Do đó, khi đương đầu với các đại cường quốc kinh tế và quân sự của châu Âu và M ỹ thì Nhật cần chúih danh về mặt tư tưởng cho cuộc chiến đó.. v ề quân sự, uy thế của Nhật Bản kéo dài khô
Trang 1ílố tO Ạ Ĩ <3đ'-ầO
Sự lựa chọn của Nhật Bản trông thời đại toàn cầu hóa
Lê Thị Bình &
Ngựỹễn Đứ: Minh dịch
Trang 2Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản.
This book was sponsored in The Japan Poundatỉon Support Program for Translation and Publication on lapan, by The Ịapan Poundatìon Center for Cultural Exchange in Vietnam, oí The
Japan Pounđation, Tokyo, Ịapan.
The Ịapan Poundation Center for Culturaỉ Exchange in Vietnam
27 Quang Trung St, Hoan Kiem Dist., Hanoi, Vietnam
VVebsite: http://www.jpf.org.vn
Trang 3í]Si:O ẬÌQ ĩAù
Sự lựa chọn của Nhật Bản trong thịi đại tồn cầu hĩa
Lê Thị Bình &
Nguyễn Đức Minh dịch
(Tái bản lần thử nhất)
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
Trang 4Bản quyền tiếng Việt © 2012 Nhà xuất bản Tn thức
Cuốn sách được xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa NXB Tri thức và tác giả Irie Akừa.
‘‘SHEV-NIHON NO GAIKOU” CHIKYUKAiroAI N ơ NIHON NO SENTAKU by Irie Akia
Copyright © 1996 by Irie Akia
Published by aưangement with Author
AU rights reserved.
Trang 5Lời tựa
CHẶNG ĐƯỜNG 50 NĂM
Ngoại giao Nhật Bản 1940 và 1990 13 Quân sự, kinh tế và văn hóa trong quan hệ quốc tế 18
Chương I
KẾT THÚC CHIẾN TRANH NHẬT-MỸ
Sự tiêu vong của cưòng quốc Nhật Bản 39
Nhật Bản dưới sự chiếm đóng của Mỹ 59
Chương II
Sự KHỞI ĐẦU LẠI CỬA NGOẠI GIAO NHẬT BẢN
Quân sự hóa trong chiến tranh iạnh 85
Hiệp ưóc hòa bình và thể chế San Prancisco 94
Nhu cầu đặc biệt của Triều Tiên và
Trang 6vấn đề xử iý sau chiến tranh 151
Chương IV
Sự NỔI LÊN CỦA THẾ GIÓI THỨ BA
Thế giới trong thập niên 1960 159
Sự biến động mạnh của kinh tế, văn hóa 169 Ngoại giao tăng gấp đôi thu nhập 179 Việc bảo đảm an ninh Nhật-Mỹ
trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế 190 Tim kiếm trào lưu tu tưởng ngoại giao 200
Chương V
NGOẠI GIAO THỜI KỲ KINH TẾ kh ủ n g h o ả n g
Sự biến động trên trường quốc tế và
Con đường dẫn đến ngoại giao văn hóa 240
Chương VI
HƯỚNG TỚI THẾ GIỚI "HẬU CHIẾN tr a n h lẠNÍH”
Sự cáo chung của Chiến tranh lạnh 247 Thời đại không biên giói (borderless) 256
Trang 7Ngoại giao của cường quốc kinh tế 273
"Nhật Bản đóng góp cho thế giói" 278
Chương Vlỉ
Trang 9Giáo sư, Tiến sĩ Me Akữa là giảng viên của Đại học Harvard và nhiều trưừng đại học khác toên tì\ế giới, đồng thời là nhà nghiên cứu - bình luận có uy tín toong lĩnh vực chính tiị và lịch sử ngoại giao M ỹ
và thế gióỉ Cuốn sách Ngoại giao Nhật Bản - Sự lụa chọn của Nhật Bản ừong thời đại toàn cầu Ma thể hiện cách nhìn độc đáo về nền ngoại giao Nhật Bản, kết quả quá bình nghiên cứu lâu dài và sâu sắc của Tiến sĩ M e về lịch sử ngoại giao Nhật Bản đặt ữong bối cảnh tình hình thế giới biến đổi không ngừng hơn nửa thế kỷ qua.
Vói bề dày Idến thức về ngoại giao ửiế giớỉ, đặc biệt là ngoại giao Mỹ, tác giả đâ phân tích, so sánh để tìm lời đáp cho câu hỏi về nền tảng tư tưởng của ngoại giao Nhật Bản cận đại Tác giả cũng đi sâu phân tích vai ừò của Nhật Bản trên bàn cờ chứửi tiỊ - ngoại giao thế giới, đặc biệt là mối quan hệ lịch sử vổỉ các nước chầu Á; để rồi đi tód nhận định mói mẻ:
"Nhật Bản phải tỏ rõ vai trò của nứnh một cách tích cực hơn, thể hiện bằng hình ảnh và thế gịớỉ quan của chính lĩùnh." Bằng những dẫn chứng sinh đ ^ g và
cụ thể của ứiực tiễn n ^ ạ i giao Nhật Đản từ đầu thế
20 đến nay, tác gjiả teanh luận về "chủ n ^ a toàn
Trang 10cầu m<M" và một đường hướng ngoại giao không hướng tớỉ trật tự khu vực châu Á trong đó Nhật Bản
là minh chủ hay chủ nghĩa chầu Á bài ngoại như trước đây, mà nhằm góp phần thúc đẩy phồn vùứi của các nước châu Á, cùng chia sẻ ánh sáng văn minh, mở rộng tự do và nhân quyền, hc^ sức làm cho con ngưòí châu Á có cuộc sống xứng đáng hcm Một điểm thú vỊ của cuốn sách này là nó được tác giả viết sau cuốn sách nổi tiếng Ngoại giao Nhật Bản - Từ M inh Trị Duy Tân đến hiện đại đúng 25 năm.
Và, như tác giả đã viết ở phần kết: "Hai cuốn sách viết cách nhau 25 năm vói cùng một phương pháp luận và cách tiếp cận", cuốn sách sẽ giúp ta có cái nhìn sâu sắc, toàn diện, và sống động hơn về nền ngoại giao Nhật Bản 100 năm qua, không chỉ từ khía cạnh chứih trị-an ninh mà cả kinh tế và tư• ử
tưởng Đặc biệt ông quan tâm nhiều đến vai trô quan ữọng của ngoại giao trong giao lưu văn hóa quốc tế (chương 5), giao lưu văn hóa sẽ giúp tăng cường hiểu biết giữa các nước, các dân tộc trên thế giới, từ đó đóng góp cho hòa bình nhân loại.
