Xây dựng các biện pháp nâng cao chất lượng dạy nghề và dịch vụ việc làm tại Trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm thanh niên sông Hồng Trung ương đoàn TNCS HCM Xây dựng các biện pháp nâng cao chất lượng dạy nghề và dịch vụ việc làm tại Trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm thanh niên sông Hồng Trung ương đoàn TNCS HCM luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đạo học bách khoa hà nội
-
-Luận văn thạc sĩ khoa học
Xây dựng các biện pháp nâng cao chất lượng dạy nghề
và dịch vụ việc làm tại trung tâm dạy nghề và dịch vụ
việc làm thanh niên sông hồng - trung ương đoàn TNCS HCM
Ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 2Phần mở đầu
1 - lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước luôn coi chính
sách việc làm là hướng ưu tiên trong mọi chính sách kinh tế và xã hội Giải quyết
việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển
kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Với quy mô dân số khoảng 84triệu người, với hơn 40 triệu người trong tuổi lao
động, trong đó lực lượng lao động thanh niên chiếm một tỷ trọng lớn, tạo việc làm
cho người lao động, nhất là lực lượng thanh niên luôn luôn là một yêu cầu bức xúc
Điều này càng trở nên rõ ràng hơn khi trong kết quả điều tra lao động - việc làm hàng
năm, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên thường cao gấp 3 lần tỷ lệ thất nghiệp chung
của dân số hoạt động kinh tế Nếu tỷ lệ thất nghiệp chung của lực lượng lao động đô
thị là 6,5-7% thì tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đô thị thường là 15-18% ở khu vực
nông thôn, mặc dù chúng ta chỉ tính tỷ lệ sử dụng thời gian lao động chung là
74-75%, nhưng nếu tính riêng cho lực lượng lao động thanh niên thì tỷ lệ này thấp hơn
rất nhiều Việc làm cho thanh niên trở thành mối quan tâm không chỉ của Quốc hội,
Chính phủ, Tổ chức đoàn thanh niên, bản thân thanh niên mà cả cha mẹ, gia đình
thanh niên
Như vậy, bên cạnh sức ép về việc làm do số người trong tuổi lao động gia tăng,
sức ép về chuyển đổi chất lượng việc làm và hiệu quả việc làm cũng hết sức gay gắt,
do những nguyên nhân sau:
* Nhu cầu tạo việc làm mới ngày một cao
Hiện tại tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị ở mức 6,5%, tương đương với 0,7 triệu người
chưa có việc làm Tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn phổ biến (30% số người và
26% quỹ thời gian lao động) Phần lớn trong số này là thanh niên
Lực lượng lao động tăng với mức độ khoảng 2,9% hàng năm, tương đương với
1,1 triệu người
Số tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, dạy nghề
hàng năm là 20-25 vạn, song chất lượng còn thấp
Trang 3Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
Thực hiện lộ trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, khoảng 30 vạn lao động
cần bố trí việc làm
Nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 80% tương đương với tạo
việc làm cho 1,5 triệu lao động
Tổng nhu cầu tạo việc làm hàng năm khoảng 1,5 triệu chỗ làm việc
* Chất lượng lao động còn thấp, cung lao động kỹ thuật còn không phù hợp với
cầu lao động kỹ thuật Hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề còn chưa gắn bó chặt
chẽ với nhu cầu của thị trường lao động Tình trạng sinh viên tốt nghiệp các trường
khó kiếm việc làm vẫn là phổ biến
* Cơ cấu lao động chuyển dịch còn chậm Việc lao động nông thôn, nhất là lao
động nông thôn sang các ngành nghề phi nông nghiệp còn hết sức khó khăn do chất
lượng lao động thấp Nếu không chuyển dịch được cơ cấu kinh tế và kèm theo đó là
chuyển dịch cơ cấu lao động thì rất khó giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động
và cải thiện cuộc sống
* Nhu cầu triển khai các hoạt động hỗ trợ trực tiếp tạo việc làm và phát triển thị
trường lao động thì lớn mà nguồn lực thì có hạn
Theo tính toán, cứ 1% tăng GDP có thể thu hút, giải quyết việc làm cho 13-15
vạn lao động Nếu đạt tốc độ tăng GDP là 7,0-7,5%/năm thì có thể thu hút hàng năm
trên khoảng 1,1-1,2 triệu lao động Như vậy vẫn còn 30-40 vạn lao động cần được hỗ
trợ trực tiếp Số cần được hỗ trợ trực tiếp này không ít thanh niên trong độ tuổi lao
động (Trích báo cáo của văn phòng quốc gia về việc làm - Bộ LĐ-TBXH, 2006)
Với thực trạng trên, cùng với các cơ sở giáo dục khác trong cả nước, trung tâm
dạy nghề và dịch vụ việc làm thanh niên Sông Hồng Trực thuộc TW Đoàn Thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh, đang đứng trước những thách thức lớn của nền kinh tế
thị trường, nhằm cung ứng những lao động có chất lượng, tay nghề cao, tư vấn cho
người lao động nhu cầu việc làm của các DN trên địa bàn cả nước nói chung và khu
vực các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng nói riêng sao cho phù hợp với trình độ, năng lực
của họ
Trang 4Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài một số giải pháp nâng cao chất
lượng dạy nghề và dịch vụ việc làm tại trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm thanh
niên Sông Hồng - trực thuộc TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
2 - Mục tiêu nghiên cứu.
- Nâng cao chất lượng dạy nghề và dịch vụ việc làm
- Xây dựng hệ thống chất lượng dạy nghề và dịch vụ việc làm cho Trung tâm dạy
nghề và việc làm Thanh niên khu vực Sông Hồng
3 - Nội dung nghiên cứu
- Xây dựng các luận cứ khoa học và hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về hệ
thống quản trị chất lượng dạy nghề và dịch vụ việc làm trong nền kinh tế thị trường
- Phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống quản trị chất lượng tại trung tâm dạy
nghề và dịch vụ việc làm Thanh niên Sông Hồng
- Đề xuất một số giải pháp có tính đồng bộ ở cả tầm vĩ mô và vi mô nhằm nâng
cao chất lượng dạy nghề và dịch vụ việc làm
4 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất
lượng dịch vụ và hệ thống quản trị chất lượng dạy nghề và dịch vụ việc làm tại các
trung tâm dịch vụ việc làm
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc
làm Thanh niên Sông Hồng có đối chứng với các trung tâm dạy nghề dịch vụ việc
làm khác trên một số địa bàn trong cả nước
5 - Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tham khảo các tài liệu lý luận khoa học, tạp
chí, sách báo, kỉ yếu hội thảo, các báo cáo của Trung tâm
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Bằng các phiếu thăm dò, tìm hiểu thực tế
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị chất lượng sản phẩm dịch vụ
Trang 5Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
- Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng dạy nghề và dịch vụ việc
làm tại trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm Thanh niên Sông Hồng
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề và
dịch vụ việc làm tại trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm TN Sông Hồng
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp
đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp và các cơ quan liên quan
Với tình cảm chân thành tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Ban giám hiệu, Trung tâm bồi dưỡng và Đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo
khoa Kinh tế và quản lý trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp đỡ trong thời gian
tác giả học tập và nghiên cứu tại trường
- Ban giám đốc Trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm thanh niên sông Hồng -
TW Đoàn TNCSHCM
- Vụ Kế hoạch tài chính - TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
- Chương trình quốc gia về việc làm - Bộ LĐTBXH
- Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn TS Ngô Trần ánh, người trực tiếp
hướng dẫn và giành thời gian công sức giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù tác giả đã cố gắng và cẩn trọng trong việc lựa chọn nội dung cũng như
trình bày luận văn, tuy vậy vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả
xin trân trọng và cảm ơn những đóng góp quý báu để đề tài hoàn thiện hơn và ứng
dụng có hiệu quả vào thực tiễn công tác dạy nghề và dịch vụ việc làm tại Trung tâm
dạy nghề và dịch vụ việc làm thanh niên sông Hồng
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6chương 1: cơ sở lý thuyết về quản trị chất lượng
dịch vụ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ
1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ
