LỜI NÓI ĐẨUVấn đề được thào luận trong cuốn sách này là sự tương hỗ, xung đột và dung hợp của kinh điển Nho gia cùng khái niệm lý tính về giá trị của nó với những bản chất đặc thù mang t
Trang 2LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIỀN NHO GIA
T ư ơ n g hỗ, c h u y ể n b iế n và d u n g h ợ p
■ 5 f í j ' m i b i m - ừ
Trang 3Bản quyển thuộc về NXB Đại học Q uốc gia Hà Nội Bất cứ sự sao chép nào không được sự đồng ý của NXB Đại học Q uốc gia Hà Nội đểu là bất hợp pháp và vi phạm Luật Xuất bản Việt Nam, Luật bản quyển quốc tế và Côn g ước Berne.
Trang 4HOÀNG TUẤN KIỆT
Tương hỗ, chuyển biến và dung hợp
Đ À O TH Ị TÂM K H Á N H , BÙI A N H C H Ư Ở N G d ịch
CH
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI• • •
Trang 5Chương II Sự tương hỗ giữa "bản ngã" và "tha nhân" trong lịch sử giao lưu
2 Sự đồng điệu của Nho học Đ ô n g Á thế kỷ XVIII (phán 1):
phản siêu hình học thông qua phản Chu Tử học
77
Trang 6LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
3 Sự đồng điệu của Nho học Đ ô n g Á thế kỷ XVIII (phẩn 2): 86 tìm kiếm "bản chất" trong "tổn tại"
4 Sự khác biệt trong Nho học Đ ô n g Á thế kỷ XVIII: so sánh 89
ý thức chủ thể của nhà Nho Trung, Nhật, Hàn
Trung Quốc vằ sự chuyển hóa của nó ở Nhật Bản cận đại
và Đài Loan hiện đại
2 "Trung Quốc" như một "hình tượng tự thân" của Trung Quốc: 100
sự hợp nhất của "Trung Quốc văn hóa" và'T ru n g Quốc chính trị"
3 Tái cấu trúc khái niệm "Trung Q uốc" trong thế giới quan 102 Nhật Bản cận đại
4 "Trung Q uốc"trong thế giới quan Đài Loan hiện đại: Sự hợp nhất 106
và phân tách giữa “nhận đồng chính trị" và "nhận đồng văn hóa"
và vấn để phương pháp luận cùa họ
kinh đỉển của nhằ Nho Đống Á: trường hợp "Luận ngữ", "Mạnh Tử''
Trang 7Mục lục
7
Trang 8LỜI TỰA CHO BẢN TIẾNG VIỆT
Cuốn sách Lý niệm và kinh điển Nho gia trong giao lưu văn hóa
Đông Á của tôi nhận được sự nhiệt tình đề nghị và tổ chức xuất bản của
PGS TS Nguyễn Kim Sơn - Đại học Quốc gia Hà Nội, với sự khổ công biên dịch của ThS Đào Thị Tâm Khánh và ThS Bùi Anh Chường, nay đã được ra mắt độc giả Việt Nam khiến tôi cảm thây hết sức vinh hạnh, và mong muốn gửi lời cảm tạ sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Kim Sơn cùng hai người dịch.Cuốn sách này thảo luận về sự tương hỗ, chuyển hóa và dung hợp của lý niệm và kinh điển Nho gia ở khu vực Đông Á, về cơ bản tập trung vào bốn khu vực địa lý gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, bởi vì năng lực và thời gian có hạn nên cuốn sách này chưa đề cập tới sự phát triển của Nho học ở Việt Nam, đây là một lĩnh vực học thuật
có thể nỗ lực khai phá nhiều hơn trong tương lai Nhân dịp bản tiếng Việt của cuốn sách được xuất bản, tôi muốn trình bày giản lược về những sơ kiến ban đầu của tôi về lĩnh vực nghiên cứu này
Nho học Việt Nam mang đặc sắc riêng của văn hóa Việt Nam, chứ không thể nhìn nhận một cách giản đơn như là phiên bản Việt Nam cúa Nho học Trung Quốc Trong lời tựa của cuốn sách, tôi đã đề xuất ba xu hướng nghiên cứu: 1) Xuất phát từ Đông Á để suy ngẩm; 2) Coi kinh điển
là hạt nhân nghiên cứu; 3) Coi văn hóa là bối cảnh nghiên cứu Những nghiên cứu về Nho học Việt Nam trong tương lai của chúng tôi cũng
có thể tiến hành theo ba khuynh hướng tư duy trên Việc xuất bản cuốn
Luận ngữ ngu án của nhà Nho Việt Nam thế kỷ XVIII Phạm Nguyễn Du
(1739 -1786/1787?) chính là một ví dụ tiêu biểu Điểm khác biệt trong việc
giải thích về Luận ngữ của Phạm Nguyễn Du trong bộ sách này so với
nhà Nho các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc nằm ở chỗ, Phạm
Nguyễn Du đã dùng bốn phạm trù "thánh", "học", ,ẳsỹn, 4‘chính" để sắp xếp lại các chương của Luận ngữ, tiến hành phân loại lại và giải thích thêm,
các chương đều lấy "ngu án" [kẻ ngu này xét thấy] để thể hiện phát huy
Trang 9LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
kiến giải của bản thân, các thiên đều có đoạn văn ngắn "tổng kết" tóm tắt những nội dung quan trọng Trong phần Lời dẫn, Phạm Nguyễn Du
nói rằng ông bắt đầu đọc Luận ngữ từ khi 12,13 tuổi, đến năm 40 tuổi đột nhiên lĩnh ngộ, soạn nên cuốn này Luận ngữ ngu án một mặt thể hiện
sự xuyên suốt về không gian, thời gian của lý niệm về giá trị của sách
Luận ngữ, đồng thời khơi dậy được tâm huyết của tầng lớp trí thức Việt
Nam, mặt khác cách viết và tư tưởng của bộ sách này còn có thể được nhìn nhận như một biểu hiện "bản địa hóa" của Nho học ở Việt Nam.Trong lịch sử, Việt Nam và đế quốc Trung Hoa có mối quan hệ hết sức lâu dài Bắt đầu từ thế kỷ XIII, Việt Nam đã thực thi chế độ khoa cử
C hế độ chính trị của triều Nguyễn (1802 - 1945) thì chịu ảnh hưởng sâu sắc hơn từ Thanh triều, điều này đã được bàn luận kỹ trong cuốn sách của Alexander B Woodside Tác phẩm Hán văn của các nhà Nho Việt Nam rất nhiều, nhưng quả thực chưa nhận được sự coi trọng đúng mức
tò các học giả đương đại Viện Nghiên cứu cấp cao về Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Đài Loan đã nhận được bản quyền chính thức từ Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam và tiến hành in và xuất bản nguyên tác
kinh điển Nho học Việt Nam, là một bộ phận thuộc bộ sách Tùng thư tư
liệu Nho học Đông Á của Viện chúng tôi, nhằm mục đích nỗ lực đề xướng
việc nghiên cứu về Nho học Việt Nam Đợt đầu xuất bản 7 cuốn gồm:
1) Lê Quý Đôn, Thư kinh diễn nghĩa-, 2) Khuyết danh, Dịch phu tùng thuyết) 3) Lý Văn Phức, Chu dịch cứu nguyên; 4) Ngô Thì Nhậm, Xuân Thu quản
kiến; 5) Phạm Nguyễn Du, Luận ngữ ngu án; 6) Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình tùy bút lục; 7) Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ.
Trước khi tò bỏ chữ Hán và chữ Nôm, chuyển sang dùng văn tự phiên âm Latin trong những năm đầu thế kỷ XX, Việt Nam vốn là một
bộ phận của vùng văn hóa chữ Hán Trong thời nhà Minh (1368 - 1644)
và nhà Thanh (1644 - 1911), sau khi sứ giả Việt Nam đi qua biên giới Quảng Tây, được quan lại địa phương tiếp đãi yến tiệc, cùng nhau đối đáp thơ phú, khi đó chữ Hán chính là công cụ ngôn ngữ đê hai bên cùng giao lưu tình cảm Cho đến thế kỷ XX, lãnh tụ Hồ Chí Minh (1890
- 1969) vẫn làm thơ chữ Hán Được coi như tinh hoa của nền văn hóa Hán tự và truyền tải một khối lượng đồ sộ những lý niệm giá trị và quy phạm hành vi có nguồn gốc Trung Hoa, kinh điển Nho gia sau khi
10
Trang 10Lời tựa cho bản tiếng việt
được truyền bá vào Việt Nam hiến nhiên sẽ nảy sinh sự tương hô, chuyên hóa và dung hợp với văn hóa bản địa của Việt Nam Khi chúng ta tiến hành nghiên cứu các nhà Nho Việt Nam, nếu tập trung vào sự tương tác giữa "các giá trị phô quát" (universal values) của Nho gia với "văn hóa bàn địa" (local culture) của Việt Nam, cùng với quá trình ''thoát bối cảnh hóa" (decontextualization) và "tái bối cảnh hóa" (recontextualization) của độc giả Việt Nam đối với lý niệm giá trị trong kinh điển Nho gia, có lẽ sẽ
có thể đạt được những thành quả tương đối phong phú
Ngày 15 tháng 6 năm 2014
Hoàng Tuấn Kiệt
Viết tại Viện Nghiên cứu cấp cao vê Khoa học X ã hội và Nhân văn
11
Trang 11LỜI NÓI ĐẨU
Vấn đề được thào luận trong cuốn sách này là sự tương hỗ, xung đột và dung hợp của kinh điển Nho gia cùng khái niệm lý tính về giá trị của nó với những bản chất đặc thù mang tính khu vực của Nhật Bản và Triều Tiên, đặt trong bối cảnh lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á; đặc biệt tập trung vào sự tương hỗ giữa "bàn ngã" và "tha nhân" của người đọc kinh điển Nho gia, và sự tương hỗ giữa tri thức trong kinh điển và kết cấu quyền lực các nước Đông Á Cuốn sách được chỉnh lý bổ sung từ thành quả chủ yếu của đề tài nghiên cứu số NSC 95-2414-H002-028-MY3 mà tôi thực hiện từ ngày 1 tháng 8 năm 2006 đến ngày 31 tháng 7 năm 2009 Trước tiên, tôi muốn giải thích về vân đề nghiên cứu và cách triển khai.Vấn đề nghiên cứu của cuốn sách này xuất phát từ suy nghĩ về Đông
Á, nối kết xu hướng mới của nghiên cứu nhân văn thời đại toàn cầu hóa thế kỷ XXI như là bối cảnh học thuật vĩ mô của nó
Bước vào thế kỷ XXI, xu hướng mới trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đang âm thầm hình thành Xu hướng mới nàv chủ yếu được tạo thành bởi sự va chạm của hai lực lượng lớn là trào lưu "toàn cầu hóa" và Sự trỗi dậy của châu Á "Toàn cầu hóa" là trào lưu mà mọi người không chì nghe quen đến tường tận mà đồng thời dấn thân trong đó, còn
sự trỗi dậy của châti Á không chỉ là vì trong lịch sử châu Á đã xuất hiện những truyền thống tinh thần và tôn giáo tín ngưỡng vĩ đại như Nho học, Phật giáo, Đạo gia, Thần đạo , đã xuất hiện những di sản văn hóa lâu đời như văn hóa chữ Hán, y học truyền thống Trung Hoa đã xuất hiện chế độ chính trị ảnh hưởng sâu rộng đến chế độ pháp luật, mà còn bởi vì trong khoảng mười năm gần đây khu vực châu Á trỗi dậy nhanh chóng Theo thống kê của "Tuần báo kinh tế Đông Dương": trong khoảng thời gian mười năm từ 1996 đến 2005, tỷ lệ khách du lịch hàng không giữa các quốc gia châu Á tăng trưởng 109%, vượt xa tỷ lệ bình quân 60% khách
Trang 12LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIẾN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VÂN HÓA ĐÔNG Á.
du lịch giữa các châu lục trên thế giới, 67% khách du lịch giữa châu Á và Bắc Mỹ, 59% giữa châu Á và châu Âu, và 36% giữa các nước châu Âu.1 Hơn nữa, trong số 19 thành phố lớn có dân số hơn mười triệu người trên thế giới, có 11 thành phố ở châu Á Sự trỗi dậy của châu Á là xu thế mới
có thể dự đoán được của thời đại toàn cầu hóa thế kỷ XXL Và trong sự phát triển mạnh mẽ của châu Á, những nghiên cứu học thuật nhân văn cùa khu vực Đông Á cần thiết một xu hướng mới và một tầm nhìn mới.Tuy nhiên, nhìn lại xu thê' trong nghiên cứu nhân văn của các nước Đông Á thế kỷ XX, cố nhiên mỗi nhà nghiên cứu hoặc mỗi tổ chức nghiên cứu có những thành tựu học thuật tinh sâu chắc chắn của họ, nhưng khi bàn về xu thế lớn này thường xuất hiện hai khuynh hướng rõ rệt sau:Thứ nhất, học giới nhân văn Đông Á thế kỷ XX có rất nhiều trước tác coi kinh nghiệm phương Tây là khung sườn tham khảo trong nghiên cứu, dùng kinh nghiệm Đông Á để kiếm nghiệm lý luận học thuật phương Tây Ví dụ, học giả về lịch sử tư tưởng nổi tiếng Trung Quốc thế kỷ XX
là Hầu Ngoại Lư (1903-1987) tuyên ngôn rằng ông "chủ trương tiến hành nghiên cứu thống nhất một cách chính xác đối với các tư liệu riêng biệt Trung Quốc cổ đại và quy tắc phát triển cổ đại của sử học Bàn từ ý nghĩa thông thường, đây chính là Trung Quốc hóa các phép tắc cổ đại của sử học mới, còn bàn từ góc độ phát triển mở rộng, đây là sự nối dài phiên
bản Trung Quốc của các chủ đề thị tộc, tài sản, quốc gia".2 Cuốn Lịch sử
xã hội cô’ đại Trung Quốc của Hâu Ngoại Lư quả thực đã nỗ lực coi kinh
nghiệm lịch sử Trung Quốc như một phiên bản chú thích châu Á cho lý thuyết của Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895)
Thứ hai, quan điểm nghiên cứu nhân văn của các học giả Đông Á thế
kỷ XX thường lấy quốc gia của mình làm trung tâm, hiếm khi áp dụng tầm nhìn xuyên quốc gia hoặc xuyên biên giới, vì vậy, rất ít hoặc khó đề xuất được những mệnh đề có ý nghĩa phổ quát Luận thuyết của giới nghiên
1 Trích dẫn lại từ Trương Hán Nghi, Cô Thụ Nhân ặ l/H ÌE ' $ © f z , 2007, Cuộc chiến tranh bá
BẺ, số 378 (ngày 15 tháng 8 năm 2007), tr.108-109.
