Để từng bước xử lý nợ xấu một cách bền vững, hạn chế nợ xấu gia tăng nhằm khơi thông dòng vốn trong hệ thống các TCTD, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng
Trang 11
LỜI NÓI ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu, vấn đề lạm phát trong nước cao.Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức thấp và còn nhiều điểm cần khắc phục, dư địa của chính sách tài khóa bị thu hẹp, tiến độ cải cách doanh nghiệp nhà nước còn chậm chạp, tỷ lệ nợ xấu trong khu vực ngân hàng còn cao và có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, Những vấn đề trên đã trực tiếp gây ra tình trạng rủi ro, bất ổn
đe dọa hệ thống ngân hàng Số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng cao hơn trước Môi trường kinh doanh và hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn, chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng Trong giai đoạn 2008 - 2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân 51% Tốc độ tăng trưởng dư
nợ tín dụng từ năm 2011 chậm lại đáng kể, đặc biệt là 5 tháng đầu năm 2012 dư
nợ tín dụng không tăng nhưng nợ xấu tăng tới 45,5% do tình hình kinh doanh và tài chính của các DN suy giảm mạnh ( Theo Trang Nhịp sống kinh tế Việt Nam và thế giới) Để từng bước xử lý nợ xấu một cách bền vững, hạn chế nợ xấu gia tăng nhằm khơi thông dòng vốn trong hệ thống các TCTD, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ vốn tích cực cho nền kinh tế, cần triển khai một số giải pháp quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng Với thị trường tài chính đang đối diện với những bất ổn và tiềm ẩn nhiều rủi ro, thì việc đo lường và quản trị rủi ro tín dụng hết sức quan trọng Việc đo lường rủi ro tín dụng là một phương pháp cần thiết trong việc nhận diện, đánh giá và dự báo tình hình tài chính của mỗi khách hàng, mỗi doanh nghiệp Mô hình dự báo kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng trên mô hình hình nhị phân (binary logistic) dựa trên các nhân tố tác động đến kiệt quệ tài chính của Platt, H.D và Platt, M.B (2006) Mô hình Binary Logistic ước lượng xác suất kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp, xem xét mức ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến tình hình doanh nghiệp, từ đó giúp các nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra các hành động kịp thời nhằm tránh khỏi tình trạng kiệt quệ tài chính, giúp các NHTM đưa
ra quyết định cho vay, giảm thiểu rủi ro tín dụng Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu vận dụng mô hình hồi Binary Logistic vào thực tiễn cuộc sống xã hội và đã được thực hiện rất tốt Về kinh tế, đề tài “các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ ở huyện Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ” (Nguyễn Văn Ngân, 2003)
Trang 22
Tuy nhiên, về đề tài Vận dụng mô hình hồi quy Binary logistic để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay của ngân hàng thì còn rất ít Do đó đây cũng là một điểm mới của đề tài Ngoài ra, đề tài nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn nền kinh tế đất nước nói chung và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong nước nói riêng đang trong thời kỳ khôi phục lại sau suy thoái kinh tế toàn cầu nên đề tài được nghiên cứu còn mang tính cần thiết cao
Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long tiếp cận bằng mô hình Binary Logistic”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp Vận dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để ước lượng xác suất kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp Từ đó xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình doanh nghiệp, đưa ra quyết định cho vay đối với các doanh nghiệp, giảm thiểu rủi ro cho tín dụng vay vốn và nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại hiện nay
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a Đối tượng:
Bài báo cáo chọn các doanh nghiệp đã bị hủy niêm yết do kinh doanh thua lỗ và lỗ lũy kế vượt quá vốn điều lệ, đồng thời cũng tương đồng với các doanh nghiệp hủy niêm yết là các doanh nghiệp có quy mô tương tự đang hoạt động tốt trên thị trường làm đối tượng nghiên cứu Từ đó, các ngân hàng thương mại nói chung, ngân hàng Kiên Long nói riêng, có thể ước lượng được khả năng kiệt quệ tài chính và đưa ra quyết định cho vay đối với DN vay vốn
b Phạm vi nghiên cứu
Sử dụng nguồn dữ liệu từ cơ sở dữ liệu các năm của các công ty được niêm yết trên sở giao dich chứng khoán HOSE và HNX Thu thập số liệu từ báo cáo tài chính của 84 công ty đang hoạt động và hủy niêm yết trên sàn giao dịch Trong nghiên cứu này, tôi phân loại quan sát thành hai loại: những quan sát rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính được gán giá trị biến phụ thuộc là 0; những quan sát không
bị kiệt quệ hay tình hình tài chính ổn định được gán giá trị biến phụ thuộc là 1 Để giải quyết vấn đề biến phụ thuộc là nhị phân, tôi sử dụng mô hình Logistic trong bài nghiên cứu này
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Kết hợp kiến thức kinh tế và sử dụng các mô hình, phần mềm hỗ trợ để phân tích rủi ro tín dụng trong Ngân hàng, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng cho các nhà quản lý Kết hợp phương pháp thống
Trang 33
kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích những số liệu, tổng hợp dữ liệu, chạy mô hình và kiểm định
5 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Bài khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về nghiệp vụ tín dụng ở ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long và mô hình hồi quy Binary Logistic
Chương 2 Thực trạng tình hình tín dụng doanh nghiệp và xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp
Chương 3 Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại hiện nay
Trang 44
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KIÊN LONG VÀ MÔ HÌNH HỒI QUY BINARY LOGISTIC
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KIÊN LONG
1.1.1 Thông tin chung