Trên thế giới ngày nay, dịch vụ đang ngày càng trở thành một nghành kinh tế giữ
vị trí hết sức quan trọng trọng nền kinh tế quốc dân Đóng góp của dịch vụ không
ngừng tăng lên trên cả 2 chỉ tiêu là tỷ trọng GDP và việc làm
Vào cuối thế kỷ 20, dịch vụ đã có những bước phát triển rất mạnh mẽ, nhất là tin
học và nhiều tác giả đã đưa ra những dự đoán hết sức lạc quan,Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ
của dịch vụ Vì có vai trò hết sức quan trọng như vậy, nên việc nghiên cứu các khái
niệm về dịch vụ là vô cùng cần thiết cả về bề rộng lẫn chiều sâu và làm cơ sở cho
việc nghiên cứu các khái niệm về dịch vụ dạy nghề và tư vấn việc làm
Dưới giác độ kinh tế thị trường, dịch vụ được coi là một thứ có giá trị, khác với
hàng hoá vật chất, mà một người trong tổ chức cung cấp cho một người hoặc một tổ
chức khác để đổi lấy một thứ gì đó Khái niệm này thể hiện quan điểm hướng tới
khách hàng, bởi vì dịch vụ là mọi thứ có giá trị được quyết định bởi khách hàng, cái
có giá trị đối với cá nhân hoặc tổ chức này nhưng có thể không có giá trị đối với cá
nhân hay tổ chức khác Hơn nữa, khái niệm này chỉ ra các tương tác của con người
trong quá trình hình thành dịch vụ
Dịch vụ cũng còn được hiểu là khái niệm để chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết
quả của chúng không tồn tại dưới dạng vật thể, không dẫn đến việc chuyển đổi quyền
sở hữu
Một khái niệm dịch vụ hiện được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý chất
lượng là theo định nghĩa của ISO 9004-2:1991E "Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ
các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt
động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng'' [2, tr31]
Dịch vụ là kết quả của những hoạt động không thể hiện bằng những sản phẩm vật
chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế
Trên cơ sở những khái niệm dịch vụ chung, dịch vụ dạy nghề và tư vấn việc làm
là kết quả mang lại nhờ sự tương tác giữa cơ sở đào tạo và tư vấn việc làm với người
Trang 7Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
lao động (khách hàng) cũng như nhờ các hoạt động, định hướng của cơ sở đào tạo để
đáp ứng nhu cầu của khách hàng [2, tr18]
1.1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ
Hoạt động dịch vụ có một số đặc điểm cơ bản:
* Tính vô hình
Tính vô hình phản ánh một thực tế là hiếm khi khách hàng nhận được sản phẩm
thực từ kết quả của hoạt động dịch vụ Kết quả thu được với khách hàng thường đáp
ứng thỏa mãn tay nghề hay công việc ổn định mà thôi
Một dịch vụ vô hình thuần tuý không thể được đánh giá bằng cách sử dụng bất
kỳ cảm giác tự nhiên nào, nó hết sức trìu tượng mà không thể khảo sát được trực tiếp
trước khi mua bán.Một khách hàng dự định mua hàng hoá có thể nghiên cứu kỹ hàng
hoá về các mặt như bản chất tự nhiên, tính thẩm mĩ, thị hiếu, còn với dịch vụ thì gần
như không thể làm như vậy được
Tính vô hình của dịch vụ làm cho khách hàng gặp rất nhiều khó khăn trong việc
đánh giá các dịch vụ cạnh tranh Khi tiêu dùng dịch vụ khách hàng gặp mức độ rủi ro
lớn, họ thường phải dựa vào các nguồn thông tin cá nhân và sử dụng giá cả làm cơ sở
để đánh giá chất lượng
Do tính vô hình của dịch vụ nên các trung tâm dạy nghề và tư vấn việc làm
thường tạo ấn tượng với khách hàng bằng các yếu tố hữu hình như cơ sở vật chất, con
người, các tờ rơi, tờ gấp để quảng cáo về dịch vụ
* Tính dễ hư hỏng và không tồn trữ
Vì sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên sản phẩm dịch vụ không
cất giữ được và rất dễ bị hư hỏng Trong dạy nghề và tư vấn dịch vụ việc làm điều này
càng dễ nhận biết, một khi yêu cầu tức thời của nhà tuyển dụng lao động không được
đáp ứng kịp thời, thì ta không thể nói với họ rằng: Ngày mai, ngày kia chúng tôi sẽ cố
gắng đáp ứng đầy đủ lao động cho anh,
Tính dễ hư hỏng không lưu kho được của dịch vụ yêu cầu các nhà quản lý phải
đưa ra các biện pháp làm bằng phẳng cầu bằng việc sử dụng công cụ giá cả, và các
công cụ khác nhằm thu hút khách hàng trong từng thời điểm nhất định
Trang 8* Tính không đồng nhất
Khác với hàng hoá có đặc điểm tiêu chuẩn hoá được Dịch vụ thường không lặp
lại cùng cách, khó tiêu chuẩn hoá Thành công của dịch vụ và độ thỏa mãn của khách
hàng tuỳ thuộc vào hành động của nhân viên Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khó kiểm soát Chúng ta có thể phân tích hoạt động cung ứng dịch vụ:
các nhân viên phục vụ khác nhau không thể tạo ra dịch vụ giống nhau Biểu hiện của
từng người trong thời gian khác nhau cũng rất khác nhau Hơn nữa khách hàng
thường đánh giá dịch vụ thông qua cảm nhận Thời gian khác nhau, khách hàng khác
nhau sẽ đưa ra các cảm nhận khác nhau Sản phẩm dịch vụ có giá trị cao khi thỏa
mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng Bởi vậy các dịch vụ thường được cá nhân
hoá, thoát ly khỏi các nguyên tắc và chuẩn mực
Donald Davidoff đã cho rằng sự thoả mãn của khách hàng về dịch vụ được đo
lường bằng sự so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi của bản thân
khách hàng [16, tr31]
S = P - E
S (Satisfaction): Sự thoả mãn, P (Perception): Sự cảm nhận, E (Expectation): Sự
trông đợi
Mối quan hệ giữa 3 yếu tố S, P, E có tính chất quyết định mọi vấn đề của dịch vụ
Các biến số P, E đều phụ thuộc rất nhiều vào phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo
và tâm sinh lý nhu cầu chủ quan của cá nhân khách hàng
Các trung tâm dịch vụ việc làm thường gặp phải sai lầm khi điều khiển các trông
đợi của khách hàng không xuất phát từ khách hàng, mà thường từ ý muốn chủ quan
của họ Để khắc phục điều này các bộ giảng dạy nhân viên phục vụ cần có sự đồng
cảm, tức biết đặt bản thân vào vị trí của khách hàng để phát hiện ra các nhu cầu và
trông đợi của họ thì mới cung cấp dịch vụ đảm bảo sự thoả mãn khách hàng
Khi khách hàng trông đợi một mức nhất định về dịch vụ và cảm nhận rằng sự
tương đương hay mức cao hơn đã được tạo ra, họ sẽ thoả mãn, thậm chí khi một dịch
vụ tốt được thực hiện, mà sự trông đợi của khách hàng đối với dịch vụ cao hơn, khách
Trang 9Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
hàng sẽ không thoả mãn Điều đó yêu cầu các cơ sở đào tạo phải quản lý được sự
trông đợi của khách hàng và thực hiện chất lượng dịch vụ
* Tính không tách rời
Khác với hàng hoá có đặc điểm sản xuất tách rời tiêu dùng Sản phẩm dịch vụ
gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ Một sản phẩm dịch vụ cụ thể gắn liền với
cấu trúc của nó và là kết quả của quá trình hoạt động của hệ thống cấu trúc đó Quá
trình sản xuất gắn liền với việc tiêu dùng dịch vụ Khách hàng tham gia và ảnh hưởng
trực tiếp tới việc thực hiện dịch vụ, đồng thời khách hàng cũng có tác động lẫn nhau
trong dịch vụ Nhân viên có vai trò rất lớn đến kết quả dịch vụ nên phân quyền là
không thể thiếu được trong thực hiện dịch vụ [17, tr11]
Trên đây là các đặc điểm của dịch vụ nói chung và dịch vụ dạy nghề, tư vấn việc
làm nói riêng Việc nghiên cứu các đặc điểm của dịch vụ đóng vai trò hết sức quan
trọng làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu tiếp theo của đề tài
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm cơ bản của quản trị chất lượng dịch vụ
1.1.2.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ và quản trị chất lượng dịch vụ
* Khái niệm chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là một phạm trù hết sức phức tạp và có nhiều cách hiểu khác
nhau
Theo Philip B.Crosby trong cuốn "Chất lượng là thứ cho không" đã khái niệm:
"Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu"
Theo TCVN ISO- 9001 : 1996 (tương ứng với ISO 9001 :1994), thì chất lượng
dịch vụ là mức phù hợp của sản phẩm dịch vụ thoả mãn các yêu cầu đề ra hoặc định
trước của người mua Những yêu cầu này thường xuyên thay đổi theo thời gian nên
các nhà cung ứng phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng
ISO 9000:2000 khái niệm một cách đơn giản hơn, chất lượng dịch vụ là mức độ
của một tập hợp các đặc tính vốn có của dịch vụ đáp ứng các yêu cầu Yêu cầu được
hiểu là nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc [9,
tr47]
Trang 10Chất lượng dịch vụ là một khái niệm trìu tượng, khó nắm bắt bởi các đặc tính
riêng có của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tao ra trong quá trình cung cấp dịch
vụ, thường xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhân viên giao tiếp