2 Hẩu Ngoại Lư Lịch sử xã hội cổ đại Trung Quốc (Lời nói đâu) ‘í i l í r í t t t l í í Ề 0 Ế!/?<
Thượng Hải, 1948.
14
Trang 13Lời nói đầu
cứu văn sử triết các nước Trung, Nhật, Hàn thế ký XX thê hiện tương đối
rõ ràng cái gợi là "quốc gia luận thuật" - coi quốc gia làm trung tâm
Hai vấn đề lớn trên đây thường tác động lân nhau và có quan hệ nhân quả đối ứng, do đó ảnh hường tiêu cực, khiến cho tiềm lực của giới học thuật Đông Á rất khó phát huy, như Trương Quang Trực (1931-2001) năm 1994 đã nói: "M ỗi người Trung Quốc đều có bản lĩnh để nghiên cứu
khoa học xã hội nhân văn Tư liệu cho nghiên cứu điên hình là bộ Nhị thập
tứ sử, vậy tại sao trong nghiên cứu học thuật thế kỷ XX, tiềm lực cống
hiến có tính thông thường của Trung Quốc đối với khoa học xã hội và nhân văn hoàn toàn không thể phát huy?".1 Vấn đề Trương Quang Trực nêu ra quà thực rất đáng suy nghĩ
Chính vì những vấn đề của nghiên cứu học thuật nhân văn Đông Á trong thế kỷ XX đã nói tới trên đây, nên trong thời đại toàn cầu hóa thế kỷ XXI, tôi cho rằng nghiên cứu nhân văn Đông Á có thể áp dụng ba khuynh hướng nghiên cứu dưói đây:
Thứ nhất, tập trung vào kinh nghiệm Đông Á, xuất phát từ Đông Á
đê suy nghĩ Thực tế, việc vượt qua cương giới quốc gia đê coi Đông A là phạm vi nghiên cứu chính là xu hướng mới trong nghiên cứu nhân văn thế kỷ XXI Sau khi bước vào thế kỷ XXI, cùng với sự trỗi dậy của châu Á (nhất là Đông Á) và sự phát triển nhanh chóng của xu thế "toàn cầu hóa", giói học thuật nhân văn Đông Á bắt đầu từ cục diện nghiên cứu thường thấy theo "chù nghĩa quốc gia trung tâm" đã dần chuyển sang coi Đông
Á là tầm nhìn nghiên cứu Ví dụ, Đại học Đ ế quốc Tokyo Nhật Bản vốn
có khóa giảng 'T riết học Trung Quốc", sau đã đổi thành chuyên đề "Văn hóa học tư tưởng Đông Á " Các trường đại học của Nhật Bản nhận được tài trợ từ Trung tâm Ưu tú (Center of Excellence, COE) của Bộ Văn hóa, cũng đa phần chuyển sang tầm nhìn Đông Á Chương trình "Trí tuệ Hàn Quốc thế kỷ XXI" (Brain Korea 21st Century, BK21) của chính phủ Hàn Quốc cũng coi Đông Á là phạm vi nghiên cứu của các dự án thuộc lĩnh
1 Trương Quang Trực ỊHkýtẼL, Khoơ học Xở hội Nhân vởn Trung Quốc cán trở thành chủ lưu thế giới
I í f 4 l l ằ £ ỉ f MrVẾĨịẼLỈẰ, trong Tuần báo Châu Á (Hồng Kỏng), quyển 8
kỳ 27 (ngày 10 tháng 7 năm 1994), tr.64.
15
Trang 14LÝ NIỆM VÀ KINH Đ IỂ N NHO GIA TRONG GIAO Lư u VẨN HÓA ĐỒNG Á.
vực Khoa học nhân văn Từ năm 2000, Đài Loan bắt đầu thúc đẩy hai dự
án nghiên cứu cao cấp, cũng đều coi phạm vi văn hóa Đông Á theo nghĩa rộng là lĩnh vực nghiên cứu, ví dụ như "Nho học Đông Á", "Dân chủ ở Đông Á", "Tâm lý học người H oa" Các đề tài nghiên cứu ban đầu cua Viện nghiên cứu cấp cao về Khoa học Xã hội Nhân văn của Đại học Quốc lập Đài Loan như "Kinh điển Đông Á ", "Dân chủ ờ Đông Á ", "Pháp trị Đông Á ", "Toàn cầu hóa", và những đề tài thực hiện sau này như "Nhân sinh quan và ý thức tự thân của người Hoa", "Hiệu quả của sức sản xuất:
từ Đông Á tiến tới toàn cầu hóa" (từ 2006 đến 2010), đều đã lý giải cho
xu hướng mới trong nghiên cứu học thuật xã hội và nhân văn thế kỷ XXI
ở các lĩnh vực và trình độ khác nhau Xu hướng nghiên cứu mới này tất nhiên mang tầm nhìn đa diện xuyên văn hóa, xuyên quốc gia, liên ngành
và đa ngôn ngữ Cộng đồng học thuật như thế tất nhiên là trăm hoa đua
nở, trăm nhà đua tiếng Cân đặc biệt nhấn mạnh rằng: điều mà tôi gọi là
"tập trung vào kinh nghiệm Đông Á ", có nghĩa là chúng ta càng thâm nhập sâu vào kinh nghiệm văn hóa và lịch sử, thì càng có thể khai phá thêm hàm ý mang tính toàn cầu của nó; còn "xuất phát từ Đông Á đê’ suy nghĩ" chính là xác lập khởi điểm quan trọng cho một mệnh đề học thuật mang tính phô quát
Thứ hai, coi kinh điển hoặc quan niệm giá trị là hạt nhân của nghiên cứu Những nghiên cứu học thuật nhân văn của Trung Quốc thế
kỷ XX có cơ sở phương pháp luận là chú nghĩa thực chứng, tình hình này hiển nhiên có quan hệ với truyền thống học thuật Phác học [còn gọi
là khảo cứ học # đời Thanh, và những xung lực của chủ nghĩa thực chứng của châu Âu đầu thế kỷ XX Dưới tác động của phong trào chủ nghĩa thực chứng, quan điểm của giới nghiên cứu nhân văn Trung Quốc thế kỷ XX là chú trọng đến vấn đề "sự thực" hơn là vấn đề "giá trị"
Tuy nhiên, vấn đề là nếu "sự thực" không được đánh giá trong luồng
tư duy của "giá trị" thì ý nghĩa của "sự thực" đa phần khó có thể hiển thị
rõ ràng Triển vọng trong nghiên cứu nhân văn thế kỷ XXI, ngoài vấn đề
"sự thực" đã được chú trọng trong quá khứ, càng cần tăng cường nghiên cúm về vấn đề "giá trị", nhất là kinh điển chứa đựng quan niệm giá trị càng cần phải trở thành hạt nhân trong nghiên cứu nhân văn
16
Trang 15Lời nói đẩu
Thứ ba, coi văn hóa là bối cảnh nghiên cứu Tuy tôi nhấn mạnh
việc "xuất phát từ Đông Á để suy nghĩ" là sách lược trong nghiên cứu nhân văn thời đại mới, nhưng chúng ta cũng cần chú ý tới cái khác biệt (dị) trong cái chung (đồng) của truyền thống nhân văn và kinh nghiệm lịch sử của các nước Đông Á Chỉ có đi sâu vào bối cảnh văn hóa cá biệt vừa cụ thế, vừa đặc thù mà còn mang đặc sắc khu vực, chúng ta mới có thể khai phá và phát triển tầm nhìn mang tính toàn cầu, như cách nói của nhà Nhân học văn hóa Clifford Geertz (1923-2006) là "tri thức địa phương mang ý nghĩa toàn cầu"
Các quốc gia Đông Á hiển nhiên cùng chia sẻ những yếu tố văn hóa chung như văn hóa chữ Hán, quan niệm giá trị Nho gia, niềm tin Phật giáo, y học cổ truyền Trung Q uốc , nhưng chúng ta cũng không được coi nhẹ những khác biệt trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cùa các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam Ví dụ, vai trò của học giả Nho gia - những người truyền thừa các giá trị Nho gia, ở các xã hội khác nhau thường không tương đồng, ở Trung Quốc từ sau đời Tống
là giai câp sĩ đại phu, khác với giai cấp "lưỡng ban" của xã hội Triều Tiên trong thời đại Triều Tiên (1392-1910), cũng khác với việc Nho gia trong xã hội Nhật Bản thời đại Togugawa (1603-1868) chỉ là một phần tử trí thức bình thường
Chính vì thế, nếu chúng ta có thể đặt những tố châ't giá trị tương đồng của văn hóa Đông Á trong bối cảnh văn hóa cụ thể và khác biệt của mỗi nước để phân tích, sẽ có thể xóa bò căn bệnh "xa rời bối cảnh", khiến cho diễn trình phát triển của đối tượng nghiên cứu thêm chân thực và sâu sắc.Trong thế kỷ XXI, đi cùng với thời đại toàn cầu hóa là sự trỗi dậy củacác xu hướng ''thoát cương vực hóa" của quốc gia dân tộc (nation State),
và của các thực thê kinh tế như khu vực mậu dịch tự do liên minh châu
Âu, Bắc Mỹ, Asean+1, vòng kinh tế Đại Trung H oa , nghiên cứu nhânvăn tất nhiên củng hình thành xu hướng mói Nếu nghiên cứu nhân vănthế ký XXI áp dụng các sách lược nghiên cứu "xuất phát từ Đông Á để
suy ngẫm ", "coi kinh nghiệm và lý niệm giá trị là hạt nhân nghiên cứu"
và "coi văn hóa là bối cảnh nghiên cứu", thì có thể mở rộng rất nhiều khả
năng mới trong nghiên cứu ị—— - —T“ TTTÃ
TRUNG TẦM THÔNG TIN THƯ VIỀN
Trang 16LÝ NIỆM VÀ KỈNH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
Dưói tầm nhìn của học thuật mới thế kỷ XXI như đã nói ở trên, lĩnh vực nghiên cứu gọi là "N ho học Đông Á" được đề cập trong nội dung cuốn sách này, tuy bao gồm truyền thống Nho học của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Q uốc , nhưng không phải là được khảm ghép (mosaic) từ những phiên bản khác biệt của Nho học truyền thống mỗi nước Đông Á Tâm nhìn của "Nho học Đông Á" vượt qua biên giới quốc gia, nó là khái niệm vừa mang tính không gian, vừa mang tính thời gian Với ý nghĩa là một khái niệm không gian, ''Nho học Đông Á" chỉ tư tưởng Nho học và nội hàm, sự phát triển của các lý niệm giá trị của nó ở các nước Đông Á Với ý nghĩa là khái niệm thời gian, ở các nước Đông Á, "Nho học Đông Á" không phải là một kiểu tư tường rời rạc, cứng nhắc bất biến mà luôn luôn tương hỗ, tùy thời biến đổi, tùy cơ phát triển
Cuốn sách này tiến hành khảo sát kinh điển Nho gia và các lý niệm giá trị của nó trong dòng mạch văn hóa của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, phân tích sự tương hô giữa kinh kiển Nho gia và các giá trị hạt nhân của nó vốn khởi nguồn từ Trung Quốc với những đặc trưng theo khu vực của các nước
Cuốn sách này coi Đông Á là tầm nhìn, chủ trương "xuất phát tù’ Đông Á để suy ngẫm", vì vậy đầu tiên cần phải bàn luận về lĩnh vực học thuật mói là "lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á" Chương đầu tiên "Lịch
sử giao lưu văn hóa Đông Á như lịch sử khu vực: Ý thức vấn đề và chủ
đề nghiên cứu" sẽ phân tích ý thức vấn đề và những chủ đề nghiên cứu của lĩnh vực "lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á", là nội dung phần "Dần luận" của cuốn sách này
Phần thứ hai "Sự tương hỗ giữa bản ngã và tha nhân", bao gồm 3 chương tiếp theo: chương II, III và IV, thảo luận về cách Nho gia ở các nưóc như Nhật Bản, Hàn Q uốc khi giải thích về kinh điển Nho gia Trung Quốc, thường thể nghiệm mối quan hệ mang tính đàn hồi giữa
"giá trị phổ quát" của kinh điển Nho gia Trung Quốc với "đặc tính khu
vực", giữa "nhận đồng chính trị" và "nhận đồng văn hóa" Chương III
tiến hành so sánh sự đồng điệu và dị biệt giữa các trào lưu tư tưởng Nho học của Trung Quốc, chương IV đặt trọng tâm vào khái niệm "Trung Quốc" - một danh xưng đặc thù thường gặp trong kinh kiển Trung Quốc, tiến hành phân tích những chuyển hóa của khái niệm này ở Nhật Bản cận đại và Đài Loan hiện nay
18
Trang 17Lời nói đẩu
