1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng ứng dụng cho việt nam (sách tham khảo)

300 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 300
Dung lượng 28,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuốn sách này, tác giả đ ã sử dụng một hệ thống khái niệm cơ chế, cơ c h ế thị trường, cơ c h ế nhà nước, cơ c h ế cộng đồng, sự kết hợp tối ưu giữa ba cơ chế, và nhiều khái niệm

Trang 3

Mã số: 34 (V)04

CTQG-2004

Trang 5

M Ụ C LỤ C

I BA C ơ C H Ế ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ XÃ HỘI 22

1. Khái niệm cơ chế thị trường, cơ chế nhà nước và cơ chế

cộng đồng

22

4 Công cụ, biện pháp đặc trưng cho từng cơ chế 37

5 Phương thức điều chỉnh quan hệ xã hội của các cơ chế 44

8 Bám giữ cơ chế cũ, sự chuyển đổi méo mó 149

9 Đa dạng hoá cơ chế và quá trình phát triển song hành 154

10 Sự chuyển giao và điều chỉnh tự nhiên giữa ba cơ chế 157

11 Sự phát triển hài hoà giữa các cơ chế trong quá trình tiến hoá

xã hội

181

13 Úng dụng lý thuyết cơ chế trong hoạt động thực tiễn 216

II CẢI THIỆN KẾT CẤU C ơ C H Ế Ở VIỆT NAM 254

1. Bối cảnh phát triển các cơ chế của Việt Nam 254

2 Khiếm khuyết của sự phối hợp nhà nước, thị trường và cộng

đồng ở Việt Nam

268

3 Phát triển cơ chế theo kịch bản khác nhau 276

4 Một số đề xuất về vận hành các cơ chế trong giai đoạn phát

Trang 6

LỜI N H À X U Ấ T BẢN

Cơ chế, hiểu theo nghĩa chung nhất, là cách thức theo đó một quá trình được thực hiện Trong lĩnh vực kinh tế, cơ chế kinh tế được hiểu là tổng thể các yếu tố có mối quan hệ chế ước, tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế, tạo thành động lực điều tiết dẫn dắt nền kinh tế phát triển.

Cơ chế mang tính khách quan được con người nhận thức, vận hành Cơ chế vận hành đúng là cơ chế có sự thống nhất giữa nhân tố khách quan và chủ quan Ở mỗi giai đoạn khác nhau có những cơ chế điều chỉnh khác nhau, phụ thuộc vào những điều kiện khách quan và khả năng nhận thức chủ quan của con người.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người đã từng thử nghiệm và vận hành các quan hệ kinh tế - xã hội bằng những cơ chế khác nhau Những thập kỷ gần đây, với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mỏ rộng, các quốc gia trong khi tìm cho mình một chiến lược phát triển để có thể vượt lên nhanh, đã rất chú ỷ đến vấn

đề cải cách, đổi mới cơ chế Thực hiện công cuộc "cải tổ", "đổi mới", "cải cách", một

số nước xã hội chủ nghĩa đã nhanh chóng chuyển từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang mô hình kinh tế thị trường cho phù hợp với đòi hỏi của các quy luật khách quan, chấp nhận cạnh tranh trong khuôn khổ có sự điều tiết của nhà nước và đặc trưng phát triển riêng biệt của mỗi nước.

ở nước ta, công cuộc đổi mói do Đảng ta khỏi xướng và lãnh đạo gần 20 năm qua

đã mang lại cho đất nước những biến đổi to lởn trên nhiều lĩnh vực, trong đó đổi mới

cơ chế quản lý kinh tế được coi là một đặc trưng nổi bật, có ý nghĩa sâu sắc Những thành tựu của công cuộc đổi mới đem lại đã đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thòi kỳ phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nưởc theo định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình đầy khó khăn, phức tạp Đó là quá trinh nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo không ngừng của toàn Đảng, toàn dân ta, là sự đổi mới có ý nghĩa cách mạng về nhận thức quan điểm, thể chế, chính sách

Xuất bản cuốn sách: Ba cơ chế: thị truờng, nhà nuớc và cộng đống, úng dụng

cho Việt Nam, Nhà xuất bản muốn giới thiệu với bạn đọc công trình nghiên cứu của

TS Đặng Kim Sơn, một chuyên gia nông nghiệp nhưng có nhiều tâm huyết đi sâu nghiên cứu vấn đề này.

Trang 7

Trên cơ sỏ nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn vận dụng cơ chế ỏ một số nước trên thế giới và ỏ nước ta, cuốn sách đã đưa ra một cách nhìn riêng về vai trò và đặc trưng của từng loại cơ chế trong việc điều hành xã hội; ưu, nhược điểm của từng loại

cơ chế, đồng thời nhấn mạnh, trong điều kiện hiện nay cần vận dụng cả ba loại cơ chế: thị trường, nhà nước và cộng đổng để điều hành quản lý xã hội Tác giả đã rất

cố gắng trong việc sưu tầm những cứ liệu thực tế về cơ chế xử lý điều hành diễn ra trong lịch sử và thực tiễn những năm gần đây ỏ một số nước trên thê' giới và ỏ nước ta làm minh chứng cho những phân tích, nhận định của mình Cuốn sách củng nêu lên một số suy nghĩ trong việc ứng dụng để quản lý điều hành xã hội ỏ Việt Nam.

Những cứ liệu lựa chọn dẫn chứng cùng những nhận thức tìm tòi về cơ chế của tác giả, có thể sẽ được nhiều người chấp nhận, nhưng cũng có thể có những vấn đề còn

là đối tượng của các cuộc thảo luận trao đổi; mặc dù vậy, để rộng đường nghiên cứu, cuộn sách được xuất bản dưới dạng Sách tham khảo Bất luận thế nào, trên hết, đó

là những trăn trỏ tâm huyết của tác giả mong gửi đến bạn đọc những thông tin gợi mỏ suy nghĩ trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, tạo ra động lực thúc đẩy đất nước phát triển.

Hy vọng cuốn sách sê được bạn đọc đón nhận và chia sẻ những vấn đề trong nội dung cuốn sách nêu ra.

Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc và mong nhận được ý kiến phê bình, đóng góp bổ sung.

Tháng 11 năm 2004

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 8

Lòi giới thiệu

Tôi đã đọc cuốn sách "Ba cơ chế: thị trường, nhà nước và cộnq đồng, ứng dụng cho V iệt Nam ” của Đặng Kim Sơn T ừ lâu, tôi vẫn nqhĩ rằng, Đặng Kim Sơn là m ột nhà nghiên cứu khoa học còn trẻ tuổi xứng đáng là một người nghiên cứu khoa học, điều đó rất đánạ quý và khôn (Ị phải d ễ thấy Đặnq Kim Sơn nqhiên cứu chủ yếu về kinh tế, nhưng không chỉ về kinh t ế mà quan tâm đến mọi chiều cạnh của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta.

Đọc cuốn sách này, một lần nữa, V ng h ĩ trên đây của tôi được xác nhận và củng cố Qua từng trang sách, tôi có niềm thích thú của một người gặp điều

b ổ ích mà mình cần, và có niềm vui mừng của một nẹười nhiều tuổi gặp một

tư duy, m ột trí tuệ, m ột tấm lòng đáng trân trọng của một người còn trẻ và nhiều triển vọng.

Trong cuốn sách này, tác giả đ ã sử dụng một hệ thống khái niệm (cơ chế,

cơ c h ế thị trường, cơ c h ế nhà nước, cơ c h ế cộng đồng, sự kết hợp tối ưu giữa

ba cơ chế, và nhiều khái niệm kinh tế, chính trị, x ã hội khác ), đó là những công cụ của nhận thức và thao tác khoa học và thực tiễn của tác giả Những khái niệm trong hệ thống khái niệm ấy nói chung là quen thuộc trong giới nghiên cứu, giới hoạch định chính sách và giới quản lý, song hiện nay, ở nước

ta cũng như trên th ế giới, thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau Cách hiểu của tác giả cuốn sách này là một cách hiểu, mà người đọc có th ể đồng ỷ, cũng có th ể có chỗ không đồng ỷ Đ iều ấy thiết nghĩ không ngăn trở việc tìm hiểu sự giãi bày những ý tưởng của tác giả trong các phần của cuốn sách.