ơ
Chất lượng dịch vụ chính là sự thoả mãn khách hàng được xác định bởi việc so
sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi (P & E) [10, tr 190]
Khái niệm này cũng phù hợp với ISO 9000:2000, sự thoả mãn khách hàng được
hiểu là sự cảm nhận của khách hàng về mức độ đáp ứng các yêu cầu
Mô hình này do ba tác giả A.paraasuraman, V A Zeithaml và L.L.Berry đưa ra
vào năm 1985 [10, tr 190], cho thấy có ba mức cảm nhận cơ bản về chất lượng dịch
vụ:
- Chất lượng dịch vụ tốt: Dịch vụ cảm nhận vượt mức trông đợi của khách hàng
- Chất lượng dịch vụ thoả mãn: Dịch vụ cảm nhận phù hợp với mức trông đợi của
khách hàng
- Chất lượng dịch vụ tồi: Dịch vụ cảm nhận dưới mức trông đợi của khách hàng
Một quan điểm khác cho rằng chất lượng dịch vụ được xác định trên cơ sở giá cả
và chi phí.Theo đó, một dịch vụ có chất lượng là dịch vụ được cung cấp phù hợp với
giá cả
Như vậy, từ các khái niệm trên chúng ta có thể khái niệm chất lượng dịch vụ dạy
nghề và tư vấn việc làm như sau: "Chất lượng dịch vụ dạy nghề và tư vấn việc làm
chính là mức phù hợp của dịch vụ dạy nghề và tư vấn giới thiệu việc làm thoả mãn
các yêu cầu của người lao động" [7, tr35]
* Khái niệm quản trị chất lượng dịch vụ
Các quan điểm về quản trị chất lượng sản phẩm (QTCLSP) không ngừng được
phát triển và hoàn thiện, thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp phức tạp
của vấn đề chất lượng và phản ánh sự thích hợp trong điều kiện và môi trường kinh
doanh mới
Theo chuyên gia người anh, A>G >Robertson cho rằng "QTCLSP " là "một hệ
thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ
chức chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã
đạt được và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm một cách tinh
tế nhất, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng" [13, tr17]
Trong tiêu chuẩn công nghiệp nhật bản có định nghĩa về QTCLSP như sau :
Trang 11Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
"Hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm những hàng
hoá có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thoả mãn yêu cầu
của người tiêu dùng" [13, tr19]
Giáo sư tiến sĩ Kaoru IShikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản trị
chất lượng của Nhật Bản và thế giới, đã đưa ra một định nghĩa như sau: " QTCLSP có
nghĩa là nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng sản phẩm có chất
lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thoả mãn nhu
cầu của người tiêu dùng" [13 tr21]
Philip B Crosby thì cho rằng: "QTCLSP là một phương tiện có tính chất hệ thống
đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động"
[12, tr19]
Các cách hiểu trên đều phù hợp với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và có nhiều điểm
tương đồng Tuy nhiên, hiện nay khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất là của ISO -
9000: 1994
"Quản trị chất lượng dịch vụ là các phương pháp và hoạt động được sử dụng
nhằm đảm bảo yêu cầu về chất lượng dịch vụ"
Như vậy, quản trị chất lượng dịch vụ dạy nghề và tư vấn việc làm cho người lao
động chính là các phương pháp và hoạt động mà các trung tâm dạy nghề và dịch vụ
việc làm sử dụng nhằm đảm bảo yêu cầu về chất lượng dịch vụ
1.1.2.2 Đặc điểm của quản trị chất lượng dịch vụ dạy nghề và tư vấn việc làm
- Quản trị chất lượng liên quan đến con người
Chất lượng con người là mối quan tâm hàng đầu của quản trị chất lượng Tạo ra
con người chất lượng có nghĩa là giúp họ có được nhận thức đứng đắn về công việc
Sau đó họ phải được đào tạo, huấn luyện để có khả năng giải quyết những vấn đề đặt
ra mà không phải ra lệnh hoặc kiểm tra thái quá Sự quản trị dựa trên tinh thần nhân
văn cho phép phát triển toàn diện nhất khả năng của con người
- Chất lượng là trước hết, không phải lợi nhuận là trước hết
Điều này phản ánh rõ ràng nhất bản chất của quản trị chất lượng, bởi vì nó phản
ánh niềm tin vào chất lượng, lợi ích của chất lượng Chất lượng được coi là lợi thế
Trang 12cạnh tranh của doanh nghiệp, nếu quan tâm đến chất lượng thì lợi nhuận sẽ đến Mặt
khác, chất lượng là điều duy nhất một doanh nghiệp có thể cung ứng cho khách hàng
Khi chất lượng tăng lên thì chi phí ẩn sẽ giảm rất nhiều và lúc đó lợi nhuận sẽ thu
được cao hơn
- Tất cả đều là khách hàng
Vào năm 1950, Ishikawa đã đưa ra câu nói nổi tiếng: "Giai đoạn sản xuất tiếp
theo chính là khách hàng".Quan điểm này chính là việc đề cập đến dịch vụ bên trong,
quan hệ giữa khách hàng bên trong và người cung cấp bên trong Vì vậy, việc đảm
bảo chất lượng dịch vụ bao gồm việc đảm bảo chất lượng cho khách hàng ở từng
công đoạn trước khi cung ứng dịch vụ cho khách hàng bên ngoài, tức là cần đảm bảo
dịch vụ cho cả khách hàng bên trong và khách hàng bên ngoài
- Quản trị chất lượng hướng tới khách hàng, không phải hướng về người sản xuất
Khái niệm quản trị chất lượng được áp dụng xuyên suốt ở tất cả các giai đoạn từ
sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm Vì thế quản trị chất lượng được coi là hướng tới
khách hàng bằng cách thiết kế sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng trông đợi của khách
hàng Tât cả mọi hoạt động liên quan đến quản tri chất lượng đều được tiến hành với
mục đích là đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Đảm bảo thông tin và áp dụng kiểm tra chất lượng bằng thống kê với công cụ
SPC (Statistical process control ) và SQC (statistical Quality control)
1.1.2.3 Chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo:
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường Việc
phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng
nhất của tất cả các cơ sở đào tạo nói chung và các cơ sở có đào tạo nghề nói riêng
Trong giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng, chất lượng là một khái
niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường Dưới đây là một số quan điểm
khác nhau về chất lượng đào tạo
- " Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã
đề ra đối với chương trình đào tạo" (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp - Đại học
Quốc gia Hà Nội)
Trang 13Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
- " Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc
trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề
của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành
nghề cụ thể" [8,tr 105]
- "Chất lượng giáo dục là chất lượng thực hiện các mục tiêu giáo dục" [8, tr 105]
Ngày nay, vẫn còn những cách hiểu khác nhau về khái niệm chất lượng đào tạo,
do từ "chất lượng" được dùng chung cho cả hai quan niệm: chất lượng tuyệt đối và
chất lượng tương đối
- Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ "chất lượng" được dùng cho những
sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao
nhất khó có thể vượt qua được Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao, hoặc chất
lượng hàng đầu, "đó là cái mà hầu hết chúng ta chiêm ngưỡng, nhiều người trong chúng ta
muốn có, và chỉ có một số ít người trong chúng ta có thể có" [7,tr31]
- Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ "chất lượng" dùng để chỉ một số
thuộc tính mà người ta "gán cho" sản phẩm, đồ vật Theo quan niệm này thì một vật,
một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng đầy đủ
các mong muốn mà người sản xuất định ra, và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi Từ
đó nhận ra rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh
Thứ nhất: Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề ra
Khía cạnh này chất lượng được xem là "chất lượng bên trong"
Thứ hai: Chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của người
dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là "chất lượng bên ngoài"
Tại mỗi nhà trường Trung tâm đào tạo hàng năm đều có nhiệm vụ được uỷ thác
của các cơ quan chủ quản quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà trường,
trung tâm Từ nhiệm vụ uỷ thác này, nhà trường, trung tâm xác định các mục tiêu và
chiến lược đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt
được "chất lượng bên ngoài", đồng thời các hoạt động của nhà trường Trung tâm đào
tạo nghề sẽ được hướng vào nhằm mục đích đạt mục tiêu đó, đạt "chất lượng bên
trong"
Trang 14Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng: chất lượng đào tạo trước hết phải là kết quả của
quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp
Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào
tạo mà còn phụ thuộc các yếu tố của thị trường, như quan hệ cung - cầu, giá cả sức
lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của Nhà nước và người sử dụng lao
động Do đó khả năng thích ứng còn phản ánh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội
và thị trường lao động được thể hiện: [7, tr34]
Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo
1.1.2.4 Sự cần thiết khách quan phải đánh giá chất lượng đào tạo nghề và tư
vấn việc làm
Tuy đã có những cố gắng đáng ghi nhận trên đà khôi phục lại vai trò, vị trí của
mình nhằm cung cấp cho đất nước những người lao động vừa có tri thức kỹ thuật vừa
có kỹ năng lao động ở trình độ trung cấp - một trong ba thành phần cơ bản của cơ cấu
trình độ lao động trong mọi quốc gia đó là công nhân - kỹ thuật viên - đại học, nhưng
giáo dục nghề Việt Nam hiện đang còn những yếu kém, bất cập cần khắc phục
- Hệ thống giáo dục THCN và dạy nghề chưa ổn định Quy mô và cơ cấu ngành
nghề đào tạo, đội ngũ giáo viên và các điều kiện bảo đảm chất lượng từng trường
chưa đáp ứng chuẩn mực quy định Giáo dục chuyên môn nghề nghiệp chưa kết hợp
tốt thường xuyên với trau dồi đạo đức
- Việc liên kết đào tạo với nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công
nghệ chưa gắn với thị trường và nhu cầu thực tiễn; đội ngũ giáo viên TH nghề so với
10 năm trước có những tiến bộ rõ rệt, nhưng so với yêu cầu trước mắt còn chưa đáp
ứng và phát triển tương xứng về trình độ chuyên môn cũng như kỹ năng tay nghề
trong hướng dẫn thực hành
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa yêu cầu lớn về mở rộng quy mô, bảo đảm
chất lượng với khả năng hạn hẹp về nguồn lực và hạn chế về việc làm cho người tốt
nghiệp
Mục tiêu
Trang 15Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
- Nói chung chất lượng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn
nhân lực trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế
- Nhiều giải pháp mới tuy đã triển khai, nhưng thiếu đồng bộ, ở một số giải pháp,
còn những lúng túng nhất định về quan niệm, chưa sát về nội dung và chưa kiên
quyết trong điều hành, cũng như tiếp thu và xử lý tốt các ý kiến đóng góp Tiến trình
đổi mới chậm so với tốc độ dự kiến
- Quá trình đổi mới giáo dục nước ta trong thời gian vừa qua cho chúng ta những
bài học và kinh nghiệm quý báu về đổi mới tư duy và hành động, đã thu được nhiều
thành tựu ban đầu và tạo nên những tiềm năng mới cần được khai thác và phát huy có
hiệu quả Đồng thời giáo dục đào tạo nước ta cũng phải đối mặt và vượt qua nhiều
thách thức, trong đó có những thách thức:
- Giáo dục nước ta cần sớm thu hẹp khỏang cách với những nền GD tiên tiến
trong khu vực và trên thế giới, trong điều kiện nước ta còn nhiều khó khăn về kinh tế,
công nghệ, quản lý và đầu tư cho giáo dục còn thấp
- Cần phân tích sâu sắc những cơ họi và thách thức có thể để phát huy những kết
quả ban đầu, những tiềm năng sáng tạo, tận dụng lợi thế đi sau để sớm tìm được hệ
thống những giải pháp đổi mới có hiệu quả
- Hội nhập quốc tế về giáo dục đang là xu thế ngày càng mạnh mẽ giữa các nước
trong khu vực, trong cùng một châu lục và trên toàn thế giới Mối quan tâm về hội
nhập có những nét chung và có những nét riêng Nét chung cho nhiều nước là hệ
thống giáo dục đang chuyển dần sang giáo dục đại chúng và học suốt đời, hướng vào
kinh tế tri thức, xã hội thông tin, xã hội học tập
- Giáo dục đóng vai trò then chốt để tăng sức cạnh tranh của quốc gia và khu vực,
trên thị trường quốc tế "Ngày nay các nước trên thế giới không tách các cấp đào tạo
như nước ta (THCN, CĐ, ĐH, sau ĐH) mà cơ cấu chung trong giáo dục của nước ta
là GDĐH (cần hiểu GDĐH là giáo dục sau trung học - từ tú tài đến tiến sĩ)"
- Giáo dục phải đa dạng hóa và chuẩn hóa chất lượng cho từng dạng tiếp cận
chuẩn mực quốc tế, mở rộng các trường tư, các loại hình đào tạo ; dạy học sinh cách
"sáng nghiệp", tự tạo việc làm, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, sử dụng
Internet trong giáo dục nhằm đổi mới có hiệu quả phương pháp dạy và học, nghiên
cứu khoa học, tự học suốt đời, đổi mới quản lý, phát triển đào tạo từ xa, bồi dưỡng
Trang 16năng lực quốc tế cho giáo viên và sinhviên; khai thác mở rộng nhiều nguồn để tăng
đầu tư cho giáo dục; xuất khẩu nguồn nhân lực
- Cần phát triển "nguồn nhân lực tri thức", "doanh nghiệp tri thức", hệ thống
"quản lý tri thức", phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng, tranh thủ sự
hợp tác quốc tế để tăng cường nội lực v v
Tóm lại, những vấn đề lớn đang tồn tại của giáo dục ngày nay đó là:
- Cơ cấu hệ thống giáo dục và văn bằng chứng chỉ còn nhiều phức tạp
- Chất lượng đội ngũ gíao viên và cán bộ quản lý
- Vấn đề quản lý hành chính giáo dục nghề nghiệp (cơ chế quản lý trong điều
kiện kinh tế thị trường XHCN, mạng lưới, cơ cấu hệ thống )
- Xã hội hóa giáo dục, đảm bảo sự bình đẳng về cơ hội học tập của nhân dân
- Liên thông và phân luồng đối tượng học sinh
- Kiểm định và đánh giá, hệ thống thông tin thị trường lao động
1.1.3.Chức năng và nguyên tắc cơ bản của quản trị chất lượng dịch vụ dạy
nghề và tư vấn việc làm
1.1.3.1 Chức năng cơ bản của quản trị chất lượng dịch vụ
* Hoạch định chất lượng
Hoạch định chất lượng là hoạt động xác định mục tiêu, các phương tiện, nguồn
lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng dịch vụ Hoạch định chất lượng
là một chức năng của quản trị chất lượng tập trung vào việc lập mục tiêu chất lượng
và quy định các quá trình tác nghiệp cần thiết và các nguồn lực có liên quan để thực
hiện các mục tiêu chất lượng
Nội dung chủ yếu của hoạch định bao gồm:
- Xác lập những mục tiêu chất lượng tổng quát và chính sách chất lượng
- Xác định khách hàng
Xác định nhu cầu và đặc điểm nhu cầu của khách hàng
- Phát triển những đặc điểm của sản phẩm dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách
hàng
- Chuyển giao các kết quả của hoạch định cho bộ phận tác nghiệp
Trang 17Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
* Kiểm soát chất lượng dịch vụ
Kiểm soát chất lượng dịch vụ là quá trình điều khiển các hoạt động tác nghiệp
thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và hoạt động nhằm đảm bảo
chất lượng dịch vụ theo đúng yêu cầu đề ra Kiểm soát chất lượng là một chức năng
của quản trị chất lượng tập trung vào thực hiện các yêu cầu chất lượng
Kiểm soát chất lượng có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổ chức các hoật động nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng như yêu cầu
- Đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế
- So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện sai lệch
- Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục sai lệch đảm bảo đúng yêu
cầu đề ra
* Đảm bảo chất lượng
Đảm bảo chất lượng bao gồm tất cả những hoạt động được tiến hành trong hệ
thống chất lượng và được giải thích khi cần thiết, để khẳng định một thực thể sẽ thực
hiện những yêu cầu về chất lượng Nếu kiểm soát chất lượng nhấn mạnh vào việc
kiểm tra và sửa chữa các sai hỏng thì đảm bảo chất lượng tập trung vào các hoạt
động phòng ngừa sai hỏng ngay từ đầu Điều này thể hiện rất rõ khi thiết kế các hệ
thống phân phát dịch vụ dạy nghề và tư vấn việc làm, yêu cầu các cơ sở giáo dục, cơ
sở đào tạo có trách nhiệm tiến hành các hoạt động bồi dưỡng và đào tạo nhân viên
theo yêu cầu
* Cải tiến chất lượng
Cải tiến chất lượng là toàn bộ những hoạt động nhằm đưa chất lượng dịch vụ lên
mức cao hơn trước nhằm giảm dần khoảng cách giữa trông đợi của khách hàng và
chất lượng đạt được thực tế, thoả mãn nhu cầu khách hàng ở mức cao hơn Cải
tiến chất lượng là một chức năng của quản trị chất lưọng tập trung vào nâng cao khả
năng thực hiện các yêu cầu
Nội dung của cải tiến chất lượng được hiểu rõ hơn qua khái niệm của Masaaki
Imai, chủ tịch công ty tư vấn quản lý Cambridge " Cải tiến chất lượng có nghĩa là
Trang 18những nỗ lực không ngừng nhằm không những duy trì mà còn nâng cao hơn nữa chất
lượng sản phẩm"
1.1.3.2 Nguyên tắc cơ bản của quản trị chất lượng dịch vụ dạy nghề và tư vấn
việc làm
-Để có được thành công trong việc lãnh đạo và điều hành một tổ chức theo hệ
thống, rõ ràng đòi hỏi người lãnh đạo tổ chức phải áp dụng và duy trì một hệ thống