Tiếp theo, phần thứ ba “Tương hỗ giữa tri thức và quyền lực" gồm hai chương Chương V nghiên cứu con đường độc giai kinh điển của Nho gia Đông Á và các vấn đề của nó, chỉ ra trong truyền thống giải thích kinh điển của Nho gia Đông Á, "thể tri" là một phương cách, còn "thê hiện mới là mục đích của việc đọc kinh điển; mục đích căn bản của việc đọc kinh điên Nho học ở Đông Á không phải là ở việc "lý giải" ý nghĩa về tri thức luận của kinh điển, mà là dung nạp những lý niệm giá trị trong kinh điển vào thân tâm cùa bản thân, làm cho cuộc sống của bản thân được thấm nhuần và chuyển hóa những lý niệm giá trị ấy của kinh điển Do đó, mệnh đề "th ể tri" trong truyền thống luận giải kinh điển Đông Á là một vấn đề hết sức quan trọng trong thông diễn học Nho gia Đông Á, có thể tương tác phát huy cùng với chủ đề "em bodim ent" (hóa thân, hiện thân) của Nhân học văn hóa đương đại và Sân khấu học, sáng tạo nên tầm nhìn mới trong nghiên cứu Đông Á
Chương VI của cuốn sách này đặc biệt chú trọng đến mối quan hệ phức tạp giữa giải thích kinh điển và quyền lực chính trị: hai vấn đề một mặt không thể tách rời, mặt khác lại nảy sinh căng thẳng; hai vấn đề trong quá trình cạnh tranh, vừa thẩm thấu vừa chuyển hóa lẫn nhau Điều đó thể hiện sự tồn tại của thông diễn học kinh điển mang đặc sắc văn hóa Đông Á.Nhìn chung, cùng với sự chuyên biến của thế kỷ XX, việc đặt truyền thống Nho gia trong dòng mạch giao lmi văn hóa Đông Á để khảo sát và đánh giá giá trị của nó chính là một xu hướng mới trong nghiên C Ú 'U khoa học nhân văn của thời đại, cần nỗ lực thực hiện Cuốn sách này là thành quả ban đầu của tôi trong việc khám phá lĩnh vực nghiên cứu này, là tấm lòng thành kính dành tặng cho những học giả đồng hành và tâm huyết với
"Nho học Đông Á ", đồng thời mong nhận được chỉ giáo của các bạn đọc.1
Lập xuân, ngày 4 tháng 2 năm 2070
Hoàng Tuấn Kiệt
Viện Nghiên cứu cấp cao vể Khoa học Xã hội Nhân văn
1 Bản thảo đầu tiên của phần này đã đăng trong Bàn tin của Viện Nghiên cứu cấp cao Khoa học
Xã hội Nhân văn Đại học Đài Loan, tập 3, số 3 (9/2009), tr.7-9.
19
Trang 18DẪN LUẬN
Trang 19C h ư ơ n g I
LỊCH SỬ GIAO LƯU VÃN HÓA ĐÔNG Á
VỚI TƯ CÁCH LỊCH s ử KHU VựC:
Ý THỨC VẤN ĐỂ VÀ CHỦ ĐỂ NGHIÊN c ứ u
1 Dẩn luận
Cuốn sách này thảo luận về sự phát triển của lý niệm và kinh điển Nho gia ở Đông Á, do đó trưóc tiên cần tiến hành khảo sát ở tầm vĩ mô đối vơi lĩnh vực nghiên cứu "lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á" nhằm cung cấp một bối cảnh tri thức cho toàn bộ cuốn sách Trong quá trình
từ thu thập sử liệu đến soạn thảo sách sử của các nhà sử học, vấn đề đầu tiên thường suy nghĩ là: tầm nhìn và phạm vi của nghiên cứu lịch sử coi quốc gia, khu vực hay thế giói là chính? Đi sâu tìm hiểu vấn đề này có thê thấy rằng, "lịch sử quốc gia" (national history, m sust) đâ trở thành trào lưu chính trong nghiên cứu lịch sử từ sau Đại Cách mạng Pháp năm
1789 Xuyên suốt từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX (đặc biệt là nửa đầu thế ký), các nhà sử học các nước đa phần đều lấy quốc gia (đặc biệt là quốc gia của chính mình) làm đơn vị nghiên cứu, nghiên cứu "lịch sử quốc gia" là trào lưu chủ yếu của nghiên cứu sử học thế kỷ XX, coi luận thuật
về quốc tộc là chủ đề, dùng chủ nghĩa dân tộc chính trị hoặc chủ nghĩa dân tộc văn hóa làm cơ sở giá trị luận.1 Ví dụ như nghiên cứu sử học
1 Quỹ Khoa học châu Âu (European Science Foundation) đã hỗ trợ cho nhóm nghiên cứu do Chris Lorenz và Stefan Berger đứng đẩu thực hiện một dự án nghiên cứu lớn từ năm 2003 đến năm 2008: "Representations of the Past: The Writing of National Histories in Nineteenth and Twentieth Century Europe" (NHỈST - www.uni-leipzig.de/zhsesf) Mục tiêu của dự án này
là nghiên cứu việc viết lịch sử quốc gia của châu Âu thế kỷ XIX-XX, và kết quả nghiên cứu của dự án đã được phát biểu trong cuộc thảo luận tại tiểu ban "Religion, Nation, Europe and Empire: Historians and Spatial Identities" (Tôn giáo, Quốc gia, Châu Âu và Đế quốc: Các sử gia
và những nhận đồng về không gian) của Hội nghị quốc tế các Khoa học Lịch Sử được tổ chức tại Amsterdam năm 2010, sau đó Công ty xuất bản Palgrave MacMillan đã xuất bản thành Tùng thưó quyển và 10 cuốn chuyên khảo.
Trang 20LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIẾN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
Trung Quốc thế kỷ XX, Quốc sử đại cương của Tiền Mục iJtfH (tựTân Tứ 3=1 £9, 1895 - 1990) chính là một trước tác kinh điển mang tính đại diện nhất cho trào lưu "lịch sử quốc gia".1 Tuy nhiên, theo như quan điếm Geoffrey Barraclough (1908 - 1984) đã nêu ra năm 1979, sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, giới sử học các nước dần trở nên ác cảm vói trào lưu sừ học chủ nghĩa dân tộc rất thịnh hành trước đó, các nhà sử học châu Âu đa số cho rằng sử học chủ nghĩa dân tộc là một trong những căn nguyên tư tường dẫn đến cuộc Thế chiến này.2 Trong bầu không khí học thuật như thế, người ta dần hoài nghi tính hợp lý của việc nghiên cứu
"lịch sử quốc gia" M ặc dù các nước châu Á trong gần 100 năm trở lại đều kinh qua lịch sử đau khổ bị xâm lược, bị thống trị, đa phần đều dùng việc nghiên cứu lịch sử quốc gia để hiệu triệu tinh thần dân tộc chống lại ngoại bang, do đó nghiên cứu "lịch sử quốc gia" của giới sử học châu Á vẫn chiếm vị trí chủ lưu,3 tuy nhiên Nhật Bản sau chiến tranh thực sự đã
có những phản tỉnh đối với việc nghiên cứu và giáo dục lịch sử, coi luận thuật về quốc tộc và tình cảm yêu nước là hệ tư tưởng Sử học Nhật Bản sau chiến tranh về cơ bản có thể nói đã chuyển từ sừ học theo chủ nghĩa dân tộc sang nghiên cứu sử học coi ngươi dân là trung tâm.4
1 Hoàng Tuấn Kiệt Quốc sử quan trong Sử học của Tiền Tân Tứ: Nội hàm, phương pháp
và ý nghĩa r B Ỉ Í J f i : 1*3/8 ' ^ / Ế lt ìÌM É ) (Đài đại lịch sử học báo <#;
/ số 26 (2/2002); Hoàng Tuấn Kiệt (Chun-chieh Huang ): Tư duy sử học như một
hình thái của chủ nghĩa nhân vân mới trong thế kỷ XX: Nhởn quan lịch sử của Tiền Mục (Historical
Thinking as a Form of New Humanism for the Twentieth-century China: Qian Mu's View of History), tham luận tại Hội thảo quốc tế vể "Xu hướng mới trong Sử học: Lịch sử khu vực và lịch sử thế giới" (New Orientations in Historiography: Regional History and Global History), Shanghai: East China Normal University, 3-5, Nov., 2007.
2 Geoffrey Barraclough, Những khuynh hướng chính của Lịch sử (Main Trends in History), (New
York and London: Holmes & Meier Publishers, Inc., 1979), p 149 Hồi cố về nghiên cứu sử học
thế kỷ XX có thể tham khảo: Georg G Iggers, Sử học trong thế kỷ XX: Từ khách quan khoa học đến
thách thức Hậu hiện đợi (Historiography in the Twentieth Century: From Scientific Objectivity
to the Postmodern Challenge), (Middletown, CT.: Wesleyan University Press, 2005); Daedalus
(Spring, 1971): Các sử gia và Thế giới trong thế kỷ XX (The Historians and the World of the
Twentieth Century).
3 Tổng kết về toàn bộ giới sử học châu Á gần đây, tham khảo Masayuki Sato (1947-): Chép sử
và tư tưởng lịch sử Đông Á (East Asian Historiography and Historical Thought,) trong 'The
International Encyclopedia of the Social and Behavioral Sciences" (Pergamon Press, 2002), tr 6776-6782.
4 Tham khảo Shigeki Toyama S lLỉB cH Í: Sử học và ý thức lịch sử sau chiến tranh Ẹjc
f S i S S I ® (Tokyo, Iwanami Shoten, Publishers, 1968).
24
Trang 21Chương I: Lịch sử g iao lưu văn hóa Đ ô n g Á
Xét trong tương quan với "lịch sử quốc gia", từ thế kỷ XIX, nghiên cứu "lịch sử toàn cầu" (global history) bắt đầu được chú ý bởi rất nhiều nhà sử học Gần đây, Georg G Igers (1926-) và Vương Tình Giai (1957-) tiến hành lược khảo về xu hưóng nghiên cứu sử học từ 1990 đến nay và
đã chỉ ra năm xu hướng chủ yếu: Văn hóa và ngôn ngữ chuyên hướng trở thành ''tan văn hóa sử"; Sự lớn mạnh của lịch sử tính nữ và lịch sử về giới; Dưới quan điểm phê bình chủ nghĩa hậu hiện đại, nghiên cứu lịch sử và khoa học xã hội không ngừng kết hợp; Kết hợp phê phán theo quan điểm chủ nghĩa hậu thuộc địa đối vói "lịch sử quốc gia"; Sự trỗi dậy của nghiên cứu về lịch sử thế giói, lịch sử toàn cầu và lịch sử toàn cầu hóa.1 Trong trào lưu sừ học thập niên 90, sự hưng khởi của nghiên cứu "lịch sử thế giới" là một xu thế cần được coi trọng Xu thế nghiên cứu "lịch sử thế giới" này gần đây cũng đã thu hút sự thảo luận sôi nổi của rất nhiều học giả Đồng thời với việc coi trọng nghiên cứu "lịch sừ thế giới", Hayden White (1928-) chỉ ra rằng, cái gọi là "sự kiện toàn cầu" (global event) trong quan điểm của "lịch sử thế giới" là một loại "sự kiện" mới mẻ ở tầm nhìn toàn cầu, nó có khả năng bị hiểu nhầm thành một số khái niệm sử học vốn có trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học phương Tây cận đại như "thời gian", "không gian", "quan hệ nhân quả".2 Frank Ankersmit (1945-) xuất phát từ quan điểm gọi là "chủ nghĩa thế giói" (cosmopolitical) đã đặt câu hỏi về ảnh hưởng đối với lịch sử nhân loại của việc viết về "lịch sử thế giới", thường chỉ chú trọng tới các nhân tố bên ngoài con người (như dịch bệnh), có thể sẽ chìm đắm trong kiểu "lịch sử phi nhân văn hóa" (dehumanized history).3 Edoardo Tortarolo (1956-) cũng nhìn lại quá khứ, hiện tại và tương lai của việc viết về "lịch sử thế giói", ông chỉ ra việc
1 Georg G Iggers and Q Edward Wang, Toàn cầu hóa lịch sử và sử học: Đặc điểm và thách thức
(The Globalization of History and Historiography: Characteristics and Challenges, from the 1990s to the Present), tham luận tại Hội thảo quốc tế "Những định hướng mới trong Sử học: Lịch sử khu vực và Lịch sử toàn cầu" (New Orientations in Historiography: Regional History and Global History).