Qua nhiều công trình nghiên cứu trước đây và qua cuốn sách này, Đ ặng Kim Sơn tự th ể hiện là một người rất coi trọng lý luận, luôn cô'gắng vươn lên

sự chuẩn xác và rỗ ràng trong tư duy, nhưng không sính học thuật Khi phân tích vê từng vấn đề, Đặng Kim Sơn tìm được và nêu ra, trong các hộp của cuốn sách này, nhiều thí dụ sinh động, có sức thuyết phục của nhiều nước, ở nhiều thời, và nhất là Đặng Kim Sơn có ỷ thức liên hệ với thực tế V iệ t Nơm ta một cách thiết thực, như một người trong cuộc luôn luôn lo toan góp phẩn, dù nhỏ bé và khiêm tốn, mang lại tiến bộ và thành công cho công cuộc lớn của đất nước mình.

Trang 9

Điều rất đáng quý của cuốn sách này lù tinh thần tìm tòi, là khát VỌHÍ> sáng tạo, hướng về phát hiện cái mới cíúng đắn, mạnh dạn đê xuất và đảm nhận trách nhiệm về chủ kiến riêng của bản thản tác giả.

Người đọc, nhất là các vị học giả, các nhà nghiên cứu, có th ể dễ thấy chỗ còn khiếm khuyết của cuốn sách này, và có th ể không đồng ỷ, nhiều hay ít, với tác giả, từ phương pháp luận chung đến nội dung chi tiết của chương này

m ục khác Đó là điều bình thường Hơn th ế nữa, đó có th ể là một dấu hiệu đáng hoan nghênh vê sự phong phú có giá trị đặt vấn đê và mở tranh luận của một công trình.

Xin không giới thiệu gì thêm về nội dung cuốn sách, nội dung ấy được trình bày linh hoạt, có sức hấp dẫn, như đang đón chờ người đọc C hỉ xin được nêu

m ột ỷ nghĩ riêng rằng, vào lúc chúng ta đang tổng kết 20 năm đổi mới và bắt tay soạn thảo k ế hoạch 5 năm 2006 - 2010, cuốn sách này là một đóng góp đáng trân trọng vào việc nghiên cứu, đê ra kiến nghị về p h á t triển kinh tế, xã hội ở nước ta.

Ngày 4 - 5 - 2004

-Trần Việt Phương

Trang 10

Lời nói đầu

Có lẽ bàn về vấn để nhà nước, thị trường và cộng đồng là một điều liều lĩnh và không cần thiết v ì đã có hàng rừng tài liệu, hàng núi công trình, đề cập đến các lĩnh vực này hàng trăm năm nay nếu không nói là hàng nghìn năm nay Cuốn sách này không lạm bàn về lý luận mà chỉ đề cập một vài vấn

đề rút ra từ thực tiễn để tìm ứng dụng thiết thực

Trong các nghiên cứu kinh tế, xã hội xưa nay, người ta thường coi thịtrường và nhà nước là những lực lượng chính thúc đẩy và điều hành sự tiến hoá của xã hội loài người Các nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây thêm vào vai trò của thể chế với tư cách là quan hệ giữa con người với nhau và làm công cụ của hai lực lượng nhà nước và thị trường' Câu chuyện của cuốn sách này thử nhìn theo một cách khác, nâng mối quan hệ giữa người với nhau trong cộng đồng lên thành một lực lượng ngang hàng với nhà nước và thị trường, nhìn nhận nó như một động lực tham gia thúc đẩy và điều hành sự phát triển

xã hội để có thể thêm một hướng suy nghĩ cho vấn đề thú vị và phức tạp này Nhà nước, thị trường và cộng đồng trong sách này được nghiên cứu như những phương cách điều chình quan hệ xã hội loài người mà không đi sâu vào các nội dung khác như tổ chức, thiết chế,

Khác với khái niệm thể chế khi nói về “thể chế nhà nước”, “thể chế thị trường” , trong đó, các quan hệ xã hội giữa con người, các quan hệ trong cộng đồng thường được gọi chung là hoạt động của thể chế bao gồm cả khía cạnh

tổ chức2, cuốn sách này chỉ bàn đến khía cạnh “cơ chế” hoạt động của thị trường, nhà nước và cộng đồng, với nghĩa cơ chế là cách thức hoạt động, là phương thức xử lý đặc trưng của nhà nước, thị trường và cộng đồng nhằmđiều chỉnh quan hệ kinh tế, xã hội của con người

“Cơ chế” dường như một khái niệm trừu tượng, được người ta gán cho mọi tội lỗi khi xã hội mắc phải những sai phạm trầm trọng và cũng được dùng để giải thích cho những thành công trong xã hội mà nguyên nhân mang tính tổng hợp khó lý giải Ớ nước ta, rất nhiều sai lầm đã được quy cho cơ chế “ tập trung - quan liêu - bao cấp” của mô hình “kinh tế kế hoạch” trước kia Lại

có nhiều tệ nạn xã hội, méo mó trong kinh tế ngày nay đang bị coi là “ mặt

1 Xem CIEM: T h ể chê - cải cách th ể c h ế và p h ú t triển lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt

N am , Nxb Thống kê Hà Nội, 2002.

2 Douglass c North: C ác th ề chế, sự thay đổi th ể ché và hoạt dộng kinh tế, Nxb Khoa học xã hội

và Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Hà Nội 1998.

Trang 11

trái của cơ chế thị trường” Khái niệm “cơ chế” trong những lập luận trên, có

lẽ đúng hơn là nói về “thể chế” (theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới1)

Vì vậy, xin nói rõ rằng: các từ ngữ như “cơ chế” , “cộng đồng” , sử dụng trong sách này, không mang ý nghĩa cúa các khái niệm học thuật thône thường của các tài liệu kinh tế, xã hội kinh điển Tên gọi “ cơ chế” ở đây chỉ nêu lên khía cạnh công cụ, phương cách, giải pháp để điều chỉnh các quan hệ giữa các tác nhân trong xã hội Tên gọi “ cộng đồng” trong sách này để chỉ loại cơ chế quan hệ và xử thế giữa từng cá nhân hoặc giữa các nhóm người với nhau theo một số quy luật trong xã hội loài người Cách gọi này tuy có thể không hoàn toàn thỏa đáng, xin bạn đọc rộng lòng cho phép trong khuôn khổ cuốn sách này

Vậy “ cơ chế” theo nghĩa này là thế nào? và quan trọng hơn là có thể điều khiển được cơ chế của nhà nước, thị trường và cộng đồng phục vụ cho sự phát triển của xã hội được hay không? Cuốn sách này trong chừng mực nhất định, thử bàn về hai câu hỏi trên, câu trả lời có thể đáp ứng phần nào hoặc chưa thoả mãn người đọc cũng là điều đương nhiên, bởi vì câu chuyện này nói về

sự vận hành khó hiểu của ba “cơ chế” , của ba “bàn tay” đầy uy lực tạo nên quan hệ xã hội loài người

Tác giả xin chân thành cảm tạ học giả Trần Việt Phương, giáo sư Đào Thế Tuấn, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, tiến sĩ Chử Văn Lâm, tiến sĩ Lê Du Phong đã đọc bản thảo, chân thành góp ý và thẳng thắn phê bình, c ả m thông với đề tài viết về một lĩnh vực phức tạp, cuốn sách này có vinh dự được học giả Trần Việt Phương và giáo sư Đào Thế Tuấn tận tình viết một số ý kiến giới thiệu khái quát kiến thức tham khảo cho độc giả về các nội dung liên quan Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc

'■ Theo định nghĩa này, thể c h ế là “ luật chơi” (chính thức và phi chính thức), bao gồm cơ chế thực

thi, và các tổ chức (gắn với hành vi của chúng) X em N aân hàng T h ế giới: B á o cáo p h á t triển

t l i ế ỊỊÌỚi 2 0 0 2 Xâv (lưng T h ể c h ế H ỗ t r ợ T h ị trư ờ n g , Nxb Chính trị qu ố c gia Hà N ôi 2002.

Trang 12

GIÁO Sư ĐÀO THỀ TUẤN GIỚI THIỆU MỘT sô KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1 Về q u a n hệ giưa ba khu vực th ê chế: Nhà nước, thị trường và xã hội

dân sự (hay cộng đồng?)

