1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

43 975 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến Nghị Và Giải Pháp Về Tổ Chức Bảo Hiểm Thất Nghiệp Ở Việt Nam
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Chính sách và pháp luật
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 55,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là các điều kiện cụ thể về số lượng đối tượng tham gia; khả năng đónggóp để hình thành quỹ BHTN của người lao động và người sử dụng lao động; khảnăng đóng góp và bảo trợ của Nhà nước;

Trang 1

KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

3.1 QUAN ĐIỂM VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BHTN

Đảng và nhà nước ta luôn chăm lo, coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp củamọi người lao động Chính vì vậy, ngay từ khi thành lập nước, vấn đề giải quyếtviệc làm và đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ luônluôn được đặt ra Đặc biệt, sau khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, hiệntượng thất nghiệp diễn biến phức tạp Vấn đề ngăn ngừa, hạn chế tình trạng thấtnghiệp khi xác định trách nhiệm của các bên tham gia vào quá trình lao động trongviệc giải quyết hậu quả thất nghiệp đã được đề cập ở nhiều văn bản pháp lý có liênquan như: Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992); Bộluật Lao động (năm 1994) và nhiều văn bản dưới luật có liên quan khác Nhìnchung các quy định trong các văn bản pháp luật đã góp phần hình thành một hànhlang pháp lý cho việc thực thi chính sách xã hội đối với người lao động nhằm ngănngừa và hạn chế thất nghiệp xảy ra Hệ thống các văn bản pháp lý đã quy định:

- Về giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp và hỗ trợ kinh tế cho người laođộng bi thất nghiệp

- Về xử lý đối với các trường hợp bị mất việc làm sau khi sắp xếp lạiDNNN; kể cả trong trường hợp sắp xếp lại biên chế trong các cơ quan hành chính

sự nghiệp

- Về chế độ điều tra, thống kê và báo cáo tình hình thất nghiệp đối với các

cơ quan chức năng có liên quan,v.v

Tuy vậy, nếu xem xét một cách tổng thể thì các quy định trên vẫn còn nhiềumặt hạn chế Nhiều chủ sử dụng lao động không thực hiện đúng chế độ đối vớingười lao động bị mất việc làm, song vẫn không bi xử lý Mức trợ cấp còn rất thấp

Trang 2

so với những thiệt hại khi người lao động bị thất nghiệp Hoặc chủ sử dụng laođộng đã cố gắng thực hiện, song họ vẫn không đủ điều kiện về mặt tài chính để chitrả trợ cấp Mặt khác, việc xét trợ cấp thôi việc hoặc mất việc làm lại quy định chitrả một lần, cho nên cuộc sống của người lao động bị thất nghiệp vẫn không đượcđảm bảo v.v Rõ ràng, đó chỉ là những biện pháp tình thế và không thể bền vững.

Chính vì vậy, chủ trương xây dựng và ban hành chính sách BHTN là cầnthiết Và thực tế chủ trương này đã được Đảng và nhà nước xác định và được ghitrong các Nghị quyết Trung Ương Đảng lần thứ 7 (khóa 7) và lần thứ 4 (khóa 8),Nghị quyết của Quốc Hội số 11/1997/QH10 kỳ họp thứ 2, Nghị quyết số 20/1998/QH10 kỳ họp thứ 4 Tại hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương khóa IX, đãghi : “Khẩn trương bổ sung chính sách BHXH, ban hành chính sách BHTN theohướng Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cùng đóng góp” Tại kỳ họp thứ

11 Quốc hội khoá X đã thông qua việc sửa đổi một số điều của Bộ luật lao động,trong đó cũng qui định rõ: “Chính phủ phải qui định cụ thể điều kiện mức hưởngtrợ cấp BHTN và thành lập cơ quan quản lý và sử dụng quĩ BHTN cho người laođộng” Để thực hiện chủ trương này, ngày 29/6/2006 tại kỳ họp thứ IX, Quốc hộikhóa 11 đã chính thức thông qua luật BHXH, trong đó đã quy định bắt đầu từ ngày1/1/2009 Việt Nam sẽ triển khai BHTN Đối tượng tham gia và chế độ BHTN đãđược xác định cụ thể Những nội dung cơ bản về BHTN đã được đề cập tạiChương 5 và 6 của Bộ luật này Để chính sách BHTN đi vào cuộc sống thì vấn đề

cụ thể hóa nội dung BHTN và tổ chức triển khai BHTN như thế nào cho phù hợpvới điều kiện nước ta hiện nay vẫn cần phải tiếp tục được đặt ra

3.1.2 Quan điểm và nguyên tắc tổ chức BHTN

3.1.2.1 Quan điểm về tổ chức BHTN

Mặc dù chính sách BHTN đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định và coitrọng Đồng thời chính sách này đã được Luật hóa và bước đầu đã được cụ thể hóatrong một số văn bản pháp quy dưới Luật như Nghị định 94/2008/NĐ-CP và Nghị

Trang 3

định 127/2008/NĐ-CP.v.v Song, mô hình tổ chức loại hình bảo hiểm này như thếnào và kế hoạch triển khai BHTN ra sao thì đến nay vẫn còn nhiều quan điểm và ýkiến khác nhau Quan điểm của chúng tôi về vấn đề này là:

a Mô hình tổ chức BHTN phải đảm bảo tính thống nhất cả trước mắt và lâudài Bởi đã là kinh tế thị trường thì thất nghiệp là điều không thể tránh khỏi Theonhà kinh tế học E Wayne Nafjiger thì kinh tế thị trường đã “đẻ ra” thất nghiệp và

