Ba Đình ở phía tây huyện Nga Sơn, cách thành phố Thanh Hóa 40 km về phía tây bắc; là một vị trí quân sự xung yếu của tỉnh: về phía đông, có thể kiểm soát được con sông Đào ra Ninh Bình, [r]
Trang 1Sử 8 -Bài 26 PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XIX- Phần 1
-Kinh thành Huế thất thủ , Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra Tân Sở ( Quảng Trị ) Tại đây 13-7-1885 ông nhân danh vua Hàm Nghi ra “Chiếu Cần Vương “ kêu gọi văn thân và nhân dân đứng lên giúp vua cứu nước
Sử 8 -Bài 26
PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XIX- Phần 1
Lược đồ cuôc phản công ở kinh thành Huế và phong trào Cần Vương 1885-1895.
I CUỘC PHẢN CÔNG CŨA PHÁI KHÁNG CHIẾN TẠI KINH ĐÔ HUẾ – VUA HÀM NGHI RA “CHIẾU CẦN VƯƠNG”
Trang 21.Cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến ở Huế tháng 7-1885.
* Nguyên nhân :
-Phe chủ chiến muốn giành lại chủ quyền từ tay Pháp
-Thực dân Pháp tìm mọi cách để tịêu diệt khi có điều kiện
* Diễn biến :
- Đêm 4 rạng 5-7-1885 Tôn Thất Thuyết ( Thượng Thư Bộ binh ) hạ lệnh tấn công quân Pháp ở Tòa Khâm Sứ và Đồn Mang Cá
- Quân Pháp nhất thời rối loạn , sau khi củng cố tinh thần , chúng phản công chiếm Hoàng Thành Trên đường đi chúng giết người cướp của dã man
Lược đồ kinh thành Huế 1885
2 Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng
a Phong trào Cần Vương :
-Kinh thành Huế thất thủ , Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra Tân Sở ( Quảng Trị ) Tại đây 13-7-1885 ông nhân danh vua Hàm Nghi ra “Chiếu Cần Vương “ kêu gọi văn thân và nhân dân đứng lên giúp vua cứu nước -Từ đó phong trào chống xâm lược dâng lên sôi nổi kéo dài đến cuối thế kỷ XIX
b Diễn biến :
* 1885-1888 bùng nổ khắp cả nước nhất là Trung Kỳ , Bắc Kỳ
* 1888- 1896 : sau Vua Hàm Nghi bị bắt , qui tụ thành những cuộc khởi nghĩa lớn có quy mô và trình độ tổ chức cao hơn 1885-1888 như Ba Đình- Bãi Sậy- Hương Khê
c.Cuộc xuất bôn của Vua Hàm Nghi:
Trang 3* 1888-1896: Cuộc xuất bôn của Hàm Nghi :địa bàn Tân Sở chật hẹp , Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi vượt Trường Sơn lập căn cứ Phú Gia ( Hương Khê – Hà Tĩnh ), được nhân dân ủng hộ Cuối 1888 Vua Hàm Nghi bị bắt và bị đày sang An giê ri
* Vì sao gọi là phong trào Cần Vương , thực chất của phong trào ? Hết lòng giúp vua cứu nước thực chất là phong
trào đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân dưới ngọn cờ của vị vua yêu nước- vua Hàm Nghi
II NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA LỚN TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG : BA ĐÌNH , BÃI SẬY, HƯƠNG KHÊ
1 Khởi nghĩa Ba Đình 1886-1887:
-Căn cứ Ba Đình được xây dựng ở ba làng Mĩ Khê , Thượng Thọ , Mậu Thịnh, thuộc huyện Nga Sơn , tỉnh Thanh Hóa , liền kề nhau giữa một vùng đồng chiêm trũng mênh mông lầy lội., kiểm soát con đường số 1
-Căn cứ Ba Đình được bố trí thành một cứ điểm phòng thủ kiên cố
* Lãnh đạo: Phạm Bành, Đinh Công Tráng
* Lực lượng : người Kinh, người Mường , người Thái
* Diễn biến chính :
-12-1886 đến 1-1887 Pháp tấn công quy mô vào căn cứ , nghĩa quân cầm cự suốt 34 ngày đêm