quản lý chất lượng phù hợp có hiệu quả đối với lĩnh vực hoạt động của tổ chức mình
- Quản lý chất lượng đào tạo là một lĩnh vực quản lý có đặc thù riêng nó đòi hỏi
phải thực hiện các nguyên tắc chủ yếu sau:
+ Quản lý chất lượng phải được định hướng bởi người sử dụng lao động
+ Coi trọng người học ( người cần được đào tạo)
+ Quản lý chất lượng phải được thực hiện toàn diện và đồng bộ
+ Quản lý chất lượng phải thực hiện đồng thời vớicác yêu cầu đảm bảo và cải tiến
nâng cao chất lượng
+ Quản lý chất lượng theo quá trình
1.2.1 Hệ thống quản lý chất lượng đào tạo
Hệ thống chất lượng được xem như một phương tiện cần thiết để thực hiện chức
năng quản lý chất lượng Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 - 94, hệ thống chất
lượng là cơ cấu tổ chức trách nhiệm, thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết để quản
lý chất lượng Trong đào tạo, hệ thống chất lượng là cơ cấu tổ chức, quản lý chất
lượng đào tạo ở phạm vi toàn ngành hoặc ở từng cơ sở đào tạo Dưới đây là giản đồ
nhân quả của Ishikawa về quản lý chất lượng đào tạo
Tuyển sinh Thiết bị, công nghệ, nội dung, CT cơ sởVC Tổ chức quản lý
Con người Cơ chế quản lý
Chất lượng đào tạo
Kết quả
Yếu tố nguyên nhân
Hình 1.2 Giản đồ nhân quả của ISHIKAWA [7,tr49]
Trang 19Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
Trong đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo là quá trình tổ chức thực hiện có hệ
thống các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo nhằm đảm bảo không ngừng
nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động (từ khâu tìm
hiểu nhu cầu thị trường lao động, đánh giá kết quả đào tạo)
1.2.2 Kiểm định chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo có thể được đánh giá trực tiếp qua sản phẩm đào tạo, qua chất
lượng học sinh tốt nghiệp, tuy nhiên cũng có thể đánh giá gián tiếp qua các điều kiện
để đảm bảo chất lượng
Kiểm định chất lượng tiếp cận theo cách phối hợp hai cách đánh giá trên, bởi lẽ
đánh giá chất lượng đào tạo trực tiếp qua chất lượng học sinh tốt nghiệp nhiều khi
mang tính chủ quan của người dạy Mặt khác, không thể nói một nhà trường đào tạo
có chất lượng trong khi trường không có những điều kiện tối thiểu để đảm bảo chất
lượng đào tạo và chương trình đào tạo của trường không phù hợp với yêu cầu của sản
xuất và của người học
Kiểm định chất lượng là một hệ thống và giải pháp để đánh giá chất lượng đào
tạo (đầu ra), và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo theo các chuẩn mực được
quy định
Việc kiểm định chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo có nội dung quan
trọng là đánh giá hệ thống quản lý chất lượng của cơ sở đó và chứng minh được rằng
hệ thống quản lý chất lượng là có hiệu quả, đảm bảo các sản phẩm được quản lý
trong hệ thống đúng với những đăng ký chất lượng đã được cơ sở cam kết thực hiện
trước khách hàng (mục tiêu đào tạo đã được cơ sở công bố)
Trong đào tạo, có hai loại kiểm định: Kiểm định nhà trường và kiểm định đào
tạo Hai loại này có một số khác biệt song giữa chúng cũng có những mối quan hệ
mật thiết với nhau, sự khác nhau giữa hai loại là ở trọng tâm chú ý của công việc
đánh giá
Kiểm định nhà trường, trọng tâm chú ý là các điều kiện đảm bảo chất lượng đào
tạo và hệ thống quản lý chất lượng của nhà trường Với một logic hiển nhiên là với
các điều kiện đảm bảo chất lượng và một hệ thống quản lý chất lượng tốt, tất yếu sẽ
Trang 20cho ra những sản phẩm có chất lượng Và như vậy các chương trình đào tạo chỉ được
xem xét như là một bộ phận trong việc kiểm định chất lượng của nhà trường Khi
đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo, trọng tâm của sự chú ý lại tập trung ở hệ
thống quản lý chất lượng trong quá trình đào tạo: mục tiêu, nội dung chương trình
đào tạo của ngành, nghề có hợp lý, phù hợp với nhu cầu của xã hội hay không; tổ
chức quá trình đào tạo theo chương trình đào tạo của ngành, nghề đảm bảo để đạt
được mục tiêu đề ra hay không? Dễ dàng nhận ra rằng, không thể có một chương
trình đào tạo của một ngành, nghề nào đó có chất lượng tốt khi bối cảnh triển khai có
nó nhiều khiếm khuyết
Công tác kiểm định nhằm mục đích cơ bản
- Đánh giá, xác nhận hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo của một trường hoặc
một chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn do cơ quan kiểm định đề ra và được nhà
trường thừa nhận cam kết thực hiện
- Trợ giúp nhà trường cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo của mình để đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu xã hội, đảm bảo lợi ích chung của xã hội người sử dụng
lao động và người học [7, tr 49]
1.2.3 Đánh giá, đo lường chất lượng đào tạo
Ngày nay, chất lượng đào tạo không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà là
chất lượng so sánh khu vực và thế giới Nhân lực kỹ thuật được đào tạo phải đáp ứng
thị trường lao động quốc tế Các chuẩn mực quốc tế đang cần được hình thành là bộ
công cụ chuẩn (ISO) để đánh giá đo lường chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là một khái niệm động, đa chiều và gắn với các yếu tố chủ
quan thông qua quan hẹ giữa người và người Do vậy không thể dùng một pháp đo
đơn giản để đánh giá và đo lường chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ
cộng đồng của các trường Bộ thước đo này có thể dùng để đánh giá đo lường các
điều kiện đảm bảo chất lượng, có thể đánh giá đo lường bản thân chất lượng đào tạo
của một trường Các chỉ số đó có thể có các chỉ số định tính, tức là đánh giá bằng
nhận xét của quan của người đánh giá
Việc đánh giá, đo lường chất lượng bên trong được tiến hành bởi chính cán bộ
giảng dạy, sinh viên, học sinh, người lao động của trường nhằm mục đích tự đánh giá
bản thân chất lượng đào tạo của trường mình
Trang 21Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
Việc đánh giá, đo lường chất lượng cũng có thể được tiến hành từ bên ngoài do
các cơ quan quản lý và cộng đồng đào tạo thực hiện với các mục đích khác nhau
(khen thưởng, phê bình, xếp hạng, khuyến khích tài chính, kiểm định công nhận) Dù
đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể của việc đo lường,
đánh giá chất lượng là ai thì việc đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là xác định mục đích
của việc đo lường, đánh giá Từ đó mới xác định được việc sử dụng phương pháp
cũng như các công cụ đo lường tương ứng
Căn cứ vào các số đo và các tiêu chí xác định, việc đánh giá năng lực và phẩm
chất của người tốt nghiệp (sản phẩm đào tạo) là để nhận định, phán đoán và đề xuất
các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo
Trong đào tạo có 6 loại đánh giá chính và dưới đây là sơ đồ đánh giá trong giáo
dục đào tạo
Hình 1.3 Sơ đồ đánh giá trong giáo dục đào tạo
1 Đánh giá mục tiêu đào tạo đáp ứng với yêu cầu của kinh tế - xã hội
2 Đánh giá chương trình, nội dung đào tạo
3 Đánh giá sản phẩm đào tạo đáp ứng mục tiêu đào tạo
4 Đánh giá quá trình đào tạo
5 Đánh giá tuyển dụng
6 Đánh giá kiểm định công nhận cơ sở đào tạo
Yêu cầu của kinh tế - xã hội
Quá trình đào tạo Sản phẩm đào tạo Mục tiêu đào tạo
Trang 221.3 Các mô hình quản lý chất lượng đào tạo
1.3.1 Chu trình Deming:
Hình 1.4 - Chu trình Deming
Trong đó P(Plan)- Lập kế hoạch, D(Do)- Thực hiện, C(Check)- Kiểm tra,
A(Action)- Tác động điều chỉnh, QA(Quality assurance) - Đảm bảo chất lượng, Q-
Chất lượng, T- Thời gian
Toàn bộ quá trình quản lý trong quản trị chất lượng Deming ( Chu trình Deming)
PDCA được tiến sĩ Deming giới thiệu cho người Nhật vào năm 1950
Với hình ảnh một vòng tròn lăn theo mặt phẳng nghiêng, chu trình Deming cho
thấy thực chất của quá trình quản lý là sự cải tiên liên tục và không bao giờ ngừng
Chu trình Deming đề cập đến công việc theo tiến trình động chứ không phải đề
cập những vấn đề cụ thể tại các thời điểm cụ thể
Tuỳ vào mỗi hoàn cảnh mà vận dụng chu trình Deming cho hợp lý và có thể chia
vành tròn thành 6 khu vực với 6 tổ hợp biện pháp tương ứng đã được kiểm nghiệm
trong thực tế
Vai trò của lãnh đạo được đặt ở vị trí trung tâm để nói lên tầm quan trọng của
lãnh đạo trong việc thực hiện chu trình này Lãnh đạo chính là động lực để thúc đẩy
chu trình tiến triển đi lên theo hình xoắn ốc, quá trình đi lên biện chứng có sự lặp lại
nhưng đôi lúc ở một mức độ cao hơn
Kiểm tra các kết quả thực hiện công việc
Thực hiện các tác động quản trị thích hợp