2 Hayden White, Những chủ đề tranh luận về lịch sử toàn cấu (Topics for Discussion of Global His
tory), tham luận tại Hội thảo quốc tế "Những định hướng mới trong Sử học: Lịch sử khu vực và Lịch sử toàn cầu" (New Orientations in Historiography: Regional History and Global History).
3 Frank Ankersmit, Điều gì đõ xảy ro với Lịch sử thê' giới nhìn từ quart điểm chủ nghĩa thế giới?
(What is Wrong with World History from a Cosmopolitical Point of View?), tham luận tại Hội thảo quốc tế "Những định hướng mới trong Sử học: Lịch sử khu vực và Lịch sử toàn cầu" (New Orientations in Historiography: Regional History and Global History).
25
Trang 22LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
viết "lịch sử thế giới" đang đối mặt với những thách thức trong chính cơ
sở hình thái ý thức và tính hợp pháp của việc nghiên cứu trong lĩnh vực này.1 Mặc dù vậy, tầm nhìn mới về "lịch sử toàn câu" vẫn và sẽ tiếp tục thách thức "những luận thuật chủ yếu" (master narratives) trong nghiên cứu sử học hiện nay, trở thành một động hướng nghiên cứu không thể xem nhẹ trong tương lai.2
Nằm ở giữa hai trào lưu nghiên cứu "lịch sử quốc gia" thịnh hành ở
th ế kỷ XX và nghiên cứu "lịch sử toàn cầu" đang nổi lên gần đây, nghiên cứu "lịch sử khu vực" (regional history) - coi các khu vực địa lý khác nhau như Đông Á, châu Âu hoặc Bắc M ỹ là đối tượng nghiên cứu, chính là một lĩnh vực mới đáng được chú ý nghiêm túc trong nghiên cứu
sử học Chương này phân tích cơ sở phương pháp luận của lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á - một lĩnh vực nghiên cứu "lịch sử khu vực", nêu ra những vấn đề trong nghiên cứu về lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á, đồng thời đề xuất một số chủ đề nghiên cứu có tính khả năng
Cái gọi là "lịch sử khu vực" là một lĩnh vực nghiên cứu sử học, có thể phân chia thành hai loại hình khác nhau: Một là loại hình "lịch sử khu vực" nằm giữa ranh giới của "lịch sử quốc gia" và "lịch sử địa phương" (local history), hai là loại hình "lịch sử khu vực" lại nằm giữa ranh giới
"lịch sử quốc gia" và "lịch sử toàn cầu".3 Loại hình thứ nhất là lịch sử của các vùng khác nhau trong một quốc gia, ví dụ như lịch sử Nam Đài Loan, lịch sử Hoa Nam loại hình thứ hai là lịch sử khu vực xuyên biên giới quốc gia, ví dụ như lịch sử Đông Á, lịch sử Tây  u Chúng tôi muốn bàn tới ở đây chính là "lịch sử khu vực" theo nghĩa thứ hai
1 Edoardo Tortarolo, Lịch sử thế giới/toàn câu: Quá khứ, hiện tại và tương lai của nó (Universal/
World History: Its Past, Present and Future,), tham luận tại Hội thảo quốc tế"Nhừng định hướng mới trong Sử học: Lịch sử khu vực và Lịch sử toàn cẩu" (New Orientations in Historiography: Regional History and Global History).
2 Trong Hội nghị quốc tế về các khoa học lịch sử, có một tiểu ban thảo luận chuyên đề "Lịch sử toàn cầu: Một đối thoại liên khu vực" (Global History - An Inter-Regional Dialogue) do Chris Lorenz, Dominic Sachsenmaier, Sven Beckert chủ trì.
3 Về hai định nghĩa "lịch sử khu vực" này xin tham khảo: Allan Megilỉ, Lịch sử khu vực và tương lai
của viết sử (Regional History and the Future of Historical Writing), tham luận tại Hội thảo quốc
tế "Những định hướng mới trong Sử học: Lịch sử khu vực và Lịch sử toàn cẩu" (New Orienta tions in Historiography: Regional History and Global History).
26
Trang 232 Suy n g h ĩ về phương p h áp luận
2.1 Đông Á như một "không gian tiếp x ú c"
Trước khi tháo luận về vấn đề phương pháp luận nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa khu vực Đông Á, chúng ta cần phải giải thích một cách tổng thể về đặc trưng địa lý của khu vực này Khu vực Đông Á bao gồm Trung Quốc đại lục, bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan, bán đảo Trung Nam Á , có những đặc trưng "phong thổ" riêng về khí hậu, nhiệt độ , là khu vực "kiểu gió m ùa" thuộc ba loại hình "phong thổ" (kiểu gió mua, kiểu sa mạc, kiểu thảo nguyên) theo cách phân loại của triết gia Nhật Bản thế kỷ XX là Tetsuro Watsuji (1889-1960), và có những đặc thù riêng về "phong thô nhân văn" Con người sinh trường trong khu vực
"gió m ùa", một mặt có cảm xúc tinh tế phong phú, mặt khác nhân nại chịu khó, có ý thức lịch sử tương đối mạnh mẽ.1 Học thuyết của Tetsuro Watsuji tuy không tránh khỏi bị hoài nghi có tính địa lý quyết định luận, tuy nhiên khu vực Đông Á quả thực có tính tương đồng về khí hậu và môi trường
Khu vực Đông Á chính là "vùng tiếp xúc" (contact zone) mà ở đó trong hai nghìn năm qua, các quốc gia, các dân tộc, các nền văn hóa đã thực hiện các hoạt động giao lưu dựa trên sự chi phối bất bình đẳng và quan hệ thần phục.2 Trưóc thế kỷ XX, quyền lực mạnh mẽ chi phối Đông
Á thuộc đế quốc Trung Hoa; nửa đầu thế kỷ XX, đế quốc Nhật Bản trở thành thế lực lớn mạnh ở Đông Á, đem đến cho nhân dân các nước khác nỗi đau khổ và huyết lệ của việc bị xâm lược và nô dịch; nửa sau thế kỷ
XX, kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, nước Mỹ giành quyền
bá chủ ở Đông Á, thiết lập trật tự mới thời chiến tranh lạnh đối với khu vực này Bước sang thế kỷ XXI, sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp tục khiến cho trật tự kinh tế chính trị của Đông Á một lần nữa đối mặt với việc tái cấu trúc
Chư ơ ng I: Lịch sử giao lưu vân hóa Đ ô n g Á
1 Tetsuro Watsuji Phong thổ: khảo sát nhân học ( ® ± : Tokyo: Iwanami Shoten thưđiem, 1935, I960,1979.
2 Cái gọi là "vùng tiếp xúc" chỉ không gian xã hội của sự gặp gỡ, xung đột và va chạm giữa những
nền văn hóa khác nhau Tham khảo Mary L Pratt, Đôi mát Đế quốc: du hành ký sự và xuyên vàn
hóa (Imperial Eyes: Travel Writing and Transculturation), London: Routledge, 2000, d 992, tr.6.
27
Trang 24LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
Trong vùng tiếp xúc Đông Á này, đế quốc Trung Hoa đất rộng người đông, lịch sử lâu dài, không chi có ảnh hưởng lịch sử sâu sắc tới văn hóa, kinh tế, chính trị của các nước Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Na m mà còn đóng vai trò " trung tâm " của khu vực Đông Á ở một mức độ nhất định nào đó Quan sát từ lập trường của các nước xung quanh Đông Á, Trung Quốc là vùng khởi nguyên của những yếu tố văn hóa chung của Đông Á như văn hóa chữ Hán, Nho học, Đông y quả thực là một "khách quan không thể tránh né" lớn lao.1
Chính vì Trung Quốc đóng vai trò then chốt ở khu vực Đông Á, nên
đã khiến cho việc nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á càng thêm phức tạp và thách thức Có lẽ nên nói rằng 'T ru ng Quốc" trong lịch sử Đông Á là một cộng đồng văn hóa, xã hội, chính trị siêu "quốc gia", hơn
là một "quốc gia" (theo định nghĩa của lịch sử hiện đại) Vì vậy, trong lịch
sử giao lưu văn hóa Đông Á, các hoạt động giao lưu giữa Trung Quốc và Nhật Bản hoặc Triều Tiên với cách gọi tương ứng là giao lưu Trung Nhật hoặc giao lưu Trung Hàn sẽ không mang tính thực thể lịch sử bằng cách nói là giao lưu giữa khu vực Giang Triết với Nhật Bản, hoặc giao lưu giữa
Ị / _ _ 4 2 Í~I _ _ r - \ Ạ \ rr-1 • V\ r p Ạ
bán đáo Sơn Đông và Triều Tiên
2.2 Tâm nhìn m ới trong nghiên cứu "lịch sử khu vực": chuyển dịch từ
"kết quả" tới "quá trình"
Trên cơ sở phần trước, chúng tôi tiếp tục thảo luận về vấn đề phương pháp luận nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á Nghiên cứu về lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á như "lịch sử khu vực", vấn đề phương pháp luận đầu tiên cần bàn luận chính là: chúng ta có thể chuyển từ
nghiên cứu tập trung vào "kết quả" của hoạt động giao lưu văn hóa trong quá khứ sang nghiên cứu tập trung vào "quá trình" của hoạt động
giao lưu văn hóa, từ đó tiến hành một kiểu "chuyển dịch mô hình" trong nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á
' Koyasu Nobukuni -Ị-Ịỉm.ệẸi: Luận về chữ Hán: khách quan không thể tránh né
Í^ S / ÍỄ IIr lĩí, 2003 ^ ).Tro n g cuốn sách này, Koyasu Nobukuni nhấn mạnh chữ Hán
là "khách quan không thể tránh né" đối với các nước Đông Á.
28
Trang 25Nhằm giải thích cho những suy nghĩ về phương pháp luận đó, chúng
ta có thể tập trung thảo luận về bộ sách Những bài giảng vê lịch sử thê'giới
Iwanami do giới sử học Nhật Bàn nô lực xuất bản.1 Bộ sách này gồm 31
quyển, có tầm nhìn rộng lớn, khí thế mạnh mẽ Trong lời nói đầu của cả bộ sách, ban biên tập trước tiên phê bình rằng cái mà các sử gia Nhật Bản thời
kỳ Meiji (1868-1911) gọi là "sử thế giới" chỉ đồng nghĩa với "sử phương Tây" mà thôi.2 Thời kỳ Shõwa (Chiêu Hòa, 1926-1989), do ảnh hường của chủ nghĩa Marx, ý thức lịch sử của giới sử học thế giói nảy sinh biến đổi to lớn, dẫn đến việc vận dụng lý luận mới về "sử thế giới", đồng thời không ngừng nỗ lực phê phán quan điểm lịch sử theo chủ nghĩa lấy châu Âu làm trung tâm Tuy nhiên, chiến tranh Thái Bình Dương vốn coi "sứ mệnh đối vói lịch sử thế giới" của Nhật Bản làm cơ sở hợp lý hóa lại khiến cho cái Nhật Bản gọi là "sứ mệnh đối với lịch sử thế giói" ghi dấu vào lịch sử cùng với kết cục của Thế chiến thứ hai vấn đề "sử thế giới" sau chiến tranh
Chương I: Lịch sử giao lưu văn hóa Đ ô n g Á
1 Giới sử học Nhật Bản sau chiến tranh không ngừng nỗ lực đề xướng tầm nhìn "lịch sử thế giới", trong 20 năm từ Chiến tranh Thế giới kết thúc đến năm 1970 đã xuất bản tới hơn bốn mươi bộ sách có tiêu đề về "lịch sử thế giới" Tham khảo Cao Minh Sĩ Nghiên cứu lịch sử Trung Quốc của Nhật Bản sau chiến tranh Đài Bấc: Minh văn thư cục, 1996,
tái bản, tr.48, chú thích 1 Bộ sách Những bài giảng về lịch sử thế giới Iwanami gồm 31 quyển có
tính đại diện cao nhất, phát hành năm 1970-1971, in lẩn thứ hai vào năm 1974-1975.