-Thất bại nên rút lên Mã Cao
* Mặt mạnh :
-Án ngữ con đường số 1 ,có thể tiếp tế lương thực , vũ khí bằng thuyền
-Căn cứ Ba Đình là một cứ điểm phòng thủ kiên cố nổi lên 1 vùng nước mênh mông lầy lội
Trang 4* Điểm yếu : dễ bị cô lập , Pháp tập trung lực lượng tấn công , nghĩa quân rút lui khó khăn
Công sự phòng thủ Ba Đình
Vị trí Mã Cao
Trang 5Phụ nữ nông dân bị bắt trong khởi nghĩa Ba Đình
Nghĩa quân Ba Đình bị bắt
Căn cứ địa Ba Đình trong phong trào Cần Vương đánh Pháp
Trang 6Ba Đình ở phía tây huyện Nga Sơn, cách thành phố Thanh Hóa 40 km về phía tây bắc; là một vị trí quân sự xung yếu của tỉnh: về phía đông, có thể kiểm soát được con sông Đào ra Ninh Bình, phía tây có thể khống chế đường giao thông quan trọng từ Ninh Bình vào Thanh Hóa và các tỉnh miền Trung Từ Ba Đình theo đường sông có thể xuôi ra biển, ngược lên thượng du bằng sông Mã; theo đường bộ có thể thông với các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Hà Trung, Vĩnh Lộc Ba Đình gồm 3 làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê Cả
3 làng nằm lọt trong cánh đồng trũng, khoảng giữa hai con sông Hoạt và sông Chính Đại, cách xa các thôn xóm khác Những làng gần nhất ở phía bắc như Tuân Đạo, Nghi Vinh, Ngọc Lâu, Phúc Thọ cũng cách Ba Đình gần 3 km và cũng chỉ có một con đường duy nhất chạy từ đê sông đào (nối liền sông Hoạt và sông Chính Đại) vào Phía nam Ba Đình còn có một con đường nhỏ chạy đến làng Nga Bàng Mùa mưa, nếu không đóng cống Hói Con, cứ để cho nước sông tràn vào thì khu đồng trũng này sẽ thành một bể nước mênh mông và Ba Đình trở thành pháo đài nhỏ, muốn đi lại với các làng bên phải bằng thuyền
Đầu năm 1886, hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, các chí sĩ yêu nước như Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Hà Văn Mao, Trần Xuân Soạn đã kêu gọi nhân dân Thanh Hóa đứng lên chống ách đô hộ của thực dân Pháp Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng và tham gia đông đảo của nhân dân các dân tộc Kinh, Thái, Mường … tạo thành phong trào kháng Pháp rộng khắp trong tỉnh Thanh Hóa
Lợi dụng địa hình đặc biệt của Ba Đình, thủ lĩnh Đinh Công Tráng đã chọn đây làm căn cứ địa chống giặc Ông đã cho xây dựng một cứ điểm phòng ngự khá kiên cố Dọc theo bờ tre của 3 làng, Đinh Công Tráng cho đào một con hào có công sự chiến đấu, chiều ngang khá rộng, hai người đi lại dễ dàng Con hào không
có hình dáng nhất định mà được bối trúc theo thực địa Đất đào lên hắt ra phía ngoài, tạo nên một bờ hào trên đó xếp những sọt tre lớn, đường kính đến hai gang (40cm), dài một ngũ ( hơn một mét), nhồi đầy đất bùn và rơm rạ Phía trong hào, ở những vị trí tác chiến thuận lợi, Đinh Công Tráng cho xây dựng những công sự chiến đấu có nắp Các đình làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê được kiến tạo thành các đồn binh
có sức chứa hơn 300 tay súng Các đồn binh đều có các con hào nối liền với các hào chiến đấu bên ngoài