“ở đâu cũng có thất nghiệp, lúc nào cũng có thất nghiệp” Chính vì thế BHTN đang

là xu hướng tất yếu mà chính phủ nhiều nước kinh tế đang phát triển và chậm pháttriển hướng tới để áp dụng Nhưng khi áp dụng thì mô hình tổ chức phải đảm bảotính thống nhất cả trước mắt và lâu dài Điều đó cũng có nghĩa là phải đảm bảo tínhxuyên suốt và liên tục của mô hình lựa chọn Nhiều nước trên thế giới đã coi đây làmột nguyên tắc Có như vậy, người lao động và người sử dụng lao động mới yêntâm và tin tưởng tham gia, bởi quãng thời gian tham gia đóng góp để hình thànhquỹ BHTN của một người lao động là khá dài (khoảng 20 đến 30 năm) Chỉ cầnmột thay đổi mô hình tổ chức là các bên tham gia nghĩ ngay đến quyền lợi của họ

bị ảnh hưởng Điều này gây nên tâm lí hoang mang, thiếu tin tưởng vào chính sách,chế độ BHTN Từ đó ảnh hưởng đến tâm lí của những thế hệ lao động tiếp theo

b Mô hình tổ chức BHTN phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội củanước ta Đó là các điều kiện cụ thể về số lượng đối tượng tham gia; khả năng đónggóp để hình thành quỹ BHTN của người lao động và người sử dụng lao động; khảnăng đóng góp và bảo trợ của Nhà nước; trình độ quản lí của đội ngũ cán bộ; cơ sở

hạ tầng kinh tế - xã hội v.v Sự phù hợp ở đây còn phải tính cả đến các yếu tố như:

cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà nước, của các ngành, các cấp và các địa phương;loại hình cũng như nội dung chính sách, chế độ; những kinh nghiệm trước đây khi

tổ chức và triển khai thực hiện các chính sách kinh tế- xã hội khác nhau; kinhnghiệm xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức BHTN của các nước trên thếgiới.v.v Ngoài ra con phải tính đến yếu tố hệ lụy của một chính sách mới, chính

Trang 4

sách BHTN có quan hệ và ảnh hưởng như thế nào đến các chính sách kinh tế - xãhội khác.v.v.

c Mô hình tổ chức BHTN phải đảm bảo kịp thời, đầy đủ các quyền lợi hợppháp của người lao động tham gia BHTN Đó là các quyền lợi về mức trợ cấp thấtnghiệp và thời gian trợ cấp; quyền được đào tạo và đào tạo lại tay nghề; quyềnđược hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới; quyền được tham gia BHTN.v.v Tất cả nhữngquyền này nếu được đáp ứng kịp thời và đầy đủ thì chính sách BHTN ở nước ta,cho dù là một chính sách hoàn toàn mới sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống Vàđương nhiên, mô hình tổ chức BHTN lựa chọn sẽ thành công Điều này không chỉ

có tác động tích cực đến thế hệ người lao động hiện tại , mà còn có ý nghĩa rất lớnđối với những thế hệ lao động trong tương lai

d Mô hình tổ chức BHTN phải đảm bảo tính hiệu quả cả về mặt kinh tế và

xã hội cho từng địa phương, cho Nhà nước, cũng như cho các bên tham gia BHTN.Muốn đảm bảo hiệu quả kinh tế phải đặt yếu tố tiết kiệm lên hàng đầu Đó là tiếtkiệm về sức người, sức của; tiết kiệm các khoản chi phí không cần thiết do môhình tổ chức cồng kềnh, chồng chéo hay phải páh đi, làm lại.v.v Nếu yếu tố tiếtkiệm được đảm bảo khi lựa chọn mô hình, xét về lâu dài sẽ góp phần làm giảmmức đóng góp BHTN của các bên tham gia hay góp phần làm gia tăng quyền lợicho người lao động khi họ bị thất nghiệp Muốn đảm bảo hiệu quả xã hội thì môhình tổ chức BHTN phải đáp ứng được yêu cầu của tất cả các bên tham gia BHTN,đồng thời góp phần làm cho chính sách BHTN lan tỏa rộng rãi trong mọi người,mọi thế hệ lao động.v.v

Trang 5

Nguyên tắc 1: Tập trung thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương tới địa

phưpng Đảm bảo nguyên tắc này sẽ giúp cho việc chỉ đạo điều hành tập trungthống nhất các ngiuệp vụ quản lí từ trung ương xuống các cấp được thông suốt, kịpthời và ngược lại các thông tin phản hồi từ địa phương cũng sẽ nhanh chóng đượcnắm bắt, xử lí để có các giải pháp chỉ đạo trung trên phạm vi toàn quốc Nguyêntắc này xuất phát từ sự đòi hỏi quản lí tập trung thống nhất quỹ BHTN Theo đó,mọi khoản đóng góp của các bên tham gia đều phải được coi là khỏan thu cho quỹBHTN Tương tự, bất cứ một khoản chi nào liên quan đến BHTN đều phải thuộc

về khoản chi từ quỹ BHTN Chính cơ chế quản lí quỹ BHTN tập trung đã phần nàoxác định rõ mô hình tổ chức BHTN phải tập trung thống nhất Ngoài ra, nguyên tắcnày còn xuất phát từ yêu cầu tổ chức triển khai BHTN để thực hiện các chế độ cóliên quan trên phạm vi toàn quốc Bao gồm cả việc điều hành hoạt động; đăng kýthất nghiệp; cấp phát sổ BHTN; giải quyết trợ cấp; lưu trữ hồ sơ.v.v

Nguyên tắc 2: Phân cấp quản lí phải được thực hiện ngay từ đầu khi mô hình

tổ chức BHTN được xác lập Theo mô hình tổ chức ngành dọc và quản lí trựctuyến, cho nên việc phân cấp, phân quyền cần phải được thực hiện ngay từ đầu mộtcách rõ ràng để đảm bảo tính độc lập trong quản lí Tuy nhiên, tính độc lập củatừng cấp vẫn phải đảm bảo nguyên tắc trực thuộc, cấp dười phục tùng cấp trên vàchịu sự chỉ đạo của cấp quản lí trực tiếp Thực hiện nguyên tắc này, một mặt sẽphát huy được tính chủ động, sáng tạo của từng cấp, mặt khác sẽ đảm bảo sự phốihợp giữa các cấp, các bộ phận chức năng trong toàn hệ thống hoàn thành tốt cácnhiệm vụ được giao Ngoài ra, nó còn khắc phục được tình trạng bao cấp, ỷ nại và

sự lệ thuộc của cấp dười trong quá trình vận hành của tổ chức BHTN

Nguyên tắc 3: Hệ thống tổ chức BHTN phải gọn nhẹ và hoạt động có hiệu

quả Đây là nguyên tắc cần phải được hết sức coi trọng, nhất là trong bối cảnhnước ta hiện nay Nguyên tắc này xuất phát từ sự đòi hỏi khách quan của bộ máy tổchức quản lí Nhà nước của Chính phủ cũng như sự đòi hỏi khách quan của việc