Xác định mục tiêu nhiệm vụ
Xác định các cách để
đạt được mục tiêu
Thực hiện công việc
Trang 23Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
1.3.1.1 Xác định mục tiêu và nhiệm vụ
- Các mục tiêu và nhiệm vụ được xác định trên cơ sỏ chiến lựơc dịch vụ của
doanh nghiệp, của trung tâm đào tạo nghề
- Sau khi xác định chiến lược, các nhiệm vụ phải được chỉ ra rõ ràng và phải được
lượng hoá bằng những chỉ tiêu cụ thể
- Cần xác định nhiệm vụ trên cơ sở những vấn đề đang được đặt ra cho doanh nghiệp,
nhiệm vụ phải được đề ra sao cho đảm bảo hoạt động chung cho tất cả các bộ phận
- Các chính sách và nhiệm vụ phải được thông tin, hướng dẫn phục vụ đúng đối
tượng Đây là quá trình triển khai chính sách và nhiệm vụ
1.3.1.2 Xác định các phương pháp đạt mục tiêu
- Sau khi xác định được mục tiêu và nhiệm vụ cần xác định, lựa chọn phương
pháp, cách thức để đạt mục tiêu một cách tốt nhất
- Khi xác định một phương pháp cần phải tiến hành một tiêu chuẩn hoá rồi áp
dụng vào thực tiễn
1.3.1.3 Huấn luyện và đào tạo
- Cán bộ lãnh đạo chịu trách nhiệm về đào tạo và giáo dục cấp dưới của mình
- Trên cơ sở những định mức, tiêu chuẩn đã xác định, người thừa hành phải được
hướng dẫn một cách cụ thể
- Cần đào tạo, huấn luyện để mọi người có đủ nhận thức và trình độ đảm đương
công việc của mình Việc đào tạo và huấn luyện cán bộ sẽ tạo điều kiện hình thành
những con người đáng tin cậy, có thể trao quyền cho họ
- Quản trị trên tinh thần nhân văn, dựa trên niềm tin vào con người và những
phẩm chất tốt đẹp của họ Hệ thống quản trị lý tưởng là một hệ thống trong đó
tất cả mọi người được đào tạo tốt, có thể tin vào mọi người chứ không quá dựa
vào kiểm tra
1.3.1.4 Thực hiện công việc:
Sau khi đã xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn hoá các phương pháp để hoàn thành
nhiệm vụ, cần tổ chức tốt thực hiện công việc Tuy nhiên, trong thức tế các tiêu
chuẩn, quy chế luôn luôn không hoàn hảo và điều kiện thực hiện lại thường xuyên
thay đổi Do đó, cần phải luôn luôn đổi mới, cập nhật các tiêu chuẩn, quy chế trên cơ
Trang 24sở kinh nghiệm, trình độ, ý thức tự giác, tính sáng tạo của mỗi người để không ngừng
cải tiến, nâng cao hiệu quả công việc ở từng bộ phận và toàn hệ thống
1.3.1.5 Kiểm tra kết quả thực hiện công việc:
Không thể tiến hành quản trị được nếu thiếu sự kiểm tra Mục tiêu của kiểm tra là
để phát hiện những sai lệch trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để có thể điều chỉnh
kịp thời và ngăn ngừa sai lệch đó Trong quản trị chất lượng dịch vụ việc kiểm tra
được tiến hành nhờ phương pháp thống kê
1.3.1.6 Thực hiện những tác động quản trị thích hợp:
Khi thực hiện những tác động điều chỉnh, điều quan trọng là phải áp dụng những
biện pháp để tránh lặp lại những sai lệch đã được phát hiện Cần phải loại bỏ được
các nguyên nhân đã gây nên sai lệch bằng cách đi đến cội nguồn của vấn đề và áp
dụng các biện pháp ngăn ngừa thích hợp
Trang 25Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
1.3.2 Mô hình hệ thống quản trị chất lượng dịch vụ theo ISO 9001 : 2000
Hệ thống quản trị chất lượng (QMS) là một hệ thống bao gồm cơ cấu tổ chức,
trách nhiệm, thủ tục, tiến trình nhằm thực hiện hữu hiệu việc quản trị chất lượng
QMS là hệ thống quản trị để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lưọng (ISO
9000:2000)
Mô hình QMS của cơ sở đào tạo theo ISO 9001: 2000 (Hình 1.7) thừa nhận
khách hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng, các yêu cầu của khách hàng được
xác định là đầu vào, sự thoả mãn khách hàng là đầu ra của quá trình Việc theo dõi sự
thoả mãn khách hàng đòi hỏi có sự đánh giá các thông tin liên quan đến sự chấp nhận
Quản
lý nguồn lực
Đo lường, phân tích, cải tiến
Sản phẩm
Quá trình sản xuất
và cung cấp
iso 9001: 2000
Trang 26* Yêu cầu của hệ thống quản trị chất lượng dịch vụ theo ISO 9001: 2000
1.3.2.1 Phạm vi
Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu đối với QMS khi cơ sở đào tạo cần chứng
tỏ khả năng cung cấp một cách ổn định sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Các yêu cầu trong tiêu chuẩn này mang tính tổn quát và nhằm để áp dụng tất cả các
cơ sở đào tạo, không phân biệt quy mô và sản phẩm cung cấp cũng như trình độ lành
nghề của người lao động
* Yêu cầu chung
Cơ sở đào tạo phải xây dựng, lập văn bản, thực hiện, duy trì QMS và thường
xuyên nâng cao hiệu lực của hệ thống theo các yêu cầu của tiêu chuẩn này
* Yêu cầu về hệ thống tài liệu
Các tài liệu của QMS bao gồm:
- Văn bản công bố về chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng
- Sổ tay chất lượng
- Các thủ tục dạng văn bản theo yêu cầu
- Các tài liệu cần có của tổ chức để đảm bảo việc hoạch định, tác nghiệp và kiểm
soát có hiệu lực các quá trình
- Các hồ sơ theo yêu cầu của tiêu chuẩn
1.3.2.5 Trách nhiệm của lãnh đạo
- Phải cung cấp bằng chứng về sự cam kết của mình đối với việc xây dựng và
thực hiện QMS và cải tiến thường xuyên hiệu lực của hệ thống đó
- Phải đảm bảo rằng các yêu cầu của khách hàng được xác định và đáp ứng nhằm
nâng cao sự thoả mãn khách hàng
- Phải đảm bảo chính sách chất lượng phù hợp với mục đích của cơ sở đào tạo
Trang 27Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
- Phải đảm bảo mục tiêu chất lượng được thiết lập tại mọi cấp và từng bộ phận
chức năng thích hợp
- Tiến hành hoạch định QMS đáp ứng các yêu cầu
- Phải đảm bảo các trách nhiệm, quyền hạn và mối quan hệ của chúng được xác
định và thông báo
- Định kỳ xem xét QMS để đảm bảo hệ thống luôn thích hợp, thoả đáng và có
hiệu lực
1.3.2.6 Quản lý nguồn lực
Các trung tâm dạy nghề và tư vấn việc làm cần phải xác định và cung cấp nguồn
lực để thực hiện, duy trì và nâng cao hiệu lực QMS nhằm không ngừng nâng cao sự
thoả mãn khách hàng bằng cách đáp ứng yêu cầu của khách hàng
- Nguồn nhân lực: Những người thực hiện công việc liên quan đến chất lượng
dịch vụ phải có năng lực trên cơ sở được đào tạo, có kỹ năng và kinh nghiệm phù
hợp
- Cơ sở hạ tầng: Cơ sở đào tạo cần phải xác định, cung cấp và duy trì cơ sở hạ
tầng cần thiết để đạt được sự phù hợp đối với yêu cầu về sản phẩm như nhà cửa,
không gian làm việc, các phương tiện, trang thiết bị kèm theo và dịch vụ hỗ trợ
- Cơ sở đào tạo phải xác định và quản lý môi trường làm việc cần thiết để đạt
được sự phù hợp đối với các yêu cầu của sản phẩm
1.3.2.7 Tạo sản phẩm
- Cơ sở đào tạo phải lập kế hoạch và triển khai các quá trình cần thiết đối với việc
tạo sản phẩm Hoạch định việc tạo sản phẩm phải nhất quán với các yêu cầu của các
quá trình khác của QMS
- Các quá trình liên quan đến khách hàng bao gồm: Xác định và xem xét các yêu
cầu liên quan đến sản phẩm, trao đổi thông tin với khách hàng
- Thiết kế và phát triển bao gồm: Hoạch định, Xác định đầu vào, đầu ra của thiết
kế và phát triển, xem xét, kiểm tra, xác nhận giá trị sử dụng và kiểm soát sự thay đổi
của thiết kế và phát triển
- Mua hàng bao gồm: Quá trình, thông tin và kiểm tra xác nhận sản phẩm mua vào
Trang 28- Sản xuất và cung cấp dịch vụ
Các cơ sở đào tạo cần phải lập kế hoạch, tiến hành sản xuất và cung ứng dịch vụ
trong điều kiện được kiểm soát Điều kiện được kiểm soát bao gồm: Sự sẵn có các
thông tin mô tả đặc tính của dịch vụ, các hướng dẫn công việc, việc sử dụng các trang
thiết bị thích hợp, các phương tiện theo dõi, đo lường và thực hiện việc theo dõi và đo
lường
1.3.2.8 Đo lường, Phân tích và cải tiến
- Theo dõi và đo lường bao gồm theo dõi,đo lường sự thoả mãn khách hàng, đánh
giá nội bộ, theo dõi và đo lường các quá trình, sản phẩm
- Kiểm soát sản phẩm không phù hợp
- Phân tích dữ liệu
- Cải tiến: Cải tiến thường xuyên, hành động khắc phục và hành động phòng
ngừa
Cơ sở đào tạo cần phải hoạch định và triển khai các quá trình theo dõi, đo lường,
phân tích và cải tiến cần thiết để chứng tỏ sự phù hợp của sản phẩm, sự phù hợp của
QMS và thường xuyên nâng cao tính hiệu lực của hệ thống
1.3.3 Mô hình kiểm tra chất lượng - sự phù hợp (Quality control -
conformance QC)
Kiểm tra chất lượng, kiểm tra sự phù hợp được hình thành từ lâu trong các dây
chuyền sản xuất Căn cứ vào các yêu cầu kỹ thuật, các tiêu chuẩn đã được tính toán,
xây dựng từ khâu thiết kế, hoặc theo quy ước của hợp đồng mà tiến hành kiểm tra
chất lượng sản phẩm sau khi sản xuất, nhằm ngăn chặn các sản phẩm hư hỏng và