2 Tồi cũng cẩn phải bổ sung rằng, nghiên cứu lịch sử phương Tây theo mồ thức Khai sáng phát triền đến thời hậu kỳ Meiji và sơ kỳTaisho là kết thúc Cuối thế kỷ XIX, khoa Sử học của Đại học
Đê quốc Tokyo dần xác lặp cơ sở, hình thành đội ngũ nhân tài Năm 1877, sử gia người Đức Ludwig Riess (1861-1928) đã tới giảng bài ở ĐH Đế quốc Tokyo, đem tới một phong khí học thuật mớỉ, sau dó KumezoTsuboi (1858-1936) sau khi du học cũng trở vể nước làm giáo SƯ của
ĐH Đế quốc Tokyo từ năm 1891 Từ sau năm Meiji thứ 13(1897), khoa Sử học đã bồi dưỡng được không ít nhân tài về lĩnh vực lịch sử phương Tây, nhưTakashi Sakaguchi (1872-1928), Kengo Murakawa (1875-1946), Ginzo Uchida (1872-1919) đều là những nhân vật xuất chúng Năm
1906, Đại học Đế quốc Tokyo cũng thành lập Học viện Văn học, Takashi Sakaguchi phụ trách giảng dạy về lịch sử phương Tây Takashi Sakaguchi và đồng nghiệp Katsurõ Hara (1871-1924)
đã cùng nhau khởi xướng phong trào nghiên cứu về lịch sử phương Tây ở ĐH Tokyo Ngày 1 tháng 1 năm 1889, một số thế hệ sinh viên của GS thỉnh giảng ĐH Tokyo Ludwig Riess đã sáng lập nên "Tạp chí Hội Sử học" (sau đổi tên thành 'Tạp chí Sử học"), phương châm biên tập thời
kỳ đầu đều tiếp nhận chỉ dẫn của GS Ludwig Riess Năm 1908, Takashi Sakaguchi mở ra "Hội Nghiên cứu Sử học" thuộc ĐH Tokyo, và năm 1916 sáng lập tạp chí "Sử lâm" nhằm khích lệ các học giả sử dụng tầm nhìn thế giới để nghiên cứu lịch sử Đông Tây Tham khảo Saburõ Sakai /3
Lịch sử phát triển của sử học về phương Tây của Nhật Bản ( B Tokyo: Văn quán Yoshikawa, 1969.
29
Trang 26LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lư u VĂN HÓA ĐÔNG Â.
nằm ở những sai lệch giữa nghiên cứu và giáo dục, bộ sách này dành tâm huyết vừa phê phán vừa chọn lọc kế thừa từ các lý luận về "sử thế giới", coi ý thức vấn đề chủ thể quốc dân của Nhật Bản là cơ sở, dựa trên thành quả nghiên cứu cụ thế để viết về "sử thê' giới", do đó ban biên tập của bộ sách đã phân chia "sử thế giới" từ cổ chí kim thành 8 loại thế giới lịch sử:1) Thế giới Cận Đông cô đại; 2) Thế giới Địa Trung Hải; 3) Thế giói lịch sử Đông Á; 4) Thế giới Đông Á; 5) Thế giới lục địa châu Á; 6) Thế giới Tây Á; 7) Thế giới châu Âu trung cổ; 8) Thế giới cận đại.1
Những bài giảng v'ê lịch sử th ế giới Iwanami tuy có tuyên ngôn về tầm
nhìn "sử thế giới" nhưng mỗi quyến mỗi chương về cơ bản đều tiến hành dựa trên khung lý luận về "sử quốc gia" Chúng ta thử xem xét vấn đề
của bộ sách này thông qua ví dụ trong quyển Cổ đại 4, Sự hình thành của
thê'giới Đông Á, phần 1 Cuốn này bao gồm 12 chương, đề mục các chương
như sau:
Chương 1: Sự hình thành của văn minh Hoàng Hà
Chương 2: Cơ câ'u của nhà nước Ân Chu
Chương 3: Sự hình thành của cổ điển
Chương 4: Nhà nước và xã hội thời đại Xuân Thu Chiến Quốc
Chương 5: Học thuyết của Bách gia Chư tử
Chương 6: Sự hình thành quyền chi phối của Hoàng đế
Chương 7: Kết cấu chi phối của vương triều Hán
Chương 8: Thống nhất đơn vị đo lường, bánh xe và độc quyền buôn
bán muối, sắtChương 9: Sự hình thành của Nho giáo
Chương 10: Sự xuất hiện của chính quyền Vương Mãng
Chương 11: Vương triều Hậu Hán và các gia tộc lớn
1 Những bài giảng về lịch sử thế giới Iwanami (ế u Ễ S tÌẫ ÌỄ # B 8 5 È ) Tokyo: Iwanami thư điếm,
1969-1980, Cổ đại 1, Lời tựa, tr 1-9.
30
Trang 27Chương ỉ: Lịch sử g iao lưu văn hóa Đ ô n g Á
Chương 12: Đế quốc Hán và các dân tộc xung quanh
Như vậy nội dung bàn tới trong cả 12 chương sách trên hoàn toàn là những sự kiện, tư tưởng hoặc nhân vật lịch sử thuộc lịch sử Trung Quốc,
do đó, nếu đổi tên quyển này từ Sự hình thành của thê'giới Đông Á thành
Sự hình thành của th ế giới Trung Hoa củng không phải là không thể.
Nội dung của bộ sách Những bài giảng ve lịch sử th ế giới Iwanami hiển
thị ít nhất hai vấn đề: Thứ nhất, các quyển trong bộ sách được tổ hợp
theo kiểu "khảm ghép" (mosaic) một cách cơ giới, chứ không phải là một bức họa thủy mặc mang tính chỉnh thê hữu cơ, vì vậy do luận thuật
cúa mỗi quyển đều tiến hành trong bối cảnh tư duy của "sử quốc gia" chứ không phải "sử thế giới" nên khó tránh khỏi cái mà nhà tư tưởng châu Âu Jack H Hexter (1910-1996) gọi là "hiệu ứng đường hầm " (tennel effect) trong nghiên cứu lịch sử.1 Lấy ví dụ từ tiêu đề các chương trong cuốn
Sự hình thành của thê'giới Đông Á, những chủ đề đó đều có tính quan trọng
đối với dòng chảy lịch sử Trung Quốc, nhưng nếu đặt trong toàn bộ lịch
sử thế giói thì tính quan trọng và ý nghĩa lịch sử đó sẽ có những định vị khác nhau
Thứ hai, do ''thoát bối cảnh" (de-contextualization) khỏi lịch sử thế
giới, từ đó dân đến việc trong các chương, nội dung luận thuật chú trọng tới "kết quả" mà xa rời "quá trình" phát triển của văn hóa Ví dụ trong
Sự hình thành của thê'giới Đông A, các chương về cơ cấu của nhà nưóc
Ân Chu, kết cấu chi phối của vương triều Hán hay thống nhất đơn vị đo lường, bánh xe và độc quyền buôn bán muối, sắ t đều bàn luận về hình thái phát triển hoàn chỉnh của chế độ chính trị hoặc chính sách kinh tế, chỉ
có chương 6 về "Sự hình thành quyền chi phối của Hoàng đế" do Sadao Nishijima viết là đề cập tới quan hệ giữa thể chế hoàng đ ế của Trung Quốc và sự hình thành của thế giới Đông Á
Xuất phát từ những thào luận trên, chúng ta có thể thấy ý nghĩa
to lớn của việc chuyển hướng từ coi trọng "kết quả" thành coi trọng
1 Jack H Hexter, Nhận định lại về Lịch sử (Reappraisals in History), Evanston, III.: Northwestern University Press, 1961, tr.194-195; David H Fischer, Sai lầm của sử gia: về logic củo tư duy lịch
sử (Historians' Fallacies: Towards a Logic of Historical Thought), New York: Harper Colophon
Books, 1970, tr 142-144.
31
Trang 28LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
"quá trình" trong phương pháp nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á Sự chuyển hướng đó của phương pháp nghiên cứu có thể dẫn tới
ba phương hướng nghiên cứu mới:
1) Thay đổi từquan điểm cấu trúc sang quan điểm phát triển: Nghiên cứu văn hóa coi trọng "kết quả" đa phần thường nghiêng về nghiên cứu tĩnh, tập trung phân tích những yếu tố chung có tính kết cấu của văn hóa
Ví dụ, Sadao Nishijima khi viết phần "Tổng luận" của quyển 4 Sự hình
thành của thê'giới Đông Á đã chỉ ra thế giới Đông Á như một vòng khuyên
văn minh lịch sử bao gồm bốn tiêu chí lớn: 1) Văn hóa chữ Hán; 2) Nho giáo; 3) Chế độ pháp luật; 4) Phật giáo.1 v ề cơ bản, bốn tiêu chí này đều tù’ quan điểm cấu trúc nhìn nhận tính chung của thế giới lịch sử Đông
Á Tuy nhiên, nếu chúng ta tập trung vào quá trình động thái của lịch sử văn hóa Đông Á, thì sẽ đặc biệt chú ý tới việc bốn tiêu chí văn hóa chữ Hán, Nho giáo, chế độ pháp luật và Phật giáo, trong quá trình phát triển của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều có hiện tượng "bản địa hóa" hay "bản thổ hóa" cùng với những nội hàm khác biệt của chúng được khai phá
2) Thay đổi từ "trung tâm" sang "ngoại biên": Sự thay đổi từ "cấu trúc" sang "quá trình" trình bày ở trên đã dẫn đạo cho sự thay đổi trong nhãn quan của những người làm công tác sử học từ "trung tâm" sang
"ngoại biên"
Nếu chỉ nhìn vào "kết quả" phát triển văn hóa Đông Á, thì chúng ta
sẽ giống như Sadao Nishijima coi chữ Iián , Nho giáo, luật lệ, Phật giáo là bốn tiêu chí quan trọng của văn hóa Đông Á, bởi vì bốn nhân tố lớn này
là "biểu hiện" (manifestation) chín muồi nhất cho sự phát triển cúa văn hóa Đông Á Cũng chính vì thế, Sadao Nishijima tiếp đó đã cho rằng thê' giới Đông Á trong lịch sử chính là một trong những thế giới lịch sử cùng tồn tại trong lịch sử thế giới đa nguyên trước thời kỳ cận đại, là "m ột thế
giới của lịch sử hoàn chỉnh và tự điều tiết".2 Tuy nhiên, những tư liệu
1 Sadao Nishijima: Tổng luận, trong Những bài giảng về lịch sử thế giới Iwanami
5È), Tokyo: Iwanami thư điếm, 1969-1980, cổ đại 4, tr 5 Tham khảo Cao Minh Sĩ iHjafjdr: Nghiên
cứu về lịch sửTrung Quốc của Nhật Bản sau chiến tranh, bản hiệu đính, trang 40,70-72.
2 Sadao Nishijima: Tổng luận, sđd.Tr.7.
32
Trang 29nghiên cứu gần đây đã cho chúng ta thấy rằng: từ xưa tới nay, các dân tộc
đã sớm thực hiện những giao lưu xuyên văn hóa Trong khoảng năm 2000
- 1000 tr.CN, giữa thế giới cổ đại phương Đông và phương Tây đã sớm có những giao lưu về kỹ thuật luyện kim, từ đó hình thành nên "con đường
tơ lụa".1 Chúng ta có thê nói rằng, Đông Á trong lịch sử, từ trước tới nay không phải là một thế giới lịch sử "hoàn chinh", "tự điều tiết"
Học thuyết của Sadao Nishijima về mặt phương pháp luận đã được xây dựng trên một loại già thuyết, cho rằng: trong mối quan hệ giao lưu đặc thù và cụ thể giữa các nước ở Đông Á tồn tại một "trung tâm" mang tính trừu tượng nhưng phổ biến, " trung tâm" này có đầy đủ các yếu tố văn hóa và dần dần "khuếch trương" (unfolding) 6 khu vực "ngoại biên" Quan điểm sử học về giao lưu văn hóa này một cách vô thức đã đặt sự hình thành và phát triển của văn hóa tất cả các khu vực "ngoại biên" vào lịch trình phát triển hướng về hoặc tách rời so với "trung tâm" Quan điếm đó về văn hóa Đông Á tiềm tàng một loại hình "nhất nguyên luận văn hóa" (cultural monism) và "nhất nguyên luận chính trị" (political monism), nhấn mạnh giữa "trung tâm" và "ngoại biên" tồn tại "nguyên tắc phụ thuộc" (principle of subordination) mà không phải là "nguyên tắc cùng tồn tại" (principle of coordination).2
Tuy nhiên, một khi chúng ta áp dụng cách quan sát từ phương diện
"quá trình" mà không phải là từ "kết quả" đối với lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á, nhãn quan của chúng ta sẽ từ "trung tâm" chuyển dịch sang
"ngoại biên",3 sẽ nhận thấy sự tương tác, xung đột, tái tạo, chuyển hóa hoặc dung hợp giữa "bản ngã" (self) cùa con người mỗi khu vực vói "tha nhân" (others, hoặc dịch là "người k h á c " S S ) trong quá trình tác động qua lại giữa các nền văn hóa trong khu vực Đông Á, vì vậy, mệnh đề chung hoặc lý niệm về giá trị của văn hóa Đông Á không tách rời ở một
Chương I: Lịch sử giao lưu văn hóa Đ ô n g Á
1 Victor H Mair (chủ biên), Tiếp xúc và trao đổi trong thế giới cồ đại (Contact and Exchange in the
Ancient World Honolulu: University of Hawaii Press, 2006).