Trên thế giới từ giữa những năm 1970 có xu hướng chuyển từ kinh tế do các quy tắc quản lý sang kinh tế thị trườno do giá cả điều tiết Sự chuyển đổi này do các tổ chức kinh tế quốc tế như Quỹ Tiển tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) hướng dẫn, gọi là Đồng thuận Washington (Washington concensus) Tuy vậy, sau 15 năm thực hiện phương hướng này qua các chương trình ổn định và điều tiết ở các nước đang phát triển, kết quả của việc

tự do hoá rất mâu thuẫn Bên cạnh các trường hợp thất bại của nhà nước, có rất nhiều thất bại của thị trường Thị trường không thể tự điều tiết được Kinh nghiệm của các nước Đông Á cho thấy cần phải có một nhà nước mạnh mới điều tiết được thị trường Cần một nhà nước kiểu mới, không phải là nhà nước ban ơn (Providential State) mà là một nhà nước tác nhân của thị trường (Market actor State) Để giải quyết vấn đề này không phải chỉ cần có các cơ chế mới của nhà nước và thị trường mà phải có các thể chế mới, trong đó có

cả các tổ chức mới

Lý thuyết kinh tế học thê’ chế mới ra đời chính là để xây dựng các thể chế

có thể giúp giải quyết được quan hệ giữa nhà nước và thị trường Do đấy không những nó được các nhà kinh tế học mà cả các nhà quản lý chào đón Kinh tế học thể chế mới là công trình nghiên cứu tập thể của nhiều nhà kinh

tế học, chủ yếu có R Coase (giải thưởng Nobel năm 1991), o Williamson và

D North (giải thưởng Nobel năm 1993)

Trong quá trình phân công lại giữa nhà nước và thị trường người ta thấy có một số việc nhà nước không nên làm nữa, nhưng thị trường cũng không làm được, phải giao cho các thể chế mới: các tổ chức này được xây dựng trên cơ

sở của sự thương lượng, hợp tác, thuyết phục, đại diện cho hành động tập thể Các tổ chức này có mặt ở tất cả các cấp, thậm chí cả mức toàn cầu, vì vậy

người ta gọi khu vực này là xã hội dân sự (civil society) hay xã hội công dân

(civic society) Khái niệm xã hội dàn sự chính do C.Mác dùng đầu tiên lúc phê phán học thuyết của Hegel Trước đây xã hội dàn sự được hiểu chỉ bao gồm các tổ chức phi chính phủ nay được hiểu rộng hơn nhiều gồm tất cả các

tổ chức không thuộc nhà nước và thị trường Gần đây vai trò của xã hội dàn

sự ngày càng được đề cao và nhiều thể c h ế mới đã ra đời qua các Diễn đàn xã hội thế giới

Trang 13

2 Cộng đồng hay xã hội dân sự

Khái niệm cộng đồng thường vẫn được dùng trong khoa học xã hội Tuy vậy thường người ta hiểu cộng đồng đã tồn tại lâu đời trong lịch sử, là một

khái niệm không có thời gian tính, còn x ã hội dân sự là một hiện tượng hiện

đại

Vai trò của cộng đồng trong sự phát triển là một đề tài tranh luận trong khoa học xã hội Có người cho nó là tích cực, nhưng cũng có người cho là tiêu cực Thí dụ trong sự phát triển của làng xã châu Á, ý kiến của các nhà nghiên cứu về vai trò của cộng đồng làng xã rất màu thuẫn vì có nhiều nơi có những cộng đồng làng xã chặt chẽ, như ở miển Bắc Việt Nam, nhưng có nơi, làng xã

ít mang tính cộng đồng hơn

Gần đây người ta cho rằng cộng đồng chỉ có tác dụng tích cực lúc nó tích luỹ được vốn xã hội (social capital), là các tiêu chuẩn và quan hệ xã hội cho

phép nhân dân có khả năng phối hợp các hành động tập thể Chính vốn xã hội

đã biến các cộng đồng thành xã hội dân sự Xã hội dân sự bao gồm các tổ chức công dân (civic) và xã hội

3 Tính lịch sử trong phân tích kinh tế, xã hội

Tình hình kinh tế, xã hội của các nước đều thay đổi mạnh trong vài thập kỷ qua Các nước xã hội chủ nghĩa cũ đang chuyển từ mô hình k ế hoạch tập trung sang mô hình thị trường Các nước đang phát triển đã thực hiện cuộc điều chỉnh cơ cấu, cải cách chính sách, kinh tế hướng vào thị trường để cân bằng ngân sách và cán cân thương nghiệp để phát triển bển vững Trong các cuộc cải cách này, vai trò của nhà nước và vai trò của thị trường đang thay đổi Cộng đồng cũng đang phát triển thành các xã hội dân sự hiện đại làm chức năng hạn c h ế các tiêu cực của nhà nước và thị trường

Các thất bại của thị trường và nhà nước (market failure, government failure) nêu trong cuốn sách này đã được nhiều tác giả tổng kết (Stern N.,1989) Chính việc chuyển sang xã hội dân sự là biện pháp để khắc phục cácnghịch lý của cộng đồng

Trang 14

HỌC GIẢ TRẤN VIỆT PHƯƠNG GIỚI THIỆU sơ Lược VẺ THỂ CHÊ

Từ vài thập kỷ nay, ở nước ta và trên thế giới, khái niệm và từ ngữ “thể chế” ngày càng phổ biến trong hoạt độne kinh tế, xã hội, trong các văn kiện của nhà nước, trên các phương tiện thông tin đại chúng, và cả trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Ớ đâu và lúc nào cũng vậy, càng nghĩ đến và càng thúc đẩy công cuộc phát triển đất nước, thì càng chú ý xử lý vấn đề thể chế

Nhiều nhà khoa học đã cố gắng nêu ra định nghĩa thể chế, tính chất, nội dung, phạm vi, các loại hình, tầm quan trọng của thể chế Ớ đây, xin nhắc lại vắn tắt như sau:

Quan niệm thông thường về thể chế được vạch rõ trong các cuốn từ điển phổ

thông Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2000,

thể chế là: “những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo (nói tổng quát)” Quan niệm thông thường như vậy, tuy không thật đầy

đủ, và do đó không hoàn toàn chuẩn xác, song rất có ích cho nhận thức và hành động của mọi người

Quan niệm học thuật về thể chế đương nhiên là phong phú hơn, tinh tế hơn, đa dạng hơn (tức là có những quan niệm khác nhau) Quan niệm học thuật về thể chế được số đông độc giả đồng ý hoặc chấp nhận gồm mấy điểm chính sau đây:

1 Thể chế là các luật lệ, quy tắc của một xã hội, từ cấp quốc gia (có khi liên quốc gia) đến cấp cộng đồng nhỏ nhất, hướng dẫn, khuyến khích, ca ngợi, khen thưởng (những điều gì đó), lên án, trừng phạt (những điều gì đó), ngăn cấm, ràng buộc (những điều gì đó), nhờ vậy mà tác động đến cách nghĩ, cách cảm, cách làm, cách sống (phương Tây thường chỉ nói hẹp hơn, là tác động đến hành vi) của mọi con người trong chế độ xã hội ấy

2 Có nhiều loại thể chế và nhiều cách phân loại thể chế Hai cách phân loại thể chê' quan trọng nhất là:

Thứ nhất, có loại thể chế tự hình thành (phương Tây gọi là thể chế tự phát, từ

“tự phát” không có sắc thái biểu cảm xấu, mà có nghĩa là “tự thân phát triển”), thí

dụ như thể chế thị trường “tự do”, không có sự can thiệp chính trị, kinh tế, xã hội nào khác ngoài thị trường; lại còn có loại thể chế được quyết định và bảo đảm (kể

cả đòi hỏi) thực hiện bởi một quyền lực như nhà nước, nhà thờ, cộng đồng làng xã, cộng đồng dòng họ

Thứ hai, có loại thể chế nhà nước, từ lập pháp (luật của quốc hội), lập quy (nghị định, quyết định của chính phủ) đến luật lệ (của chính quyền cấp dưới, về từng

Trang 15

lĩnh vực, ở từng nơi, không có giá trị quốc gia, và phải phù hợp với lập pháp, lập quy), loại thể chế nhà nước này đến nay vẫn giữ vai trò lón nhất, tác động sâu rộng nhất; lại có loại thể chế phi nhà nước (có khi được gọi là thể chế xã hội, nhưng gọi thế không đúng, vì thể chế nhà nước cũng là một loại thể chế xã hội), thể chế phi nhà nước rất nhiều và vài thập kỷ nay có tầm quan trọn? ngày càng tăng lên cả trong thực tiễn và trong lý luận.