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập quốc
tế ngày càng sâu rộng và lựa chọn Nhật Bản là "đốí tác chiến lược" quan ữọng, tiến tới kỷ niệm -tó năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Nhật Bản (21.9.1973 - 21.9.2ỈD13), nhóm dịch giả mong muốn chuyển téủ các nhà hoạch đmh chính sách, các nhà
Trang 11nghiên cứu, sinh viên và đông đảo độc giả có quan tâm một cách nhìn mới mẻ về bức tranh chúìh trị-9 9
ngoại giao Nhật Bản nói riêng, về mối quan hệ, vai trò và sự tương tác lẫn nhau của các cường quốc trên thế giới nói chung Hy vọng ngòi bút phân tích sắc sảo của một giáo sư, một nhà nghiên cứu, một nhà bình luận lịch sử ngoại giao quốc tế đáng lánh
sẽ góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản.
Trong quá trình dịch và xuất bản, chúng tồi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ to lớn của ông Nguyễn Phú Bình, Thứ trưởng thường frực Bộ Ngoại giao, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Nhật Bản và ông Nghiêm Vũ Khải, Thứ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam-Nhật Bàn.
Đặc biệt, chúng tôi hết sức cảm kích nhận được
sự đồng ý và động viên ữực tiếp của Giáo sư, Tiến
sĩ Irie Akữa để dịch cuốn sách của ông ra tiếng Việt Trong quá taình dịch thuật ữực tiếp từ bản tiếng Nhật chúng tôi đã rất cố gắng, song khó ữánh khồi rứiững thiếu sót, mong quý độc giả chân thành góp ý để ữong dịp tái bản cuốn sách sẽ được hoàn thiện hơn.
Trang 13CH ẶNG ĐƯ Ờ NG 5 0 NÃM
Ngoại giao Nhật Bản 1940 và 1990
Trước cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật Bản là một nước mạnh về quân sự nhưng yếu về kinh tế Do đó, khi đương đầu với các đại cường quốc kinh tế và quân sự của châu Âu và M ỹ thì Nhật cần chúih danh về mặt tư tưởng cho cuộc chiến đó Tên gọi "Cuộc chiến vì Đông Á" là cách thể hiện cho phương Tây biết rằng đó là cuộc chiến đấu bảo vệ châu Á.
Xét về cả ba mặt quân sự, kinh tế, tư tưởng, cuộc chiến ữanh Thái Bình Dưofng đã mang lại kết cục thê thảm cho Nhật Bản v ề quân sự, uy thế của Nhật Bản kéo dài không được nửa năm kể từ khi bắt đầu cuộc chiến, về kinh tế, Nhật Bản cũng đã không lợi dụng được một cách hiệu quả nguồn tài nguyên của "Vùng Đại E)ông Á cộng vinh" và ngày càng bộc lộ rõ sự yếu thế trước sức sản xuất áp đảo của các nước đối phương, đặc biệt là Mỹ về mặt tư
Trang 14tưởng, thậm chí đến cái tên gọi có vẻ đại nghĩa
"Cuộc chiến vì Đông Á" cũng không được nhân dân Trung Quốc và các nước Đông Nam Á ủng hộ
mà ngược lại, ở một số khu vực dưóỉ sự chiếm đóng của quân đội Nhật Bản ửủ phong ứào kháng Nhật lại trở nên mạnh mẽ Tuy nhiên, dường như các nhà lãnh đạo Nhật Bản cho đến mái sau này vẫn không vứt bỏ được ý nghĩ "Nhật Bản là minh chủ giải phóng châu Á", có lẽ vì đó chính là cơ sở tư tưcttig duy nhất của họ.
Trong tình trạng như vậy, tháng 8 năm 1945, nước Nhật đã phải đầu hàng vô điều kiện (hay gần
như thế), một sự thể "chưa từng có" đối VỂÍ họ
E)iều này khẳng dịnh sự phá sản không thể phủ nhận của ngoại giao Nhật Bản cận đại sau Duy tân Minh Trị Đồng tìiời nó củng quy tụ những đặc điểm của ngoại giao Nhật Bản cận đại, đó là: dốc sức hưứng tới việc ữở thành cường quốc về quân sự; cơ sở kinh tế yếu kém; và sự huyễn hoặc của tư tưởng châu Á.
EXều này cũng đã cho thấy sự phá sản của chứứi cái thế giới và cái ữật tự quốc tế suốt gần một toăm năm đã dung túng cho Nhật Bản, một đất nước mà về kinh tế có nguồn thu thấp (thu nhập quốc dân của Nhật Bản thời M iiih Trị luôn thấp hơn so vóỉ các "liệt cường" Âu-Mỹ) nhưng chi phí
Trang 15cho quân sự thì chiếm tói ừên dưới 40% ngân sách quốc gia Nguồn lực kinh tế nghèo nàn có được nhờ sự thống trị và chiếm đoạt của các thuộc địa ở nước ngoài về căn bản cũng chi dùng để phục vụ cho tăng cường quốc phòng, chủ nghĩa đế quốc được lấy làm cơ sở cho quan hệ quốc tế Trong bối cảnh đó, những ^ ngoại giao Nhật Bản đã làm cũng không có g? đáng ngạc nhiên Có lẽ nếu Nhật Bản cớ tồn tại và hành động toong khuôn khổ frật
tự quốc tế mà các liệt cường đã sắp đặt thì Nhật Bản cũng đã không bị thế giới kỳ thị và cô lập.
Trong Thế chiến ửiứ Hai, Nhật Bản đã đối đầu với các cường quốc của thế giói và bị thua trận Cuộc đại chiến này cho thấy Nhật Bản đã vấp phải
sự ngăn ữở của các cường quốc Âu-Mỹ khi muốn tiếp cận thị truờng và tài nguyên cùa các nước lân cận nhằm vươn lên ữở thành một cường quốc cả về quân sự và kinh tế Trật tự quốc tế đương thờỉ đã không chấp nhận một Nhật Bản lớn mạnh cả về quân sự và kinh tế Chính điều đó càng thôi thúc Nhật Bản xây dựng "trật tự mới Đông Á" thay cho thể chế quốc tế vốn có, và ữong quá ừình xây dựng
đó thì tư tưởng "châu Á chủ nghĩa" chiếm vai ữò chủ đạo.
Xét như vậy, sự thất bại của Nhật Bản đă nói lên
sự phá sản của nền ngoại giao nước này, đồng thời
Trang 16cũng khẳng định sự sụp đổ của cái thể chế đã nuôi
dưỡng Nhật Bản bấy lâu nhưng rốt cuộc lại bị chính Nhật Bản phất cờ chống lại Nói cách khác, cuộc chiến ữanh Thái Bùửi Dưomg vừa là kết quả của nỗ lực muốn trở thành cường quốc về quân sự ữong khi còn non yếu về kinh tế của Nhật Bản, vừa là hậu quả của ữật tự tìiế giớỉ đã nâng đỡ Nhật Bản ữong tình trạng lệch lạc đó Thêm vào đó tư tưởng muốn xây dựng một ửiể chế mới nhằm phá vỡ ữật tự cũ cũng góp phần cho cuộc chiến ấy nổ ra Cuộc chiến thậm chí là một kết cục tất yếu mà Nhật Bản và thế giới ở nửa sau thế kỷ 19 phải hứng chịu.