phân loại theo mức chất lượng khác nhau Bằng mô hình này, muốn nâng cao chất
lượng sản phẩm, người ta cho rằng: chỉ cần nâng cao các chỉ tiêu kỹ thuật bằng cách
kiểm tra gắt gao là đạt mong muốn
Tuy mô hình này có một số tác dụng nhất định, nhưng tồn tại một số nhược
điểm:
- Việc kiểm tra chỉ tập trung vào khâu sản xuất do bộ phận KCS chịu trách
nhiệm
Trang 29Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
- Chỉ loại bỏ được phế phẩm mà không tìm biện pháp phòng ngừa để tránh sai sót
lập lại
- Kiểm tra kết quả gây tốn kém nhiều chi phí mà không làm chủ được tình hình
chất lượng
- Không khai thác được tiềm năng sáng tạo của mọi thành viên trong đơn vị để
cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm
Trong đào tạo, mô hình này thể hiện ở cách thức quản lý, đánh giá chất lượng
đào tạo trên cơ sở các kết quả kiểm tra, thi cử cuối khóa đào tạo mà không quan tâm
đến chất lượng tuyển sinh và quá trình đào tạo
1.3 4 Mô hình kiểm tra chất lượng toàn diện (Total quality control - TQC)
Mô hình kiểm tra chất lượng toàn diện là mô hình kiểm tra hoạt động của các bộ
phận trong doanh nghiệp từ hành chính - tổ chức - nhân sự đến các quá trình sản
xuất: thiết kế - cung ứng - sản xuất - tiêu dùng Mô hình TQC đã có thay đổi về tiếp
cận quản lý chất lượng Đây là việc kiểm tra, kiểm soát một hệ thống, nhằm đạt được
mức chất lượng dự định
So với mô hình kiểm tra chất lượng QC, mô hình TQC có ưu điểm: Việc kiển tra
chất lượng sản phẩm được tiến hành từ khâu đầu đến khâu cuối, nên có những nhận
xét tình hình của cả hệ thống sản xuất - dịch vụ hoặc đào tạo
1.3 5 Mô hình quản lý chất lượng đồng bộ (Total Quality Managemetn -
TQM)
Xuất phát từ sự nhận định chất lượng không chỉ là công việc của một số ít người
quản lý, mà còn là nhiệm vụ, vinh dự của mọi thành viên trong đơn vị kinh tế Chất
lượng sản phẩm muốn được nâng cao, phải luôn luôn quan hệ mật thiết với việc sử
dụng tối ưu yếu tố con người và mọi nguồn lực của doanh nghiệp Vì vậy cần phải có
những biện pháp, những tác động hữu hiệu trong quản lý chất lượng sản phầm, quản
trị doanh nghiệp, nhằm huy động năng lực, nhiệt tình của mọi thành viên cùng giải
quyết các vấn đề chất lượng của Doanh nghiệp, đơn vị
Trang 30Dưới đây là mô hình TQM trong các cơ sở đào tạo
Hình 1.6- Mô h ình TQM trong các cơ sở đào tạo 1.3.6 Các mô hình tổng thể đánh giá quá trình đào tạo
Có nhiều cách để thực hiện đánh giá và giám sát quá trình đào tạo Những người
đánh giá giáo dục chuyên nghiệp phải nhận thức được các khả năng thay thế để thực
hiện nhiệm vụ của mình Có rất nhiều mô hình để thực hiện đánh giá và giám sát
trong đào tạo Mỗi mô hình có những tiêu chí và yêu cầu riêng khi xem xét và đánh
giá Vì vậy khi người giám sát lựa chọn một mô hình nào đó để thực hiện nhiệm vụ
của mình cần loaị các nhận định chủ quan Ví dụ như: mô hình này mạnh hơn bất kỳ
mô hình nào khác
Trọng tâm của quá trình đánh giá trong giáo dục có thể là:
- Mục tiêu của hoạt động giáo dục
- Chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục
- Kết quả của hoạt động giảng dạy
- Các sản phẩm giáo dục sử dụng trong các hoạt động giáo dục
1.3.6.1 Mô hình tổng thể quá trình đào tạo
Mô hình tổng thể của quá trình đào tạo là cơ sở để xây dựng các tiêu chí đánh giá
chất lượng đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo theo các loại hình
đào tạo khác nhau Dưới đây là mô hình tổng thể của quá trình đào tạo
Chất lượng
đầu vào Quá trình đào tạo Chất lượng đầu ra
Đo lường, đánh giá
Rút kinh nghiệm cho quá trình đào tạo
Trang 31Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
lao động
Hình 1.7 - Mô hình tổng thể quá trình đào tạo
1.3.6.2 Mô hình đánh giá nhấn mạnh đầu vào
Mô hình này mang tính chuyên nghiệp Nội dung đánh giá là các tiêu chí của đối
tượng cần đánh giá Kết quả của quá trình đánh giá được dùng để cải thiện các
chương trình đang trong giai đoạn phát triển
VD: Khi đánh giá chương trình đào tạo hiện tại, người ta có thể:
- Kiểm tra chương trình đào tạo nghề có phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sản
xuất hay không?
- Kiểm tra đại diện của doanh nghiệp có tham gia vào quá trình phát triển chương
trình đào tạo nghề hay không?
1.3.6.3 Mô hình đánh giá nhấn mạnh đầu ra
Mô hình này so sánh đầu ra với các tiêu chí của chương trình Đánh giá chất
lượng của các mục tiêu hoặc xem các mục tiêu đã đạt được hay chưa?
Tập trung vào kết quả của chương trình cả kết quả chủ đích và không chủ đích
VD: Khi đánh giá việc sử dụng giáo trình của học sinh:
- Kiểm tra xem học sinh có thể học tốt đến mức độ nào khi đọc giáo trình
- Khả năng ứng dụng của học sinh từ lý thuyết đến thực hành nếu không có giáo
- Đào tạo
- Nghiên cứu
- Dịch vụ
- Phát triển chương trình và chương trình nghiên cứu, dịch vụ sản xuất
- Kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp
- Thích ứng nghề nghiệp
- Thu nhập
- Cơ hội phát triển
- Tự tạo việc làm
Thông tin phản hồi
Trang 321.3.6.4 Mô hình so sánh sự khác biệt
Mô hình này dựa trên tiền đề:
Đánh giá bao gồm việc so sánh chất lượng của việc thực hiện các tiêu chuẩn
Nội dung chính của mô hình này là tập trung vào xem xét những sự khác biệt giữa
các tiêu chuẩn đặt ra và hoạt động thực tế, mô hình này thường được gọi là mô
hình so sánh sự khác biệt của đánh giá giáo dục
Mô hình này gồm 5 giai đoạn
Gia đoạn đầu tuân thủ theo sơ đồ chung dưới đây:
S: Standard (tiêu chuẩn)
P: Program performance (kết quả thực hiện của CT đào tạo)
C: Comparison of S with P (so sánh giữa S và P)
D: Discrepancy information resulting from C ( thông tin khác biệt là kết quả của C)
T: Terminate (kết thúc)
A: Alteration of P or S (thay thế của P hoặc S)
Sau khi so sánh mức độ thực hiện với các tiêu chuẩn, điều tra về các kết quả thông
tin khác biệt (tất nhiên cũng có thể không có sự khác biệt nào) dẫn tới 4 lựa chọn thay
thế Chương trình đào tạo có thể bị bãi bỏ, không thay thế được, hoặc các hoạt động
trong chương trình có thể thay thế được hoặc các tiêu chuẩn có thể thay thế
Mô hình so sánh sự khác biệt gồm 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thiết kế
Giai đoạn đầu này của mô hình tập trung vào việc ghi lại thành tài liệu bản chất
của chương trình
Trang 33Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
Nó bao gồm:
(1): Các mục tiêu của chương trình đào tạo
(2): Học sinh, giáo viên và các nguồn lực khác cần thiết có trước khi có thể
xác định các mục đích của chương trình đào tạo
(3): Các hoạt động giải dạy trong chương trình đào tạo được đoán trước là sẽ
xúc tiến đạt được các mục tiêu đề ra
Giai đoạn 2: Triển khai
Giai đoạn 2 này cố gắng xem xem chương trình đào tạo sau khi được triển khai
có khác biệt gì so với kế hoạch đã đề ra hay không?
Chương trình được thiết kế từ giai đoạn 1 đặt ra các tiêu chuẩn (S) cho
chương trình (P) để xác định có hay không sự khác biệt (D) Sau đó thực hiện
các bước tiếp theo
Giai đoạn 3: Quá trình
Giai đoạn 3 của mô hình so sánh sự khác biệt là người đánh giá đi vào các câu
hỏi xem liệu các mục tiêu đặt ra đã đạt được hay chưa? Sơ đồ thông thường của mô
hình so sánh sự khác biệt được sử dụng bao gồm so sánh giữa các tiêu chuẩn và hoạt
động với thông tin kết quả khác biệt để định hướng cho người ra quyết định
Giai đoạn 4: Sản phẩm
Giai đoạn này tập trung giải quyết triệt để câu hỏi:
"Chương trình đã đạt được các mục tiêu ban đầu hay chưa?"
Các tiêu chuẩn (của mục đích) phát sinh trong giai đoạn 1 (giai đoạn thiết kế) so
sánh với các hoạt động giảng dạy thực tế sau đó của học sinh để xác định sự khác biệt
Giai đoạn 5: So sánh chương trình
Giai đoạn cuối này, không giống như bốn giai đoạn đầu có đặc tính là để phát
triển, mà nó đề cập đến phân tích chi phí và lợi ích của một chương trình đã hoàn
thành với các chương trình khác tương tự
1.3.6.5 Mô hình khung CIRO (Context - Input - Reaction - outcome)
Mô hình này vẫn sử dụng trong các giáo trình đào tạo dựa trên 3 câu hỏi cơ bản
như sau:
Trang 34(1): "Cần thay đổi gì"?
(2): "Cái gì sẽ mang lại những thay đổi mong đợi?" và
(3): "Căn cứ nào cho rằng thực sự đã có thay đổi trong thực tế?"
- Đánh giá bối cảnh (Context)
Đánh giá bối cảnh nhằm trả lời câu hỏi: "Cần phải thay đổi cái gì?"
Trong đánh giá theo bối cảnh, giáo viên căn cứ vào các mục tiêu cuối cùng, trung
hạn và mục tiêu trước mắt
VD:
(1): Giáo viên muốn thay đổi những khiếm khuyết nào của tổ chức?
