chứng cho biết nghiệp vụ bán hàng

đã thực sự xảy ra

+ Ngoài ra, kiểm toán viên cần tìm hiểu việc ghi nhận doanh thu xem có phù hợp với các điều kiện đã được quy định trong chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không

Kiểm tra việc ghi chép đầy đủ các khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

- Mục tiêu của thủ tục này là nhằm phát hiện các nghiệp vụ bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ không được ghi trên sổ kế toán Do đó, KTV sẽ xuất phát từ những chứng từ gốc để kiểm tra việc ghi chép các nghiệp vụ trên nhật ký bán hàng Còn việc lựa chọn loại chứng từ gốc nào thì cần dựa trên đặc điểm kiểm soát nội bộ của đơn vị trong nghiệp vụ bán hàng; thông thường nên chọn loại chứng từ được lập ra cho mọi nghiệp vụ bán hàng, thí dụ các vận đơn Trong trường hợp đơn vị không sử dụng vận đơn, KTV có thể tìm kiếm các tài liệu khác như thẻ kho, sổ theo dõi xuất hàng ở bộ phận bào vệ… và dựa vào đó để xác minh

Kiểm tra tính chính xác của số tiền ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Đối với các hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ thông thường, mục đích của thử nghiệm nhằm bảo đảm các nghiệp vụ này được tính giá đúng Thông thường, KTV cần kiểm tra những nội dung sau đây của hóa đơn:

- So sánh với vận đơn, đơn đặt hàng, lệnh bán hàng…để xác định về chủng loại và số lượng hàng hóa tiêu thụ

- Đối chiếu với bảng giá, các bảng xét duyệt giá, hợp đồng…để xác định

Trang 25

đơn giá của hàng hóa tiêu thụ Rà soát lại các khoản chiết khấu, giảm giá để xem có phù hợp với chính sách bán hàng của đơn vị hay không

- Kiểm tra việc tính toán trên hóa đơn

- Đối với các trường hợp bán hàng bằng ngoại tệ, KTV cần kiểm tra việc quy đổi tiền Việt Nam

- Như đã nêu trên, trong một số lĩnh vực kinh doanh, doanh thu được ghi nhận theo quy định riêng của chuẩn mực và chế độ kế toán Vì thế, KTV phải xem

số tiền ghi nhận doanh thu có được xác định phù hợp với các quy định này hay không Dưới đây là một số thí dụ minh họa:

- Trong trường hợp bán hàng trả chậm, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ bao gồm giá trị hiện tại của các khoản tiền sẽ thu Phần chênh lệch sẽ được ghi nhận là doanh thu hoat động tài chính

- Trong hoạt đông trao đổi tài sản không tương tự, doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của tài sản nhận về sau khi điều chỉnh các khoản tiền (hoặc tương đương tiền) trả thêm hoặc nhận thêm Nếu không xác định được giá trị hợp lý của tài sản nhận về, đơn vị có thể dùng giá trị hợp lý của tài sản mang đi trao đổi để điều chỉnh các khoản tiền (hoặc tương đương tiền) trả thêm hoặc nhận bù

- Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ có liên quan đến nhiều niên độ, doanh thu được ghi nhận theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo đó, doanh thu được ghi nhận vào kỳ kế toán theo tỷ lệ phần trăm công việc đã hoàn thành

Trong những trường hợp trên, KTV bắt đầu bằng việc phỏng vấn đơn vị về phương pháp kế toán sử dụng, xem xét sự phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành và tính nhất quán Sau đó, KTV cần kiểm tra các dữ liệu sử dụng và việc tính toán chính xác của đơn vị

Kiểm tra việc phân loại doanh thu

Thử nghiệm này nhằm tránh những trường hợp không phân loại đúng nên dẫn đến việc ghi chép, hay trình bày sai về doanh thu Cụ thể, KTV sẽ xem xét về sự phân biệt giữa:

- Doanh thu bán chịu và doanh thu thu tiền ngay

- Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ và các khoản doanh thu hoạt động tài chính như các khoản lãi phát sinh do bán trả góp…

Trang 26

- Các loại doanh thu là đối tượng của các loại thuế khác nhau( thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…), có thuế suất khác nhau, hoặc khác nhau về cơ sở xác định doanh thu chịu thuế Loại sai phạm này sẽ dẫn đến việc tính thuế không đúng, thí

dụ như:

 Giữa hàng do đơn vị sản xuất và hàng do đơn vị mua về để bán

 Giữa hàng của đơn vị sản xuất và hàng do đơn vị nhận để gia công

 Giữa hàng đơn vị mua về để bán và hàng do đơn vị làm đại lý tiêu thụ

Kiểm tra việc khóa sổ đối với nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ

Việc ghi chép các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ không đúng niên độ

sẽ dẫn đến những sai lệch trong doanh thu và lãi lỗ Vì thế cần thử nghiệm để phát hiện các nghiệp vụ của niên độ này lại bị ghi sang năm sau và ngược lại

KTV sẽ lựa chọn một số nghiệp vụ xảy ra trước và sau thời điểm khóa sổ để kiểm tra chứng từ gốc, so sánh giữa ngày ghi trên vận đơn, nhật ký bán hàng và các sổ chi tiết [9, Trang 529-533]

* Đối với nợ phải thu khách hàng

Các thử nghiệm cơ bản đối với nợ phải thu khách hàng được thể hiện tóm lược qua Bảng 1.6 - Các thử nghiệm cơ bản đối với nợ phải thu khách hàng như sau

Bảng 1.6 Các thử nghiệm cơ bản đối với nợ phải thu khách hàng

toán

Thủ tục

phân tích

Tính các tỷ số:

- Nợ phải thu khách hàng/ Doanh thu

- Nợ phải thu khách hàng/ Tổng tài sản ngắn hạn

- Dự phòng phải thu khó đòi/ Doanh thu bán chịu

Hiện hữu, Đầy đủ, Đánh giá, Ghi chép chính xác

Trang 27

Gửi thư xác nhận đến khách hàng Hiện hữu, Quyền Kiểm tra việc lập dự phòng phải thu khó đòi Đánh giá Kiểm tra việc khóa sổ nghiệp vụ bán hàng Hiện hữu, Đầy đủ Nguồn: Giáo trình kiểm toán, trường ĐHKT TPHCM, NXB Lao Động

Nợ phải thu khách hàng thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn dùng để đánh giá khả năng thanh toán của đơn vị, rất dễ xảy ra gian lận và sai sót Ở đây ta cần quan tâm đến hai tài khoản là nợ phải thu khách hàng và dự phòng phải thu khó đòi

* Thủ tục phân tích

Các thủ tục phân tích thường được sử dụng khi thực hiện kiểm toán nợ phải thu khách hàng là:

Thử nghiệm 1: Tính tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu

KTV thường tính tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu và so sánh với tỷ lệ của ngành hoặc của năm trước Sự biến động trong tỷ lệ này có thể xuất phát từ hoạt động kinh doanh của đơn vị, như sự thay đổi chính sách giá của đơn vị, biến động giá hàng mua hoặc do thay đổi cơ cấu mặt hàng Tuy nhiên, sự biến động của tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu cũng có thể xuất phát từ các sai sót trong số liệu kế toán Chẳng hạn việc ghi chép thiếu doanh thu có thể làm tỷ lệ này sụt giảm bất thường

Thử nghiệm 2: Tính số vòng quay nợ phải thu khách hàng

Số vòng quay nợ phải thu khách hàng được tính trên cơ sở đem chia doanh thu bán chịu cho nợ phải thu khách hàng bình quân Việc so sánh tỷ số này với số liệu của ngành hoặc của năm trước có thể giúp KTV hiểu biết về hoạt động kinh doanh của đơn vị cũng như dự đoán khả năng có sai lệch trong báo cáo tài chính do:

- Sự thay đổi chính sách bán chịu của đơn vị, thí dụ đơn vị đã mở rộng hoặc thu hẹp điều kiện, thời hạn bán chịu…

Trang 28

- Khả năng tồn đọng nợ phải thu khó đòi trong nợ phải thu khách hàng của đơn vị vì điều này liên quan đến việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

- Sai lệch trong số liệu kế toán, thí dụ do việc ghi chép trùng lắp hay bỏ sót các khoản nợ phải thu khách hàng

Thử nghiệm 3: So sánh số dư nợ quá hạn năm nay so với năm trước

Thủ tục này cũng giúp KTV ghi nhận những biến động trong thu hồi nợ và khả năng có sai lệch trong số liệu nợ phải thu khách hàng KTV có thể mở rộng thủ tục này bằng cách so sánh bảng phân tích số dư theo tuổi nợ của cuối kỳ với đầu kỳ để ghi nhận những biến động của các khoản phải thu quá hạn theo những mức thời gian khác nhau (thí dụ 30 ngày, 30-60 ngày, trên 60 ngày…)

Thử nghiệm 4: Tính tỷ số chi phí dự phòng trên số dư nợ phải thu khách hàng

Việc so sánh tỷ số này với tỷ số năm trước rất hữu ích vì giúp KTV đánh giá sự hợp lý của việc lập dự phòng nợ phải thu khó đòi

Ngoài việc phân tích chung, KTV cần xem xét lại bảng kê nợ phải thu khách hàng để chọn ra một số khách hàng có mức dư nợ vượt quá một số tiền nào đó, hoặc có

số dư kéo dài trong nhiều năm để nghiên cứu chi tiết hơn [9, Trang 401-404]