50 năm sau khi chiến ữanh Thái Bình Dương
nổ ra thì nền ngoại giao Nhật Bản và ữật tự quốc tế
hôm nay ra sao?
về kinh tế, Nhật Bản đã trở thành một cường
quốc lớn đến mức 50 năm trước khó ai có thể hình dung được Tổng thu nhập quốc dân của Nhật Bản năm 1940 khoảng 31 tỷ Yên (ứieo tỷ giá hối đoái lúc
đó tương đương 7 tỷ USD) thu nhập bình quân đầu
người là khoảng 100 USD, ngược lại hiện nay tổng thu nhập quốc dần vượt 380.000 tỷ Yên (khoảng 2.500 tỷ USD), thu nhập bình quân đầu người đâ đạt tốỉ 20.000 USD Tất nhiên phải xét đến sự biến động tì giá và lạm phát ừong 50 năm qua, nhưng so
vỂd 50 năm ữước rõ ràng Nhật Bản đã có một bước
Trang 17tiến vượt bậc về kinh tế Từ một nước nghèo hcm hẳn so với các cường quốc Idnh tế Âu-M ỹ, Nhật Bản đâ vươn lên sánh vai véi các cường quốc kinh
vũ ữang hạt nhân như nước khác.
về mặt tư tưởng ửù sao? Ngoại giao Nhật Bàn
nghĩa châu Á trước chiến ừanh không? Nếu như tníớc chiến toanh Nhật Bản muốn lấp khoảng ữống
chênh lệch giữa cường quốc quân sự và nhược quốc
kinh tế bằng tư tưởng toật tự mói Đông k , thì ngày nay, lý ra Nhật Bản cũng cần phải có tư tưởng nào
đó để bù đắp hoặc giải thích sự chênh lệch giữa sức mạnh về kinh tế và sự yếu thế về quân sự Tư
tưởng đố ỉà g7? Việc phân tích kỹ càng vấn đề này
là chủ đề quan ừọng ứong nghiên cứu ngoại giao
Nhật Bản hiện đai.
Trang 18Cũng như trước chiến toanh đã có một thể chế quốc tế mà dựa vào đó Nhật Bản tồn tại và phát triển, ngày nay, sau 50 năm, cũng có một trật tự thế giới dìu dắt Nhật Bản - một nước lớn về kinh tế nhưng không có sức mạnh về quân sự - vào khuôn khổ Trật tự này hẳn đã tồn tại chí ít cho đến gần đây Nhưng, cũng như ữong nửa sau thập niên
1930, Nhật Bản đã tách ra khỏi toật tự quốc tế và chẳng bao lâu sau đă khiêu chiến với cái trật tự đó, trong thập niên 1990 cũng có khả năng quan hệ giữa Nhật Bản và thế giới ữở nên căng thẳng Cho
dù ữật tự quốc tế về căn bản đã có sự điều chỉnh phản ánh sự thay đổi to lớn về vị thế của Nhật Bản trên thế giớỉ nhưng ngườỉ ta vẫn nhớ tới xu hướng biến động của 50 năm toước, khi Nhật Bản lựa chọn chiến tranh và đi đến hủy diệt không bao lâu sau
đó Vậy có đảm bảo rằng Nhật Bản từ nay về sau không phạm sai lầm tương tự nữa? Ta phải tìm kiếm lời giải cho những câu hỏi này ở đâu?
Quân sự, kinh tế và văn hóa trong quan hệ quốc tế
Cuốn sách này đề cập đến những vấn đề liệt kê ừên đây và tìm hiểu về ngoại giao Nhật Bản sau chiến ữanh Vì nước M ỹ chiếm một vỊ trí quan
Trang 19ừọng ưong nền ngoại giao Nhật Bản 50 năm qua nên tôi sẽ đặt ữọng điểm vào quan hệ Nhật-Mỹ, nhưng đồng thời, với việc theo đuổi diễn biến của hoàn cảnh quốc tế, tôi cũng muốn lý giải cả quan
hệ giữa các nước khác vớỉ Nhật Bản.
Ngoại giao Nhật Bản có nhiều khía cạiứi, khi nghiên cứu về mối liên quan của nó vói ữật tự quốc
tế thì ít nhất cũng cần lưu ý ba mặt: quân sự, kinh tế
và tu tưởng (hoặc văn hóa) Tôi cho rằng mối quan
hệ giữa ba mặt này là có lúc bổ sung cho nhau và cũng có trường hợp mâu thuẫn với nhau Mục đích của cuốn sách này là xem xét lại trong 50 năm qua, quan hệ quân sự, Iđnh tế và văn hóa đối ngoại của Nhật Bản đã biến động như ửiế nào, rồi phân tích đặc điểm của cách tììức liên quan giữa Nhật Bản và thế giói, trên cơ sở đó đưa ra một cái nhìn bao quát Như đã trình bày ở trên, trước và sau năm 1940 chắc chắn Nhật Bản đã là một cường quốc lớn nhất thế giới về mặt quân sự Đêm trước chiến ừanh Thái Bình Dương, lực lượng quân sự của Nhật Bản
đã vượt lực lượng hải quân M ỹ ở Thái Bình Dương, trong khi đó hải quân của Anh, Pháp và các nước châu Âu đã ròỉ châu Á để tham gia cuộc chiến với
Đức đầu năm Ỉ939 nên Nhật Bản rõ ràng có ưu thế
tuyệt đối về quân sự ở khu vực biển cận Nhật Bản
Về lục quân, chủ yếu chỉ có lực lượng quân sự của
Trang 20Liên Xô và Trang Quốc có thể so sánh vớỉ Nhật Bản, nhưng quá nửa lực lượng lục quân Liên Xô từ sau khi bắt đầu cuộc chiến vớỉ E>ức (tháng 6 năm 1941) đang phải hướng về châu Âu, toong khi lực lượng chiến đấu của Trung Quốc đẵ bị tiêu hao nhiều sau khi cuộc chiến Nhật-Trung bùng nổ năm
1937 Cuộc kháng chiến chống Nhật ở đại lục Trung Quốc chủ yếu ià bằng chiến tíiuật du kích, không thể so sánh với một triệu quân Quan Đông cùng véi lực lượng quân sự nhiều hcín thế của Nhật đồn trú tại Đài Loan Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa
là Nhật Bản có thể thắng lợi ngay, vì thực chất quân Nhật đóng ở Trung Quốc chủ yếu chỉ để bảo vệ các thành phố và các tuyến đường sắt ở Trung Quốc
mà thôi Nhưng dẫu sao lực lượng quần sự Nhật hiện diện ở Trung Quốc cũng tượng ữưng cho sức mạnh của quân đội Nhật tại các khu vực đã chiếm lĩnh được.»