3 Thể chế hiểu đầy đủ, theo nghĩa rộng, gồm 3 bộ phận:

Một là, các luật lệ, các quy tắc (kể cả các phong tục, tập quán, chuẩn mực

xã hội) Theo nghĩa hẹp (hiện thông dụng ở nước ta), thì đây chính là thể chế,

là khái niệm đầy đủ về thể chế Quả thật như vậy có lẽ là quá hẹp

Hai là, các tổ chức, mỗi tổ chức là một tập đoàn người được kết hợp với nhau một cách nhất định, có chức năng xây dựng và bảo đảm thực hiện một loại thể chế nhất định

Ba là, các phương tiện và phương pháp mà các tổ chức và các con người vận dụng để thực hiện các thể chế, và rộng hơn nữa, là bản thân sự thực hiện các thể chế, với kết quả đúng hay sai, nhiều hay ít, tốt hay xấu Như vậy, theo nghĩa rộng nhất, thì thể chế bao gồm cả sự thực hiện và kết quả thực hiện thể chế

Có những học giả cho rằng thể chế chỉ là các luật lệ và quy tắc; cũng có những học giả cho rằng thể chế bao gồm cả ba phần vừa nêu trên đây Một nhà khoa học khá nổi tiếng ví một cách hình ảnh rằng nghiên cứu thể chế mà chỉ nghiên cứu các luật lệ, quy tắc thì chẳng khác nào nghiên cứu máu người

mà tách rời không liên quan tới hệ tim mạch, và toàn bộ cơ thể của con người (chúng ta biết rằng chỉ một, hai xăng - ti - mét khối máu cũng được quyết định bởi và cũng biểu hiện rõ ràng ra hàng chục chỉ số về chỗ mạnh và chỗ yếu, chỗ lành và chỗ bệnh của hầu hết các bộ phận trong cơ thể con người)

4 Trong các khoa học, cho đến nay duy chỉ có kinh tế học có một bộ môn

tự đặt tên là học thuyết kinh tế thể chế Nhưng thể chế không chỉ là về kinh tế (tuy thể chế kinh tế là loại rất quan trọng), mà thể chế bao quát mọi hoạt động và đời sống xã hội Từ lâu, nhiều khoa học khác nhau đã nghiên cứu thể chế Chính các học giả thuộc học thuyết kinh tế thể chế (cũ và mới) đều công nhận rằng, dẫu chỉ nghiên cứu thể chế kinh tế, thì đương nhiên chủ yếu là vận dụng kinh tế học, song cũng phải vận dụng các thành tựu của chính trị học, luật học, hành chính học, xã hội học, sử học, nhân học, văn hoá học, toán học, vật lý học, công nghệ thông tin, cùng nhiều ngành khoa học khác Một cái nhìn hẹp hòi, thiển cận thì chỉ đạt được nhữne kết quả thiển cận, hẹp hòi thôi

Trang 16

5 Về tầm quan trọníỉ của thể chế, đến nay các nhà nghiên cứu, các nhà cầm quyền, các nhà quản lý và những người dân thường đều thấy thể chế có tầm quan trọng to lớn, cơ bản, một sô nhà khoa học cho rằng tầm quan trọng của thể chê là cơ bản nhất, quyết định nhất đối với sự phát triển của một đất nước, một chế độ xã hội, nhất là vào những bước ngoặt, những thời kỳ thay đổi về chất (cả bản chất và chất lượng) của một quốc gia.

Tiếp đây sẽ điểm lại vắn tắt sự phát triển của quan niệm về thể chế từ khoảng 250 năm nay, tức là từ giữa thế kỷ XVIII, trong các học thuyết kinh

tế và tron? đời sống kinh tế của các dân tộc

Kinh tế học cổ điển (trước đây thường gọi là kinh tế chính trị học cổ điển), được gợi ý và báo trước bởi những nhà tư tưởng lớn như Locke và Hume, đã

ra đời vào giữa thế kỷ XVIII, với những vị chủ tướng xuất sắc là Smith, Ricardo, Marshall Trên nền tảng lý luận và phương pháp luận cùa kinh tế học cổ điển, vào khoảng thập kỷ thứ 2 và thứ 3 của thế kỷ XIX, đã xuất hiện kinh tế học tân cổ điển, mà hai đóng góp nổi bật nhất thời ấy là khái niệm kinh tế cận biên (đầu tư cận biên, giá cận biên, lợi nhuận cận biên ) và việc

sử dụng rộng rãi các công thức, các mô hình toán vào kinh tế Hai nhà kinh tế tân cổ điển hoạt động từ thời ấy, đến nay vẫn hay được nhắc đến là Walras và Pareto Từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XXI này, kinh tế học tân cổ điển từng thời gian vẫn có những bước tiến triển, và hiện nay vẫn đang là lý luận

và phương pháp luận giữ vị trí ưu trội trong kinh tế học, đặc biệt là trong trào lưu được mang tên “trào lưu chính trị của kinh tế học”

Cần nói ngay rằng các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đều có biết đến vấn đề thể chế, nhiểu người có nghiên cứu và viết về thể chế, thí dụ tiêu biểu là Adam Smith đã có công trình rất hay và sâu về thể chế, chứ không phải là người chỉ đề xướng bàn tay vô hình của thị trường Tuy nhiên, sự thật không ai chối cãi là kinh tế học cổ điển và kinh tế học tân cố điển đã xem nhẹ vấn đề thể chế, không chú trọng đúng mức đến thể chế, không dành cho thể chế vị trí và tầm quan trọng đích đáng

Sở dĩ như vậy là vì kinh tế học cổ điển, và nhất là kinh tế học tân cổ điển, có ba đặc điểm nổi bật sau đây:

1 Phương pháp luận là cá nhân, lấy tác nhân kinh tế cơ bản là từng con người Nói rõ hơn, đó là “con người kinh tế” vốn có trong mỗi con neười, “con người kinh tế” có bản chất là: dự báo giỏi, phản ứng nhanh, điều chỉnh tốt, hợp lý hoá, và hướng tới tối ưu hoá Do đó, việc từng con người luôn luôn theo đuổi lợi ích cùa riêng mình, thông qua “bàn tay vô hình” của thị trường, sẽ dưa đến sự hợp lý hoá xã hội Một phương pháp luận như vậy tất nhiên dành

2 - B C C T T N N & C Đ

V I m u ĐẠI H Ọ C Q U Ố C G ia h à n ò i

AỊ-M H

Trang 17

2 Điển hình của mô hình kinh tế học tân cổ điển là mô hình thị trường cạnh tranh thuần khiết và hoàn hảo (tuyệt đối không có độc quyền, cũng không có yếu tố hạn chế cạnh tranh), trong các hoạt động kinh tế hoàn toàn không có chi phí giao dịch (nói cách khác, chi phí giao dịch bằng không (0).

3 Kinh tế học tân cổ điển cường điệu đến mức nhiều khi gần như tuyệt đối hoá các nhân tố vật chất (hoặc vật thể) của sản xuất, chung quy lại là lao động (cơ bấp) và vốn (dưới các hình thức khác nhau, kể cả đất đai và tài neuyên thiên nhiên khác cũng được coi là những loại vốn)

Đương nhiên, các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phải không biết đến các nhân tố như giáo dục, đào tạo, phân công lao động, tổ chức và quản lý, khoa học và công nghệ nhưng họ đã xem nhẹ những nhàn tố ấy, mà họ cho là nhân tố ngoại sinh, chứ không phải nhân tố nội sinh của kinh tế

Theo sự tóm tắt thô thiển, nhưng không đến nỗi sai lạc trên đây, thì quả là khó hiểu rằng một lý luận như vậy mà lại giữ được vị trí ưu trội trong kinh tế học hàng thế kỷ, cho đến thời đương đại Từ lâu, giới kinh tế học một mặt công nhận những thành tựu hiển nhiên của kinh tế học tân cổ điển, song mặt khác đã vạch rõ rằng nó quá xa đời sống thực tế và bất lực không giải thích được có sức thuyết phục nguyên nhân của thành quả kinh tế khác nhau giữa các nước, nguyên nhân của sự phát triển, sự chậm phát triển và sự thoái triển, đặc biệt là không giải thích được những bước ngoặt, những thay đổi về chất của các nền kinh tế

Quả thật các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã có sự mù quáng, đó không phải là sự mù quáng của người kém trình độ, không biết nhìn, không biết phân tích, mà là sự mù quáng của hệ thống và chân trời lý luận Đã theo (thậm chí