* Thử nghiệm chi tiết

Thử nghiệm 1: Kiểm tra bảng số dư chi tiết phân tích theo tuổi nợ và đối chiếu với sổ chi tiết và sổ cái

Thử nghiệm chi tiết về khoản mục nợ phải thu khách hàng chủ yếu dựa vào bảng bảng số dư chi tiết phân tích theo tuổi nợ Bảng này liệt kê số dư của từng khách hàng và sắp xếp theo thời gian quá hạn trả nợ tính từ ngày hết hạn trả nợ đến ngày lập báo cáo Bảng này thường được đơn vị lập ngay khi kết thúc niên độ, hoặc do KTV tự lập

Thử nghiệm 2: Gửi thư xác nhận công nợ đến khách hàng

Đây là thủ tục được dùng phổ biến nhất để xác nhận tính hữu hiệu và quyền sở hữu của các khoản phải thu khách hàng Có hai phương pháp gửi thư xác nhận khách hàng, đó là: xác nhận toàn bộ và xác nhận không toàn bộ

Trong phương pháp xác nhận toàn bộ, KTV yêu cầu khách hàng trả lời trong mọi trường hợp Nếu sau một thời gian mà chưa nhận được thư trả lời KTV sẽ gửi thư nhắc nhở Đây là loại xác nhận cung cấp bằng chứng tin cậy Còn đối với hình thức

Trang 29

xác nhận không toàn bộ KTV chỉ yêu cầu khách hàng trả lời nếu có bất đồng về thông tin đề nghị xác nhận Hình thức này không mang lại độ tin cậy cao, bởi vì việc không trả lời của khách chưa chắc là không có sai phạm mà có thể là do thư bị thất lạc Do đó nó có thể được sử dụng trong trường hợp rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp và các khoản phải thu cần xác nhận có giá trị nhỏ

Thử nghiệm 3: Kiểm tra việc lập dự phòng khó đòi

Bước đầu tiên trong việc kiểm toán các khoản lập dự phòng là xem xét lại chính sách bán chịu của đơn vị Nếu chính sách bán chịu không đổi mà số dư tài khoản nợ phải thu thay đổi thì nguyên nhân có thể là do đơn vị thay đổi tình hình kinh doanh và doanh số bán

Để xác định đơn vị có lập đủ các khoản lập dự phòng hay không, trước tiên cần lập Bảng phân tích dự phòng phải thu khó đòi Sau đó KTV cần đối chiếu những khoản ghi Nợ vào tài khoản dự phòng phải thu khó đòi đến các chứng từ liên quan cũng như tài khoản tổng hợp trên sổ cái Đồng thời so sánh bút toán ghi Có ở tài khoản này với tài khoản chi phí dự phòng về nợ không thu hồi được

Năm 2013, Bộ Tài Chính vừa ban hành Thông tư 89/2013/TT-BTC ngày 28/6/2013, sửa đổi một số nội dung trong việc trích lập dự phòng của Thông tư 228/2009/TT-BTC Cụ thể là đối với các khoản đầu tư dài hạn Theo đó, chỉ tiêu

“vốn chủ sở hữu thực có” sẽ được xác định trên cơ sở BCTC của năm trích lập dự phòng, thay cho quy định trước đây là BCTC của năm liền trước năm trích lập Với các tổ chức đã trích lập dự phòng đầu tư tài chính trên cơ sở BCTC của năm trước không cần phải điều chỉnh việc trích lập dự phòng theo quy định của Thông tư này Đối với việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, trong Thông tư 89/2013/TT- BTC không có sự sửa đổi nào, vẫn áp dụng theo Thông tư 228/2009/TT-BTC của

Bộ Tài Chính

Thử nghiệm 4: Kiểm tra việc khóa sổ các nghiệp vụ bán hàng

Để kiểm tra việc đúng kỳ, thủ tục kiểm toán có thể áp dụng là lập bảng liệt kê các nghiệp vụ bán hàng diễn ra trong một số ngày trước và sau ngày khóa sổ để so sánh với hóa đơn bán hàng và với các chứng từ liên quan

Xem xét tất các các khoản hàng trả lại sau ngày kết thúc niên độ có liên quan đến

số hàng bán trong niên độ trước, để loại trừ khả năng doanh thu có thể bị tăng giả

Trang 30

tạo Bên cạnh đó, KTV cần chọn mẫu để so sánh giữa ngày ghi trên các chứng từ chuyển hàng với ngày ghi trên hóa đơn bán hàng và sổ kế toán

Thử nghiệm 5: Xem xét các khoản nợ phải thu khách hàng đang được thế chấp

Trong một số trường hợp, khách hàng không còn quyền sở hữu đầy đủ với các khoản nợ vì đã bị đem đi cầm cố thế chấp