Ngân hàng TMCP Kiên Long, tên quốc tế là Kienlong Commercial Joint Stock Bank, viết tắt là Kienlong Bank (tiền thân là NHTMCP Nông Thôn Kiên Long) đi vào hoạt động từ ngày 25/10/1995 tại Kiên Giang, được thành lập theo giấy phép hoạt động số 0056/NN-CP ngày 18/09/1995 do NHNN Việt Nam cấp với thời gian hoạt động là 50 năm
Ngày 30/06/2007, Kienlongbank chuyển đổi thành Ngân hàng đô thị và có những bứt phá ngoạn mục từ việc Ban Lãnh đạo đã quyết tâm mở rộng mạng lưới, đẩy mạnh đầu tư hiện đại hóa công nghệ, phát triển đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, nhằm đáp ứng nhu cầu khả năng thanh toán của nền kinh tế Ngày 11/05/2007, Ngân hàng TMCP Kiên Long đã khai trương trụ sở làm việc mới Chi nhánh Sài Gòn tại số 197-199 Lý Thuờng Kiệt, P.6, Q.Tân Bình, TP.HCM Nay đã chuyển về địa chỉ số 98-108A Cách Mạng Tháng Tám, phường
7, quận 3, TP Hồ Chí Minh dựa theo công văn số 08/HCM-TTGSNH1 ngày 03/01/2014 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam Chi nhánh Tp Hồ Chí Minh V/v chấp thuận thay đổi địa điểm Ngân hàng TMCP Kiên Long – Chi nhánh Sài Gòn Không ngừng và liên tục phát triển mạng lưới năm 2009, ngân hàng TMCP Kiên Long (Kienlong Bank) chính thức khai trương và đưa vào hoạt động PGD Thủ Đức vào ngày 17 tháng 07 năm 2009, tại số 15 – 17 Đường Võ Văn Ngân, Phường Linh Chiểu, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
1.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh
Năm 2014 là năm thứ 4 Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 Trong năm 2014, tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam diễn ra trước bối cảnh thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp Kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn so với dự báo Xung đột mâu thuẫn xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là tình hình căng thẳng trên biển Đông Trước tình hình đó, mặc dù thống kê cho thấy kinh tế Việt Nam đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi, nhưng năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế vẫn chưa mấy được cải thiện
Trang 55
Hệ thống ngân hàng, vốn được đánh giá là xương sống của nền kinh tế, vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong năm vừa qua Tính đến cuối năm 2014, tín dụng toàn hệ thống tăng hơn 11%, tỷ lệ nợ xấu xấp xỉ 3,9%, tăng so với mức 3,61% so với năm
Bảng 1.1 Tổng tài sản của KLB giai đoạn 2012-2014
Tỷ suất lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) 6,95%
Tỷ suất sinh lợi / Tổng tài sản bình quân (ROA) 1,01%
Nguồn: Báo cáo tài chính KLB
Trang 6Nguồn: Báo cáo tài chính KLB Bảng 1.4: Nhóm chỉ số Thanh toán 2014
Năm 2014
Nguồn: Báo cáo tài chính KLB Năm 2014, Ngân hàng Kiên Long đạt tổng nguồn vốn huy động 14.751 tỷ đồng, đạt 101,73% so với kế hoạch năm 2014, tăng 5,29% so với năm 2014
Bảng 1.5: Tăng trưởng huy động vốn từ cá nhân và tổ chức kinh tế
ĐVT: tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo tài chính KLB Tăng trưởng tín dụng một cách chọn lọc và đảm bảo chất lượng tín dụng.Với định hướng là một Ngân hàng bán lẻ, nên cho vay tiêu dùng, vay trả góp theo ngày là những khoản cho vay quan trọng của Ngân Hàng TMCP Kiên Long
Trang 77
Tính đến thời điểm 31/12/2014, tỷ lệ nợ xấu của Kienlongbank chỉ chiếm 1,95%
% tổng dư nợ và vẫn nằm trong tỷ lệ an toàn mà Ngân hàng Nhà nước cho phép (nhỏ hơn 3%)
Trong năm 2014, Ngân hàng Kiên Long thực hiện tăng trưởng tín dụng theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước (tăng trưởng tín dụng 15%) Tổng dư
nợ cho vay (31/12/2014) là 13.526 tỷ đồng, tăng 11,52 % so với năm 2013 và đạt 100,14% kế hoạch năm 2014 ( kế hoạch năm 2014 : 13.341 tỷ đồng)
Bảng 1.6: Tăng trưởng dư nợ tín dụng tín đến 31/12/2014
1.1.3 Cơ cấu tổ chức của NH Kiên Long
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHKL
Trang 8Phòng Marketing Phòng CNTT
Phòng NS Phòng HC - QT
Phòng TĐTS Phòng PC & XLN
Phòng KSNB Phòng QLRR
Khối tín dụng - đầu tư
Các hội đồng/ ban ALCO
Hội đồng thi đua khen
thưởng Hội đồng đầu tư
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
CÁC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
Ban kiểm soát
Phòng kiểm toán nội bộ
Văn phòng HĐQT
Các công ty con, liên
doanh, liên kết
Ủy ban tín dụng
Ủy ban quản lý rủi ro
Ủy ban nhân sự
Trang 9 Phòng kinh doanh: Thường xuyên theo dõi, phân tích, đánh giá tình hình biến động trên thị trường về hoạt động tín dụng, huy động vốn, dịch vụ,…Từ đó, tham mưu kịp thời Ban Tổng Giám đốc đề ra những quyết định đúng đắn nhằm hạn chế tối đa những rủi ro trong kinh doanh, giúp cho hoạt động của Ngân hàng ngày càng an toàn và hiệu quả
Phòng kế toán tài vụ: Tổ chức và thực hiện công tác hạch toán kế toán toàn
hệ thống một cách đầy đủ và chính xác theo đúng quy định của Nhà nước và của Ngân hàng Phối hợp với các phòng ban tham mưu cho Ban lãnh đạo thực hiện chế độ tài chính trong toàn hệ thống một cách an toàn, hiệu quả và tiết kiệm theo đúng quy định
Phòng tổ chức hành chánh: Tham mưu cho Ban Giám đốc trong công tác quy hoạch đào tạo cán bộ của Ngân hàng, đề xuất các vấn đề có liên quan đến công tác nhân sự, ngoài ra còn là bộ phận thực hiện các chế độ lao động, tiền lương, thi đua khen thưởng và kỷ luật
Thực hiện nhiệm vụ soạn thảo các văn bản về nội quy cơ quan, chế độ thời gian làm việc, thực hiện các chế độ an toàn lao động, qui định phân phối quỹ tiền lương, xây dựng chương trình nội dung thi đua nhằm nâng cao năng suất lao động
Phòng tiếp thị: Thực hiện việc phát triển thương hiệu, quảng cáo, quảng bá sản phẩm, thực hiện các chương trình khuyến mãi, chăm sóc khách hàng, các hoạt động xã hội và tham gia tài trợ cho các sự kiện văn hóa, thể dục thể thao,…
Phòng đầu tư và ngân quỹ: Hoàn thiện xây dựng các quy trình, quy chế nghiệp vụ hoạt động Thực hiện công tác kho quỹ theo quy định của Nhà nước
và Ngành Ngân hàng về an toàn kho quỹ
Phòng công nghệ thông tin: Từng bước triển khai dự án hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng Lắp đặt và hướng dẫn nhân viên áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại
Phòng kiểm tra, kiểm toán nội bộ: Thực hiện công tác kiểm tra nội bộ trong toàn Ngân hàng
Trang 1010
Phòng pháp chế và xử lý nợ: Thường xuyên cập nhật, theo dõi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng, từ đó tham mưu cho Ban lãnh đạo về tính pháp lý của nhiều hợp đồng với đối tác, với khách hàng, cũng như chuyển đến các phòng nghiệp vụ để làm cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn
Phòng phát triển mạng lưới: Tiến hành khảo sát và đề xuất các địa điểm chọn làm trụ sở giao dịch, đồng thời hoàn chỉnh hồ sơ thành lập các đơn vị mới Tiến hành theo dõi, giám sát thi công, đồng thời trực tiếp thực hiện rà soát quyết toán công trình cải tạo, sửa chữa và xây dựng cơ bản các địa điểm giao dịch
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PGD Thủ Đức
Hiện tổng nhân sự của PGD Thủ Đức là 10 CBNV Đứng đầu đơn vị là giám đốc PGD, chịu trách nhiệm giám sát và điều hành tất cả các hoạt động của PGD PGD có 3 phòng chủ yếu, trong đó phòng kinh doanh thực hiện và giám sát hoạt động tín dụng và huy động vốn, phòng ngân quỹ thực hiện công tác kho quỹ và
an toàn kho quỹ theo quy định, phòng giao dịch thực hiện chức năng là cầu nối trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng
Nhìn chung, NHKL hiện có mô hình cơ cấu tổ chức chặt chẽ, gồm nhiều bộ phận với mỗi bộ phận, mỗi phòng đảm nhiệm một phần công việc nhất định thể hiện tính chuyên môn hóa cao Hệ thống phân cấp, bậc rõ ràng, phân chia chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban, từng cá nhân trong tổ chức nên đạt hiệu quả cao trong công việc Ngoài ra, KLB còn có đội ngũ cán bộ có năng lực, giàu kinh nghiệm, có tầm nhìn chiến lược, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó Mỗi phòng ban có một trưởng phòng hay một người quản lý, kiểm soát, đôn đốc nên công việc luôn tiến hành tốt Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức còn đặt ra cho bộ máy quản lý một số tồn tại Do phân chia thành nhiều phòng, nhiều bộ phận nên gây tốn kém chi phí quản lý Nhìn vào mô hình cho thấy, ban điều hành sẽ phải kiểm soát tất cả các phòng ban chức năng, các chi nhánh, phòng giao dịch Do
đó, khối lượng công việc của ban điều hành rất lớn, việc kiểm soát, giám sát và tổng công việc sẽ gặp khó khăn Ngân hàng chưa có chính sách thu hút những
Trang 1111
người lao động trẻ có trình độ đào tạo cao, nhiệt tình năng động và thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường cạnh tranh
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC SUẤT VỠ NỢ
Theo Luật phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản Xác suất phá sản là khả năng doanh nghiệp bị phá sản trong tương lai và thường được thể hiện bằng con số phần trăm (%)
Trong thẩm định giá, xác suất phá sản là một tham số tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp, một doanh nghiệp có xác suất phá sản càng lớn thì giá trị doanh nghiệp sẽ giảm xuống và ngược lại
1.2.1 Mô hình Z-core
Một trong những mô hình dự báo xác suất phá sản, mô hình chỉ số Z (Z-core) của giáo sư người Mỹ Edward I Altman, trường kinh doanh Leonard N Stern, thuộc trường Đại học New York phát triển vào năm 1968 Mô hình này được đánh giá là
dự báo được một cách tương đối chính xác các công ty sẽ bị phá sản trong vòng 2 năm thông qua việc xem xét đến giá trị Z - score
Z - score là chỉ số kết hợp 5 tỉ số tài chính khác nhau với các trọng số khác nhau dựa trên phân tích biệt số bội MDA Công thức Z - score ban đầu (đối với doanh nghiệp đã CPH, ngành sản xuất) như sau:
Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.6X4 + 1.0X5 Với X1: Tài sản lưu động thuần/Tổng tài sản
X2: Lãi chưa phân phối/Tổng tài sản
X3: Lợi nhuận trước thuế và lãi/Tổng tài sản
X4: Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu/Giá trị bút toán của tổng số nợ
X5: Doanh thu/Tổng tài sản
Nếu doanh nghiệp có điểm số Z lớn hơn 2.99 thì có tình hình tài chính tốt, nhỏ hơn 1.81 là có tình hình tài chính không tốt, từ 1.81 đến 2.99 thì thuộc vùng không xác định được tốt hay không
Mô hình điểm số Z chỉ là một trong những mô hình tiêu biểu để dự báo xác suất
vỡ nợ Trong quá trình sử dụng người ta nhận thấy rằng nó dự đoán khá chính xác tới 97% khả năng vỡ nợ trước khi nó xảy ra khoảng 1 tới 2 năm Tuy nhiên với nền kinh tế ngày càng phức tạp và cạnh tranh nhiều hơn, một mô hình đơn giản như mô hình điểm số Z dự báo càng kém hiệu quả và không chỉ ra được thời gian phá sản dự kiến Do đó ngày nay người ta đã nỗ lực đưa ra nhiều mô hình phức tạp hơn để cố gắng lượng hóa được rủi ro của khách hàng
Trang 1212
1.2.2 Xác định xác suất vỡ nợ dựa trên xếp hạng trái phiếu Altman & Kishore (2001) đã có những ước tính xác suất vỡ nợ cho trái phiếu trong mỗi bậc khác nhau trong thời gian 5 và 10 năm Kết quả dự toán được trình bày trong dưới đây:
Nguồn: Damodaran, Aswath, 2006, The Cost of Distress: Survival, Truncation Risk and
Valuation., New York: Stern School of Business
Trang 1313
Thứ hạng trái phiếu Tỷ lệ vỡ nợ
Thứ hạng trái phiếu
Nguồn: Altman và Kishore (1998) *
* Trích nghiên cứu do Altman và Kshore thực hiện năm 1998, nghiên cứu này chỉ ước tính tỉ lệ vỡ nợ trong kỳ 10 năm cho một số thứ hạng trái phiếu Các thứ hạng
còn lại do Damodaran suy luận
Những hạn chế của phương pháp này:
- Giả định đầu tiên của phương pháp này là các cơ quan xếp hạng phải thực hiện tốt chuyên môn nghiệp vụ của mình và làm việc một cách nghiêm túc Việc TĐV dựa vào kết quả xếp hạng trái phiếu của các cơ quan xếp hạng làm căn cứ ước tính xác suất phásản của doanh nghiệp đó cũng đồng nghĩa với việc giao trách nhiệm ước tính xác suất vỡ nợ cho các cơ quan xếp hạng
- Giả định các tiêu chuẩn xếp hạng không thay đổi theo thời gian
- Phương pháp này đo lường khả năng vỡ nợ trên kết quả xếp hạng trái phiếu của doanh nghiệp, nhưng phương pháp không đề cập đến việc những công ty vỡ nợ có ngừng kinh doanh hay không?