Trang 6

giảm chi phí quản lí hành chính cho quỹ BHTN Nguyên tắc này không nên chỉquán triệt khi mới hình thành tổ chức BHTN, mà nó cần phải đượcq uán triệt trongsuốt quá trình vận hành của tổ chức này Điều đó cũng có nghĩa là sau khi bộ máy

tổ chức BHTN được hình thành vẫn phải tiến hành rà soát, điều chỉnh chức năngnhiệm vụ của các cấp, các bộ phận để loại bỏ những chức năng, nhiệm vụ cònchồng chéo, không cần thiết Sau đó tiến hành kiện toàn bộ máy BHTN cho phùhợp Thực hiện tốt nguyên tắc này về lâu dài sẽ tiết kiệm được chi phí quản lí, nângcao được mức trợ cấp BHTN cho người lao động, từ đó góp phần đảm bảo cân đốiquỹ BHTN

Nguyên tắc 4: Tổ chức BHTN phải đáp ứng được cả yêu cầu trước mắt và

lâu dài khi nhu cầu tham gia BHTN ngày càng gia tăng

Mở rộng đối tượng tham gia BHXH nói chung và BHTN nói riêng luôn làđịnh hướng, là mục tiêu chiến lược lâu dài của Chính phủ các nước, trong đó cónước ta Bởi lẽ, thực hiện được mục tiêu này cũng có nghĩa là diện bảo vệ củaBHTN sẽ ngày càng được mở rộng, ASXH sẽ ngày càng bền vững Dưới góc độquản lí, nếu đối tượng tham gia BHTN được mở rộng thì quy luật số đông bù số íttrong bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng tốt hơn Hiện tại, nếu theo luật BHXH hiệnhành, thì số lượng người lao động tham gia BHTN ở nứơc ta chỉ vào khoảng hơn7triệu người Theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, đến năm 2015 con số này

sẽ vào khoảng 12 triệu và 2020 sẽ là 18 triệu người lao động tham gia BHTN.Chính vì vậy, nhiệm vụ và khối lượng công việc mà tổ chức BHTN phải hoànthành sẽ ngày càng lớn Do đó, tổ chức bộ máy BHTN phải đủ mạnh và cần phảiđặt trong một hệ thống đồng bộ giữa: tổ chức - công việc – con người, nói cáchkhác tổ chức BHTN nước ta phải đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài do thực

tế khách quan đòi hỏi

3.2 KINH NGHIỆM TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở MỘT

SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.

Trang 7

3.2.1 BHTN ở một số nước trên thế giới

3.2.1.1 BHTN tại Cộng hòa Liên bang Đức

Theo cơ quan việ làm Liên bang Đức (IAB), BHTN được bắt đầu tổ chứctriển khai ở nước này vào năm 1919 và được chính thức hóa bằng bộ luật BHXHvào năm 1927 (Dịch vụ việc làm và BHTN Đạo luật BHTN hiện hành được thôngqua năm 1997 (Xúc tiến việc làm) BHTN là một chương trình BHXH bắt buộcdựa trên sự đóng góp tài chính của người lao động và người sử dụng lao động Đốitượng áp dụng là những người làm công, bào gồm cả những người làm việc tạinhà, những người đang học việc, thực tập sinh Những đối tượng khác (bao gồm cảnhững những người đang theo các khóa đào tạo nghề) cũng thuộc diện bảo vệ tùytheo từng điều kiện Không thuộc diện bảo vệ những người được thuê làm việckhông ổn định Hiện tại, người lao động được bảo hiểm đóng 3,25% thu nhập đượcbảo hiểm Thu nhập hàngn ăm tối đa được bảo hiểm là 63.000 euro Người sử dụnglao động đóng 3,25% thu nhập được bảo hiểm còn Chính phủ thì cho vay hoặc trợcấp khi có thâm hụt quỹ BHTN

Điều kiện hưởng BHTN ở Đức được quy định như sau:

+ Người lao động phải có hợp đồng lao động tối thiểu 12 tháng trong mộtgiai đoạn xem xét (3 năm cuối trước khi đnag ký thất nghiệp) và đã đóng BHTNbắt buộc Đối với người lao động làm việc thường xuyên dưới 12 tháng trong mộtnăm vì lí do đặc thù của công việc (lao động thời vụ), thì chỉ cần có đủ 6 thánglàmm việc và đóng BHTN bắt buộc Người lao động nước ngoài có công việcthường xuyên có thể được nhận BHTN theo các điều kiện tương tự như người laođộng Đức

+ Phải đăng ký thất nghiệp, sẵn sàng nhận công việc mới, phải đưa ra bằngchứng về sự nỗ lực tìm việc làm Khi đã đăng kí thất nghiệp, phải có trách nhiệmbáo cáo với với cơ quan việc làm nếu được yêu cầu

Trang 8

BHTN được chi trả hàng tháng, theo tỷ lệ 67% hoặc 60% mức lương thực tếtháng cuối cùng của người lao động trước khi bị thất nghiệp (lương này không baogồm các khoản thu nhập và tài sản khác) Cu thể, người thất nghiệp được hưởng60% lương thực tế (lương sau khi đã trừ đi các khoản đóng góp bắt buộc như thuếthu nhập, BHXH, BHYT) Trong trường hợp người lao động có ít nhất một trẻ emphụ thuộc sẽ được nhận mức BHTN là 67% lương thực tế

Mức hưởng BHTN có sự khác biệt phụ thuộc vào mức lương đóng BHTN.Tuy vậy, Đức quy định một mức trần đóng BHTN để xác định mức trợ cấp BHTNtối đa Mức trần này được đièu chỉnh hàng năm theo mức lương chung Sau khimất việc làm, người thất nghiệp được giải quyết nhận trợ cấp BHTN ngay màkhông có giai đoạn chờ áp dụng Thời gian hưởng tùy thuộc vào thời gian làm việc

có đóng BHTN trước đó (trong giai đoạn 7 năm trước khi thất nghiệp) và tuổi củangười thất nghiệp Chẳng hạn: nếu thời gian làm việc có đóng BHTN là 24 tháng

và độ tuổi của người bị thất nghiệp dưới 45 thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

là 12 tháng Tương tự nếu thời gian làm việc có đóng BHTN là 36 tháng, nhưngtuổi của người bị thất nghiệp là 50 thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ là 18tháng.v.v