đã đề xướng) hệ thống ấy và ở trong chân trời ấy, thì người giỏi cũng không nhìn thấy những gì ở ngoài hệ thống, ngoài chân trời của mình

Từng có nhiều lý luận, nhiều học thuyết kinh tế ra đời và phát triển, khác nhiều hoặc thậm chí đối lập hẳn với kinh tế học cổ điển và kinh tế học tân cổ điển Nổi tiếng nhất, có giá trị nhất là kinh tế học C.Mác vào giữa và nửa cuối thế kỷ XIX, tiếp đó là kinh tế học Keynes vào đầu thập kỷ thứ 3 của thế kỷ XX Ở đày không phải là chõ nói về C.Mác và Keynes, chỉ xin nêu lên rằng: Có những công trình nghiên cứu và cả những cuốn sách phổ cập đã kê ra hàng mấy chục vấn đề kinh tê lớn và vừa, mỗi vấn đề lại lần lượt trình bày các quan điểm của kinh tế tân cổ điển, quan điểm kinh tế C.Mác, quan điểm kinh tế Keynes, và phân tích so sánh ba quan điểm ấy

Liên quan đến học thuyết kinh tế thể chế, đáng giới thiệu là một số nhà kinh tế thể chế và sử kinh tế đã khẳng định rất có căn cứ và lý lẽ rằng C.Mác

là nhà kinh tế đầu tiên đã nghiên cứu sâu và có phát hiện mới về các thể chế

Trang 18

kinh tế và các thể chê liên quan đến kinh tế, có người dứt khoát đặt vị trí lịch

sử của C.Mác là nhà tiền bối của học thuyết kinh tế thể chế, cá cũ và mới Căn cứ của họ là những thành tựu khoa học của C.Mác về vai trò của lực lượng sản xuất và các nhân tố toàn diện hợp thành lực lượng sản xuất; về vai trò của quan hệ sản xuất, đặc biệt là của chế độ sở hữu và chê độ phàn phối (tức là những thể chế kinh tế rất cơ bản); về quan hệ (lúc phù hợp, lúc mâu thuẫn) giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; về mối tương tác giữa cơ

sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng (tức là những thể chế chính trị, tư tưởng, vãn hoá, xã hội)

Đương nhiên, cần nhấn mạnh ràng phương pháp luận của kinh tế học C.Mác khác hẳn phương pháp luận của kinh tế học thể chế, đó là hai hộ thống, hai chân trời lý luận khác nhau, đưa đến những kết quả khác nhau

Ngoài kinh tế học C.Mác và kinh tê học Keynes, cũng còn nhữne học thuyết, những trường phái kinh tê khác, đều có ý định vượt quá và thay thế, từng phần hoặc toàn bộ kinh tế học tân cổ điển, bổ khuyết những thiếu sót của kinh tế học tân cổ điển Đáng kể hơn cả, có lẽ là “lý thuyết tăng trưởng mới”, nội sinh hoá tiến bộ khoa học công nghệ vào kinh tế, và học thuyết kinh tế thể chế, nêu bật vai trò rất to lớn, nhiều khi quyết định của các thể chê

và sự thay đổi thể chế trong thành quả của các nền kinh tế

Theo cách gọi thông dụng, học thuyết kinh tế thể chế cũ ra đời ở Mỹ vào thập kỷ thứ 2 và thứ 3 của thế kỷ XX, với những nhà khoa học nổi tiếng là Veblen, Mitchell và nhất là Commons Học thuyết này được báo trước và gợi

ý rất nhiểu bởi “trường phái lịch sử” trong kinh tế học ở Đức đầu thế kỷ XX Người xuất sắc nhất của trường phái lịch sử Đức là Gustav Schmoller, năm

1926 đã được Schumpeter đánh giá là “ cha đẻ” của học thuyết kinh tế thể chế

Mỹ Còn học thuyết kinh tế thể chế mới thì ra đời vào thập kỷ thứ 7 của thế

kỷ XX ở Mỹ và một số nước khác, từ đó phát triển đến nay Những học giả nổi bật của học thuyết này là North, Williamson, Thomas, Weingast v ề học thuyết kinh tế thể chế, nhất là học thuyết kinh tế thể chế mới, xin nêu tóm tắt mấy điểm:

Phương pháp luận của học thuyết kinh tế thể chế mới là cố gắng thực hiện một sự cân đối thích đáng giữa cá nhân (từng con người) với cộng đồng (các cấp, các loại), giữa phân tích vi mô, trung mô và vĩ mô v ề cá nhân tùng con người,

do coi trọng các thể chế kinh tế, xã hội, nên con người của học thuyết kinh tế thể chế mới khôns phải là con người kinh tế (homo - economicus), mà là con người

xã hội (homo r sociologicus), phong phú hơn, toàn diện hơn con nsười kinh tế

Đó là chỗ học thuyết kinh tế thể chế mới khác với kinh tế học tân cổ điển và chừng mực nào gần hơn với kinh tế học Keynes và kinh tế học C.Mác

Trang 19

Một số nhà n°hiên cứu cho rằng phương pháp luận của học thuyết kinh tế thể chế mới tuy cố gắng giữ cân đối giữa cá nhân và cộng đồng, song vẫn nặng về cơ sở cá nhân hơn, đó là chỗ nó gần với kinh tế học tân cổ điển và xa với kinh tê học Keynes và kinh tế học C.Mác.

Học thuyết kinh tế thể chế mới, như cái tên của nó, đi sâu nghiên cứu các thể chế và có nhiều phát hiện, nổi bật là vể năm phạm trù thực tế và lý luận sau đây:

1 Sở hữu và chế độ sở hữu (với cả hai tư cách là thể chế thuần tuý kinh tế

và thể chế pháp lý) Chế độ sở hữu có nhiều loại, song chủ yếu là sở hữu

tư nhân

Chú trọng nghiên cứu sở hữu là một điểm khác biệt lớn giữa học thuyết kinh tế thể chế mới với kinh tế học cổ điển và kinh tế học tân cổ điển, những lý luận này mặc nhiên coi sở hữu kinh tế là sở hữu tư nhân và không nghiên cứu gì sở hữu cả, ngay đến người nổi tiếng nhất của kinh

tế học cổ điển là Adam Smith cũng vậy

Một thành tựu quan trọng của việc nghiên cứu về sở hữu là sự hiểu biết mối quan'hệ giữa người chủ sở hữu và người đại diện (gọi là “lý luận về đại lý ” ), có những hệ quả thiết thực trong hoạt động kinh tế

2 Do chú trọng đến sở hữu mà học thuyết kinh tế thể chế mới phát hiện và nghiên cứu sâu về chi phí giao dịch các loại, điểu trái ngược với kinh tế học tân cổ điển coi chi phí giao dịch bằng không (0)

Nói vắn tắt, chi phí giao dịch là chi phí phát sinh khi những chủ sở hữu khác nhau cung ứng cho nhau sản phẩm hoặc dịch vụ (qua mua bán, vay mượn, cầm cố), hoặc chuyển nhượng, m ua bán sở hữu với nhau Những sự trao đổi như vậy đòi hỏi các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức phải có thông tin, tốt nhất là thông tin cần và đủ, tức là không thiếu, không thừa; chi phí để có thông tin (cũng là một loại chi phí giao dịch) có thể rất cao

3 Chế độ sở hữu và chi phí giao dịch thúc đẩy sự nghiên cứu của học thuyết kinh tế thể chế mới về các loại hợp đồng, bởi lẽ hợp đồng là thể chế kinh tế rất phổ biến, gắn liền với sở hữu, giao dịch và chi phí giao dịch

4 Học thuyết kinh tế thể chế mới đã xem trọng nghiên cứu các tổ chức, tức

là mặt tổ chức của thể chế, đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây, từ đó có những thành quả nghiên cứu quan trọng về nhà nước, tổ chức chính phủ, nền hành chính và cải cách hành chính, các tổ chức phi chính phủ, các

tổ chức quốc tế

Trang 20

5 Học thuyết kinh tế thể chế mới không nghiên cứu thể chế trong trạng thái tĩnh, mà trong trạng thái độne, đặc biệt nghiên cứu sự thay đổi thể chế, nguyên nhàn, tiến trình và hệ quả của sự thay đổi thể chế, nhất là tác động của sự thay đổi thể c h ế đối với công cuộc phát triển các nền kinh tế các quốc gia.