Bằng chứng về sự thế chấp các khoản phải thu khách hàng có thể được thu thập thông qua thư xác nhận Ngoài ra, việc phân tích tài khoản 635 – Chi phí lãi vay giúp KTV phát hiện các khoản vay có thế chấp và đọc các biên bản họp và các tài liệu có liên quan hay phỏng vấn nhân viên cũng là một chỉ dẫn tốt

Thử nghiệm 6: Đánh giá về sự trình bày và khai báo các khoản nợ phải thu khách hàng trên báo cáo tài chính

Xem xét các khoản nợ phải thu khách hàng có tách biệt với các khoản nợ phải thu khác Các khoản nợ phải thu khách hàng ngắn hạn và dài hạn cần được trình bày cách biệt trên Bảng cân đối kế toán Cần lưu ý nếu tài khoản chi tiết phải thu khách hàng có số dư có thì phải trình bày ở mục nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán

Xem xét các quy định khác về trình bày và công bố khoản nợ phải thu khách hàng trên Báo cáo tài chính [9, Trang 405-421]

1.4.3 Kết thúc kiểm toán

Xem xét các khoản nợ tiềm tàng

Trong thực tế, có những sự kiện đã phát sinh trong năm và có thể dẫn đến một khoản công nợ hay thiệt hại mà cho đến thời điểm khóa sổ vẫn chưa thể xác định là

có chắc chắn xảy ra hay không và số tiền cụ thể sẽ là bao nhiêu

Những nghĩa vụ trên thường được gọi là nợ tiềm tàng Nợ tiềm tàng là nghĩa vụ có thể có do một sự kiện đã xảy ra tạo nên, tuy nhiên nghĩa vụ này thực sự có hay không thì còn tùy thuộc vào những sự kiện trong tương lai và nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị

Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày khóa sổ kế toán lập báo cáo tài

chính

Các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ cần điều chỉnh báo cáo tài chính

Đây là các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cung cấp các bằng chứng về các sự việc đã tồn tại trong năm tài chính, và có ảnh hưởng đến các đánh

Trang 31

giá trong quá trình lập BCTC, do đó cần phải điều chỉnh BCTC

Chẳng hạn một sự kiện liên quan đến khoản phải thu khách hàng như sau: Sau ngày kết thúc niên độ, một khách hàng quan trọng của doanh nghiệp bị phá sản, làm cho khoản phải thu đối với khách hàng trở nên không thể đòi được Nếu nguyên nhân

sự phá sản của khách hàng là do tình hình tài chính khó khăn từ trước đó, thì sự kiện khách hàng bị phá sản đã cung cấp bằng chứng rằng khoản phải thu đó không thể thu được vào ngày kết thúc niên độ, do đó KTV cần yêu cầu doanh nghiệp tăng mức dự phòng phải thu khó đòi

Các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ không cần điều chỉnh báo cáo tài

chính

Đây là sự kiện chỉ thực sự xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, nên không cần điều chỉnh BCTC Tuy nhiện nếu các sự kiện này là trọng yếu, doanh nghiệp phải trình bày trên Thuyết minh BCTC về nội dung và số liệu của sự kiện, ước tính ảnh hưởng

về tài chính của sự kiện đó, hoặc nêu lý do không thể ước tính được các ảnh hưởng này, theo yêu cầu của VAS 23 đoạn 19

Chẳng hạn một sự kiện liên quan đến khoản phải thu khách hàng như sau: Sau ngày kết thúc niên độ, một khách hàng quan trọng của doanh nghiệp bị phá sản, làm cho khoản phải thu đối với khách hàng trở nên không thể đòi được Nếu sự phá sản của khách hàng là do nguyên nhân bất ngờ chẳng hạn như bị thiên tai, hỏa hạn sau ngày kết thúc niên độ, trong trường hợp này không thể điều chỉnh số liệu trên BCTC, vì đến ngày kết thúc niên độ, khách hàng vẫn có khả năng thanh toán khoản nợ phải thu KTV sẽ yêu cầu doanh nghiệp khai báo thông tin này trên thuyết minh báo cáo tài chính

Xem xét về giả định hoạt động liên tục

Đoạn 04 VAS 01 “Chuẩn mực chung” định nghĩa về giả định hoạt động liên tục như sau: “Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động củ mình Trường hợp thực tế khác với dự định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.” Như vậy xem xét về giả định hoạt động liên tục là một vấn đề quan trọng

Trang 32

trong kiểm toán báo cáo tài chính Do đó, KTV bắt buộc phải lưu tâm xem xét sự thích hợp của giả định này trong suốt quá trình kiểm toán BCTC để có ý kiến thích hợp trên báo cáo kiểm toán.”