Lúc đó, không quân đã dần tăng tầm quax\ trọng và thực tế chưa có nước nào vượt ưu thế ừỗn không của Nhật Bản Nước M ỹ lúc đó còn có phần lạc hậu toong việc chế tạo máy bay và mớỉ chỉ bắt đầu chương trình tăng cường lực ỉượng không quân Năm 1941, M ỹ đã bố trí hàng ữăm máy bay chiến đấu ở Trung Quốc và quần đảo Philippines, nhưng không quân Nhật Bản vẫn chỉếm ưu thế về
Trang 21số lượng Có thể nổi, năm 1940, không quân Nhật Bản đang làm chủ bầu ữờỉ Đông Á.
Một điều chắc chắn là không phải đến lúc đó Nhật Bản mới tăng cường quân sự, mà ngay từ đầu thờỉ M inh TiỊ, việc phấn đấu toở ửiành cường quốc
về quân sự đã là quốc sách của nước này Từ cuối thế kỷ 19, chính phủ Nhật đã dành 30-50% ngân sách hằng năm cho chi phí quân sự chứ không phải đến thập niên 1930 mới đột xuất tăng chi phí này Nói cách khác, trong hàng chục năm ữờỉ, ngưòi dân Nhật Bản đã quen với việc một phần quan trọng tiền tì\uế của họ bị ném vào chi phí quốc phòng Trong một ý nghĩa nào đó, ở đây đã có một
sự đèng tâm nhất trí, và có thể nói đó là một thuận lợi so với châu Âu và M ỹ - noi thường xảy ra sự chia
rẽ dư luận về chi phí quân sự.
Tại sao lại có sự đồng tâm nhất trí như vậy? Chính bởi vì quan nỉệm chung khi đó cho rằng, về căn bản quan hệ quốc tế là quan hệ của sức mạnh, khái niệm về vai trò của sức marứi quân sự đương nhiên đã gắn bó mật thiết VỔ4 quan niệm đối ngoại của Nhật Bản cận đại Nối cách khác, quan niệm của họ về quan hệ giữa các quốc gia là quan hệ "cá
lớn nuốt cá bé", kẻ có sức mạnh sẽ thành công, kẻ yếu sẽ bị suy thoái Các nhà lănh đạo đầu thỀd
M iiìh Trị đã dựa vào nhận thức này để tăng cường
Trang 22quân bị, lấy sức mạnh quân sự để đánh đổ nhà Thanh và chiếm luôn Trung Quốc làm thuộc địa, tiếp đó lại khiêu chiến với cưởng quốc Nga và chiến thắng nó, từ đó quan niệm này càng được củng cố chắc chắn thêm Do đó, thực chất xu hướng vươn lên thành cường quốc quân sự ở thập niên 1930 chẳng qua chỉ là khẳng định lại đường lối vốn có
mà thôi.
Tuy vậy, sự phát triển quân sự của Nhật Bản khi ấy chưa đến mức đe dọa trật tự quốc tế đang có, nói cách khác nó vẫn còn vận động ữong phạm vi thể chế cho phép Nhưng từ khoảng năm 1940 thì người ta bắt đầu thấy nó ữở thành sự thách thức rõ ràng VÓ4 thể chế này Trên thực tế Nhật Bản đã hướng tới thống trị châu Á, coi việc này như một khâu trong sự thiết lập ữật tự quốc tế mới Nhưng chỉ véA sức mạnh của một nước như Nhật Bản thì « • • không tìiể đạt mục tiêu đó, nên Nhật muốn hợp lực với E)ức, Ý và cả Liên Xô tạo nên sức mạnh tổng hợp xây dựng trật tự thế gịới mới Đối lại, nước Anh
và nước M ỹ đại diện cho ữật tự cũ cũng tăng cưỂmg quân sự của mình; và thế là cuộc chiến giữa hai bên
đã không thể tránh khỏi.
EXều thú vị là ữong cuộc đọ sức này, hành động của Liên Xô ữở thành chiếc chìa khóa quan ttọng Nhât Bản thì cho rằng phải lôi kéo Liên Xô vào ừận
Trang 23tuyến của lĩứnh hoặc chí ít cũng tnmg lập hóa liê n
Xô Nếu không làm như vậy thì việc đối phó với lực lượng quân sự của Anh và M ỹ hợp lại sẽ rất khó khân Mặt khác, Ehic tính toán rằng nếu Nhật ửiam chiến chống Liên Xô ữủ với sức mạrửi của E)ức và
N hật họ sẽ phá tan Liên Xô và IcA dụng tài nguyên của Liên Xô để chiếm đấu vcd Anh và Mỹ Kết quả là
ý đồ của cả E>ức và Nhật đều không ữúng Việc Liên
Xô phối hợp với Anh và Mỹ báo toước việc cường quốc quân sự Nhật Bản sẽ bị đánh gục.
Nói ^ thì nói, về mặt quân sự, Nhật Bản đương thời rõ ràng là một cưètng quốc đang làm mưa làm gió ở châu Á nhưng về mặt kmh tế thì còn xa mới được gọi là cường quốc Vì muốn ữở thành cường quốc về kinh tế nên Nhật Bản mớỉ âm mưu tấn công vào các khu vực ở châu Á, chiến tranh Thái Bình Dương chi là bước khởi đầu cho việc đó Nếu
so sánh với các nước Âu-Mỹ thì khi ấy Nhật Bản vẫn chỉ là nước nhỏ về kinh tế, cùng lắm cũng chỉ là nước hạng hai mà thôi.
Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đưomg thòỉ thường ngày cũng rất đau đầu về việc này Qua nhật ký của các cận thần của Thiên Hoàng, ta biết rằng TWên Hoàng Chiêu Hòa* thường rất để tâm đến ưu
Thiên Hoàng Chiêu Hòa (1901-1989): Tên thật là Hữohito,
là vị Thiên Hoàng thứ 124 của Nhật Bản (ND).
Trang 24ửiế kinh tế của nước Mỹ V í dụ năm 1941, Nội Đại thần Kiđo Koichi ghi trong nhật ký rằng: Thién Hoàng ửiưcmg đề cập đến nguồn tài nguyên dầu hỏa, cao su của nước M ỹ hoặc ưu tư về hậu quả cấm vận của M ỹ đối vớỉ Nhật Bản.