(2): Những thay đổi nào trong thói quen làm việc của người lao động mà giáo
viên muốn gây ảnh hưởng tới
(3): Kiến thức hoặc thái độ mà người lao động cần có trước khi có được các
thói quen làm việc
- Đánh giá đầu vào (Input)
Đánh giá này trả lời câu hỏi: "Cái gì sẽ đem đến những thay đổi mong muốn ?"
Theo cách này giáo viên phải đánh giá các nguồn lực của mình và quyết định lựa
chọn theo cách tốt nhất để thực hiện Các câu hỏi cần được đưa ra trong giai đoạn này
là về ngân sách tài chính, nhân sự, kết quả của các kỹ thuật khác nhau, các nguồn nội
lực và ngoại lực
- Đánh giá phản ứng (Reaction)
Một kết quả hữu ích của đánh giá là biết các phản ứng của học sinh đối với khóa
học trong hoặc sau một sự kiện Có thể thực hiện thông qua các câu hỏi trắc nghiệm
chính thức hoặc phi chính thức trong giờ nghỉ, tại các buổi giao lưu, qua các cuộc nói
chuyện vài tuần sau khi khóa học kết thúc
- Đánh giá đầu ra (outcome)
Có 4 giai đoạn trong đánh giá đầu ra là:
- Xác định mục tiêu đào tạo
- Lựa chọn biện pháp thực hiện các mục tiêu
- Đo lường các mục tiêu trong một thời gian thích hợp
Trang 35Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
- Đánh giá các kết quả để cải tiến quá trình đào tạo
Các kết quả của đánh giá đầu ra cho phép giáo viên quay trở lại và làm tốt hơn
quá trìnhđào tạo hiện nay cũng như hoạch định kế hoạch đào tạo trong tương lai Hơn
nữa, nó chỉ ra cách mà từng cá nhân thayđổi khi thực hiện công việc Cuối cùng, nó
đo lường cả một bộ phận hay cả một tổ chức đã thay đổi như thế nào
Rõ ràng rằng các mô hình đánh giá và giám sát đã được xem xét dưới nhiều góc
độ khác nhau Không có mô hình nào vượt trội hơn hẳn các mô hình khác Tuy
nhiên, việc lựa chọn và ứng dụng một mô hình phụ thuộc và những gì mà ta cho là
thích hợp trong công việc, trong hoàn cảnh đánh giá và phù hợp với các kỹ năng mà
Cơ chế chính sách của Nhà nước ảnh hưởng rất lón tới sự phát triển đào tạo nghề
cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo
Cơ chế, chính sách của Nhà nước tác động tới chất lượng đào tạo nghề thể hiện ở
các khía cạnh sau:
- Khuyến khích hay kìm hãm cạnh tranh nâng cao chất lượng Có tạo ra môi
trường bình đẳng cho các cơ sở đào tạo cùng phát triển nâng cao chất lượng hay
- Các chính sách về đầu tư, về tài chính với các cơ sở có đào tạo nghề
- Có hay không các chuẩn về chất lượng đào tạo Có hay không hệ thống đánh
giá, kiểm định chất lượng đào tạo, qui định về quản lý chất lượng đào tạo và cơ quan
chịu trách nhiệm giám sát việc kiểm định chất lượng đào tạo nghề
Trang 36- Các chính sách về lao động, việc làm và tiền lương của lao động sau đào tạo
nghề Chính sách đối với giáo viên là học sinh ở bậc giáo dục nghề
- Các qui định trách nhiệm và mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và người sử dụng
lao động, quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất
Tóm lại: Cơ chế chính sách tác động đến tất cả các khâu từ đầu vào, đến quá trình
đào tạo và đầu ra của các trung tâm dạy nghề
1.4.1.2 Các yếu tố về môi trường
Các yếu tố về môi trường bao gồm:
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế lao động đến tất cả các mặt đời sống xã
hội của đất nước, trong đó có các hoạt động đào tạo nghề Toàn cầu hóa và hội nhập
đòi hỏi chất lượng đào tạo nghề nghiệp của Việt Nam phải được nâng lên để sản
phẩm tạo ra đáp ứng yêu cầu của thị trường, của khu vực và trên thế giới Đồng thời
cũng tạo cơ hội cho giáo dục nghề nghiệp Việt Nam nhanh chóng tiếp cận trình độ
tiên tiến
- Phát triển khoa học, công nghệ yêu cầu người lao động phải nắm bắt kịp thời và
thường xuyên học tập để làm chủ công nghệ mới, đòi hỏi các nhà trường phải đổi
mới trang thiết bị cho nghiên cứu và học tập
- Kinh tế xã hội phát triển làm cho nhận thức của xã hội và công chúng về giáo
dục nghề nghiệp được nâng lên, người học ngày càng khẳng định được vị thế vai trò
của mình trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Từ đó cơ hội thu hút đầu tư cho giáo
dục nghề nghiệp ngày càng tăng lên, các nhà trường có điều kiện hoàn thiện cơ sở vật
chất để cải thiện chất lượng đào tạo Thị trường lao động phát triển và hoàn thiện tạo
ra môi trường cạnh tranh làm mạnh cho các cơ sở đào tạo nâng cao chất lượng
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo được thể hiện trong hình
1.9 dưới đây, [12, tr59]
Trang 37Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
Hình 1 9: Quá trình đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo
Quá trình đào tạo
Quá trình giảng dạy
Kiểm tra đánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ
Thông tin phản hồi
Sự thích ứng thị trường lao động, tình hình việc làm, năng suất lao động, thu nhập, phát triển nghề nghiệp
Môi trường
Trang 381.4.2 Nhóm các yếu tố bên trong
Đây là nhóm các yếu tố bên trong các cơ sở đào tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng đào tạo Các yếu tố này do hệ thống quản lý chất lượng của các cơ sở giáo
dục nghề nghiệp quyết định Bao gồm các nhóm yếu tố sau:
1.4.2.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện đảm bảo
Trong môi trường đào tạo các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo THCN
bao gồm:
- Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý (Manpower - m1)
- Đầu vào, học sinh sinh viên tham gia học các chương trình đào tạo nghề nghiệp
(Material - m2)
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị (Machino - equiment - m3)
- Nguồn tài chính (Money - m4)
- Gắn đào tạo với sử dụng và khuyến khích học sinh theo học giáo dục nghề
nghiệp (Marketing - m5)
- Các nhân tố trên được gắn kết bởi nhân tố quản lý (Managerment - M)
Các nhân tố trên được sơ đồ hóa như hình vẽ dưới đây:
Hình 1 10 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo
Hình 1.10 thể hiện M vừa gắn kết với 5m vừa đảm bảo cho 5m vận động đồng bộ
Nhân tố M ở đây bao gồm cả quản lý chất lượng Để đảm bảo chất lượng dịch vụ cung
cấp cho người học các cơ sở đào tạo phải xây dựng hệ thống quản lý chất lượng và áp
dụng các phương pháp, công cụ kiểm soát chất lượng phù hợp Hiện nay hệ thống quản
lý chất lượng theo ISO 9000, quản lý chất lượng toàn diện TQM và các công cụ thống
kê đang được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức và mang lại kết quả tốt
m1
m3
Trang 39Luận văn thạc sĩ khoa học Trường đhbk Hà Nội
1.4.2.2 Nhóm các yếu tố về quá trình đào tạo
Các nhân tố thuộc nhóm này bao gồm:
- Nội dung chương trình đào tạo có phù hợp với mục tiêu đào tạo đã được thiết
kế, cho phù hợp với nhu cầu thị trường, yêu cầu của người học?
- Phương pháp đào tạo có được đổi mới, có phát huy được tính tích cực, chủ động của
người học, có phát huy được cao nhất khả năng học tập của từng học sinh hay không?
- Hình thức tổ chức đào tạo có linh hoạt; thuận lợi, tiết kiệm chi phí cho người
học hay không? Có đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học hay không?
- Môi trường học tập trong nhà trường trung tâm có an toàn, có bị các tệ nạn xã
hội xâm nhập không? Các dịch vụ phục vụ học tập, sinh hoạt có thuận lợi và đáp ứng
đủ cho học sinh hay không?
- Môi trường văn hóa trong nhà trường trung tâm có tốt không? Người học có dễ
dàng có được các thông tin về kết quả học tập, lịch học, kế hoạch học và các hoạt
động của nhà trường không?
1.5 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề
1.5.1 Hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề
Để có một cơ sở thống nhất cho quá tình đánh giá các điều kiện đảm bảo chất
lượng các trung tâm dạy nghề ở các nước tiểu vùng sông Mêkông, Tổ chức lao động
thế giới ILO và Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) đã đưa ra một bộ tiêu chí đánh
giá các trường kỹ thuật và dạy nghề cho các nước trong khu vực bao gồm 9 điều kiện
đảm bảo chất lượng đào tạo như cơ sở vật chất công trình, xưởng thực hành, tài liệu
chương trình, đội ngũ giáo viên, theo bảng tiêu chí dưới đây: [8, tr 21]
Trang 40Bảng 1.1 Các tiêu chí và điểm đánh giá các điều ki ện đảm bảo chất lượng đào
tạo (theo TLO và ADB)
(ILO và ADB)
5 Thư việc và các nguồn lực cho dạy học 25
1.5.2 Tiêu chí đánh chất lượng và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo
Đại học áp dụng trong đánh giá c hất lượng giáo dục Trung học nghề
Để đánh giá chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo nghề nước
ta hiện, các chuyên gia có thể sử dụng hệ thống tiêu chí dưới đây:
Bảng 1.2 Hệ thống các lĩnh vực, các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo và
các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học