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, BHTN là một chế độ nằm trong hệ thống chế

độ BHXH, bao gồm bảo hiểm hưu trí, BHTN, bảo hiểm TNLĐ-BNN và bảo hiểmchăm sóc sức khỏe.v.v Bộ Lao động và chính sách xã hội Liên bang thực hiệngiám sát chung Cơ quan việc làm địa phương chịu trách nhiệm sắp xếp việc làm,chỉ dẫn việc làm, quản lí trợ cấp Vì là một chế độ BHXH, nên việc tổ chức triểnkhai BHTN cũng nằm trong hệ thống tổ chức BHTN Tổ chức này được phân theocác cấp tương ứng với các cấp chính quyền trong cả nước Việc xét trợ cấp BHTN,việc quản lí chế độ BHTN cũng tương tự như các chế độ BHXH khác Duy chỉ cóquỹ BHTN được gộp vào quỹ trợ cấp ốm đau để hình thành một quỹ thành phần

Trang 9

Quỹ này có nhiệm vụ thu các khoản đóng góp của người lao động và người sửdụng lao động.

3.2.1.2.BHTN tại Mỹ

Tại Mỹ, BHTN được thực hiện từ năm 1935 BHTN cung cấp khoản trợ cấpcho những người lao động bị thất nghiệp mà không phải do lỗi của họ Khoản trợcáp này nhằm tạo ra sự hỗ trợ tài chính tạm thời cho người thất nghiệp Từng bang

ở Mỹ quản lí chương trình BHTN riêng của mình theo các quy định trong Luậtpháp Liên bang Điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng trợ cấp do luậtpáhp từng bang quy định Ở hầu hết các bang của Mỹ, quỹ BHTN được tài trợ dựatrên khaỏn thuế đánh vào chủ sử dụng lao động Chỉ có 3 bang yêu cầu khoản đónggóp tối thiểu của người lao động

Đối tượng áp dụng BHTN ở Mỹ là người lao động trong các doanh nghiệpcông nghiệp và thương mại, người lao động trong các tổ chức phi lợi nhuận có sửdụng từ 4 lao động trở lên trong 20 tuần trong 1 năm hoặc trả 1500 đô la hoặc hơncho một quý theo lịch trong 1 năm Người lao động làm việc cho chính quyền Liênbang và chính quyền địa phương, người lao động ở các nông trang, quân nhân đềuthuộc diện bảo vệ Không thuộc đối tượng áp dụng: một số lao động trong lĩnh vựcnông nghiệp, người lao động trong các tổ chức tôn giáo, người lao động trong giađình, người không có việc làm cố định, người tự tạo việc làm Người lao độngtrong lĩnh vực đường sắt có chương trình riêng

Nguồn quỹ BHTN được hình thành như sau:

+ Người lao động làm thuê không phải đóng góp

+ Người sử dụng lao động: Đóng góp vào chương trình Thuế Liên Bang0,8% thu nhập chịu thuế (Mức đóng đầy đủ là 6,2% nhưng trong đó 5,4% là khoảncho nợ nếu các bang đáp ứng yêu cầu của Liên Bang) Đóng góp vào chương trìnhcủa bang: tỷ lệ đóng là 5,4% thu nhập chịu thuế

Trang 10

+ Chính phủ: Nguồn thi từ thuế Liên bang được sử dụng để trang trải chi phíquản lí chương trình BHTN của Bang, cho các bang vay để chi trả trợ cấp BHTN,hoặc để tài trợ cho các chương trình trợ cấp mở rộgn Nguồn thu từ thuế của Bangđược sử dụng để chi trả trợ cấp BHTN

Điều kiện hưởng trợ cấp BHTN là:

+ Người lao động phải có việc làm được trả công trong một khoảng thờigian nhất định trước khi thất nghiệp (thời gian “cơ sở”) Ở hầu hết các bang của

Mỹ đều quy định thời gian là 4 trong 5 quý ngay trước khi người lao động xinhưởng trợ cấp BHTN

Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động

+ Người lao động phải có khả năng làm việc, sẵn sàng làm việc, đang tíchcực tìm việc làm

+ Phải là công dân Mỹ hoặc làm việc hợp pháp tại Mỹ

Người lao động sẽ không đủ điều kiện hưởng trợ cấp nếu tự ý bỏ việc màkhông có lí do chính đáng, bị sa thải vì không tuân thủ quy định làm việc, từ chốiviệc làm phù hợp Người lao động sẽ không được hưởng trợ cấp nếu tham gia vàocác cuộc tranh chấp lao động Thời gian mất quyền được hưởng các bang quy địnhkhác nhau và phụ thuộc vào lí do mất quyền hưởng Khi bị thất nghiệp, người thấtnghiệp cần liên lạc ngay với cơ quan BHTN ở từng bang (liên lạc càng sớm càngtốt) Ở một só bang, người thất nghiệp có thể điền vào hồ sơ yêu cầu hưởng trợ cấpthông qua điện thoại hoặc internet Trong hồ sơ yêu cầu hưởng trợ cấp, người thấtnghiệp phải cung cấp các tài liệu và các thông tin về thẻ ASXH, địa chỉ, số điệnthoại của nơi làm việc và khoảng thời gian làm việc trước khi thất nghiệp, tài liệuchứng minh về mất việc làm (ví dụ như thư từ người sử dụng lao động)

Nhìn chung mức hưởng BHTN được xác định là tỷ lệ % thu nhập của cánhân trong khoảng thời gian 52 tuần gần nhất Mửc trợ cấp vào khoảng 50% thunhập của người được bảo hiểm (thường bằng 50% tiền lương tuần trung bình của