Đánh giá tổng quát về kết quả kiểm toán

Áp dụng các thủ tục phân tích để đánh giá tính đồng bộ và xác thực của các thông tin tài chính thu thập được, nhất là số liệu kiểm toán các khoản mục trên báo cáo tài chính

Đánh giá sự đầy đủ của bằng chứng để xem xét xem bằng chứng kiểm toán thu thập có đủ để kết luận rằng BCTC của đơn vị là trung thực và hợp lý

Đánh giá tổng hợp các sai sót phát hiện được: Đối với các sai sót trọng yếu, KTV

đã lập ra các bút toán điều chỉnh ngay trong quá trình kiểm toán, còn các sai sót còn lại sẽ không trọng yếu nếu xét riêng từng sai sót, nhưng có thể sẽ trở nên trọng yếu khi kết hợp với nhau Do đó, KTV cần ghi lại các sai sót chưa được điều chỉnh để tiến hành đánh giá tổng hợp ảnh hưởng của chúng đến BCTC khi chuẩn bị kết thúc kiểm toán

Sau đó, KTV sẽ so sánh các sai sót dự kiến của khoản mục với mức sai sót có thể bỏ qua để quyết định xem có thể chấp nhận khoản mục đó hay không? Cuối cùng, KTV cần tổng hợp toàn bộ sai sót dự kiến của các khoản mục để xem chúng có vượt mức trọng yếu của BCTC hay không và kết hợp với ảnh hưởng của các sai sót chưa được điều chỉnh Nếu sai sót tổng hợp này vượt mức trọng yếu hoặc xấp xỉ mức trọng yếu, KTV sẽ yêu cầu đơn vị điều chỉnh các sai sót chưa được điều chỉnh, hoặc tiến hành thêm các thủ tục kiểm toán bổ sung, hoặc đưa ra một báo cáo kiểm toán không chấp nhận hay chấp nhận từng phần

Rà soát lại hồ sơ kiểm toán nhằm đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thư giải trình của giám đốc, trong đó trình bày tóm tắt các vấn

đề quan trọng đã được trao đổi giữa giám đốc doanh nghiệp với KTV trong suốt quá trình kiểm toán và khẳng định một số vấn đề thuộc trách nhiệm của giám đốc doanh nghiệp

Kiểm tra các khai báo trên báo cáo tài chính: KTV có trách nhiệm kiểm tra việc khai báo trên BCTC có đúng đắn và đầy đủ theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán hay không

Xem xét các thông tin khác trong báo cáo thường niên, đó là một bộ tài liệu bao

Trang 33

gồm BCTC năm đã được kiểm toán và báo cáo kiểm toán Ngoài ra, báo cáo thường niên còn có thể bao gồm các thông tin khác là thông tin tài chính và phi tài chính Giữa thông tin khác và thông tin trong BCTC có thể có những điểm không nhất quán, do đó KTV cần phải xem xét những thông tin khác này

Lập báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính

Lập báo cáo kiểm toán là khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán BCTC Báo cáo kiểm toán là văn bản do KTV lập và công bố để thể hiện ý kiến chính thức của mình về BCTC của một đơn vị đã được kiểm toán và có vai trò rất quan trọng

Căn cứ vào kết quả kiểm toán, KTV có thể đưa ra một trong các ý kiến sau đây:

- Ý kiến chấp nhận toàn phần

- Ý kiến chấp nhận từng phần

- Ý kiến không chấp nhận (ý kiến trái ngược)

- Ý kiến từ chối nhận xét (không thể đưa ra ý kiến) [9, Chương 7]

Trang 34

2.1.1.1 Giới thiệu về công ty

Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán & Kiểm toán Phía Nam (AASCS) được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán & Kiểm toán – Chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh theo Quyết định số 1407/QĐ-BTC ngày 10/04/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Để có được chất lượng dịch vụ đáp ứng yêu cầu mong đợi của khách hàng, AASCS luôn coi trọng vấn đề trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ kiểm toán viên và nhân viên chuyên nghiệp Hiện nay AASCS có một đội ngũ nhân viên đông đảo trên

100 kiểm toán viên, nhân viên chuyên nghiệp có trình độ đại học và trên đại học chuyên ngành tài chính – kế toán – kiểm toán – ngân hàng – xây dựng Hàng năm, AASCS thường kết hợp với các Tổ chức kiểm toán trong nước và Quốc tế để đào tạo

và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ kiểm toán viên hay cử một số cán bộ của AASCS

tham dự

2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển

Suốt từ ngày thành lập, tiền thân là Chi nhánh Công ty Kiểm toán AASC tại TP

Hồ Chí Minh, cho đến nay, hàng năm AASCS đều được Thủ tướng Chính Phủ hoặc

Bộ trưởng Bộ Tài chính tặng bằng khen về thành tích xuất sắc trong công tác tài chính

kế toán và kiểm toán Rất nhiều các cán bộ, Kiểm toán viên của AASCS cũng liên tục được tặng thưởng nhiều bằng khen và các danh hiệu chiến sỹ thi đua ngành tài chính

do Bộ trưởng Bộ tài chính trao tặng

2 1.1.3 Mục tiêu và phương châm hoạt động

Với quan điểm vì lợi ích cao nhất của khách hàng, mục tiêu hoạt động của AASCS

là cung cấp các dịch vụ chuyên ngành và các thông tin đáng tin cậy nhằm giúp khách hàng đưa ra quyết định quản lý, tài chính và kinh tế một cách có hiệu quả nhất