Thực tế, nhiều công ty vẫn tiếp tục hoạt động mặc dù kết quả xếphạng trái phiếu của doanh nghiệp có tạo ra mối lo ngại cho việc vỡ nợ
1.3 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ XÁC SUẤT VỠ NỢ
VÀ MÔ HÌNH BINARY LOGISTIC Nghiên cứu xác suất vỡ nợ của các ngân hàng Nga của Alexander M Karminsky
và Alexander Kostrov (2014) so sánh một số mô hình để ước lượng xác suất phá sản của các ngân hàng Nga bằng việc sử dụng số liệu thống kê quốc gia 1998-
2011, và thấy rằng mô hình hồi quy nhị phân logit với một cấu trúc dữ liệu panel tốt nhất Kết quả chỉ ra rằng có một mối quan hệ hình chữ U bậc hai giữa tỷ
quasi-lệ an toàn vốn của một ngân hàng và xác suất vỡ nợ Ngoài ra, kinh tế vĩ mô và các
Trang 1414
yếu tố thời gian cải thiện đáng kể tính chính xác của mô hình Những kết quả này
là hữu ích cho các cơ quan quản lý tài chính quốc gia, cũng như cho các nhà quản
lý rủi ro trong ngân hàng thương mại
Ước lượng Bayes về xác suất vỡ nợ của Hannes Kazianka (2015) ước tính độ tin cậy của các xác suất vỡ nợ (PD) của một khách hàng, là một trong những nhiệm
vụ quan trọng nhất trong mô hình rủi ro tín dụng cho các ngân hàng áp dụng các phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ trong khuôn khổ Basel II-III Với mong muốn để phân tích độ tin cậy một danh mục phá sản thấp của các công ty nhà ở phi lợi nhuận, nghiên cứu xem xét PD dự toán trong một khuôn khổ Bayes
và phát triển mục tiêu cho các tham số θ đại diện cho PD trong mô hình Gaussian
và mô hình một nhân tố Student t Cuối cùng, việc phân tích các danh mục công ty nhà phi lợi nhuận nêu bật các tiện ích của những sự phát triển phương pháp luận
“Xác suất phá sản: Một phương pháp hiệu chuẩn hiện đại” của Stefano Bonini và Giuliana Caivano (2014) đã trình bày một cách tiếp cận hiệu chuẩn có cấu trúc hiện đại, dựa trên kỹ thuật Bayesian, cân nhắc các yếu tố kinh tế cụ thể Phương pháp hiệu chuẩn đã được áp dụng trên số liệu thực tế của một danh mục đầu tư của doanh nghiệp thuộc hàng đầu tại Ngân hàng châu Âu và một bài kiểm tra hiệu chuẩn mới, điều chỉnh bởi các chu kỳ kinh tế
Công trình nghiên cứu Dự đoán niềm tin xã hội với hồi quy logistic nhị phân của hai sinh viên trường Quốc tế Alliant, Joseph Adwere-Boamah và Shirley Hufstedler vào đầu năm 2015 sử dụng hồi quy logistic nhị phân để dự đoán sự tin tưởng xã hội với năm biến nhân khẩu học từ một mẫu quốc gia của các cá nhân người lớn tham gia khảo sát xã hội chung (GSS) vào năm 2012 Năm biến dự báo
là mức độ cao nhất của người trả lời thu được, chủng tộc, giới tính, nói chung hạnh phúc và tầm quan trọng của cá nhân hỗ trợ người dân gặp khó khăn Mục tiêu của việc phân tích dữ liệu là đánh giá tác động của các yếu tố dự báo về khả năng trả lời phỏng vấn sẽ báo cáo rằng họ có lòng tin xã hội thấp Kết quả phân tích hồi quy logistic nhị phân của dữ liệu cho thấy mô hình hồi quy logistic đầy đủ có chứa tất
cả các năm dự đoán là có ý nghĩa thống kê Các yếu tố dự báo mạnh nhất của niềm tin xã hội thấp là giáo dục hoặc mức độ đạt được Tóm lại, phụ nữ ít tin cậy hơn
so với nam giới, người Mỹ gốc Phi là ít đáng tin cậy hơn so với người da trắng, cá nhân ít học hơn là ít đáng tin cậy hơn so với các cá nhân có học vấn và những người kém hạnh phúc ít tin cậy hơn so với những người hạnh phúc
Trang 15Căn cứ vào khoản 1 điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD (Ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005), rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy, có thể nói rằng, rủi ro tín dụng xuất hiện trong mối quan hệ kinh tế trong
đó ngân hàng là chủ nợ và khách hàng đi vay thực hiện không đúng cam kết trả nợ
đã được thảo thuận trong hợp đồng tín dụng
1.4.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
1.4.1.2.1 Các nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân từ chính trị pháp luật
Hoạt động của ngân hàng luôn chịu ảnh hưởng của môi trường chính trị và hệ thống pháp luật cụ thể Mỗi khi môi trường chính trị có biến động hoặc pháp luật thay đổi thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nếu như trong nước diễn ra sự mất ổn định về chính trị thì ngay lập tức tình hình kinh tế của đất nước sẽ thay đổi theo chiều hướng xấu, kinh doanh bị ngừng trệ, thu nhập giảm Do đó khả năng trả nợ của ngân hàng giảm làm cho rủi ro tín dụng
có nguy cơ gia tăng Chính sách hay pháp luật thay đổi thường xuyên, không nhất quán, mâu thuẫn, không rõ ràng cũng làm gia tăng rủi ro tín dụng Chẳng hạn nhà nước có chính sách tăng thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ làm cho khả năng trả nợ của khách hàng giảm, rủi ro tín dụng tăng lên
Như vậy tác động xấu từ sự bất ổn định của môi trường chính trị và hệ thống pháp luật kể trên ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, khách hàng của ngân hàng
và qua đó gián tiếp tăng thêm nguy cơ rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Nguyên nhân từ phía môi trường kinh tế không ổn định
Trang 1616
Các doanh nghiệp là đối tượng khách hàng lớn đối với ngân hàng Không có một
DN nào có thể hoạt động tách biệt khỏi nền kinh tế Nhất là đối với các DNNVV với số lượng lớn, linh hoạt trong các hoạt động, có mặt trong hầu hết tất cả các ngành nghề các lĩnh vực và có tầm quan trọng trong nền kinh tế, các vấn đề của nền kinh tế như tính chu kỳ của nền kinh tế, vấn đề lạm phát thất nghiệp tác động trực tiếp đến hoạt động của các DN, đó có thể là nguyên nhân sâu xa của rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn
Môi trường văn hóa xã hội thay đổi, xu thế tiêu thụ của thị trường cũng thay đổi DNNVV hoạt động trong hầu hết các ngành nghề các lĩnh vực, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ của xã hội Tuy nhiên nó cũng chịu tác động rất lớn bởi yếu tố văn hóa xã hội Một khi văn hóa xã hội thay đổi làm thay đổi xu thế tiêu thụ, giảm sức tiêu thụ một mặt hàng nào đó thì các DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất lưu thông mặt hàng đó chắc chắn sẽ gặp khó khăn do không bán được hàng, hàng tồn kho tăng, giảm thu nhập và sẽ lâm vào tình trạng không có đủ khả năng trả nợ cho