Bố trí như vậy, khi chưa có giặc, nghĩa quân vẫn sinh hoạt bình thường; khi giặc đến thì từ các đồn binh, nghĩa quân có thể nhanh chóng vận động ra các vị trí chiến đấu Người nọ có thể thay phiên người kia chiến đấu liên tục mà vẫn được nghỉ ngơi Xung quanh phía ngoài lũy tre, trên chiều rộng 50m, nghĩa quân bố trí những hầm chông tre và rải chông dày đăc
Ngoài căn cứ Ba Đình là trung tâm, còn có có những căn cứ hỗ trợ từ xa như Mã Cao (huyện Yên Định) do
Hà Văn Mao chỉ huy; Quảng Hòa (huyện Vĩnh Lộc) do Trần Xuân Soạn chỉ huy; Phi Lai (xã Hà Thái, huyện
Hà Trung) do Cao Điền chỉ huy Bên cạnh đó là những trạm quan sát xung quanh Ba Đình như Tuân Đạo (phía Bắc), Thanh Đản (tây Bắc) Xa Loan, Thổ Hoàng (hướng đông), Trí Ca –làng Gụ (hướng nam), Nga
Trang 7thôn-Nga Bàng (tây Nam) và một số viễn tiêu trên núi Nga Châu Tín hiệu để thông tin giữa những trạm này với Ba Đình là dùng trống mõ và đốt lửa
Năm 1886, nghĩa quân liên tiếp tiến công các phủ, thành, huyện lỵ, chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ gây ra cho quân Pháp nhiều thiệt hại Từ tháng 12-1886, Pháp bắt đầu tập trung lực lượng đàn áp Trận tiến công mở màn chiến dịch đàn áp này bắt đầu vào 6 giờ sáng ngày 18-12-1886 với 500 quân do hai tên trung tá Mét-danh-de và Đốt chỉ huy, có đại bác yểm hộ Mục tiêu đột kích nhằm làng Thượng Thọ phía đông bắc và Mỹ Khê phía đông nam Trận này, quân Pháp đại bại, những tên chỉ huy hung hăng, liều lĩnh đều đền tội
Sang đầu năm 1887, phía Pháp lại cử tên đại tá Brít-xô mở cuộc tiến công lớn vào Ba Đình với số quân lên tới 2.488 tên, có tay sai đội lốt thày tu am hiểu địa hình dẫn đường Ngày 6-1-1887, chúng cho tháo cạn nước đồng rồi đánh vào Ba Đình, hướng đột kích chính nhằm vào Mỹ Khê Trận này không hơn gì trận trước, quân Pháp bị nghĩa quân đánh cho thiệt hại nặng, phải dùng 12 thuyền mui lớn để chở quân bị thương, còn bọn bị chết thì bỏ lại trên đồng
Rút kinh nghiệm, đại tá Brít-xô không liều lĩnh mở đợt tiến công mới mà dùng kế bao vây nghĩa quân bằng hai phòng tuyến để ngăn nghĩa quân rút ra ngoài và từ ngoài vào tiếp viện cho căn cứ Ngày 15-1-1887, chúng mở đợt tiến công thứ ba nhưng cũng bị nghĩa quân đánh cho khốn đốn Ngày 20-1-1887, được tăng viện, quân Pháp tập trung quân mở cuộc tổng công kích Do lực lượng và vũ khí quá chênh lệch, nghĩa quân
mở đường máu rút ra ngoài
Sau khi chiếm được căn cứ Ba Đình, chúng ra sức khủng bố nhân dân và truy kích nghĩa quân Ngày
2-2-1887, quân Pháp đánh chiếm căn cứ Mã Cao Bị mất các căn cứ và bị tiêu hao lực lượng trong các cuộc chiến đấu dài ngày, không còn đủ sức chống cự, nghĩa quân yếu dần Nhiều thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa bị bắt, một số tự sát hoặc chuyển sang lực lượng khởi nghĩa khác Đinh Công Tráng, Trần Xuân Soạn chỉ huy những nghĩa quân còn lại anh dũng chiến đấu cho tới lúc hy sinh, ngày 7-9-1887
Căn cứ kháng chiến chống Pháp Ba Đình đã để lại bài học quý cho việc xây dựng căn cứ địa đánh giặc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, giải phóng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Kinh nghiệm
ấy còn có giá trị thời sự trong nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc hiện nay./