Nước M ỹ là một ưong những nước bị thiệt hại sâu sắc nhất bởi cuộc đại khủng hoảng năm 1929, mặc dù vậy vỊ thế một cường quốc kinh tế tiềm tàng của nó vẫn không hề lung lay Khoảng năm
1940 thì M ỹ đã vượt qua được khủng hoảng và thu nhập quốc dân cũng đã vượt mức của năm 1929 Thu nhập bình quân đầu người một năm của M ỹ vẫn cao rử\ất thế giớỉ ỉà 650 USD, gấp gần 7 lần Nhật Bản Sản phẩm công nghiệp của M ỹ chiếm tới 35% sản phẩm công nghiệp toàn thế giới, trong khi đó Nhật Bản chỉ chiếm 7% Tổng kim ngạch mậu dịch của Mỹ vượt 6 tỉ USD, gấp gần 5 lần Nhật Bản Nếu xét về tỉ lệ mậu dịch ừong tổng sản phẩm quốc dân thì của M ỹ chiếm 10% còn của Nhật Bản là 23% E)iều này cho ửiấy M ỹ gần như
tự túc tự cấp được nhiều mặt hàng Trong khi đó Nhật Bản phải nhập khẩu nguyên liệu và lương thực thực phẩm với số kim ngạch lớn Thu chi mậu dịch của Nhật hầu như thường xuyên thâm hụt Ngược lại, từ 1894 nước M ỹ chưa có biểu hiện thâm hụt.
Trang 25Sự chênh lệch về tiềm lực kinh tế như vậy có khuynh hướng ngày càng lớn hơn, các chứửi khách Nhật Bàn cũng hiểu rõ điều này ctúnh để lấp đầy
sự thiếu hụt này, Nhật Bản đã coi việc cai trị châu Á
là việc tất yếu Theo điều ữa của Viện Quy hoạch Nhât Bản năm 1940, măc dù chữih sách nhà nước
đă hướng tới tự cấp tự túc về nguyên liệu, vật tư nhưng Nhật Bản vẫn phải nhập khẩu 2,1 tỉ Yên, trong đó 1,9 tỉ Yên là dựa vào Mỹ Nặng nề nhất là dầu hỏa, Nhật Bản phải dựa vào nhập khẩu phần lớn từ M ỹ và Indonesia (thuộc địa của Hà Lan).
Việc thoát ra khỏi tình ữạng này là niềm ao ước
mà các nhà lãnh đạo Nhật Bản đưcttig thồ4 ấp ủ Dù sao đi nữa, làm thế nào để giảm sự lệ thuộc vào nước ngoài và teở thành một cường quốc kinh tế sánh vai với các nước Âu-Mỹ là một bài toán lớn sau khi khai quốc ữong thế kỷ 19 của Nhật Bản Đến tì\ập niên 1930 tìủ Nhật Bản đã lựa chọn chúứi sách thúc đẩy phát biển ngoại thương đồng thời dựa vào kỹ thuật và tiền vốn của nước ngoài để hoàn thành công nghiệp hóa toong toật tự quốc tế
đấ được mở ra Kết quả là Nhật Bản đâ ữở thành nước công nghiệp phát triển nhất ở châu Á, nhưng khoảng cách vớỉ các nước Âu-Mỹ thì vẫn còn ỉớn Thêm vào đó, khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1930 đã dẫn đến sự biến động của ữật
Trang 26tự kinh tế quốc tế Xu hướng bảo hộ mậu dịch, quản
lý hối đoái, kinh tế khối khép kứi (Autarkie - tự cấp
tự túc) phát triển ở các nơi trên thế giới thay cho sự cởi mở trước đây Trong tình toạng như vậy việc các nhà lãnh đạo Nhật Bản lựa chọn chửih sách "ừật tự méđ Đông Á" như một con đường để toở thành cường quốc kmh tế cũng có tìiể coi là có tính lý luận Việc này nhằm đảm bảo vững chắc tài nguyên và thị trường của các nước châu Á, làm suy yếu thế lực của Âu-Mỹ Cuối cùng sẽ là hình thành "Vùng Đại Đông Á cộng vinh" bao gồm toàn khu vực Trung Quốc và E>ông Nam Á dưới sự lãnh đạo của Nhật Bản Họ muốn bằng cách đó sẽ làm cho Nhật Bản
ữở thành cường quốc kinh tế đúng nghĩa của từ đó Tuy nhiên, kết quả thực tế ở ứiời điểm năm
1941 không được rõ ràng So với năm 1931, thu nhập quốc dân ữên danh nghĩa đã tăng gấp 3 lần nhưng giá tri của đồng Yên so với USD trong thời gian đó đă giảm một nửa và làm tăng giá hàng nhập khẩu Thêm vào việc nhập siêu trong mậu dịch, thu chi ngoài mậu dịch cũng bị thâm hụt lớn
và thu chi quốc tế thâm hụt trên 2 tỉ USD Cuộc tổng động viên sau năm 1937 khỉến cho vật tư tiêu dùng thiếu ửiốn đã dẫn đến lạm phát.
Thực tế tuy là một cường quốc quân sự, nhưng càng tiếp tục theo đuổi chỉến ừanh ở Trung Quốc
Trang 27Đại lục thì cơ sở kinh tế Nhật Bản càng suy yếu Họ vấn chưa phải là cường quốc về mặt kinh tế, ữong khi con đường để trở thành cường quốc quân sự hoàn toàn không cho phép họ có thể lột xác thành ciícmg quốc kinh tế Có thể nói chừng nào còn theo đuổi mục tiêu của một cường quốc quân sự thì Nhật Bản khó lòng đạt được bước phát biển nhảy vọt về kinh tế Nói cách khác, mục tiêu về quần sự
và kinh tế của họ cứ xa rcA nhau.
Trong khi chưa điều chỉnh được hai việc này thì Nhật Bản đã lao ngay vào cuộc chiến Thái Binh Dưcmg với đối phương là Mỹ và Anh Như đã trình bày ở ữên, với tư tưởng châu Á chủ nghĩa, Nhật Bản muốn lấp khoảng cách giữa kinh tế và quân sự hoặc chứng minh sự đúng đắn của ưu thế quân sự Chủ nghĩa châu Á đã là một ữào lưu lớn trong
tư tưởng ngoại gjao Nhật Bản sau ửiờỉ Minh Trị Đặc biệt như tôi đã chỉ ra trong cuốn Ngoại giao Nhật Bản - Từ M inh Trị Duy Tân đến hiện đại
(Chukoushinsho ấn hành năm 1966), chính sách ngoại giao của chính phủ Nhật Bản ữong một ứiời
gian dài có tính chất sự vụ, giải quyết vấn đề xảy ra ttong thực tế chứ không triển khai trên cơ sở một tư
tưởng và lý tưởng nào đó đã có Quan hệ ngoại giao của Nhật chưa bị chi phối bởi tư tưởng và
quan niệm đạo đức, ữiết lý căn bản cũng chủ yếu
Trang 28chi tìieo đuổi lợi ích quốc gia Tuy vậy, từ rất sớm, một bộ phận dân chúng không tìiỏa mãn vớỉ cách tìiức đó đâ hình thành, họ đã nêu ý kiến rằng Nhật Bản cần có chừứi sách ngoại giao mang tính lý tưởng chủ nghĩa hay đạo đức hơn.