2 "Nguyên tắc phụ thuộc" và "Nguyên tắc cùng tồn tại" là những thuật ngữ do Mâu Tông Tam
sáng tạo Tham khảo Mâu Tông Tam: Phản tư về ván hóa Trung Quốc, Đài Bắc: Công ty xuất bản
Liên Kinh, 1983, tr 68.
3 Đương nhiên, điều này không có nghĩa nói rằng Trung Quốc - một "trung tâm" trong lịch sử
là không quan trọng Thực tế, Trung Quốc là "tha nhân không thể tránh né", vẫn có ảnh hưởng rất lớn tới các nước Đông Á.
33
Trang 30LỸ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GỈAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
"trung tâm " duy nhất hoặc giá trị hạt nhân đơn nhất có tính chi phối ở bên trên các nước Đông Á Ngược lại, mệnh đề chung của văn hóa Đông
A chỉ có thể hình thành bên trong quá trình tương tác cụ thể giữa các nước, và lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á cũng có thể coi là quá trình các quốc gia Đông Á kiến tạo tính chủ thể văn hóa của riêng mình Như Trần Tuệ Hoành (1968-) gần đây khi giới thiệu về học thuyết của học giả Bỉ là Nicolas Standaert (1959-) đã nói:
Trong "quá trình" (process) và tiếp xúc của những tương tác qua lại, chênh lệch hoặc đồng hiện của quan điểm đa nguyên là góc nhìn mà các nhà nghiên cứu cần chú ý, chứ không chỉ chuyên chú tới chủ thể (subject) đơn nhất, như giáo sĩ truyền giáo hoặc người Trung Quốc; hoặc khách thể (object) như Cơ đốc giáo hoặc văn hóa phương Tây.1
Chính sự chuyển dịch từ "kết quả" sang "quá trình" dẫn đến những thay đổi từ "trung tâm" sang "ngoại biên" được nói tới ở đây đã khiến cho chúng ta càng nhận thấy rõ hơn tính đa dạng đa nguyên của văn hóa Đông Á, mỗi vùng văn hóa đều có tính chung (như Sadao Nishijima nói)
và đồng thời có tính đặc thù riêng, như cái gọi là "Vạn vật tĩnh quan giai
tự đắc" [lĩn h tâm quan sát vạn vật thì đều sẽ đạt được thu hoạch thú vị]!
3) Từ văn bản đến bối cảnh: Sau khi chúng ta chuyển hướng trọng
tâm nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á từ "kết quả" sang "quá trình", đối tượng nghiên cứu củng từ "văn bản" (text) chuyển thành "bối cảnh", hoặc ít nhất "văn bản" và "bối cảnh" cũng quan trọng như nhau Chúng ta có thể lấy ví dụ tù việc đi sâu phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa việc thông diễn kinh điên và quyền lực chính trị trong lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á
Trong lịch sử các nước Đông Á trước thế kỷ XX, tầng lớp trí thức đều thông hiểu kinh điển Nho gia, họ tiếp nhận, giải mã và vận dụng văn ban kinh điển Nho gia trong bối cảnh hiện thực vương quyền chiếm lĩnh đỉnh cao ở Đông Á, cấu thành một mối quan hệ phức tạp giữa kinh điển Nho
' Trần Tuệ Hoành Phương pháp luận vê sự gặp gỡ vân hóa: Tám nhìn mới trong nghiên ciu phân tích giao lưu vân hóa Đông Tây
Đài Đại lịch sử học báo, số 40, tháng 12 năm 2007, tr 239-278, trích dẫn xem tr.253.
34
Trang 31gia và quyền lực chính trị trong tiến trình lịch sử Đông Á Trong chương
VI của cuốn sách này, chúng tôi tiến hành chỉnh lý một số tư liệu chú giải
của các nhà Nho Đông Á đối với kinh điển như Luận ngữ và Mạnh T ử ,
các đề thi trong các kỳ thi thời Minh (1368-1644), tư liệu "N gự độc cấm kỵ" được phê chú khi giảng sách Mạnh Tử trong cung đình Nhật
Bản thời kỳ Edo (1603-1868), và tư liệu ghi chép việc trích dẫn kinh điển trong đối thoại giữa vua tôi ở Trung Quốc thời nhà Hán (206 tr.CN - 220S.CN) và thời Đường (618-907) Trên cơ sở phân tích đó, chúng tôi phát hiện những người dịch chú kinh điển Nho gia ở Đông Á thường mang song trùng thân phận, vừa là Nho gia vừa là quan viên, vì vậy sự nghiệp dịch chú kinh điển của họ có mối liên quan mật thiết tới quyền lực chính trị Tóm lại, quan hệ đó bao gồm: Thứ nhất, quan hệ giữa việc dịch chú kinh điển và quyền lực chính trị có tính chất không thể tách rời; Thứ hai, quan hệ đó còn mang tính cạnh tranh; Thứ ba, người dịch chú nỗ lực duy trì tính cân bằng giữa hai khía cạnh này.1
Nếu áp dụng quan điểm nghiên cứu lịch sử văn hóa truyền thống thì việc nghiên cứu vấn đề này sẽ tập trung vào văn bản kinh điển, phân tích các nhà tư tưởng tinh hoa của các nước đã giải thích ván bản ra sao Tuy nhiên, nếu vận dụng quan điểm nghiên cứu lịch sử văn hóa mới, chúng
ta sẽ chú ý tói bối cảnh thời đại và hoàn cảnh khi học giả các nưóc đọc giải văn bản kinh điển, đồng thời cũng chú ý tới vấn đề văn bản đã ảnh hường hoặc làm biến đổi bối cảnh khi đó ra sao Nếu cho rằng tập trung vào phân tích văn bản là con đường nghiên cứu theo kiểu "nhập hồ kỳ nội" [thâm nhập vào nội dung], thì chúng ta cũng không ngại nói rằng việc quan tâm tới bối cảnh, hoàn cảnh là con đường nghiên cứu kiểu "xuất
hồ kỳ ngoại" [quan sát từ bên ngoài], cả hai cách thức có thể bổ sung cho nhau, quan sát cả trong ngoài, đạt được kết quả nghiên cứu
Chương I: Lịch sử giao lưu văn hóa Đ ô n g Á
1 Hoàng Tuấn Kiệt, Luận về mối quan hệ giữa thông diễn kinh điển Nho gio và quyền lực chính trị
của cóc nhà Nho Đông Á: trường hợp Luận ngữ, Mạnh Tử, Đài Đại lịch sử học báo, số 40,12/2007,
tr.1-18 (Chun-chieh Huang, On the Relationship between Interpretations of the Confucian Classics and Political Power in East Asia: An Inquiry Focusing upon the Analects and Mencius, The Medieval History Journal, Vol 11, No 1 (Jan.-June, 2008), pp 101,122) Phần này được biên tập lại thành nội dung Chương 6 của cuốn sách này.
35
Trang 32LỸ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TR O N G GIAO Lư u VĂN HÓA ĐÔNG Á.
2.3 Mối quan hệ giữa "lịch sử khu vực" với "lịch sử quốc giơ"
và "lịch sử toàn cầ u "
Vấn đề phương pháp luận thứ hai trong nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á với tư cách "lịch sử khu vực": Mối quan hệ giữa "lịch sử khu vực" vói "lịch sử quốc gia" và "lịch sử toàn cầu" ra sao?
Trước tiên, vấn đề này có thể dẫn dắt chúng ta suy nghĩ về: bản chất phạm trù nghiên cứu "lịch sử khu vực" Tôi cho rằng, lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á với tư cách là "lịch sử khu vực" không phải là một khung khái niệm trừu tượng phi thời gian, phi không gian Ngược lại, nó chính
là một lĩnh vực nghiên cứu được tiến hành dưới những tương tác qua lại trong một thời gian và không gian cụ thể và đặc thù Trong lĩnh vực này,
cố nhiên chứa đựng rất nhiều khô đau và huyết lệ của nhân dân các nưóc, cũng như sự thất vọng đối với hiện thực chính trị của tầng lớp trí thức Nho gia Chúng ta cũng có thể nhìn thấy toàn bộ những kết nối qua lại xuyên biên giới giữa các thương nhân, con đường của những phái đoàn
sứ thần liên tục giữa các nước, việc tầng lóp trí thức các nưóc tiến hành giải thích các loại văn bản kinh điển từ chính bối cảnh văn hóa đất nước mình, đồng thời đối thoại cách không với học giả nước khác trong chính các tác phẩm của mình, trở thành những bạn hữu tâm giao chưa gặp mặt
hoặc tri âm không cùng thời đại Chính vì thế, khái niệm gọi là "lịch
sử khu vực" xuất hiện trong chính mối quan hệ tương tác giữa "lịch
sử quốc gia" của các nước, và không phải là một phạm trù trừu tượng thuộc "lịch sử quốc gia".
H an nữa, cái gọi là "lịch sử toàn cầu" và "lịch sử khu vực" cũng là hai phạm trù nghiên cứu được hình thành từ sự tương hỗ lẫn nhau Gần đây, lĩnh vực nghiên cứu về "lịch sử toàn cầu" được giới sử học thế giới
đề xướng, nhìn từ tầm nhìn nghiên cứu là toàn cầu của lĩnh vực này quả thực không có khác biệt cơ bản với cái gọi là "lịch sử thế giới" (world history) nổi lên sau Thế chiến thứ hai Ngay từ năm 1953 sau Thế chiến,
Tạp chí lịch sử thê'giới (Journal of World H istory) đã ra đời, bộ tùng thư Lịch sử nhân loại cũng đã bắt đầu được xuất bản năm 1963.1 Các tác phẩm
1 Hội đồng quốc tế vể lịch sử khoa học và phát triển vân hóo của nhân loợi, lịch sử nhân loại: Sự
phát triển của vãn hóo và khoa học (International Commission for a History of the Scientific and
Cultural Development of Mankind, History of Mankind: Cultural and Scientific Development (New York: Harper & Row, 1963)).
36
Trang 33về lịch sử thế giới sau chiến tranh đều nhấn mạnh việc nghiên cứu lịch sử cần phải tập trung vào những sự kiện lịch sử đặc thù nhưng có ý nghĩa thế giới của các khu vực.1 Những sự kiện hoặc nhân vật lịch sử cụ thể của các quốc gia hoặc các khu vực được đặt trong bổi cảnh toàn cầu để đánh giá Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể nói: "lịch sử khu vực" - những kinh nghiệm mang tính khu vực chính là một bộ phận cấu thành nên "lịch sử toàn cầu" Nếu tách khỏi kinh nghiệm lịch sử cụ thể mà đặc thù của con người từng khu vực, thì cái gọi là "lịch sử toàn cầu" sẽ trở thành khái niệm trừu tượng trống rỗng và khuyết thiếu nội dung cụ thể Ở phương diện ý nghĩa "lịch sử khu vực", như là một bộ phận cấu thành nên "chỉnh thể" của "lịch sử toàn cầu", chúng ta có thể tiến tói nhận định rằng: cái gọi là "lịch sử toàn cầu" có thể được lý giải là "lịch sử liên khu vực" hoặc gọi như Akira Iriye là "lịch sử xuyên quốc gia" (transnational history).2
Chương I: Lịch sử giao lưu văn hóa Đ ô n g Á
1 Ví dụ như Leften s Stavrianos, Thể giới tới nâm 7500: Một lịch sửtoàn cầu (The World to 1500: A
Global History (Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall, 1975), pp 4-5).
2 Akira Iriye ban đẩu nghiên cứu về lịch sử ngoại giao Hoa Kỳ và lịch sử quan hệ quốc tê^trọng tâm là nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa Hoa Kỳ và Đông Á, tác phẩm rất phong phú, được giới
sử học đánh giá cao Từ nảm 1980, Akira Iriye đặc biệt đề xuất nghiên cứu "lịch sử xuyên quốc gia", năm 1988 khi đảm nhiệm vị trí hội trưởng Hội Sử học Hoa Kỳ, ông đã phát biểu để từ trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của tầm nhìn quốc tế của nghiên cứu lịch sử trong trào
lưu toàn cầu hóa, tham khảo Akira Iriye: Quốc tế hóo của lịch sử (The Internationalization of
History, American Historical Association Presidential Address, 1988 [2], website: http://www historians.org/info/AHA_History/airiye htm) Akira Iriye cho rằng nghiên cứu lịch sử có thể phân loại thành lịch sử quốc gia (national hiHstory), lịch sử khu vực (regional history), lịch sử quan hệ quốc tế (international history), lịch sửtoàn cầu (global history), lịch sửxuyên quốc gia (transnational history), lịch sửxuyên quốc gia sở dĩ quan trọng là bởi vì lĩnh vực này có thể thúc đẩy sự thấu hiểu và đối thoại giữa các nền văn hóa, xoa dịu những xung đột giữa các quốc gia;
và bởi vì có những giao lưu về văn hóa nên có thể đạt tới một trật tự quốc tế hòa bình và hợp tác, xây dựng được chủ nghĩa quốc tế văn hóa (cultural internationalism), tham khảo Akira
ỉriye, Chủ nghĩo quốc tế vân hóa và trật tự thế giới (Cultural Internationalism and World Order,
Baltimore, Md.: Johns Hopkins University Press, 1997) Ngày 18/11/2007, Akira Iriye đã tới ĐH Đài Loan thuyết trình theo lời mời của Viện nghiên cứu cấp cao về KHXHNV của chúng tôi, ông nhấn mạnh nghiên cứu "lịch sử xuyên quốc gia" là chủ đề mang tính toàn cẩu và đang phát triền thành đối tượng nghiên cứu không chịu sự giới hạn của cương giới, cũng không chịu sự hạn chế bởi bất kỳ quốc gia hay khu vực đặc biệt nào Toàn cầu hóa đã khiến cho nhiều nhà sử học bắt đáu nhặn thấy rằng, lịch sử của mỗi quốc gia, mỏi khu vực cần được nhìn nhận như là một bộ phận của lịch sửtoàn cầu, tham khảo"Bản tin ĐH Đài Loan"số 899 (28/11/2007), bản 4.