Trang 35

Hơn thế nữa, với trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc và tinh thần làm việc chuyên nghiệp, chúng tôi am hiểu các yêu cầu, các vướng mắc mà khách hàng gặp phải khi tiến hành sản xuất kinh doanh tại Việt Nam

Dựa trên cơ sở này, chúng tôi sẽ hỗ trợ khách hàng giải quyết tốt nhất các vấn đề

mà ít có tổ chức tư vấn chuyên ngành nào có thể thực hiện được

Nhằm đảm bảo cung cấp những dịch vụ có chất lượng tốt nhất, mọi hoạt động của chúng tôi luôn tôn trọng nguyên tắc: độc lập, khách quan, trung thực và bảo mật, tuân thủ các quy định của pháp luật, các chuẩn mực kế toán, và kiểm toán Việt Nam do Bộ Tài Chính ban hành cũng như các chuẩn mực kiểm toán quốc tế được chấp nhận

chung Bên cạnh đó, chúng tôi luôn đặt lợi ích hợp pháp của khách hàng lên trên hết 2.1.1.4 Phương hướng phát triển trong tương lai

- Về khách hàng :

Để tiếp tục giữ vững lượng khách hàng cũ và không ngừng tăng lượng khách hàng mới, công ty luôn nâng cao chất lượng kiểm toán, tư vấn cũng như công tác tiếp thị và công ty đang có kế hoạch sẽ mở rộng thị trường ra các tỉnh lân cận

- Về chương trình đào tạo và huấn luyện:

Công ty ra sức hoàn thành tốt kế hoạch Mỗi cán bộ công nhân viên ra sức phấn đấu học hỏi trau dồi kiến thức và kinh nghiệm, nhiệt tình trong công tác, đoàn kết nhất trí cùng nhau xây dựng công ty ngày càng vững mạnh, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của khách hàng

Tất cả cán bộ công nhân viên công ty không ngừng phấn đấu, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn thông qua các khóa đào tạo, trau dồi kinh nghiệm lẫn nhau để đạt đến trình độ kiểm toán viên quốc tế

Công ty sẽ không ngừng trang bị thêm những phương tiện làm việc hiện đại để tạo điều kiện tốt nhất cho các kiểm toán viên hoàn thành tốt công việc của mình

2.1.2 Tổ chức bộ máy tổ chức của công ty kiểm toán AASCS

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức

Trang 36

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty Kiểm Toán AASCS

2.1.2.2 Chức năng các phòng ban

Hội Đồng Thành Viên: bao gồm những thành viên góp vốn vào Công ty, có vị trí

đứng đầu Công ty quyết định những vấn đề quan trọng trong Công ty Hội đồng thành

viên được tổ chức họp thường niên ít nhất một năm một lần

Tổng giám đốc: là người đứng đầu công ty, đại diện hợp pháp của Công Ty trước pháp luật và Bộ Trưởng Bộ Tài Chính

Ban kiểm soát: do hội đồng thành viê n bầu ra, có vai trò soát xét mọi họat động trong Công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên

Phó tổng giám đốc: thực hiện hoạt động chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ với các chi nhánh và đưa ra ý kiến, giải pháp nhằm hỗ trợ tư vấn cho Giám đốc Công ty AASCS gồm bốn phó tổng giám đốc chịu trách nhiệm về quản lý nhất định trong Công ty:

o Phó tổng giám đốc 1 : Giám sát và quản lý phòng kiểm toán 1

o Phó tổng giám đốc 2 : Giám sát và quản lý phòng kiểm toán 2

Phòng kiểm toán

2

Phòng kiểm toán

3

Phòng kiểm toán-Quan

hệ quốc tế

Phòng kiểm toán

5

Phòng kiểm toán

Ban Kiểm Soát

Hội Đồng Thành Viên

Ban Tổng Giám Đốc

Trang 37

o Phó tổng giám đốc 3: Giám sát và quản lý phòng kiểm toán 3

o Phó tổng giám đốc 4: Giám sát và quản lý phòng kiểm toán-Quan hệ quốc tế

o Phó tổng giám đốc 5 : Giám sát và quản lý phòng kiểm toán 5

o Phó tổng giám đốc 6 : Giám sát và quản lý phòng kiểm toán 6

o Phòng tổ chức HC-KT: có nhiệm vụ quyết định về công tác tổ chức nhân sự, đào tạo, bảo vệ tài sản và cung cấp hậu cần cho Công ty Trợ giúp cho ban Giám Đốc trong công tác điều hành, quản lý công ty, theo dõi và hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, cung cấp các báo cáo kế toán, thanh toán lương, tạm ứng cho các cán bộ công nhân viên đi công tác