Tuy nhiên, cái gọi là đạo đức hay lý tưởng
ữong những ý kdến đó phần lớn vẫn xuất phát từ ý
niệm Nhật Bản là một nước châu Á và ở trong quan
hệ đối lập một cách địiih mệnh giữa phương Đông
và phương Tây Do đó, con đường Nhật Bản phải
đi cũng nằm ữên triết lý nó đại diện cho châu Á đốí
kháng với các nước Âu-Mỹ Từ cách nghĩ như vậy sinh ra chủ nghĩa châu Á, rồi lập tức nó gắn với con đường hướng đến ữật tự mới Đông Á của những
năm 1930 E)úng như tôi đã nói trong cuốn Ngoại giao Nhật Bản - Từ Minh T rị Duy Tân đến hiện đại
rằng "nhị nguyên luận về E)ông và Tây là tư tưởng quan trọng duy nhất mà ngoại giao Nhật Bản đã có được".«
Chủ ngỉũa châu Á của Nhật Bản đã đạt đến đứih cao ngay trước chiến ữanh Thái Bình Dương Cho đến lúc đố khái niệm này chủ yếu chỉ được hd hào ở những người theo chủ nghĩa lý tưởng trong dân chúng hoặc những nhà tư tưởng cánh hữu, rồi trở thành biết lý của chửih phủ và các nhà lãnh đạo quân đội Dướỉ đanh nghĩa "chủ nghĩa châu Á"
Trang 29Nhật Bản đã liên tục triển khai việc tấn công vào Trung Quốc Đại lục Ngoại trưởng Matsuoka Yosuke đá coi việc thiết lập "khu vực Đại Etông Á cộng vinh" là nhiệm vụ căn bản của ngoại giao Nhật Bản Nội các do Konoe Pumimaro làm thủ tướng cũng như ngườỉ kế tục Tojo Hideki cũng đều coi mục tiêu này là quốc sách Nói như Matsuoka thì đó là "Lý tưởng lớn có tính truyền thống" kể từ ngày dựng nước.
Việc chính phủ và các nhà định hướng dư luận khi đó sử dụng nhiều lần những khái niệm như
"Cuộc chiến tư tưởng", "Cuộc đấu ữanh văn hóa" củng đã thể hiện điều đó.
Để trả 1Ồ4 những câu hỏi "tại sao phải chiến đấu
ở Trung Quốc" hay "trong bối cảnh tình hình kinh
tế hoàn toàn không được cải thiện thì ý nghĩa của cường quốc quân sự nằm ở đâu", nhiều ý kiến cho rằng chửửi sách quốc gia phải mang tầm vóc của tư tưởng và văn hóa N ói một cách khác, khác với đường lối đối ngoại có tính thực lợỉ từ trước tới nay,
ở Nhật Bản chính sách ngoại giao mang tính tư tưởng và khái nỉệm "chứứì sách nhà nước có tính chất văn hóa" bắt đầu được đề cao.
Trong Hiệp ước Cơ bản giữa Nhật Bản và
Tmng Hoa dân quốc (dưnh quyền Uông Triệu Minh ở Nam Kinh) được ký kết vào tìiáng 11 năm
Trang 301940 có cầu "Chúứi phủ hai nước cần hợp tác chặt chẽ để hòa nhập, sáng tạo và phát triển văn hóa" Quan hệ văn hóa mà được đề cập đến ữong hiệp ước giữa hai nước (thật kỳ khôi là Chứứi quyền Uông Triệu Minh cũng được gọi là một "nước") như vậy là cực kỳ hiếm thấy Việc này cho thấy các quan chức chứứi phủ Nhật Bản đương thời đã cố gắng dồn sức vào văn hóa hoặc đang muốn nhấn manh mặt này.
Tác phẩm "Dự tìiảo Công tác văn hóa đối với Trung Hoa" có sức ảnh hưcmg ứiời bấy giờ của Uda Hisashi cũng đứng trên cùng quan điểm như vậy khi nêu ra rằng: chiến toanh Trung-Nhật "không những là cuộc chiến tranh vũ toang, chiến tranh kinh
tế mà đồng tìiờỉ còn là cuộc chiến về tư tưởng".
Công tác văn hóa đối ngoại vốn dĩ không phải mcd được bắt đầu vào thời đó, nhất là đối với Trung Quốc Từ thập niên 1920, Nhật Bản đã thông qua việc mời lưu học sinh, giao lưu hữu hảo giữa các học giả để thúc đẩy giao lưu văn hóa hai nước Để tiến hành giao lưu văn hóa đối ngoại một cách c6 tổ chức, Hội Chấn hưng Văn hóa Quốc tế đã được tìiành lập vào năm 1934 Nhưng có một đặc điểm là ứong thời gian đầu, chính sách văn hóa được xúc tiến theo một góc độ khác vớỉ quần sự và kinh tế, nhưng đến khoảng năm 1940 thì đă được coi như
Trang 31một khâu ừong chúáh sách chung của nhà nước Điều đó thể hiện rõ lĩnh vực tư tưởng và tuyên truyền ừong quan hệ đối ngoại đă được nâng tầm quan trọng.
Ví dụ, nếu đọc những bài xã luận ở cuốn tạp chí Văn hóa quốc tế phát hành hằng tháng khi đó của Hội Chấn hưng Văn hóa Quốc tế thì thấy quốc sách của Nhật ngày càng lộ rõ Nó gắn ý nghĩa văn hóa vào cuộc chiến tranh và nền ngoại giao của Nhật Bản Nếu để ý thì thấy rằng việc muốn chứng minh
sự đúng đắn của cuộc chiến manh có xu hướng tăng dần số thứ nhất phát hành vào tháng 11 năm
1938 vẫn còn đề cao thuyết giao lưu văn hóa còn đang tương đối phổ biến rằng: "cần phải thông qịia
"văn hóa Nhật Bản" để mọi người nhận thức rõ rằng sau sự kiện Nhật-Trung ở Mãn Chầu, sự quan tâm của M ỹ đối với Nhật đã đột ngột tăng cao cả về mặt tốt lẫn mặt xấu" Nhưng dần dần, luận điểm về mục tiêu ngoại giao văn hóa và nội dung của khái niệm văn hóa lại đi theo hướng châu Á chủ nghĩa
và chống phương Tây.