37
Trang 34LỸ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
2.4 Vấn để "chuyên hướng m ang tính bối cảnh" trong nghiên cứu
về "lịch sử khu vực"
Chủ đề thứ ba về phương pháp luận chính là vấn đề "chuyển hướng mang tính bối cảnh" (contextual turn) trong nghiên cứu "lịch sử khu vực" Mấu chốt của vấn đề phương pháp luận này là ở chô: trong lịch sử giao lưu văn hóa Đông A, tất cả những gì gọi là "sản phẩm văn hóa" như điển tịch, lý niệm giá trị đều là sản vật của bối cảnh văn hóa cụ thể và đặc thù, đều mang tính không gian và thời gian riêng biệt.1 Chính vì vậy, trong lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á, việc truyền bá bất kỳ sản phẩm văn hóa nào (nhất là văn bản kinh điển) tới ngoại bang đều phải trải qua
sự " chuyển hướng mang tính bối cành" ở những mức độ khác nhau, mói
có thể bắt rễ ở vùng đất mói T hế kỷ XVI, nhà Chu Tử học của Triều Tiên
là Yi Hwang (Lý Hoảng, hiệu Thoái Khê, 1502-1571) trong tác phẩm Chu
Tử thư tiết yêu T^-pilrtp1! : (hoàn thành năm 1556) đã không ngừng nhấn
mạnh sự khác biệt về lịch sử, địa lý giữa Trung Quốc và Triều Tiên, do
đó cần phải tiến hành "tóm lược" [tổn ước, ÍH^J] đối với các tác phẩm của Chu Tử ^ ^ ( h i ệ u Hối Am, 1130-1200), mơi có thể phù hợp với việc đọc của các Nho gia Triều Tiên.2 Yi Hwang đề xuất việc "tổn ước" ở đây tuy vốn có nghĩa ban đầu là tóm tắt, nhưng cũng bao gồm cả ý nghĩa
"chuyển hướng mang tính bối cảnh" mà chúng tôi đã nói tới Gần đây, tôi có sử dụng những độc giải về "Luận ngữ" của các nhà Nho Nhật Bản thời kỳ Tokugawa (1603-1868) để chứng minh cái gọi là "chuyển hướng
1 Sử dụng từ của Roger Chartier, tham khảo Roger Chartier, Bên rìa vách đá: Lịch sử, ngôn ngữ và
thực tiễn (On the Edge of the Cliff: History, Language, and Practices, Lydia G Cochrane trans
(Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1997)) Nghiên cứu của Roger Chartier về cái gọi
là "sản phẩm văn hóa" nhằm nhấn mạnh không phải là những vấn đề thuộc lịch sử xã hội như
sự sáng tạo và lưu truyền của thư tịch hoặc văn bản, hoặc thân phận "độc giả", nội dung hoặc địa điềm đọc sách, mà tập trung vào việc trong những hoạt động văn hóa đặc thù, độc giả làm thế nào để lý giải những vấn đề xâ hội tự thân như quan điểm, tín ngưỡng, văn bản hoặc
thư tịch , tham khảo Roger Chartier, Lịch sử vàn hóa mới có tồn tại không? r UrẴ/íbíÈ J ì¥
f t ® ? , Dương Doãn Tuyên dịch, Tạp chí nghiên cứu văn minh Đông Á Đài Loan, số 1, 6/2008 Giáo sưTần Mạn Nghi đã cùng tôi thảo luận vễ khái niệm "sản phẩm văn hóa" của Roger Chartier, và tôi đã có rất nhiều thu hoạch mới, xin bày tỏ cảm ơn tới Giáo sư.
2 Yi Hwang Chu Tửthưtiếtyếu tự: Đào Sơn toàn thư4 ^ lU Ề S » , Seoul,
Viện nghiên cứu Thoái Khê, 1988, Thoái Khê học tùng 11», tập 3, quyền 59,1988, tr.259.
38
Trang 35mang tính bối cảnh" nhằm chỉ: trước tiên tiến hành "thoát bối cảnh hóa" (de-contextualization) đối vói những khái niệm hoặc giá trị quan trọng trong các kinh điển Nho học vốn thuộc bối cảnh văn hóa Trung Quốc, sau đó tiếp tục lựa chọn và đặt vào bối cảnh của hệ thống tư tường hoặc văn hóa của Nhật Bản để thực hiện những giải thích mới Công việc chuyển hướng mang tính bối cảnh xuyên văn hóa này được tiến hành trong bối cảnh bao gồm hai tầng lớp khác nhau của trật tự chính trị thế giói Đông Á (đặc biệt là trật tự Hoa Di) và tư tường chính trị (đặc biệt là quan hệ quân thần), sẽ kích thích nhiều vấn đề về thông diễn kinh điển xuyên văn hóa nảy sinh.1
Những nhân vật quan trọng nhất trong quá trình " chuyển hướng mang tính bối cảnh" của "sản phẩm văn hóa" kinh điển Nho gia trong lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á chính là các nhà Nho, và trong xã hội của từng nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, nhà Nho lại có vai trò và địa
vị riêng biệt, ơ Trung Quốc, các bậc Nho gia đã phát huy vai trò xã hội và chính trị quan trọng tù sau thời Tống, họ trở thành các bậc sĩ đại phu làm quan triều đình thông qua khoa cử, sau khi cáo quan lại trở thành các bậc hương thân ở địa phương Trong thời đại Joseon (1392-1910), tầng lớp trí thức Nho gia dần lớn mạnh và trở thành giai cấp "Yangban" (lưỡng ban
M ĩiĩ) rất có thế lực Còn "Jusha" [nhà Nho] trong xã hội Nhật Bản thời
kỳ Tokugawa lại dùng để chỉ những trí thức thông thường, không chia sẻ quyền lực chính trị.2 Ví dụ có tính tiêu biểu nhất cho sự " chuyển hướng
Chương I: Lịch sử giao lưu văn hóa Đ ô n g Á
1 Hoàng Tuấn Kiệt: Bàn về lịch sử thông diễn Luận ngữ của Nhật Bản thời Tokugawa, Đài Bắc, Trung tâm xuất bản ĐH Đài Loan, 2006, tái bản 2007, tr.43; Chun-chieh Huang, về sự chuyển
hướng mong tính bối cảnh trong việc thông diễn kinh điển Nho gia ở Nhật Bản thời kỳ Tokugavvơ: Loại hình và ván đề (On the Contextual Turn in the Tokugawa Japanese Interpretation of the
Confucian Classics: Types and Problems, Dao: A Journal of Comparative Philosophy, Vol 9, No.
2, June, 2010,
2 Tham khảo Hiroshi Watababe, Nhà Nho> người đọc sách và lưỡng bon: Nhà Nho ở Nhật Bản,
Trung Quốc và Triều Tiên (Jusha, Literati and Yangban: Confucianists in Japan, China and Korea),
trong Tadao Umesao, Catherine c Lewis and Yasuyuki Kurita eds., Japanese Civilization in the Modern World V: Culturedness, Senri Ethnological Studies 28, Osaka: National Museum of
Ethnology, 1990, tr.13-30); Watababe ỈS ỉỀ ỉa ' Nhà Nho, người đọc sách, và lưỡng ban: Hình thái
tồn tại của những người có giáo dục Nho học À -fflH E-í§^Ểfó r
đưa vào Cùng tác giả: Tư tưởng vương quyền ở Đông Á ( Ệ 7 ' / 7 COdEfii h S Ĩ S )) ,Tokyo:
Hội xuất bản Đại học Tokyo, 1997, tr 115-141.
39
Trang 36mang tính bối cảnh" này chính là danh xưng "Trung Quốc" thường thấy trong kinh điển Trung Quốc Trong bối cảnh văn hóa Trung Quốc, từ
"Trung Q uốc" dùng trong kinh điển vừa chi "nhận đồng văn hóa", vừa chỉ "nhận đồng chính trị", cả hai ý nghĩa gắn kết chặt chẽ Tuy nhiên, khi nhà Nho Nhật Bản thời Tokugawa bắt gặp từ 'T ru n g Quốc" trong lúc nghiên cứu về kinh điển Trung Quốc, sẽ dẫn tói sự giằng co mạnh mẽ
*“ giữa "nhận đồng thân phận chính trị" và "nhận đồng thân phận văn hóa"
của chính họ, bởi vì "Trung Quốc" đối với các nhà Nho Nhật Bản mà nói, vừa là quê hương về văn hóa, tinh thần của họ, vừa là một nước khác trên hiện thực và về chính trị, do đó họ thường giải thích từ 'T ru n g Quốc"
là chỉ Nhật Bản, chủ trương rằng Nhật Bản đạt được đạo của Khổng Tử, nên mới xứng đáng với danh xưng "Trung Quốc" Còn ở Đài Loan thời cận đại, từ 'T ru n g Quốc" phân thành hai ý nghĩa, hoặc chỉ "Trung Quốc
về mặt văn hóa", hoặc chỉ 'T ru n g Quốc về mặt chính trị".1 Nhửng cách
" chuyển hướng mang tính bối cảnh" này quả thực là hiện tượng quan trọng trong nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á, có liên quan tới rất nhiều vấn đề phương pháp luận nghiên cứu, đáng được quan tâm đi sâu nghiên cứu hơn nữa
Khi chúng ta tiếp cận lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á từ góc độ những "chuyển hướng mang tính bối cảnh", chúng ta có thê tiến hành một công việc mà nhà Nhằn học Clifford Geertz (1926-2006) gợi là "miêu
tả sâu" (thick description) đối vói lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á.2
1 Chi tiết xin xem thêm: Chun-chieh Huang; Ỷ niệm vê Trung Quốc' và những biến đồi của
nó ở Nhật Bản thời kỳ đâu hiện đại và ở Đài Loan đương đại (The Idea of 'Zhongguo' and Its
Transformation in Early Modern Japan and Contemporary Taiwan), "Nghiên cửu Hán học Nhật
Bản", số 2, 3/2007, Tokyo, tr.398-408, tr.398-408); Hoàng Tuấn Kiệt Luận về hàm nghĩa của khái niệm 'Trung Quốc' trong kinh điển Trung Quốc và sự biển đổi của nó ở Nhật Bản thời kỳ
Tạp chí Nghiên cứu văn minh Đông Á Đài Loan, tập 3; kỳ 2,12/2006, tr.91 -100, được
bổ sung sửa chữa thành nội dung chương 4 của cuốn sách này.
2 Clifford Geertz: Thông diễn võn hóa: tập tiểu luận (The Interpretation of Cultures: Selected Essays,
New York: Basic Books, Inc., 1973), tr 3-32 Khái niệm "miêu tả sâu" của Clifford Geertz nhìn nhận văn hóa là hệ thống biểu tượng và ý nghĩa, đả nhận được rất nhiều bình luận từcác học giả, những
phê bình sớm nhất là: Aletta Biersack: Tri thức địa phương, lịch sử địa phương: Geertz và những
người khác (Local Knowledge, Local History: Geertz and Beyond, in The New Cultural History,
ed by Lynn Hunt (Berkeley: University of California Press, 1989, pp 72-96)) Roger Chartier phê phán Geertz và cho rằng thuyết"ý nghĩa" về hệ thống văn hóa của ông không thể bao gổm thực
thể xã hội, tham khảo Jonathan Dewald: Roger Chortier và số phận của lịch sử vân hóa (Roger
LÝ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VÃN HÓA ĐÔNG Á
40
Trang 37Tuy từ thập niên 80, giới sư học đã bắt đầu chú ý tới vấn đề lịch sử văn hóa,1 nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là, đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực gọi là "lịch sử văn hóa", nhất là "lịch sử giao lưu văn hóa" không nên dừng lại ở việc khảo chứng và xác định những sự tích giao lưu của người, vật, sự việc, địa điểm cụ thể, mà cần phải nhìn nhận người, vật,
sự việc, địa điểm đó như là "sự kiện" để tìm kiếm ý nghĩa, như Geertz đã nói: "Con người là động vật treo mình trên mạng nhện ý nghĩa do chính mình dệt nên, mà văn hóa chính là cái mạng nhện (về mặt ý nghĩa) đó, nghiên cứu văn h óa , chính là học vấn mang tính giải thích truy tìm ý nghĩa",2 nghiên cứu lịch sử giao lưu văn hóa chính là vì nó mà thâm nhập vào "m ạng lưới của ý nghĩa", đồng thời hoạt động giao lưu giữa các nước vói nhau được coi là hoạt động truy cầu ý nghĩa, mói có thể thấy được độ cao, độ sâu và các tầng lớp của văn hóa
Chartier and the Fate of Cultural History, French Historical Studies, Vol 21, No 2, Spring, 1998, tr
211 -240, nhất là tr 223,225) Có học giả lại phê binh Geertz ở chỗ ông đã phân biệt quá rõ ràng giữa "hệ thống văn hóa" và "hệ thống xã hội" và nghiêng về việc trừu tượng hóa quá mức hành vi
con người, tham khảo William H Sewell, Jr.: Những khái niệm vón hóa (The Concept(s) of Culture, trong Beyond the Cultural Turn, Victoria E Bonnell and Lynn Hunt eds., Berkeley: University of
California Press, 1999) Cũng có người chỉ ra rằng, lập trường của Geertz rất gần với lập trường của một số nhà chủ nghĩa hậu hiện đại như Michel Foucault (1926-1984), Jacques Derrida (1930-
2004), tham khảo Joyce Appleby, Lynn Hunt, Margaret Jacob: Hõy nói sự thật về Lịch sử (Telling
the Truth about History, New York: w w Norton & Company, 1994, p 219) Tôi xin cảm ơn Giáo SƯ Trần Tuệ Hoành đã đề xuất ý kiến cho những trích dẫn trên đây.