Cũng như đối với các học thuyết kinh tế khác, sự tóm tắt trên đây là thô thiển, rất không đủ, chỉ là sự giới thiệu rất lướt qua

Học thuyết kinh tế thể chế mới đã có những thành tựu lý luận và thực tiễn quan trọng, song cũng có những giới hạn rõ rệt mà chính nhiều nhà khoa học nổi tiếng của học thuyết ấy đã công nhận và phân tích Cũng nên nêu lên nhận xét rằng cho đến nay, trong tất cả các học thuyết kinh tế của loài người, chưa

có học thuyết nào thành công như hứa hẹn

Nếu chỉ nói một điều về giới hạn của học thuyết kinh tế thể chế mới, mà tạm gác những vấn đề về bản chất và nguyên tắc phương pháp luận, thì điều

đó có lẽ như sau: coi nhẹ thể chế là cái sai lớn, còn quá cường điệu thể chê là cái lầm to

Ở đây, một lần nữa chúng ta gập vấn đề mức, thường liên hệ chặt với vấn

đề chất Triết học, khoa học và thực tiễn của loài người cho chúng ta nhận thức rằng: nhiều khi mức quan trọng không kém gì chất, mức và chất là một cặp sinh đôi trong sự phát triển của thiên nhiên, xã hội, kinh tế và con người

Một điều đáng chú ý cần được nhấn mạnh là: cải cách thể chế và phát triển kinh tế, xã hội ở các loại nước khác nhau và ở nước ta đã không chỉ dựa vào học thuyết kinh tế thể chế mới, mà đã cố gắng vận dụng các thành quả tích cực của nhiều học thuyết kinh tế, ở nước ta thì đặc biệt chú trọng vận dụng kinh tế học c Mác, cũng như vận dụng nhiều khoa học có liên quan, như khoa học về nhà nước, hành chính học, xã hội học,

Trang 21

cơ chế đặc trưng.

Giải thích các mô thức của việc quản lý giao dịch tạo nên kinh tế gắn kết phức tạp và đa dạng của thế giới hôm nay, Hilton Root đã nêu ra “ba cơ cấu chuẩn tắc của sự trao đổi kinh tế” là cộng đồng, tôn ti trật tự và thị trường Root xác định:

• Nguyên tắc của quan hệ cộng đồng dựa trên trách nhiệm đối với cộng đồng và uy tín cá nhân,

• Tôn ti trật tự dựa trên kế hoạch và mệnh lệnh, phát triển mạnh trong những tổ chức quản lý theo chiều dọc, trong những xã hội thay thế giao dịch tài chính bằng dịch vụ,

• Thị trường định đoạt bởi thương lượng giữa người mua và người bán, tính toán dựa trên thông tin tổng hợp của giá c ả '

Peter H Calkins, trong “Chiến lược chuyển đổi sang một Trật tự Thế giới mới cho năm thế giới Nông thôn”, đã đưa ra quan điểm về nguyện vọng của loài người hướng tới ba cực là mục tiêu của trật tự th ế giới mới Đó là trục phúc lợi vật chất của thị trường, trục xã hội của nhà nước và trục tinh thần, đạo đức của “quan hệ có đi, có lại” Ba trục này chụm lại với nhau tạo thành một không gian ba chiều, và theo Calkins thì các cộng đồng, các quốc gia trên thế giới trong những thời điểm nhất định, đều nằm đâu đó trong không gian này Các nước công nghiệp theo cơ chế thị trường nằm trên vị trí cao của trục vật chất Các nước xã hội chủ nghĩa theo kinh tế k ế hoạch đã từng nằm ớ mức cao của trục xã hội Những cộng đồng thổ dân và các nước “thế giới thứ ba” nằm ở điểm cao của trục đạo đức hình thành trên “quà cáp và sự có đi, có

1 Xem Hilton Root Sách chưa xuất bản, http://iise m h assv.state.gov/posts/vnl/wwwhirctavn.html

Trang 22

lại” Xuất phát từ giả định về “sự giới hạn của tài nguyên sinh thái trên trục vật chất và xung đột tiềm năng giữa tự do cá nhân và luật và trật tự trên trục

xã hội” tác giả kết luận rằng: hầu hết các bối cảnh kinh tế thế giới đều bị phát triển lệch lạc, thiên về thị trường và nhà nước1

Nếu sự nhìn nhận của Root chủ yếu từ góc dộ quản lý kinh tế, nhằm đánh giá khả năng thông tin và ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia giao dịch để đảm bảo cam kết và thực hiện các hợp đồng của mình trong tương lai, nếu cách diễn giải của Calkins nhàm giải thích các định chế hoạt động và xu hướng phát triển của các cộng đồng, các quốc gia, các nền kinh tế, thì trong cuốn sách này, ba cơ chế được xem xét dưới một góc độ khác Đó là những công cụ điều chỉnh các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội nói chung của con người, hoạt động chi phối của chúng thể hiện qua việc điều hành trật tự, hoạt động xã hội; quản lý kinh tế, điều phối tài nguyên; giải quyết màu thuẫn, xung đột; định hướng phát triển, và nhiều hoạt động kinh tế - xã hội khác Tác động điều chỉnh của các cơ chế được thực hiện dựa trên ba hoạt động là định danh, thông tin và thưởng phạt

Trong sách kinh điển về nghiên cứu thể chế2, Douglass c North đã xem xét một cách tỉ mỉ và khoa học các hình thức vận động của thể chế (với nghĩa

là các hình thức giới hạn mà con người tạo ra để hình thành nên quan hệ qua lại của mình) trong hoạt động kinh doanh của thị trường và hoạt động chính trị của nhà nước Trong khuôn khổ nghiên cứu cơ chế của cuốn sách này, không bàn đến vấn đề tổ chức Các hình thức tổ chức chỉ được xem xét dưới góc độ những tác nhân tham gia các giao dịch xã hội Ví dụ, cũng là các tổ chức nhà nước nhưng khi tìm hiểu quan hệ kinh doanh giữa chúng với nhau thì chúng ta xem xét cơ chế thị trường của chúng; khi xem xét khía cạnh tranh chấp quyền lực chính trị thì chúng được nhìn nhận dưới khía cạnh cơ chế nhà nước; trong quan hệ ngoại giao, hợp tác thì được nhìn bằng con mắt của cơ chế cộng đồng

Năng lực của ba “ bàn tay” diều chỉnh các quan hệ sản xuất, quan hệ chính trị xã hội, các mối quan hệ phân bố sử dụng tài nguyên, thông tin, công nghệ, thể hiện ở sức mạnh và cơ c h ế hoạt động của chúng Sức mạnh của mỗi “ bàn tay” thể hiện ở thực lực và kỹ năng của chúng Sức mạnh của nhà nước ngày xưa được đo lường bằng số lượng dân cư, quy mô lãnh thổ, quân số binh sĩ ngày nay được so sánh bằng mức tăng và quy mô GDP, chỉ số phát triển con người HDI, chi tiêu quân sự Sức mạnh của một thực thể vể hoạt

Fulbright Economic Teaching Program: E co n o m ic D evelopm ent, Readings Course 2001 - 2002.

2 Xem Douglass c North: Các th ể chế sự th a y đ ổ i thê’c h ế và hoạt động kinh tê, N xb Khoa học xã

hỏi và Trung tàm nghiên cứu Bắc Mỹ Hà Nội 1998.