Trang 11

bang) Ở hầu hết các bang thời gian tối đa được hưởng trợ cấp là 26 tuần Trongthời kỳ mà tỷ lệ thất nghiệp cao, thời gian hưởng trợ cấp sẽ được kéo dài thêm một

số tuần

BHTN ở Mỹ được tổ chức thành hệ thống độc lập, tách khỏi BHXH CỤthể, Bộ Lao động thực hiện việc quản lí ở cấp quốc gia thông qua cơ quan quản líđào tạo việc làm và cơ quan đảm bảo lực lượng lao động Cơ quan Đảm bảo lựclượng lao động ở từng bang chịu trách nhiệm quản lí chương trình riêng của từngbang> một nửa trong số này là các cơ quan thuộc bộ máy chính quyền, số còn lại làcác hội đồng độc lập Các cơ quan này có nhiệm vụ là triển khai BHTN theo đúngpháp luật Cụ thể là tổ chức quản lí quỹ BHTN, chi trả trợ cấp BHTN, đăng kí thấtnghiệp và trực tiếp đứng ra giới thiệu việc làm cho những người lao động bị thấtnghiệp Nhìn chung từng bang đứng ra tổ chức, còn cơ quản quản lí đào tạo việclàm và cơ quan đảm bảo lực lượng lao động thuộc Bộ lao động chỉ quản lí chung

và giám sát quá trình tổ chức của các bang theo đúng pháp luật

3.2.1.3 BHTN tại Nhật Bản

Tại Nhật Bản, Luật BHTN được ban hành lần đầu vào năm 1947 Đến năm

1974, Luật bảo hiểm việc làm được ban hành thay thế cho Luật BHTN Bảo hiểmviệc làm là một chế độ bảo hiểm bắt buộc do Chính phủ quản lí liên quan đến việchoàn thành một cách toàn diện, cung cấp các phúc lợi bao gồm: Các khoản trợ cấpthất nghiệp (Trợ cấp tìm việc làm; trợ cấp xúc tiền việc làm; trợ cấp đào tạo vàdạy nghề; trợ cấp tiếp tục làm việc); và 3 loại dịch vụ: Ổn định việc làm (ngănngừa thất nghiệp; cải thiện điều kiện làm việc, tăng cơ hội việc làm); Phát triểnnguồn nhân lực (phát triển, trau dồi năng lực cho người lao động bằng việc xâydựng và quản lí các cơ sở đào tạo); phúc lợi xã hội cho người lao động (tư vấn,dịch vụ hỗ trợ tìm việc làm, tuyển dụng.v.v.)

Đối tượng áp dụng bao gồm:

+ Người làm công dưới 65 tuổi

Trang 12

+ Với những người làm công trong các cơ sở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

có sử dụng dưới 5 lao động thường xuyên thuộc diện tham gia BHTn tự nguyện

+ Không áp dụng với những người lao động theo mùa vụ có thời hạn laođộng là 5 tháng hoặc thấp hơn

+ Với những người lao động giúp việc nhà hàng ngày, thủy thủ và công chứcNhà nước có các chương trình BHTN riêng

Nguồn quỹ BHTN đựợc hình thành do:

+Người được bảo hiểm đóng 0,8% tiền lương Với người lao động làm việctrong các cơ sở nông lâm, ngư nghiệp và trong các nhà máy sản xuất rượu sakê, tỷ

lệ đóng là 0,9% tiền lương

+ Người sử dụng lao động đóng 1,15% quỹ lương Với các cơ sở nông, lâmngư nghiệp và các nhà máy sản xuất rượu sakê, tỷ lệ đóng là 1,25% quỹ lương Vớicông nhân xây dựng là 1,35% quỹ lương

+ Chính phủ hỗ trợ 25% các khảon chi trợ cấp thất nghiệp và các khaỏn trpjcấp đặc biệt

Điều kiện hưởng trợ cấp BHTN là:

+ Người lao động phải có 6 tháng làm việc có đóng bảo hiểm trong 12 thánggần nhất Với người làm việc bán thời gian phải có 1 năm làm việc có đóng bảohiểm trong 2 năm gần nhất

+ Phải đăng ký với “cơ quan đảm bảo việc làm công cộng”, có khả năng làmviệc, sẵn sang làm việc; cứ 4 tuần 1 lần, người thất nghiệp phải báo cáo với cơquan đảm bảo việc làm công cộng

+ Thất nghiệp không phải do tự ý bỏ việc, không chấp hành nội quy làmviệc, từ chối việc làm phù hợp hoặc không tham gia các khóa đào tạo nghề

Mức trợ cấp BHTN được quy định như sau:

+ mức trợ cấp BHTN từ 50 đến 80% tiênè công nhật trung bình của ngườiđược bảo hiểm trong thời gian 6 tháng trước khi thất nghiệp (với người có tiền

Trang 13

công thấp hơn thì tỷ lệ trả là cao hơn) Nếu người được bảo hiểm từ 60 đến 64 tuổi,

tỷ lệ trợ cấp là tử 45 đến 80% Mức trợ cấp hàng ngày tối thiểu là 1.688 yên(1USD = 112,26 yên) Mức trợ cấp hàng ngày tối đa là 7.935 yên

+ Bên cạnh trợ cấp thu nhập, người thất nghiệp còn có thể được nhận trợ cấpđặc biệt hàng ngày hoặc hàng tháng Trợ cấp này nhằm giúp người thất nghiệptrang trải các chi phí đào tạo nghề và tìm việc làm Muốn được hưởng trợ cấp,người được bảo hiểm phải thuộc diện bảo hiểm trong thời gian ít nhất 3 năm vàphải tham gia các khóa đào tạo nghề đã được hoạch định Thời gian trợ cấp từ 90đến 150 ngày phụ thuộc vào thời gian tham gia bảo hiểm, độ tuổi, lí do thất nghiệp,triển vọng việc làm Người thất nghiệp sẽ được trợ cấp thêm từ 90 đến 330 ngàynếu họ bị thất nghiệp từ những ngành đang suy thoái, hoặc bị ốm đau, hoặc đangtham gia các khóa đào tạo

Tại Nhật Bản, các chế độ BHXH bao gồm 2 phần: BHXH (gồm bảo hiểmhưu trí, BHYT) và bảo hiểm lao động (gồm bảo hiểm việc làm, bảo hiểm bồithường tai nạn cho người lao động.v.v.Chế độ bảo hiểm hưu trí và BHYT do cơquan BHXH quản lí và tổ chức thực hiện Bảo hiểm việc làm do cơ quan Bảo đảmviệc làm của Chính phủ thực hiện Bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người laođộng do cơ quan Thanh tra lao động thực hiện Cụ thể, Bộ Y tế, Lao động và Phúclợi chịu trách nhiệm quản lí và giám sát chung Cục Đảm bảo việc làm thuộc Bộnày trực tiếp đứng ra tổ chức BHTN Nhiệm vụ chính của cục là tổ chức BHTNxuống tận cấp huyện Đứng ra thu, chi và quản lí quỹ BHTN, xét trợ cấp thấtnghiệp, đào tạo và đào tạo lại tay nghề và tìm kiếm việc làm cho người laođộng.v.v