NH, rủi ro cho NH tăng nhanh
Môi trường công nghệ trong nước và thực trạng ứng dụng công nghệ của từng DN cũng tác động trực tiếp đến hoạt động, khả năng tiêu thụ, doanh thu lợi nhuận DN nào có công nghệ tiên tiến ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, sản phẩm sản xuất
ra có chất lượng tốt tính cạnh tranh trên thị trường cao được người tiêu dùng ưa chuộng sẽ làm tăng doanh thu, tăng khả năng trả nợ cho NH Đối với các DNNVV hiện nay, thực trạng áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất là rất hạn chế do tiềm lực tài chính có hạn do đó làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ của DNNVV làm tăng rủi ro cho NH
1.4.1.2.2 Các nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân từ phía khách hàng
Khả năng quản lý kinh doanh yếu kém
Khả năng quản lý yếu kém thể hiện ở những chiến lược sai lầm, thiếu tầm nhìn, thiếu tập trung và thiếu kiểm soát Do hạn chế kinh nghiệm, năng lực chuyên môn, nên các DNNVV rất khó khăn đối phó với những biến động lớn của thị trường, làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ NH Ngoài ra, quản trị nhân sự yếu kém, quản trị yếu tố đầu vào, đầu ra không hiệu quả, công tác Marketing không được chú trọng cũng là những biểu hiện sự yếu kém trong quản lý mà NH cần phải xem xét
để tránh rủi ro
Tình hình tài chính DN yếu kém, thiếu minh bạch
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé là đặc điểm chung của hầu hết các DNNVV Ngoài ra, các DNNVV chưa chấp hành nghiêm chỉnh và trung thực những chuẩn
Trang 1717
mực kế toán Do vậy, sổ sách kế toán mà DNNVV cung cấp cho ngân hàng không phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình tài chính của DN Điều này gây khó khăn cho cán bộ ngân hàng khi phân tích khách hàng và đánh giá khả năng trả nợ của khác hàng Đây cũng là nguyên nhân vì sao các NHTM luôn xem nặng phần tài sản đảm bảo khi quyết định cho vay với DNNVV
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay
Khi nước ta gia nhập WTO, với chính sách phát triển kinh tế, các DNNVV được thành lập một cách đễ dàng Khi cấp phép thành lập DN, các cơ quan chức năng hầu như không kiểm tra đến việc các DN đó có vốn đúng như đăng ký hay không, không kiểm tra xem các DN đó hoạt động như thế nào Chính vì vậy đây là một khẽ hở để một số kẻ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của NH Họ cứ thành lập DN rồi đi vay tiền NH nhưng thực chất lại không sử dụng vốn đúng mục đích, đây là một lo ngại của NH Ngoài ra cũng có trường hợp những DN làm ăn tốt nhưng lại không
có thiện chí trả nợ cho NH Điều này trực tiếp gây ra rủi ro đọng vốn hoặc mất vốn
Các nguyên nhân từ phía ngân hàng
Chính sách tín dụng không hợp lý và khả năng phân tích tín dụng yếu
Thể hiện ở chỗ NH quá đề cao mục tiêu lợi nhuận mà không để ý đến mục tiêu an toàn, lành mạnh NH quá quan tâm đến doanh số đến lợi nhuận mà đơn giản hóa việc phân tích đánh giá khách hàng, hoặc do NH chủ trương đơn giản hóa việc phân tích khách hàng để thu hút nhiều khách hàng đến với NH, nhưng trong số khách hàng đó có những khách hàng không đủ khả năng thanh toán điều này làm tăng rủi ro tín dụng cho NH Hay chính sách tín dụng của NH có thay đổi liên tục nhưng KH vẫn chưa cập nhập kịp thời những thay đổi đó
Thiếu sự giám sát và quản lý khi cho vay
Các NH thường tập trung nhiều vào việc thẩm định trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi NH cho vay thì khoản vay cần quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của CBTD nói riêng và của NH nói chung Tuy nhiên, trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của CBTD, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh của NH quá lạc hậu, không cung cấp đầy
đủ và kịp thời các thông tin mà NH yêu cầu
Cán bộ thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ
CBTD thiếu năng lực, nhiều khi chưa bắt kịp được cơ chế thị trường luôn biến động dẫn đến hạn chế trong cho vay Hoặc do trình độ còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm trong việc thẩm định, đánh giá tín dụng nên cho vay những khách hàng có
Trang 1818
chất lượng kém Trong một số trường hợp, là do động cơ trục lợi cá nhân, CBTD không có thái độ thận trọng đối với vấn đề rủi ro, hoặc do thiếu thông tin trong quá trình đưa ra quyết định cho vay Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sai sót trong quá trình cấp tín dụng, dẫn đến rủi ro
Sự hợp tác lỏng lẻo giữa các NHTM
Kinh doanh NH là một nghề đặc biệt, đi vay để cho vay và rủi ro trong kinh doanh
NH mang tính chất dây chuyền Do vậy các NH cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng đó vay tiền tại nhiều NH Nếu thiếu sự trao đổi thông tin dẫn đến nhiều NH cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn cho phép thì rủi ro sẽ chia đều cho tất cả NH
1.4.1.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động và đo lường rủi ro tín dụng Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM Do đó, đo lường chất lượng tín dụng là một nội dung quan trọng trong việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Tùy theo mục đích phân tích mà người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau, tuy mỗi chỉ tiêu có nội dung khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên
hệ mật thiết với nhau
Chỉ tiêu dư nợ
Dư nợ ngắn hạn/trung − dài hạn
Tổng dư nợĐây là một chỉ tiêu định lượng, xác định cơ cấu tín dụng trong trường hợp dư nợ được phân theo thời hạn cho vay trung, dài hạn Chỉ tiêu này còn cho thấy biến động của tỷ trọng giữa các loại dư nợ tín dụng của một ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ phát triển của nghiệp vụ tín dụng càng lớn, mối quan hệ với khách hàng càng có uy tín
Chỉ tiêu nợ quá hạn
Nợ quá hạn Tổng dư nợ
Trang 1919
Đây là một chỉ số có ý nghĩa hết sức quan trọng của ngân hàng, được dùng để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng Các ngân hàng có chỉ số này thấp đã chứng minh được chất lượng tín dụng cao của mình và ngược lại
Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất là ở mức <= 5% Tuy nhiên, chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một ngân hàng Bởi
vì bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã thực hiện tốt các khâu trong qui trình tín dụng, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng qui định,…
Chỉ tiêu nợ xấu
Nợ xấuTổng dư nợTheo QĐ 493 thì nợ xấu bao gồm: Nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn Ba nhóm nợ này là cơ sở để đo lường chất lượng tín dụng của NHTM Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì nợ có vấn đề càng lớn, tuy nhiên không phải khoản nợ xấu nào cũng dẫn đến RRTD vì về mặt định tính có thể có nhưng món
nợ nằm trong nhóm này nhưng không phải do đọng vốn cũng không hẳn do mất vốn
Chỉ tiêu về tốc độ chu chuyển vốn tín dụng (vòng quay vốn tín dụng)
Vòng quay vốn tín dụng trong năm = Doanh số thu nợ trong năm
Dư nợ bình quân trong nămChỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay mất lần trong một năm Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Tỷ lệ lãi treo
Tỷ lệ lãi treo = Lãi treo
Tổng dư nợLãi treo là số tiền khách hàng không trả được khi đến hạn thanh toán lãi Lãi treo càng lớn thì quỹ dự phòng lãi phải thu càng cao Đây cũng là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết RRTD vì lãi không thu được thông thường sẽ dẫn đến mất vốn Trên thực tế đa số các NHTM thay tỷ lệ này bằng các tỷ lệ lãi suất đầu ra để so sánh với lãi phải thu
Ngoài việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng trên, hiện nay nhiều ngân hàng cũng
đã sử dụng các chỉ tiêu định tính để đánh giá chất lượng tín dụng như việc tuân thủ các quy chế, chế độ thể lệ tín dụng, lập hồ sơ cho vay, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả,…
Trang 2020
1.5 GIỚI THIỆU VỀ MÔ HÌNH HỒI QUY BINARY LOGISTIC
1.5.1 Ứng dụng của mô hình hồi quy Bianry Logistic
Hồi quy Binary logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin của biến độc lập mà ta có được Có rất nhiều hiện tượng trong tự nhiên chúng ta cần đoán khả năng xảy ra một sự kiện nào đó mà ta quan tâm (chính là xác suất xảy ra), ví dụ sản phẩm mới có được chấp nhận hay không, người vay trả được nợ hay không, mua hay không mua… Những biến nghiên cứu có hai biểu hiện như vậy gọi là biến hay phiên (dichotomous), hai biểu hiện này sẽ được mã hoá thành hai giá trị 0 và 1 và ở dưới dạng này gọi là biến nhị phân Khi biến phụ thuộc ở dạng nhị phân thì nó không thể được nghiên cứu với dạng hồi quy thông thường vì nó sẽ xâm phạm các giả định, rất dễ thấy là khi biến phụ thuộc chỉ có hai biểu hiện thì thật không phù hợp khi giả định rằng phần dư có phân phối chuẩn, mà thay vào đó nó sẽ có phân phối nhị thức, điều này
sẽ làm mất hiệu lực thống kê của các kiểm định trong phép hồi quy thông thường của chúng ta Một khó khăn khác khi dùng hồi quy tuyến tính thông thường là giá trịdự đoán được của biến phụ thuộc không thể được diễn dịch như xác suất (giá trị ước lượng của biến phụ thuộc trong hồi quy Binary logistic phải rơi vào khoảng (0;1))
1.5.2 Mô hình Binary Logistic
Với hồi quy Binary logistic, thông tin chúng ta cần thu thập về biến phụ thuộc là một sự kiện nào đó có xảy ra hay không, biến phụ thuộc Y lúc này có hai giá trị 0
và 1, với 0 là không xảy ra sự kiện ta quan tâm và 1 là có xảy ra, và tất nhiên là cả thông tin về các biến độc lập X Từ biến phụ thuộc nhị phân này, một thủ tục sẽ được dùng để dự đoán xác suất sự kiện xảy ra theo quy tắc nếu xác suất được dự đoán lớn hơn 0.5 thì kết quảdự đoán sẽ cho là “có” xảy ra sự kiện, ngược lại thì kết quảdự đoán sẽ cho là “không” Ta sẽ nghiên cứu mô hình hàm Binary logistic trong trường hợp đơn giản nhất là khi chỉ có một biến độc lập X
Ta có mô hình hàm Binary logistic như sau:
Trong công thức này E(Y/X) là xác suất để Y = 1 (là xác suất để sự kiện xảy ra) khi biến độc lập X có giá trị cụ thể là Xi Kí hiệu biểu thức (Bo+ B1X) là z, ta viết lại mô hình hàm Binary logistic như sau:
P(Y=1) = Vậy thì xác suất không xảy ra sự kiện là:
P(Y=0)=1- P(Y=1) =1- Thực hiện phép so sánh giữa xác suất một sự kiện xảy ra với xác suất sự kiện đó không xảy ra, tỷ lệ chênh lệch này có thể được thể hiện trong công thức:
Trang 2121
( = 1) ( = 0) =
Ta có thể mở rộng mô hình Binary logistic cho 2 hay nhiều biến độc lập
1.5.2.1 Diễn dịch các hệ số hồi quy của mô hình Binary Logistic
Tên gọi hồi quy Binary logistic xuất phát từ quá trình biến đổi lấy logarit của thủ tục này Sự chuyển hóa cho các hệ số của hồi Binary logistic có nghĩa hơi khác với
hệ số hồi quy trong trường hợp thông thường với các biến phụ thuộc dạng thập phân Đó là: từ công thức (*) ta hiểu hệ số ước lượng thực ra là sự đo lường những thay đổi trong tỷ lệ(được lấy logarit) cùa các xác suất xảy ra sự kiện với 1 đơn vị thay đổi trong biến phụ thuộc X1
( = 1) ( = 0) =
Chương trình SPSS sẽ tự động thực hiện việc tính toán các hệ số và cho hiện cả hệ
số thật lẫn hệ số đã được chuyển đổi
Chú ý về cách diễn dịch dấu của các hệ số, một hệ số dương làm tăng tỷ lệ xác suất được dự đoán trong khi hệ số âm làm giảm tỷ lệ xác suất dự đoán
1.5.2.2 Độ phù hợp của mô hình
Hồi quy Binary logistic cũng đòi hỏi ta phải đánh giá độ phù hợp của mô hình Đo lường độ phù hợp tổng quát của mô hình Binary logistic được dựa trên chỉ tiêu -2LL (viết tắt của -2 log likelihood), thước đo này có ý nghĩa giống như SSE (sum
of squares of error) nghĩa là càng nhỏ càng tốt Không cần quan tâm nhiều đến việc -2LL tính toán như thế nào nhưng nhớ rằng quy tắc đánh giá độ phù hợp căn cứ trên -2LL ngược với quy tắc dựa trên hệ số xác định mô hình R2, nghĩa là giá trị-2LL càng nhỏ càng thể hiện độ phù hợp cao Giá trị nhỏ nhất của -2LL là 0 (tức là không có sai số) khi đó mô hình có một độ phù hợp hoàn hảo
Chúng ta còn có thể xác định được mô hình dự đoán tốt đến đâu qua bảng phân loại (clasification table) do SPSS đưa ra, bảng này sẽ so sánh số trị số thực và trị
số dự đoán cho từng biểu hiện và tính tỷ lệ dự đoán đúng sự kiện
Trang 2222
1.5.2.3 Kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số