Trang 23

động thị trường được đo lường bằng khả nãng cạnh tranh, khả năng tích tụ tư bản, trình độ công nghệ, năng lực liên thông buôn bán, hiệu quả đầu tư, khả năng lan truyền tín hiệu giá cả để điều phối tài nguyên, mức độ tiết giảm chi phí giao dịch, ; Sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở khả năng phân cấp, giao quyền, mức độ tham gia ra quyết định và tự huy độno lực lượng của nhân dân, trình độ hoạt động tự giác và tự chủ của tổ chức cơ sở,

Hình thức hoạt động của cơ chế nhà nước là các khuôn khổ cứng của luật pháp, quy định và hoạt động can thiệp vào hoạt động kinh tế, xã hội Thị trường hoạt động theo hình thức tự do, thông qua hoạt động buôn bán, trao đổi, các bên tham gia đều có lợi, cạnh tranh trong kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Cộng đồng vừa dùng các khung luật lệ quy định, vừa phát huy vai trò tự chủ để thoả thuận, xây dựng các cam kết về nghĩa vụ và quyền lợi Tóm lại, năng lực tác động xã hội của thế lực nhà nước là khả năng ràng buộc, can thiệp và xây dựng, của thị trường là mức độ liên thông, cạnh tranh

và tự cân đối, của cộng đồng là năng lực giao tiếp, đàm phán và tự điều chỉnh

2 B ản ch ất h o ạ t đ ộ n g củ a b a cơ chê

Hoạt động của cơ ch ế thị trường

Xét về khía cạnh thông tin, tín hiệu chính của thị trường là giá cả, phản

ánh “ giá trị kinh tế” , thể hiộn mức độ khan hiếm của hàng hoá, dịch vụ được buôn bán Môi trường lan truyền thông tin kinh doanh là khu vực tham gia hoạt động giao dịch thương mại Để mô hình hoá các hoạt động này, người ta thường mô phỏng trên máy tính các mô hình “cân bằng cung cầu” , trong đó thông tin giá cả lan truyền theo nguyên tắc “bình thông nhau” hay trong phạm vi toàn bộ không gian thông tin để đạt tới cân bằng giữa sản xuất và

tiêu thụ Ví dụ một cách trực quan, trong chừng mực nhất định, mô hình này về nguyên tắc giống như những sa bàn được người ta đắp nổi với quy

mô nhỏ nhưng có cùng tỷ lệ địa hình, mô phỏng lại địa thế sông ngòi để cho nước chảy vào nhằm xem xét diễn biến phán

bổ dòng chảy và mức độ ngập lụt trong các công trình thủy lợi hoặc lưu vực sông

Trang 24

Theo mô hình thị trường cổ điển của Walras1, các hàng hoá phải giống nhau, trao đổi giao dịch diễn ra cùng thời điểm và địa điểm, các bên tham gia nắm đủ thông tin và điều kiện trao đổi, hay nói cách khác, chi phí giao dịch được coi như không đáng kể Do cả ba tác động (cạnh tranh cung, cạnh tranh cầu và thương lượng mua bán) cùng diễn ra liên tục gần như trong cùng thời gian nên có thể hình thành một điểm thống nhất cân bằng chung, đó là giá cả tức thời trên thị trường Tín hiệu giá do đó bao hàm trong nó cả thông tin về người sản xuất (công nghệ, quy mô, hiệu quả, ) cả thông tin về người mua (thu nhập, thị hiếu, sự cần thiết, ) và thông tin về người bán (chi phí giao dịch, hệ thông kinh doanh ) Do được hình thành một cách khách quan, nên trong một thị trường thông thoáng, giá cả tại các địa điểm giao dịch khác nhau về cơ bản sẽ phải tiến đến cân bằng, phản ánh giá trị hàng hoá chung của xã hội Giá cả là hình thức thông tin đặc biệt hiệu quả của cơ chế thị trường Joseph Stiglitz viết: đặc tính quý báu của một xã hội thị trường làcác thông tin rải rác được tập trung lại và được phản ánh thông qua giá cả và những động cơ khuyến khích mà giá cả tạo ra đối với hành vi của con người không cần đến sự tập trung thông tin hay lập kế hoạch mang tính tập trung hoá nào "2.

Kết cấu hoạt động của cơ chế thị trường xét một cách đơn giản gồm có hai khối tác nhàn chính đối lập nhau: khối các tác nhân phía cung (khối A) gồm các nhà sản xuất cùng tham gia làm ra một mặt hàng và bên kia là khối các đối tác cầu (khối B) cùng tham gia tiêu thụ chung một mặt hàng Trong khối cung

A, quan hệ chính giữa các nhóm trong khối là cạnh tranh quyết liệt nhằm

1 Douglass c North, Sách đã dẫn.

2 Hilton Root, Sách đã dẳn.

Trang 25

giành thị trường, thị phần, kết quả là tại điếm cân bằng, lợi nhuận chung giảm xuống mức thấp nhất cho phép, tươna đương với trình độ công nghệ và mức quản lý trung bình xã hội Trong khối cầu B diễn ra một quan hệ “hợp tác lỏng lẻo” Ví dụ, người cùng mua một sản phẩm thường tìm cách trao đổi thông tin với nhau về giá cả, tham khảo nhau về chất lượng hàng hoá, độ tin cậy về nguồn cung cấp, ở mức cao hơn thì hợp tác cùng nhau bảo vệ quyền lợi người mua, nhằm mua được hàng hoá với giá thấp nhất để có lượng hàng hoá cao nhất, với chất lượng tối đa trong phạm vi khả năng chi tiêu bình quân của

xã hội Giữa hai khối cung A và cầu B là quan hệ thoả thuận, mặc cả “thuận mua vừa bán”, tại điểm cân bằng nhu cầu cân đối với cung cấp Trong thực tế, trên thị trường, có nhiều loại hàng hoá có mối quan hệ qua lại với nhau (thay thế, phối hợp, ), cho nên bức tranh quan hệ chung của cơ chế thị trường phức tạp hơn rất nhiều so với trường hợp đơn giản của thị trường một hàng hóa

Hoạt động của cơ chê nhà nước

Tín hiệu của cơ chế nhà nước là

“ giá trị chính trị” biểu hiện quyền lực

chính trị của các thế lực, tổ chức, nhà

nước Môi trường lan truyền thông tin

là khu vực thuộc phạm vi kiểm soát,

bị khống chế bằng hoạt động chính

trị, quân sự, pháp chế của tổ chức, thế

lực Để mô hình hoá các hoạt động

này người ta có thể mô phỏng bằng

các mô hình lôgic sự tranh chấp

quyền lực giữa các nhóm thế lực để

đạt đến cân bằng quyền lực mới và quan hệ qua lại giữa người lãnh đạo và người chịu sự lãnh đạo để đạt đến cân bằng về lợi ích Xem xét một cách trực quan, các nghiên cứu này giống như việc tìm hiểu các thế cờ, các nước cờ trong một bàn cờ có nhiều đối thủ cùng chơi

Xét về cơ cấu của cơ chế nhà nước, cũng có hai khối Khối thứ nhất (khối A)

là các thế lực thống trị cạnh tranh với nhau, quan hệ giữa các thế lực bên trong khối là quan hệ cạnh tranh gay gắt giành quyền lực, giành chính trường Sự cạnh tranh này dẫn đến cân bằng quyền lực của lực lượng thống trị với khả năng huy động lực lượng tối đa và sử dụng chúng một cách hiệu quả của mỗi thế lực trong thời kỳ cao điểm Khối thứ hai (khối B) là khối bị trị, các thành viên trong khối

có quan hệ "hợp tác lỏng lẻo", họ trao đổi thôrm tin, bàn bạc với nhau khi chịu sự quản lý và “tiêu dùng” lợi ích từ dịch vụ cône của khối A cung cấp

Trang 26

Giữa hai nhóm thống tri và bị trị (siưa nhóm A và nhóm B) cũng gi ôn (-? 7 ' o o o2 nhưgiữa nhóm cung với nhóm cẩu của cơ chế thị trường, có mối quan hệ thoa thuận, mặc cả, trong đó mỗi bên đều nhằm tối đa hoá lợi ích thu được và tối thiểu hoá chi phí Ví dụ, người chịu quản lý tối đa hoá việc gây ảnh hưởng đến đường lối chính trị của nhóm cầm quyền (nhóm A), cô gắng dùng ảnh hưởng của mình thông qua phiếu bầu, thông qua dư luận xã hội, thôns qua

"vận động hành lang" để đòi hỏi được nhiều nhất từ dịch vụ công do khối thống trị cung cấp (được bảo vệ an ninh, thu hút nhiều công trình, dự án từ đầu tư chính phủ, tận dụns được nhiều chính sách hỗ trợ, ) và giảm nhẹ sự đóng góp và bị quản lý bởi khối cầm quyền (tìm cách giảm thuế, giảm lao dịch, giảm thủ tục ) Ngược lại, khối lãnh đạo tìm cách dùng sức mạnh cưỡng chẽ hành chính, dùn« tuyên truyền vận động, để huy độns được nhiều đóng góp của người bị quản lý (thu thuế cho nhu cầu ngân sách, bắt lính cho nhu cầu binh dịch, huy độns lao động cho nhu cầu công ích, phân cấp cho địa phương lo rủi ro về đê điều, an ninh, ) và buộc nhóm B phải tuân theo mệnh lệnh, phục vụ quyền lợi, tuân theo đường lối, tin theo tư tưởng của nhóm mình