Như vậy, BHTN tại Nhật Bản được tổ chức thành một hệ thống độc lập, táchkhỏi BHXH

3.2.1.4 BHTN tại Trung quốc

Trang 14

Trong thời kì kinh tế kế hoạch, Chính phủ Trung Quốc đưa ra mục tiêuthanh tóan thất nghiệp Trên cơ sở đó đã thống nhất sắp xếp việc làm cho lao độngthành thị, thực hiện chính sách “nhiều việc làm, lương thấp” và biện pháp “5 ngườinuôi 3 người” Kết quả là mọi người lao động đều có việc làm, không có thấtnghiệp toàn phần Sau khi thực hiện chính sách cải cách, Trung quốc chủ trươngxây dựng nền kinh tế thị trường XHCN, phát triển kinh tế nhiều thành phần, sắpxếp lại các doanh nghiệp Nhà nước Chế độ lao động, việc làm có nhiều thay đổisâu sắc, thất nghiệp trở thành vấn đề nổi cộm Đứng trước tình hình đó, năm 1986,Quốc vụ viện Trung Quốc đã ban hành “Quy định tạm thời về bảo hiểm chờ việcđối với công nhân trong doanh nghiệp Nhà nước” Như vậy, có thể nói tại Trungquốc, BHTN đã được thực hiện từ năm 1986 nhưng chỉ áp dụng đối với người laođộng trong các doanh nghiệp Nhà nước.

Năm 1993, tại Hội nghị trung ương 3 (khóa 14), Đảng cộng sản Trung quốc

đã thông qua “nghị quyết về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tế thị trường xãhội chủ nghĩa”, trong đó đề cập “Chế độ BHTN” Trên cơ sở đó, “Điều lệ BHTNđối với người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước” đã được sửa đổi theohướng mở rộng đối tượng Tháng 1 năm 1999, trên cơ sở tổng kết những kinhnghiệm BHTN, quốc vụ viện Trung quốc đã ban hành “Điều lệ BHTN” nhằm hoànthiện hơn nữa chế độ BHTN Nội dung cơ bản của Điều lệ như sau:

Đối tượng áp dụng:

+ Tất cả người lao động ở thành thị, bao gồm: người lao động làm việc trongcác doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ở các thành phố, thị trấn, doanhnghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp khác

+ Nông dân làm hợp đồng trong các doanh nghiệp, cơ quan

+ Người lao động làm việc trong các tổ chức xã hội hoặc các đơn vị do cộngđồng điều hành

Nguồn quỹ BHTN do:

Trang 15

+ Các doanh nghiệp ở thành phố và thị trấn đóng 2% quỹ tiền lương, ngườilao động đóng 1% tiền lương.

+ Nông dân làm việc theo hợp đồng trong các doanh nghiệp không phảiđóng góp

Để nâng cao khả năng thành toán của BHTN, Trung quốc xây dựng cơ chế

hỗ trợ của Trung ương đối với vùng khó khăn trong chi tiêu quỹ BHTN Cụ thể,chính quyền địa phương có nhiệm vụ cung cấp tài chính hỗ trợ nhằm khắc phụcnhững thiếu hụt trong thu chi quỹ BHTN

Muốn được hưởng BHTN, người lao động phải thỏa mãn các điều kiện:+ Có đăng ký thất nghiệp và đang tìm việc làm

+ Đã đóng BHTN tối thiểu 12 tháng

+ Thất nghiệp không tự nguyện

Mức hưởng trợ cấp BHTN: Do chính quyền địa phương quy định Mức trợcấp này cao hơn tiêu chuẩn bảo trợ của địa phương và thấp hơn mức tiền lương tốithiểu ở địa phương Ngoài trợ cấp thu nhập, người thất nghiệp còn được hưởng trợcấp y tế, trợ cấp tuất một lần khi tử vong, được hỗ trợ chi phí đào tạo, chi phí giớithiệu việc làm Chính phủ Trung quốc chủ trương quỹ BHTN phải dành một tỷ lệnhất định chi cho việc bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp và thông tin thị trường laođộng, phát huy vai trò quan trọng của quỹ trong việc thúc đẩy việc làm

Thời gian hưởng trợ cấp phụ thuộc vào thời gian tham gia BHTN, cụ thể:+ Tối đa là 12 tháng đối với những người có thời gian đóng góp BHTN tử

đủ 1 năm đến dưới 5 năm

+ Tối đa 18 tháng đối với những người có thời gian đóng BHTN từ đủ 5năm đến dưới 10 năm

+ Tối đa 24 tháng đối với những người có thời gian đóng BHTN trên 10năm

Trang 16

Điều lệ BHTN Trung Quốc cũng quy định trong thời kỳ tìm việc khó khăn,chính quyền các cấp sẽ gia hạn việc lĩnh BHTN nhưng mức hưởng sẽ giảm dầntheo từng năm.