Hồi quy Binary logistic cùng đòi hỏi kiểm định giả thuyết hệ số hồi quy khác không Nếu hệ số hồi quy và đều bằng 0 thì tỷ lệ chênh lệch giữa các xác suất sẽ bằng 1, tức xác suất để sự kiện xảy ra hay không xảy ra như nhau, lúc đó
mô hình hồi quy của chúng ta vô dụng trong việc dự đoán Trong hồi quy tuyến tính chúng ta sử dụng kiểm định t để kiểm định giả thuyết : ρk = 0 Còn với hồi quy Binary logistic, đại lượng Wald Chi Square được sửdụng để kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số hồi quy tổng thể Cách thức sử dụng mức ý nghĩa Sig cho kiểm định Wald cũng theo quy tắc thông thường Wald Chi Square được tính bằng cách lấy ước lượng của hệ số hồi quy của biến độc lập trong mô hình (hệ số hồi quy mẫu) Binary logistic chia cho sai số chuẩn của hệ số hồi quy này, sau đó bình phương lên theo công thức sau:
Wald Chi- Square =
.1.5.2.4 Kiểm định mức độ phù hợp tổng quát
Ở hồi quy Binary logistic, tổ hợp liên hệ tuyến tính của toàn bộ các hệ số trong mô hình ngoại trừ hằng số cũng được kiểm định xem có thực sự có ý nghĩa trong việc gỉai thích cho biến phụ thuộc không Với hồi quy tuyến tính bội ta dùng thống kê
F để kiểm định giả thuyết : ρ1 = ρ2 = … = ρk = 0, còn với hồi quy Binary logistic ta dùng kiểm định Chi Square Căn cứ vào mức ý nghĩa mà SPSS đưa ra trong bảng Omnibus Tests of Model Coefficients để quyết định bác bỏ hay chấp nhận [4]
1.5.2.5 Các phương pháp đưa biến độc lập vào mô hình hồi quy Binary
Logistic
Với phương pháp hồi quy từng bước (Stepwise), số thống kê được sử dụng cho các biến được đưa vào và dời ra căn cứ trên số thống kê likelihood-ratio (tỷ lệ thích hợp) hay số thống kê Wald Cũng có thể chọn một trong các phương pháp thay thế sau:
• Enter: đưa vào bắt buộc, các biến trong khối biến độc lập được đưa vào trong một bước
• Forward: Conditional là phương pháp đưa vào dần theo điều kiện Nó kiểm tra việc loại biến căn cứ trên xác suất của số thống kê Likelihood-ratio dựa trên ước lượng thông số có điều kiện
Trang 2323
• Forward: LR là phương pháp đưa vào dần kiểm tra việc loại biến căn cứ trên xác suất của số thống kê Likelihood-ratio dựa trên ước lượng khả năng xảy ra tối đa (maximum – likelihood estimates)
• Forward: Wald là phương pháp đưa vào dần kiểm tra việc loại biến căn cứ trên xác suất của số thống kê Wald
• Backwald: Conditional là phương pháp loại trừ dần theo điều kiện Nó kiểm tra việc loại biến căn cứ trên xác suất của số thống kê Likelihood-ratio dựa trên ước lượng của những thông số có điều kiện
• Backwald: LR là phương pháp loại trừ dần kiểm tra loại biến căn cứ trên xác suất của số thống kê Likelihood-ratio dựa trên những ước lượng khả năng xảy ra tối đa
• Backwald: Wald là phương pháp loại trừ dần kiểm tra loại biến căn cứ trên xác suất của số thống kê Wald
Đề tài tác giả sẽ sử dụng phương pháp Enter
Trang 2424
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP
VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
2.1 Tình hình tín dụng của các ngân hàng thương mại hiện nay
Tuy kinh tế năm 2013 còn gặp nhiều khó khăn, nhưng tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng vẫn đạt được mục tiêu 12,51% Tính riêng đến hết tháng 11/2013, tín dụng của toàn hệ thống đã tăng trưởng 9% Tuy nhiên, dựa vào báo cáo tài chính tính đến cuối tháng 9 của các ngân hàng thì cho thấy vẫn còn nhiều ngân hàng có tăng trưởng tín dụng âm, điển hình như MaritimeBank, OCB, VietABank, Navibank
Biểu đồ 2.1: Tình hình tín dụng của các ngân hàng thương mại tính đến 9
tháng đầu năm 2013
Tỷ lệ nợ xấu trong 9 tháng đầu năm 2013 của nhiều ngân hàng đã tăng vọt, trong đó có những ngân hàng nợ xấu hơn 9% như PGBank hay trên dưới 8% như SHB, SCB
Trang 2525
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ xấu của 9 tháng đầu năm 2013 so với năm 2012
Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước Theo số liệu công bố từ Ngân hàng nhà nước vào cuối năm 2014, ngành ngân hàng
đã tăng trưởng tín dụng 14,16% Tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín
dụng là 3,8%, theo Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng nhà nước là 5,3%
Năm 2014, các ngân hàng tiếp tục cắt giảm lãi suất từ 1,5 đến 2 điểm phần trăm so
với cuối năm 2013 Ngoài ra, lãi suất của các khoản vay cũ cũng được điều chỉnh
giảm Tỷ trong dư nợ có lãi suất trên 13% chỉ còn chiếm 10,65% trên tổng dư nợ,
giảm so với mức 19,72% trong năm 2013
Những tháng đầu năm 2015, mặt bằng lãi suất ở hầu hết các ngân hàng đều đã giảm
và kì vọng sẽ tiếp tục giảm xuống cho đến cuối năm Tuy nhiên, lãi suất cho vay
trung dài hạn vẫn ở quanh mức 10%/năm, đây là mức lãi suất khá cao đối với
những doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn Vậy nên dù các ngân hàng thương mại
vẫn luôn đưa ra các gói tín dụng kích thích người vay nhưng vẫn chưa thu hút và
hiệu quả Nhằm giúp các ngân hàng có thể tăng trưởng hơn, Ngân hàng nhà nước
buộc các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng hay đẩy mạnh cho vay nhằm giảm
dần tỉ lệ nợ xấu về mức 3%, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp Sự dọn đường
của cơ quan quản lý nhà nước này là cơ sở để các ngân hàng thương mại giảm dần
mặt bằng lãi suất huy động và cho vay
Trang 2626
Hiện nay, mặt bằng lãi suất huy động VND đang phổ biến ở mức 0,8 - 1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5 - 5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4 - 6,5%/năm đối với tiền gửi có
kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 6,4 - 7,2%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn trên
12 tháng So với đầu năm, lãi suất huy động VND đã giảm thêm 0,1 - 0,5%/năm ở hầu hết các kỳ hạn
Tín dụng của ngành ngân hàng vào 4 tháng đầu năm 2015 đã tăng trưởng dương lũy kế là 2,78% Mức tăng trưởng này là cao nhất trong 3 năm gần đây (4 tháng đầu của năm 2013 và năm 2014, tín dụng toàn ngành tăng tương ứng là 1,04% và 0,53%) Qua đó cho thấy một tín hiệu khả quan rằng, tăng trưởng tín dụng không còn bị dồn áp lực vào những tháng cuối năm.