Phòng kiểm toán số 1, 2, 3,quan hệ quốc tế, 5, 6: cung cấp các dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính cho các công ty, định giá doanh nghiệp, tư vấn hỗ trợ khách hàng về tài chính kế toán,…

2.1.3 Tình hình nhân sự, đánh giá sự đáp ứng với tình hình hoạt động kinh doanh hiện nay

2.1.3.1 Tình hình nhân sự

Để hoạt động thành công và có hiệu quả , chúng tôi luôn coi trọng vấn đề đạo đức nghề nghiệp, trình độ và kinh nghiệm đội ngũ nhân viên, hiện nay AASCS có đội ngũ bao gồm gần 100 cán bộ, kiểm toán viên, kỹ thuật viên, trợ lý kiểm toán, được đào tạo đại học và trên đại học chuyên ngành tài chính, ngân hàng, kế toán và kiểm toán ở trong nước và nước ngoài, thẩm định viên quốc gia về giá và hàng tram cộng tác viên bao gồm các Giáo sư, Tiến sĩ, Kiểm toán viên, Thẩm định viên về giá với kinh nghiệm

và chuyên môn dày dạn, sâu sắc và phong phú chắc chắn sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng

Để duy trì chất lượng dịch vụ tốt nhất, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, AASCS luôn chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển con người, nâng cao chất lượng dịch vụ, AASCS luôn đưa ra mức phí dịch vụ hợp lý, chăm sóc và thường xuyên hỗ trợ khách hàng và mang tới các giá trị gia tăng khác

2.1.3.2 Đánh giá sự đáp ứng nhân sự với tình hình hoạt động kinh doanh hiện nay

Định kỳ hàng năm, AASCS còn tổ chức các chương trình đào tạo nhân viên tập

sự cho những thành viên mới gia nhập vào đội ngũ nhân viên của Công ty, tổ chức các

Trang 38

cho các cán bộ, công nhân viên của Công ty nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,

kỹ năng làm việc nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, củng cố thương hiệu

và uy tín của Công ty

Ngoài ra, AASCS còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong lĩnh vực tuyển dụng nhân viên chuyên ngành tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán đáp ứng được yêu cầu công việc chuyên môn và được khách hang đánh giá cao về mặt chất lượng cán bộ

2.1.5 Đặc Điểm Tổ Chức Đoàn Kiểm Toán

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức đoàn kiểm toán

Một đoàn kiểm toán từ ba đến năm người,gồm một trưởng nhóm kiểm toán với

ba trợ lý hoặc tùy từng phòng kiểm toán mà số lượng đoàn kiểm toán thay đổi ra sao Nhóm kiểm toán hình thành từ khi có lời mời kiểm toán từ phía khách hàng, và chịu toàn bộ trách nhiệm trong toàn bộ qui trình kiểm toán Tổ chức đoàn kiểm toán ở AASCS gắn chặt với qui trình một cuộc kiểm toán cụ thể, từ giai đoạn chuẩn bị kiểm toán đến giai đoạn kết thúc hợp đồng kiểm toán Giai đoạn chuẩn bị, công việc khảo sát và đánh giá khách hàng chủ yếu là do trưởng nhóm thực hiện, vì nó có vai trò quyết định đến chất lượng cuộc kiểm toán, uy tín nghề nghiệp của KTV và uy tín của AASCS Trong giai đoạn lập kế hoạch, trưởng nhóm sẽ căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của khách hàng, và trình độ của từng trợ lý kiểm toán lập nên chương trình kiểm toán phù hợp Chương trình kiểm toán quy định rõ trách nhiệm của từng