1 Georg G Iggers: Những hướng mới trong việc ghi chép lịch sử châu Âu (New Directions in
European Historiography, Middletown, C.T.: Wesleyan University Press, 1984), tr 200.
2 Clifford Geertz, sđd, tr.5.
Chương I: Lịch sử giao lưu vản hóa Đ ô n g Á
41
Trang 38LỸ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO Lưu VĂN HÓA ĐÔNG Á.
như những nghiên cứu trong quá khứ, sang tập trung vào "quá trình" của giao lưu Thông qua việc thay đổi mục tiêu nghiên cứu đó, chúng ta càng
có thể chú ý tói vấn đề phức tạp về sự tương hỗ, mở rộng và dung hợp giữa "bản ngã" (self) và "tha nhân" (others) của người dân các quốc gia trong quá trình tương tác giao lưu văn hóa Đông Á
Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề "bản ngã" (self) và "tha nhân" (others) được xuất bản gần đây Nhà nghiên cứu nổi tiếng về triết học cổ
Hi Lạp là Richard Sorabji (1934) trong cuốn sách mới của ông xuất bản năm 2006, trước tiên đã chỉ ra bản chất của "bản ngã" tuy rất khó truy cứu, nhưng mỗi người đều có nhu cầu thông qua "bản ngã" để liên hệ vói thế giới, tâm lý học thực nghiệm đã chứng minh kiểu nhu cầu này Ý nghĩa của "bản ngã" không thực sự rõ ràng, nhưng diễn giải "bản ngã" lại
là loại hoạt động có hàm nghĩa rất rộng, do đó Richard Sorabji cho rằng,
"bản ngã" là một kiểu "th ể hiện", kiểu "th ế hiện" này "th ể hiện" mối quan hệ giữa con người và thế giới.1 Khái niệm "bản ngã" này thường kết hợp vói các khái niệm "tự chủ" (autonomy) và " quyền lợi" (rights) trong bối cảnh lịch sử tư tưởng phương Tây, do đó thường không hoàn toàn tương hợp vói khái niệm "bản ngã" trong triết học Nho gia mà các nhà Luân lý học nhấn mạnh Gần đây, Kwong-loi Shun đã bàn về cảnh huống thích hợp của "nhân quan" trong tư tưởng Đông Tây, đồng thời
đặc biệt phân tích các khái niệm "tấm", "ch í", "khí" của tư tưởng Nho gia,
ông chủ trương cái mà phương Tây gọi là "tự chủ", "quyền lợi" không phải không thấy ả Nho gia, chỉ là quan niệm về "con người" trong tư tưởng Trung Quốc nhấn mạnh hơn tính cách xã hội của con người.2 Nhìn
từ bối cảnh lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á, tôi cho rằng "bản ngã" và
"tha nhân" trong kinh nghiệm lịch sử cụ thể tồn tại nhiều phương diện (như "bản ngã" và "tha nhân" của chính trị, của xã hội, của văn hóa,
1 Richard Sorabji, Bản ngõ: đó là cái gì vậy? (The Self: Is There Such A Thing?), trong Cùng tác giả:
Nhận thức của thời cồ đại và hiện đại về cá nhân, sinh mệnh và cái chết (Ancient and Modern Insights
About Individuality, Life and Death), (Chicago: University of Chicago Press, 2006), pp 17-31.
2 Kwong-loi Shun, Quan niệm Nhân trong tư tưởng Nho giáo (Conception of the Person in Early Confucian Thought) trong Kwong-loi Shun and David B.Wong eds.: Luân lý học Nho giơ: Nghiên
cứu so sánh về bân ngõ, tự chủ và cộng đồng (Confucian Ethics: A Comparative Study of Self,
Autonomy, and Community), (Cambridge: Cambridge University Press, 2004), tr.183-199.
42
Trang 39Chươ ng I: Lịch sử giao lưu văn húa Đ ụ n g Á
của giới tớnh), đặc biệt tập trung vào "nhận đồng thõn phận văn húa" (cultural identity) và "nhận đồng thõn phận chớnh trị" (political identity), trong đú coi "bản ngó của văn húa" cú tớnh quan trọng nhất Tụi sẽ bàn
kỹ hơn vấn đề này trong chương II, nờn ở đõy tạm khụng đề cập thờm 1Chỳng ta xuất phỏt từ ý thức vấn đề về sự tương tỏc giữa "bản ngó"
và "tha nhõn" thỡ sẽ cú thể gắn kết "nhận đồng thõn phận văn húa" với
"nhận đồng thõn phận chớnh trị" của "bản ngó" và "tha nhõn", sự xung đột, phối hợp trong ngữ cảnh, bối cảnh văn húa xó hội vúi quỏ trỡnh hương tới sự dung hợp, đồng thời chứng minh lý giải hàm nghĩa của lý luận này Trong lịch sử giao lưu văn húa Đụng A, sự kiến tạo và thức tỉnh của "bản ngó" luụn luụn hoàn thành trong sự tương tỏc qua lại với "tha nhõn" Thời Đụng Tấn (317-420), Quỏch Phỏc Ệ|ỉậ| (hiệu Cảnh Thuần, 276-324)
soạn Sơn hải kinh, phần 'T ự a " cú viết: "T h ế chi sở vị dị giả, vị tri kỡ sở dĩ
dị Thế chi sở vị bất dị, vị tri kỡ sở dĩ bất dị Hà giả? Vật bất tự dị, đói ngó nhi hậu dị Dị quả tại ngó, phi vật dị dó" [Cỏi người đời gọi là khỏc lạ là do chưa biết nờn lạ Cỏi gọi là khụng khỏc lạ chưa biết vỡ đõu mà khụng khỏc
lạ Vỡ sao? Vật khụng tự nhiờn dị biệt, vỡ ta mà dị biệt Khỏc là do ở ta, chứ khụng phải vật dị biệt vậy].2 Cuối thời Minh, Hoàng Tụng Hi ("Lờ Chõu tiờn sinh", tự Thỏi Xung, hiệu Nam Lụi, 1610-1695) viết: "D oanh thiờn địa
vụ sở vị vạn vật, vạn vật giai nhõn ngó nhi danh Như phụ tiện thị ngụ chi ph ụ " [Trong trời đất này khụng cú gỡ gọi là vạn vật, vạn vật đều do
ta mà được gọi tờn Như phụ chớnh là phụ thõn của ta _].3 Hai đoạn vănnày đều nhấn mạnh sự kiến tạo "bản ngó" là tiền đề của việc nhận thức
1 Hoàng Tuấn Kiệt H t ớỀ # , Sự tương tỏc giữa "bản ngừ" và "tha nhõn" trong lịch sửgioo lưu vởn húa
Trung - Nhật: loại hỡnh và hàm nghĩa của chỳng, Tạp chớ nghiờn cứu văn minh Đụng Á Đài Loan,
quyển 4, kỳ 2, 12.2007, tr.85-105, biờn tập thành chương 2 cuốn sỏch này; In tại Nhật Bản: <
lưu văn húa Đụng Á ôĩỊ[ T X 7 X /ớb ĩiỉÍL ằ (Osaka: Trung tõm nghiờn cứu văn húa chõu Á Đại học Kansai và Đại học Cụng thương Triết Giang hợp tỏc xuất bản), Bản 1, số 1,12/2007 % 1 Ẵg
% 1 fc (2 0 0 7 ^ 12 k ) M 1-16 °
2 (Tấn) Quỏch Phỏc chỳ: Sơn Hải Kinh ôl±j/Đđằ, Tứ bộ tựng san Sơ biờn ô23 p B H fll • ệ/JắSằ,
bản rỳt gọn, tr.1, nửa đẩu của trang.
3 (Thanh) Hoàng Tụng Hi M tk IS : Mạnh Tử sư thuyết quyển 7, chương Vọn vật giai bị
r I3 ớ# J , xem Hoàng Tụng Hi toàn tập ô H tf :èè;Ề IỆ Iằ , Hàng Chõu: NXB cổ tịch Triết Giang,
1985, tập 1, tr.149.
43
Trang 40LỸ NIỆM VÀ KINH ĐIỂN NHO GIA TRONG GIAO L ư u VĂN HÓA ĐÔNG Á.
"tha nhân", hoàn toàn phù hợp với sự thực kinh nghiệm trong lịch sử giao lưu văn hóa Đông Á Ví dụ, trong lịch sừ giao lưu văn hóa Trung Quốc và Triều Tiên trong khoảng 500 năm của thời đại Joseon (1392-1911), những nhân sĩ Triều Tiên tới Trung Quốc đều có những bình luận về văn hóa và
tư tưởng của Trung Hoa, phản ánh những quan sát của họ đối vói xã hội, chính trị và tư tường của Trung Quốc, thể hiện sự tương tác giữa "bản ngã" và "tha nhân" trong lịch sử giao lưu văn hóa giữa hai nước, đồng thời cũng thể hiện sự thức tỉnh "bản ngã" của những nhân sĩ Triều Tiên chính là tiền đề của nhận thức của họ đối với Trung Hoa Trong rất nhiều cảnh huống, tiếp xúc và giao lưu với "tha nhân" củng thường xuyên là nhân tố quan trọng đánh thức "bản ngã" Do đó, khi những nhà Hán học Nhật Bản giai đoạn đầu thế kỷ XX như Naitõ Konan (1866-1934), Kõjirõ Yoshikawa (1904-1980), Aoki Masaru (1887-1964) và Uno Tetsuto (1875- 1974) tới Trung Quốc học tập du lịch, họ đều đối chiếu "bản ngã chính trị" và "bản ngã văn hóa" của người Nhật Bản với chính trị và văn hóa Trung Quốc, đều trải qua quá trình thức tỉnh từ tiềm tàng tới ngoại quan.1
Ví dụ, giáo sư triết học Trung Quốc của Đại học Đ ế quốc Tokyo là Uno Tetsuto vốn là người sùng bái tới mức cực đoan đối với Khổng Tử (551-
479 tr.CN), nhưng năm 1906 khi ông tới du ngoạn Bát Đạt Lĩnh Trường Thành, ông thậm chí đã đứng trên Trường Thành lớn giọng hát quốc ca Nhật Bản là "Kim igayo", đây là một trường hợp hết sức tiêu biểu.2
1 Hoàng Tuấn Kiệt Trung Quốc vân hóo và Trung Quốc hiện thực trong con mốt các nhà Hớn học
2 Uno Tetsuto Chi no (Trung Quốc) vân minh ký Tokyo: Đại Đồng quán,
1912, in trong Shinji Kojima: Mạc mọt Minh trị Trung Quốc kiến vàn lục tập thành 4 1
Tokyo: Yumani Shobou, 1997; bản dịch tiếng Trung: Trương Học Phong
iậ dịch: Ghi chép về vân minh Trung Quốc «c(=IH > ^ 0^p£»/ Bắc Kinh, NXB Quang Minh nhật báo,
1999 Vế sự việc Uno Tetsuto hát quốc ca Nhật Bản xin xem tr.60 Những bài luận xung quanh
việc UnoTetsuto du ngoạn Trung Quốc, tham khảo thêm: Joshua A Fogel: Hành hương Khổng
giáo: Cuộc du hành của Uno Tetsuto ở Trung Quốc nâm 1906 (Confucian Pilgrim: Uno Tetsuto's
Travels in China, 1906), trong Khía cạnh vởn hóa trong mối quan hệ Trung Hoa - Nhật Bản: Tập tiểu
luận về thế kỷ XIX và thế kỷ XX (The Cultural Dimension of Sino-Japanese Relations: Essays on the
Nineteenth and Twentieth Centuries), New York: M E Sharp, 1995, tr 95-117.
44