Từ tháng 4/2015 đến nay, lãi suất cho vay VND đối với các lĩnh vực ưu tiên được các ngân hàng áp dụng phổ biến ở mức 6 - 7%/năm đối với kỳ hạn ngắn, lãi suất cho vay trung dài hạn được các ngân hàng thương mại nhà nước áp dụng ở mức 9
- 10%/năm, lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh thông thường là 7 - 9%/năm đối với kỳ hạn ngắn và 9,3 - 11%/năm đối với kỳ hạn trung dài hạn
Tiêu biểu là tình hình tín dụng ở HDBank, tăng trưởng dư nợ tín dụng có dấu hiệu tích cực trong hơn 4 tháng đầu năm 2015; trong đó, phải kể đến là nguồn vốn cho vay đối với khách hàng cá nhân có nhu cầu thực sự mua nhà để ở
Tại một số ngân hàng khác như: OCB, NamABank, Sacombank, dư nợ tín dụng cũng tăng trưởng khả quan ngay trong quý đầu năm Tại NamABank, chỉ trong 4 tháng, tín dụng đã hết hạn mức chỉ tiêu NHNN cấp cho cả năm nay nên ngân hàng này đang trình NHNN xin thêm “hạn ngạch” để có thêm “dư địa” cho vay từ nay đến cuối năm Trong khi đó, Sacombank, ACB, Techcombank xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 13% trong năm nay Trong 4 tháng đầu năm, tại ACB, Sacombank, tăng trưởng dư nợ tín dụng của các ngân hàng này đã trên dưới 4% so với cuối năm 2014
2.2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP
Năm 2014 là năm thứ 3 liên tiếp các ngân hàng nỗ lực cắt giảm lãi suất Ngay khi Ngân hàng nhà nước công bố giảm trần lãi suất huy động vào ngày 29/10/2014 thì lãi suất ở hầu hết các ngân hàng đều giảm Điều này giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận vay vốn kinh doanh Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất vay vẫn ở mức cao Điển hình lãi suất vay trung dài hạn ở quanh mức 10%/năm Lãi suất cho vay phổ biến đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh
Trang 2727
nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở mức 7-8%/năm, lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức khoảng 9-10%/năm đối với ngắn hạn; 10,5-12%/năm đối với trung và dài hạn
Cụ thể, HDBank công bố sẽ hỗ trợ 200 tỷ đồng cho các đơn vị tham gia bình ổn thị trường trên địa bàn TP Hồ Chí Minh năm 2014- Tết Ất Mùi 2015 với lãi suất 6%/năm và 800 tỷ đồng cho các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa dịch vụ cho đơn
vị tham gia bình ổn thị trường với lãi suất 8%/năm, loại tiền cho vay là VND, thời hạn vay tối đa 04 tháng, nhằm hỗ trợ các đơn vị và các doanh nghiệp tham gia bình
ổn thị trường bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh
TPBank dành 2.000 tỷ đồng cho vay với lãi suất thấp nhất là 8%/năm đối với VND, 3,8%/năm đối với USD trong ba tháng đầu tiên
Ocenbank cũng hỗ trợ lãi suất cho vay ở mức 3%/năm (đối với USD) với thời hạn cho vay lên tới 12 tháng, dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu
LietVietPostBank còn có chương trình “Cho vay ưu đãi – Giảm lãi hết năm”, với mức lãi suất thấp nhất là 7%/năm Mức lãi suất ưu đãi này dành cho đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay tiêu dùng Đồng thời, cũng là cơ hội tốt để khách hàng doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời điểm khó khăn, tạo điều kiện phát triển vững chắc trong năm
2014
Tuy nhiên, dù các ngân hàng thương mại đã nỗ lực đưa ra nhiều gói tín dụng kích thích người vay, nhưng các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn và hiệu quả cho vay của ngân hàng chưa cao Cụ thể là 10 tháng đầu năm 2014, số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể, tạm ngừng hoạt động bằng tới 90% số doanh nghiệp đăng
ký thành lập mới, với hơn 54.300 đơn vị
Năm 2015, với chủ trương kích cầu tín dụng tạo đà tăng trưởng kinh tế,NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn ngành cao hơn so với năm 2014, ở mức 13 -
15%, chỉ đạo các ngân hàng ổn định mặt bằng lãi suất, phấn đấu tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất cho vay trung, dài hạn thêm 1-1,5%/năm, hỗ trợ nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và nền kinh tế Song thực tế, lãi vay vốn trung, dài hạn vẫn ở mức cao Mức lãi suất cho vay trung, dài hạn hiện vẫn phổ biến ở mức 11-12%/năm Đối với các khoản cho vay phi sản xuất, lãi suất trung dài hạn phổ biến
ở mức 10-11%/năm Còn lãi suất cho vay trong chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp xoay quanh mức 9%/năm
Ngoài ra, trên cơ sở chỉ đạo của NHNN Việt Nam, thời gian tới NHNN các chi nhánh tỉnh, thành phố tiếp tục phối hợp với các sở, ngành liên quan triển khai và thực hiện có hiệu quả Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp Đã có hơn
Trang 2828
370 buổi Hội nghị đối thoại, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp được ngân hàng đồng tổ chức với chính quyền ở các địa phương Ngành Ngân hàng đã hỗ trợ doanh nghiệp với nhiều hình thức như: cho vay mới với lãi suất thấp, giảm lãi suất các khoản vay cũ, nâng hạn mức tín dụng, cơ cấu lại các khoản nợ cũ… Tổng số tiền được hỗ trợ theo chương trình đến hết tháng 4/2015 đạt hơn 310.000 tỷ đồng, trong đó: Cam kết cho vay mới cho hơn 18.800 khách hàng doanh nghiệp và nhiều đối tượng khác (hợp tác xã, tiểu thương ) đạt gần 260.000 tỷ đồng, cao hơn 45.000 tỷ đồng so với mức cho vay mới tại thời điểm cuối năm 2014 Hỗ trợ cho gần 6.000 doanh nghiệp và khoảng 19.000 đối tượng khách hàng khác thông qua các hình thức
cơ cấu nợ, nâng hạn mức tín dụng, điều chỉnh giảm lãi suất cho các khoản vay cũ… với tổng số tiền khoảng 50.000 tỷ đồng
Theo ghi nhận từ NHNN các tỉnh, thành phố, nhiều doanh nghiệp đã đánh giá cao
sự giúp đỡ, hỗ trợ của ngành Ngân hàng Hầu như không có doanh nghiệp nào đủ điều kiện mà không vay được vốn ngân hàng Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp đã tạo được mối quan hệ gắn kết gần gũi hơn với khách hàng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng chất lượng và hiệu quả Chương trình cũng góp phần nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các ngân hàng thương mại trên địa bàn đối với cộng đồng doanh nghiệp, thể hiện sự chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp
tháng đầu năm nay, dư nợ tín dụng cả nước tăng khoảng 4 triệu tỷ đồng và riêng địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, 4 tháng đầu năm nay, dư nợ tăng trưởng khoảng
1 triệu tỷ đồng Khi tín dụng tăng, doanh nghiệp vay được vốn, trong đó có các nhà nhập khẩu đã vay được vốn tiền đồng lãi suất thấp, sau đó mua USD để nhập khẩu hàng hóa
Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, tài chính, tín dụng tập trung nhiều cho lĩnh vực bất động sản có thể sẽ tạo áp lực cho thị trường này quay trở lại chu kỳ bong bóng Dù tích cực trong hoạt động kích thích cho vay, nhưng các ngân hàng vẫn phải giải ngân thận trọng nhằm tránh nợ xấu, gây thiệt hại lớn cho ngân hàng Do vậy, tăng trưởng tín dụng cần có sự kiểm soát của NHNN cũng như của các cơ quan Chính phủ, để làm sao tín dụng phải tăng trưởng lành mạnh, đảm bảo sự cạnh tranh và phù hợp với nhu cầu cũng như quy mô, nhằm phát triển kinh tế một cách bền vững
Báo cáo về Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI), là một chỉ số tổng hợp được tạo
ra nhằm khái quát các điều kiện hoạt động của ngành sản xuất) của Việt Nam trong tháng 01/2014 của HSBC vừa công bố cho thấy, tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đã lấy lại được động lực vào đầu năm 2014 Cụ thể, chỉ số PMI của Việt Nam đã tăng trong hai tháng liên tiếp, đạt 52,1 điểm trong tháng 1 so với