Trang 39

người, những công việc cần phải làm của các thành viên trong đoàn kiểm toán, các phương pháp kiểm toán cần áp dụng và các vấn đề trọng tâm trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán đối với từng phần hành cụ thể Căn cứ vào đó đoàn kiểm toán sẽ bước sẽ bước sang giai đoạn triển khai cuộc kiểm toán, thông thường trong giai đoạn này, các thủ tục kiểm tra chi tiết sẽ do các trợ lý thực hiện, trưởng nhóm sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn, soát xét, kiểm tra quá trình thực hiện

và tổng hợp các kết luận kiểm toán

2.1.5 Doanh số những năm gần đây của công ty kiểm toán aascs

2.1.5.1 Doanh số những năm gần đây của Công ty

Bảng 2.1 : Một số chỉ tiêu kinh tế của AASCS trong giai đoạn 2011-2013

2.1.5.2 Nhận xét

Qua bảng trên cho thấy doanh thu của AASCS đ a n g tăng đều qua các năm,

s ở dĩ doanh thu tăng nhanh là do hiện nay yêu cầu về minh bạch tình hình tài chính của các doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu, vì vậy nhu cầu về “kiểm toán là rất cao Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỷ trọng doanh thu lớn nhất trong tổng doanh thu về cung cấp dịch vụ hàng năm của AASCS

Để đạt được kết quả như trên là do sự cố gắng của ban lãnh đạo trong công tác quản lý, điều hành, và sự đóng góp nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên có trình

độ kinh nghiệm chuyên môn trong nghề, đưa thương hiệu AASCS ngày càng lớn

Trang 40

2.1.6 Phương thức kinh doanh trong và ngoài nước

2.1.6.1 Phương hướng hoạt động

Nhằm đảm bảo cung cấp những dịch vụ có chất lượng tốt nhất, mọi hoạt động của Công ty luôn tôn trọng nguyên tắc: độc lập, khách quan, trung thực và bảo mật, tuân thủ các quy định của pháp luật, các chuẩn mực kế toán và kiểm toán Việt Nam do Bộ tài chính ban hành cũng như các chuẩn mực kiểm toán quốc tế được chấp nhận chung Bên cạnh đó công ty cũng luôn đặt lợi ích hợp pháp của khách hàng lên hàng đầu

2.1.6.2 Các dịch vụ cung cấp

Dịch vụ kiểm toán

- Kiểm toán báo cáo tài chính

- Kiểm toán vì mục đích thuế

- Kiểm toán hoạt động – tuân thủ - nội bộ

- Kiểm toán quyết toán vốn đầu tư công trình Xây Dựng Cơ Bản Hoàn Thành

- Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án

- Kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp

- Soát xét báo cáo tài chính

- Kiểm toán các thông tin tài chính

Dịch vụ kế toán

- Dịch vụ ghi sổ kế toán

- Dịch vụ báo cáo thuế

- Xây dựng các mô hình tổ chức bộ máy và tổ chức công tác kế toán

Dịch vụ tư vấn

- Tư vấn thuế , quản lý doanh nghiệp

- Tư vấn về xác định giá trị tài sản

- Hướng dẫn soạn các phương án đầu tư

- Tư vấn cổ phần hóa,sát nhập, giải thể và phá sản doanh nghiệp

- Tư vấn tài chính- kế toán, phân tích tài chính

Dịch vụ đào tạo cán bộ và các dịch vụ khác

- Tổ chức khóa bồi dưỡng kế toán trưởng, kế toán viên, kiểm toán viên nội bộ

- Cung cấp các văn bản pháp quy, các thông tin kinh tế tài chính, sổ sách, biểu mẫu…

Ngày đăng: 05/03/2021, 20:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chuẩn mực số 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
2. Chuẩn mực số 300- Lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
3. Chuẩn mực số 210- Hợp đồng kiểm toán (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
4. Chuẩn mực số 220- Kiểm soát chất lƣợng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
5. Chuẩn mực số 320- Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
6. Chuẩn mực số 315- Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị (Thông tư số 214/2012/TT- BTC) Khác
7. Chuẩn mực số 510- Kiểm toán năm đầu tiên – Số dƣ đầu kỳ (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
8. Chuẩn mực số 530- Lấy mẫu kiểm toán (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
9. Bộ môn Kiểm toán, Khoa Kế toán – Kiểm toán, Trường đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh (2008), Giáo trình Kiểm Toán, NXB Lao động xã hội Khác
10. Chuẩn mực số 560- Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
11. Chuẩn mực số 570- Hoạt động liên tục (Thông tư số 214/2012/TT-BTC) Khác
12. Chuẩn mực kiểm toán số 14 doanh thu và thu nhập khác (Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC) Khác
13. Kế toán doanh nghiệp theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam – NXB Tài Chính – TS. Nghiêm Văn Lợi Khác
14. Lý thuyết kiểm toán – NXB Tài Chính – GS. TS. Nguyễn Quang Huynh Khác
15. Lê Thị Thùy Dương (2008), Kiểm toán doanh thu và nợ phải thu, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Khác
16. Trần Thị Thúy Hạnh (2006), Quy trình kiểm toán doanh thu và nợ phải thu khách hàng, Chuyên đề tốt nghiệp, Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh Khác
17. Chương trình kiểm toán của Công ty kiểm toán AASCS Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w