Về tổ chức BHTN: Hiện nay, BHTN là 1 trong 5 chế độ BHXH của Trungquốc (bên cạnh các chế độ hưu trí, BHYT cơ bản, tai nạn lao động và thai sản) Vềcông tác quản lí hành chính, chính quyền trung ương và địa phương cùng chia sẻtrách nhiệm đối với quản lí về BHXH Trong đó chính quyền trung ương có nhiệm

vụ đưa ra các quy định, chính sách và mức chuẩn tại địa phương phù hợp với quyđịnh của trung ương; tổ chức thu các khoản đóng góp và chi trả trợ cấp về BHXH.Tại trung ương và địa phương, các cơ quan BHXH được thành lập với số cán bộ,nhân viên lên đến 100000 người trong toàn quốc Nhiệm vụ chính của cơ quanBHXH là: Tiếp nhận đăng kí tham gia; tổ chức thu BHXH; hạch toán các khoảnđóng góp; quản lí tài khoản cá nhân của người tham gia; kiểm tra tính phù hợp củacác yêu cầu; chi trả các khoản trợ cấp; quản lí quỹ BHXH

Tháng 10 năm 2004, Bộ Lao động và bảo đảm xã hội Trung quốc tuyên bốthành lập chế độ đăng ký thất nghiệp và giám sát thất nghiệp và đưa ra kế hoạch làcác ban, ngành lao động và bảo đảm xã hội 3 cấp trung ương, tỉnh, thành phố chịutrách nhiệm cung cấp thông tin về tình hình thất nghiệp và số người được lĩnh tiềnBHTN nhằm tham mưu cho Chính phủ có những quyết sách kịp thời Như vậy, ởTrung quốc, việc tổ chức BHTN cũng nằm trong hệ thống tổ chức BHXH Tuynhiên, Bộ lao động và bảo đảm xã hội cũng tham gia quản lí

3.2.1.5 BHTN tại Thái Lan

Tại Thái lan, Luật ASXH ban hành năm 1990 quy định BHXH gồm 7 chế

độ, đó là Chế độ tai nạn hoặc ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tàn tật; chế độ trợcấp tuất; trợ cấp trẻ em; trợ cấp hưu trí và trợ cấp thất nghiệp Tuy nhiên, cho đếnnăm 2003, cơ quan ASXH Thái Lan mới thực hiện 6 chế độ BHXH, chưa thựchiện chế độ trợ cấp thất nghiệp

Trang 17

Mặc dù cơ quan ASXH đã nghiên cứu khả năng thực hiện chế độ BHTN tạiThái lan từ năm 1998 với sự trợ giúp kỹ thuật của ILO, cơ quan phát triển quốc tếNhật Bản (JICA) và Ngân hàng thế giới, nhưng đến năm 2004, chế độ BHTN mớichính thức được thực hiện Đối tượng áp dụng là tất cả những người tham giaBHXH bắt buộc – đó là những người làm công trong độ tuổi từ 15 đến 60 QuỹBHTN được hình thành do người lao động đóng 0,5% tiền lương hàng tháng Tiềnlương tháng tối thiểu cho việc đóng và hưởng trợ cấp là 1.650 bạt (1USD = 38,15bạt) Tiền lương hàng tháng tối đa cho việc đóng và hưởng trợ cấp là 15000 bạt.Người sử dụng lao động đóng 0,5% quỹ lương và Chính phủ hỗ trợ 0,25% cho quỹBHTN.

Điều kiện hưởng trợ cấp BHTN ở Thái lan là:

+ Đã đóng BHTN từ 6 tháng trở lên trong thời gian 15 tháng trước khi thấtnghiệp

+ Đã đăng ký thất nghiệp và hàng tháng phải trình diện tại Văn phòng Dịch

vụ việc làm của Chính phủ theo quy định

+ Có khả năng làm việc và sẵn sang nhận một công việc phù hợp

+ Người lao động thất nghiệp sau 8 ngày tính từ ngày đầu tiên bị thất nghiệpkhông do các nguyên nhân như thực thi công việc không trung thực; cố ý vi phạmtội hình sự chống lại chủ sử dụng lao động.v.v

Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp BHTN:

+ Nếu thất nghiệp không tự nguyện, mức trợ cấp là 50% tiền công nhật trungbình của người thất nghiệp của 3 tháng được trả cao nhất trong 9 tháng trước khithất nghiệp Thời gian hưởng trợ cấp tối đa là 180 ngày trong 1 năm

+ Nếu thất nghiệp tự nguyện, mức trợ cấp là 30% tiền công nhật trung bìnhcủa người thất nghiệp Thời gian hưởng trợ cấp tối đa là 90 ngày trong 1 năm

+ Thời gian chờ là 7 ngày

+ Mức trợ cấp hàng ngày tối đa là 250 bạt

Trang 18

Về tổ chức BHTN: Để thực hiện tốt chính sách BHTN, ngoài việc thu đónggóp bảo hiểm và chi trợ cấp cho người thất nghiệp thì một chức năng rất quantrọng khác của chương trình BHTN là cung cấp việc làm, đào tạo nghề, phát triển

kỹ năng, tạo điều kiện cho người lao động để giúp họ có thể tái hòa nhập vào thịtrường lao động, nhanh chóng có được việc làm mới phù hợp Các vấn đề tranh cãiliên quan đến việc sa thải người lao động không hợp pháp cũng cần quan tâm trongquá trình xét hưởng trợ cấp cho người thất nghiệp Vì vậy, chính phủ Thái Lan đãgiao nhiệm vụ cho các cơ quan chức năng liên quan tới chương trình BHTN, baogồm:

+ Tổ chức BHXH: Chịu trách nhiệm thu đóng góp bảo hiểm, xét duyệt vàtiến hành chi chế độ, giải quyết các thắc mắc của đối tượng

+ Vụ Lao động việc làm có trách nhiệm đăng ký đối tượng bảo hiểm bị thấtnghiệp trong chương trình tìm việc làm, cộng tác với các tổ chức đào tạo trongtrường hợp người thất nghiệp cần đào tạo hoặc đào tạo lại kỹ năng và tiếp nhậnngười thất nghiệp đang hưởng chế độ hàng tháng để báo cáo về kết quả tìm việclàm

+ Vụ phát triển kỹ năng có trách nhiệm thực hiện các khóa đào tạo nâng cao

kỹ năng nghiệp vụ cho người thất nghiệp

+ Vụ Phúc lợi và bảo hộ lao động có trách nhiệm nhận các khiếu nại về các

vụ sa thải lao động vi phạm luật pháp và xem xét các tranh cãi, cung cấp thông tincho việc xác định trợ cấp

+ Văn phòng Bộ lao động chịu trách nhiệm phối hợp, theo dõi, đánh giá hoạtđộng và phổ biến thông tin về chương trình BHTN

Như vậy tại Thái Lan, BHTN được tổ chức dưới hình thức một nhánh củaBHXH, nhưng Bộ Lao động cùng phồi hợp quản lí và thực hiện thêm một sốnhiệm vụ có liên quan như đăng ký thất nghiệp, đào tạo, đào tạo lại tay nghề chongười lao động bị thất nghiệp, giới thiệu việc làm.v.v