Đến số thứ 10 xuất bản tháng 8 năm 1940 thì liên tục có lời văn vớỉ giọng điệu như "Sự giải
phóng và tự do của các nước Đồng Á tất sẽ đem lại
sự thức tỉnh về văn hóa và biết lý độc lập tự chủ của các dân tộc Đông Á" Và nào là "Nhật Bản
Trang 32chúng ta phải có sự tự tin và năng lực văn hóa để thực sự có thể lãnh đạo Đông Á", và "chẳng lẽ chúng ta không có sức mạnh lồi cuốn dẫn dắt các dân tộc E)ông Á thay thế châu Âu hay sao?".
Cố gắng đến tíiế nhưng Nhật Bản đã thành công đến đâu ữong ngoại giao văn hóa và tuyên truyền tư tưởng? ở ữong nước thì dường như dư luận các báo và tạp chí đã tiếp nhận chủ nghĩa châu
Á, cũng có một số học giả và tác giả nổi tiếng đã lấy
tư tưởng "Đại Đông Á cộng vinh" làm căn cứ để chứng minh tính đúng đắn của cuộc chiến ở Tmng Quốc hoặc việc tấn công vào các nước Đông Nam
Á Do đó, khi cuộc chiến vớỉ Anh, M ỹ nổ ra thì phần nhiều brong số họ đã đón nhận nó, coi đó là cuộc "Thánh chiến" để giải phóng châu Á Nhưng đồng thời, ngay từ đầu cũng có những lo ngại rằng khái niệm như vậy kết cục có thể mang tính phổ biến như mong muốn hay không? Người Nhật tự phụ cho lĩủnh là kẻ lánh đạo châu Á, dù đã có ý thức đứng lên chống lại Anh, M ỹ để bảo vệ châu Á nhưng đó phải chăng chl là chủ quan? Những nước châu Á khác liệu có đồng tình với quan điểm của Nhật hay không?
Nagayo Yoshiro, tác gịả đâ có bài viết "Chiến tranh hiện tại và ý nghĩa văn hóa của nó" ngay sau khi cuộc chiến toanh Thái Bình EHítmg nổ ra cũng
Trang 33đã cho rằng, kết quả việc người Nhật Bản theo đuổi
"Luân lý dựa trên thế gicả quan mới" đã ữở thành
"cuộc đối đầu với Anh-Mỹ" Việc thực hiện "sự nghiệp có tính lịch sử thế giới" gọi là "Đại Đông Á cộng vinh" chính là "sứ mệnh văn hóa" của Nhật Bản Nhưng để hoàn thành sứ mệnh đó tìiì "ngưM Nhật Bản cần phấn đấu để ữở thành những con người mang tầm vóc quốc tế, có phẩm chất, trí tuệ
và đạo đức xứng đáng được tôn vinh như một dân tộc dẫn dắt các dân tộc Đông Á" Nhưng mặt khác ông cũng lo ngại rằng người Nhật Bản chưa tự giác
để gánh vác sứ mạng văn hóa đó Sợ rằng khi đến Trung Quốc Đại lục và quần đảo Nam Dương họ sẽ
"làm những ưò bỉ ổi có tính loạn luân, ữụy lạc và ngay lập tức sẽ bị các dân tộc ở Đông Á mất lòng tìn, phản đối và khinh bỉ" Sự thực đã diễn ra đứng như vậy Những người Nhật đã làm ở Đông Nam Á và Trung Quốc là quá xa với cái gọi là "sứ mệnh văn hóa" của họ.
Ngoài ra, cũng cần chỉ rõ rằng bản thân tư tưởng châu Á chủ nghĩa của Nhật đã mang tánh chủ quan và có tính bài ngoại, về cơ sở tư tưởng của quan hệ đối ngoại, nếu so với "chủ nghĩa tổ qụốc chí thưomg" và thuyết "dân tộc thượng đẳng" của Đức Quốc xã thì có thể nói rõ ràng thuyết "Đại Đông Á cộng vinh" đã có tính bao quát ở mức độ
Trang 34nào đó Nó không giống như Hitler trước sau chi dùng một luận điệu "vì nước Đức" để chứng minh tính đúng đắn của hành động Trong quan điểm của Nhật Bản thì hành vi của họ không chỉ là cuộc chiến đấu vì nước Nhật mà còn vì toàn bộ châu Á E)iều này đã cho thấy tầm quan toọng của việc xác đmh tư tưởng, Tức là Nhật không vì lợi ích, tham vọng riêng của một nước mà nêu cao tình thần đại nghĩa: muốn giải phóng châu Á Theo đó, có lẽ trong ý thức của ngưòí Nhật đã tồn tại nguyện vọng muốn vượt lên ữên lập trường có tính thực lợi, coi mình là trung tâm, và chắc chắn rằng nguyện vọng này đã lôi cuốn ữào lưu lý tưởng chủ nghĩa sau thời Minh Trị.
về điểm này, so với tư tưởng ngoại giao của Ehíc thì tư tưởng ngoại giao của Nhật ít có tính bài ngoại hơn Tuy vậy nếu so sánh với triết lý ngoại giao của Anh, M ỹ, đặc biệt so với lý tưởng của M ỹ thì tính phổ biến của tư tưởng ngoại giao Nhật kém hơn hẳn Chủ nghĩa châu Á của Nhật Bản dù tạm chấp nhận quan niệm ngoại giao của Aiìh-M ỹ về mặt hình thức, nhưng về cơ bản vẫn đứng ừên lập trường đối lập E>ông-Tây, tức là vẫn xem xét thế giới trên cơ sở phân đôi thế giới Việc đối lập
"Vương đạo" của châu Á vói "Bá đạo" của phương Tây, hay đối lập cái gọi ià văn minh tình thần của
Trang 35châỉX Á với văn mirửi vũ khí của phương Tây chữih
là sự phủ nhận khả năng của nguyên lý phổ biến Việc Nhật Bản, một quốc gia châu Á đã sử dụng khca học do phương Tây mang lại để đánh chìm chiển hạm của Anh-Mỹ chính là một thực tế hùng hồr cho thấy, không thể phân biệt Đông-Tây một cách đơn thuần như vậy Thuyết nhị nguyên văn minh Đông-Tây do đó ngay từ đầu đă bao hàm sự mâtt thuẫn sâu sắc.