Trang 19

3.2.2 Những bài học kinh nghiệm về tổ chức BHTN ở các nước trên thế giới

Qua phần trình bày trên cho thấy, nội dung chính sách BHTN và công tác tổchức BHTN ở các nước trên thế giới là rất khác nhau, do điều kiện kinh tế - xã hội,

do thời điểm triển khai và do chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong chính phúcủa từng nước chi phối Tuy nhiên, có một số bài học kinh nghiệm mang tínhtương đối thống nhất, đó là:

1 Đối tượng áp dụng BHTN ở hầu hết các nước là những người làm cônghưởng lương Sau đó nếu có điều kiện (như ở Mỹ, CHLB Đức) người ta sẽ mởrộng đối tượng ra các nhóm lao động khác trong các lĩnh vực nông, lâm, ngưnghiệp.v.v Hình thức BHTN chủ yểu là bắt buộc

2 Về nội dung BHTN tuy có những khác nhau ở rất nhiều điểm, songnhững điểm chung giống nhau phải kể đến đều là quy định rất chặt chẽ và cụ thểmức đóng góp và quỹ BHTN của người lao động và người sử dụng lao động, mức

hỗ trợ của Chính phủ; điều kiện hưởng, mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấpBHTN.v.v

Trang 20

còn những người lao động là công chức, viên chức Nhà nước hoặc làm việc trongcác tổ chức Đảng, đoàn thể không thuộc diện bảo vệ của BHTN vì họ được nhànước tuyển dụng, bổ nhiệm lâu dài nên khả năng bị thất nghiệp là rất thấp Nếu ápdụng mô hình này thì BHTN thường do Bộ lao động, việc làm trực tiếp đứng ra tổchức triển khai.

b Mô hình 2: BHTN được coi là 1 nhánh (1 chế độ) của BHXH, chonên ngành BHXH trực tiếp đứng ra tổ chức triển khai Mô hình này đã và đangđược áp dụng ở khá nhiều nước như CHLB Đức, Trung quốc, Thái lan.v.v Nhữngnước áp dụng mô hình này thường có đối tượng tham gia BHXH cũng chính là đốitượng tham gia BHTN Vì thế, diện bảo vệ sẽ rộng hơn do đối tượng tham giaBHXH bắt buộc về cơ bản là tất cả mọi người lao động làm công hưởng lươngtrong các doanh nghiệp, trong các tổ chức đoàn thể, trong khu vực hành chính sựnghiệp.v.v Khi có đối tượng tham gia đông đảo, trong lúc thị trường lao độngchưa thực sự phát triển, sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong việc hình thành quỹ BHTN

và chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động Đặc biệt là quy luật số đông bù số íttrong bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng nhanh chóng

Cho dù mô hình và cách thức tổ chức có khác nhau, song BHTN đều có liênquan chặt chẽ đến các chương trình việc làm, đến việc đào tạo và đào tạo lại taynghề cho người lao động nhằm giúp họ sớm có cơ hội tìm việc làm mới.v.v Có thểnói, đây là vấn đề khó khăn nhất đối với những nước lần đầu tiên triển khai BHTN.Khó khăn cả về việc lựa chọn mô hình tổ chức, khó khăn cả trong công tác triểnkhai và quản lí BHTN

3.3 KIẾN NGHỊ VỀ TỔ CHỨC BHTN Ở VIỆT NAM

Mặc dù Luật BHXH ở nước ta đã quy định, bắt đầu từ 01/01/2009 sẽ triểnkhai BHTN Tuy nhiên, cho đến nay việc tổ chức BHTN như thế nào vẫn cònnhiều ý kiến rất khác nhau, ngay cả khi Chính phủ đã ban hành Nghị định 94/2008/NĐ-CP về tổ chức triển khai BHTN Các ý kiến của các nhà kinh tế và quản lí, các

Trang 21

nhà khoa học cũng đều xoay quanh 2 mô hình tổ chức mà chúng tôi đã tổng kết từbài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới được trình bày ở phần trên Ngòai

ra, nhiều người còn đưa ra mô hình thứ 3 là cả Bộ LĐ-TB-XH và cơ quan BHXHViệt Nam phồi hợp tổ chức quản lí Vậy lựa chọn mô hình nào là tối ưu ở ViệtNam và tổ chức như thế nào cho phù hợp? Về vấn đề này, chúng tôi xin kiến nghị:

3.3.1 Kiến nghị về việc lựa chọn mô hình tổ chức BHTN

Để lựa chọn và khẳng định được mô hình tổ chức nào là tối ưu trong điềukiện Việt nam, trước hết cần phân tích và làm rõ những ưu và nhược điểm của từng

mô hình tổ chức

a.Nếu tổ chức BHTN theo mô hình độc lập, do Bộ LĐ-TB-XH trực tiếpquản lí thì BHTN vẫn phải được tổ chức theo ngành dọc, 3 cấp: cấp Trung ương;cấp tỉnh, thành phố và cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Với môhình này ở Việt Nam sẽ có những ưu và nhược điểm sau:

* Ưu điểm:

+ Ngành lao động - thương binh và xã hội nước ta đã được tổ chức theongành dọc 3 cấp Ngành này đã và đang quản lí các vấn đề liên quan đến các đốitượng bị thất nghiệp Chính vì vậy, việc quản lí đối tượng bị thất nghiệp và đốitượng được hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ rất thuận lợi

+ Hầu hết các cấp quản lí thuộc ngành lao động – thương binh và xã hội đãsẵn có hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm, các trung tâm dạy nghề Đây làđiều kiện tốt để thực hiện các chế độ BHTN, nhất là chế độ đào tạo và đào tạo lạitay nghề cho người lao động, giới thiệu và tìm kiếm việc làm cho những người laođộng bị thất nghiệp

* Nhược điểm:

+ Bộ LĐ-TB-XH sẽ phải thành lập và tổ chức một bộ phận riêng, độc lập(chẳng hạn là Cục BHTN) để quản lý BHTN Nếu tổ chức hẳn một Cục BHTN từ

Ngày đăng: 07/11/2013, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Kết quả điều tra về mô hình tổ chức BHTN - KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Bảng 3.2. Kết quả điều tra về mô hình tổ chức BHTN (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w