Triết lý ngoại giao của Mỹ có tính phổ biến hơn hẳn và sức thuyết phục về tư tưởng cũng ưu việt hơr triết iý của Nhật Bản M ỹ là nước đã lấy khái niệm mở cửa, dân chủ, dân tộc tự quyết làm cơ sở của chứứi sách ngoại giao, đã vậy vào đêm trước chién tranh Thái Bình EHíơng, họ còn làm sáng tỏ hơr nữa cơ sở tư tưởng ữong việc ứng xử vói vấn đề quốc tế Một ví dụ tốt về điều đó là diễn văn "Bốn tự do"(The Four Preedoms) mà Tổng thống Roosevelt
đã tuyên bố vào ửtáng 1 năm 1941 Bốn tự do đó là:
tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do thoát khỏi khủng bố, tự do thoát khỏi đói nghèo E)iều có ý ngỉãa sâu sắc đặc biệt là Roosevelt nói rằng: nước
Mỹ cầu mong rằng "Bốn tự do" này sẽ được thực hiện ở "khắp nơi ừên thế giói", nguyên tắc hay lý tưởng này không phải dành cho một số nước hay chỉ dành cho nhân dân Âu-Mỹ mà ông nói rõ rằng nó là
Trang 36cái mà toàn nhân loại đang tìm ỉdếm Bốn nguyên tắc này đã đi vào nội dung của Hiến chương Đại Tây Dương tháng 8 năm đó (1941) và tháng 1 năm sau thì nó đã được bao hàm trong Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc Vì thế nó không chl mang ý nghĩa tư tưởng của nước M ỹ mà của cả nước Anh và các nước khác ữong phe chống lại "Khối Trục" (năm 1940, Nhật đã cùng vc4 Ehic và Ý lập ra cái gọi là "BQiối Trục"- Axis Powers).
Nhiều người Nhật Bản cho rằng chủ nghĩa phổ biến đó chẳng qua chỉ là khẩu hiệu mà thôi Nhà văn Nagayo đã từng viết "loại dân chủ chủ nghĩa kiểu miệng kêu gào nhân đạo và hòa bình thế giới tốt đẹp mà bụng ôm dã tâm ngạo mạn hỗn xược khó coi" Nhưng dù đă chỉ trích sự sai lệch giữa triết lý của M ỹ và các nước Đồng minh với hành vi thực tế, phê phán đó vẫn không phủ định được tính phổ biến của triết lý này Đối kháng với tính phổ biến về tư tưởng của M ỹ, trên thế giới có một số tư tưởng phổ biến khác (ví dụ tư tưởng cách mạng do Lenin đề xướng và dẫn dắt ở Liên Xô) ngoài chủ nghĩa đặc thù khu vực như của Nhật Bản Tuy nhiên, lịch sử cuộc chiến ữanh Thái Bình EXíơng đã chứng tỏ hai nhóm tư tưởng này không thắng nổi khái niệm tư tưởng phổ biến của Mỹ.
Trang 37Do đó, Nhật Bản đương thời so với nước Mỹ về quân sự thì tương đương hoặc thậm chí đang có ưu thế, nhưng về kinh tế thì ở thế yếu, và về tư tưởng cũng kém cỏi hơn Tuy ở đầu cuộc chiến, Nhật Bản
có vè đã xác lập ưu thế nổi trội về quân sự nhưng chỉ sau mấy tháng tình thế đă đảo ngược; điều này cho thấy rõ ràng vì nền tảng kinh tế và tư tưởng yếu hơn so với M ỹ nên Nhật Bản đã sớm rơi vào thất bại.
Như trên đã thấy, việc so sánh ngoại giao Nhật Bản với các nước khác, đặc biệt là với Mỹ, toên các mặt quân sự, kinh tế, tư tưởng kết hợp với phân tích lập trưèmg của Nhật Bản toong môi tìường quốc tế đã cho ta một phương pháp lý giải diễn
b iln tình hình ừong 50 năm qua Trước và sau năm
1940, Nhật Bản đâ định nghĩa mình là một nước lớn
về quân sự rồi lấy tiền đề là xu hướng khối hóa của nền kinh tế quốc tế để tự mình triển khai xâm lược
và thống trị các khu vực lân cận ở châu Á, với ý đồ dùng chủ nghĩa đặc thù phương Đông đối kháng vớí chủ nghĩa phổ biến của phương Tây Vậy 50 ĩ\ăm sau đó thì tình hình đã thay đổi tìiế nào?
Trang 39KẾT THÚC CHIẾN TRANH NHÂT-MỸ
Sự tiêu vong của cuờng quốc Nhật Bản
Việc khiêu chiến với hai nước Anh và M ỹ cũng giống như một hành vi tự sát Điều này đã được bản thân các chính khách Nhật Bản, những người
đã sa chân vào cuộc chiến toanh xác nhận Nhưng
có lẽ họ không tưởng tượng nổi chỉ trong một thời gian cực ngắn sau khi chiến toanh Thái Bình Dương bùng nổ, ưu ửiế quán sự của quân đội M ỹ đã được xác lập.
Tháng 12 năm 1941, ữước khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, lực lượng hải quân Nhật ở Thái Bình Dương hơn hẳn hải quân Mỹ, số lượng máy bay cũng nhiều hơn Nhật Bản tính toán rằng
ưu thế này sẽ được củng cố với teận tập kích Havvaii gây tổn thất nặng nề cho hạm đội của Mỹ Không chi có vậy, Nhật Bản còn kỳ vọng rằng với
Trang 40Sự thắng thế ở châu Âu của quân Ehútc trong cuộc
chiến với Liên Xô và Anh, có thể M ỹ sẽ rút bớt lực lượng ở Thái Bình Dưcmg để đối phó với Đức Họ nhận định rằng nếu kết hợp lực lượng quân sự của Ehíc và Nhật với lực lượng quân sự ở khu vực châu
Âu và châu Á mà hai nước này chiếm đóng được thì chắc chắn có thể chống lại lực lượng của Mỹ và phe Đồng minh.
Nhưng ừong thực tế, lực lượng quân sự của phe M ỹ đã được bổ sung quá nhanh so với dự đoán Ví dụ ữong thời gian từ 1942 đến 1943, nước
M ỹ đã huy động tổng cộng 38 triệu USD để chế tạo
vũ khí các loại còn Nhật Bản chỉ huy động được chưa quá 5 triệu USD Đặc biệt việc Mỹ cho tập trung phần lớn tàu ngầm và máy bay chiến đấu ở Thái Bình Dương từ đầu cuộc chiến đã làm lộ rõ điểm yếu của Nhật Bản Trong khi các chiến hạm chủ lực và hàng không mẫu hạm mà Nhật Bản đặt nhiều hy vọng liên tiếp bị đánh chìm từ sau cuộc hải chiến Midway tháng 6 năm 1942, quần Mỹ liên tiếp sử dụng tàu đổ bộ đưa bộ binh, vũ khí, chiến xa tấn công các căn cứ trên cạn của Nhật Bản ở Nam Thái Bình Dương Từ năm 1942 đến nẳm sau
đó, khi cuộc tử chiến ở đảo Guadalcanal lan rộng thì tỉ lệ lính chết ưận của Nhật Bản là 46%, ngược lại tỉ lệ đó của M ỹ chỉ có 3%, điều này chứng tỏ sức