Trong khi các hoạt động cạnh tranh tronạ khối cung (khối A) của cơ chế thị trường diễn ra tương đối liên tục hàng ngày, hàng giờ và thể hiện ở sự thay đổi giá cả tại các phiên chợ, phiên giao dịch thì hoạt động cạnh tranh tập trung trong khối A của cơ chế nhà nước (khối thống trị), tuy diễn ra liên tục nhưng thể hiện tập trung theo chu kỳ chính trị (các cuộc truyền ngôi, các kỳ bầu cử, các đợt đại hội, các cuộc chiến tranh, ) 4 - 5 năm hoặc lâu hơn nữa Trong cơ chế nhà nước, hoạt động mặc cả giữa hai khối A và B diễn ra liên tục, đi đến nhiều thoả hiệp liên tục, hình thành tương quan giữa người thống trị và người bị trị

Ngoài ra, nếu như trên thị trường có khi chỉ mua bán, trao đổi một loại hàng hoá, dịch vụ riêng biệt, thì việc trao đổi, mặc cả, tranh giành quyền lực

Trang 27

và chính trị thườnơ bao gồm nhiều “hàng hoá và dịch vụ” khác nhau đi kèm (quyền lực chính trị, xã hội, lãnh thổ, quyền sở hữu, quyền sử dụng, phân phối tài nguyên, ) Do không có mặt hàng đồng nhất, không có thời gian giao dịch liên tục và đồng nhất nên cơ chế nhà nước khác cơ chế thị trường là không tạo nên một giá trị chung có thể làm thước đo cho mật bằng quyền lực chung của các tác nhân tham gia giao địch giống như giá cả hàng hoá.

Ngoài quan hệ hai khối A và B thông thường như trong cơ chế thị trường,

cơ chế nhà nước còn có loại quan hệ xâm chiếm lãnh thổ, mở rộng quốc gia, trong trường hợp này, cả khối A và B ban đầu (ví dụ gọi là A l , Bl) sẽ tham gia với quan hệ với một khối A2, B2 khác để hình thành khối mới là A3, B3 Thông thường công cụ được dùng trong quá trình cạnh tranh dẫn đến đồng hóa, phối hợp này là bạo lực chiến tranh, tuyên truyền, vận động, mua chuộc, bồi thường, phức tạp và quyết liệt Ngược lại, quan hệ này cũng còn có dạng chia tách, ly khai của các lãnh thổ, quốc gia độc lập hoặc đòi tự trị Nhìn chung những yêu sách tranh chấp lãnh thổ, quyền cai trị cũng thường là

sự cạnh tranh quyền lực chính trị, trong đó nhóm A cầm quyền (cả AI và A2) đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định và chỉ đạo thực hiện Mô hình quan hệ cơ chế nhà nước nêu trên với hai khối tác nhân hơi khác mô hình “lý thuyết tân cổ điển về nhà nước” của Douglass c North1

Trong cuốn sách "Cuộc chiến tranh Palopon", nói về cuộc nội chiến giữa người Aten và người Xpac ở Hy Lạp cổ, sử gia Thukydides đã viết thay lời của một bên trong cuộc tranh chấp: "giống như chúng tôi, các anh cũng hiểu

rõ rằng trong mối quan hệ con người với nhau, sự công bằng chỉ có hiệu lực khi lực lượng giữa các bên cân bằng Những kẻ mạnh sẽ thực hiện điều có thể, còn kẻ yếu sẽ chấp nhận điều đó"2 Nhìn chung, tính chất cạnh tranh quyết liệt trong quan hệ trong nội bộ nhóm A của cơ chế thị trường và cơ chế nhà nước khiến người ta thường coi thương trường giống như chiến trường Cũng

vì tính cạnh tranh đối kháng ác liệt một mất, một còn khiến con người đổ nhiều công sức nghiên cứu, hình thành nhiều học thuyết, tốn nhiều giấy mực

để bàn về chiến lược, chiến thuật, đấu pháp trong chiến tranh và thương mại.Trong khi đó, ngay trong cơ chế thị trường và cơ chế nhà nước, các mối quan hệ nội bộ trong nhóm B do tính chất tương đối hoà hợp nên ít được chú

ý nghiên cứu Càng về sau, người ta càng nhận thấy sự phức tạp và vai trò

1 Trong mô hình của D onglass c North (1981, 2000) có kẻ cai trị và nhóm bị trị Người cai trị cung cấp sự bảo vệ và công lý một cách độc quyền cho thần dân và thu thuế của họ Trong khôi bị trị, các nhóm khác nhau có chi phí cơ hội và khả năng mạc cả khác nhau VỚI kẻ cai trị Ciiữa hai bên là nhữna đại diện gồm bộ máy quan liêu tham gia quản lý và những đại diện do các nhóm lợi ích khác nhau bầu ra để tạo điều kiện trao đổi hai bên.

“ Cuộc hành binh tới Bátđa, Tuần báo Thòi đui, Công hoà liên hang Đức J 3/2003.

Trang 28

quan trọng của chúng Nhữns mối quan hệ tưởng như êm dịu này thật ra đôi khi tác động mạnh mẽ vào tiến trình phát triển Một ví dụ là trường hợp ra đời

và phát huy tác dụng mạnh mẽ cúa lý thuyết kinh tế trọng cầu của Keynes vào nửa cuối thế kỷ X X 1

Hộp 1: Lý thuyết kinh tẽ của Keynes

Trước đây, lý thuyết kinh tế cổ điển hướng vào tăng cung Theo đó, muốn kinh tế quốc gia tăng trưởng phải phát triển sản xuất nhờ mở rộng sử dụng tài nguyên đất, lao động, tích lũy tư bản (và công nghệ) Năm 1936, sau cuộc Đại khủng hoảng thế giới, nhà kinh tế Anh John Maynard Keynes phát triển lý thuyết kinh tế cho rằng thu nhập thấp và thất nghiệp cao hạn chế tổng cầu mới

là nguyên nhân chính hạn chế tăng trưởng Muốn khắc phục suy thoái kinh tế, nhà nước phải sử dụng các công cụ tài chính và chi tiêu chính phủ để tăng cầu, kích thích kinh tế phát triển

Lý thuyết này công bô' năm 1936 làm chấn động các giới kinh tế và khi được áp dụng ngay sau đó một năm lập tức tỏ rõ kết quả trong chương trình phục hồi nền kinh tế Mỹ đang trên đà suy sụp nặng nề Do tác dụng rõ rệt của

nó, lý thuyết này tiếp tục ảnh hưởng đến chính sách kinh tế Mỹ suốt giai đoạn

từ thập kỷ 1940 đến tận thập kỷ 1970, thu hút sự chú ý của nhiều Tổng thống

Mỹ như Kennedy đầu những năm 1960 và cả Bill Clinton thập kỷ 1990 (Mankiw 1998) Điều kỳ lạ là ngay từ nãm 1932 Chính phủ Nhật Bản tuy không hề biết đến lý thuyết Keynes đã áp dụng đúng đắn các chính sách theo

lý thuyết này khi quyết định tăng chi tiêu vũ khí để kích cầu đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái Từ đó về sau, tăng cầu, nhất là cầu của nông thôn luôn là chính sách kinh tế của Nhật Bản

Tương tự như vậy, quan hệ giữa các khối, các cá thể trong cơ chế cộng đồng có vẻ “êm ả” hơn, nên dường như bị lãng quên một thời gian dài trong học thuật Nhưng càng ngày người ta càng ngạc nhiên khi nhận ra tầm quan trọng của chúng Không nghi ngờ gì, sự phát triển nhanh của kinh tế thể chế

sẽ giúp hiểu sâu thêm về các quan hệ cộng đồng và có thể tạo nên một bước ngoặt quan trọng về lý thuyết cũng như ứng dụng phát triển

1 Xem J.M Keynes: T he G eneral Theory o f E m ploym ent, Interest and Money 1936.

Trang 29

Hoạt động của cơ chè cộng đồng

Tín hiệu chính của cơ chế cộng đồng là “giá trị xã hội” , biểu hiện uy tín xã hội của mỗi con người hoặc từng tập thể Môi trường lan truyền thông tin cơ chế cộng đổng là khu vực chịu ảnh hưởng hoạt động xã hội của các cá nhàn

và tập thể có quan hệ Thông tin lan truyền theo nguyên tắc “tương tác tự nhiên” giữa các tác nhân trong trường thông tin để đạt tới một sự phối hợp linh động

Để mô hình hoá loại hoạt độna này, có thể mô phỏng cung cách cư xử của từng nhóm tác nhân xã hội khác nhau trong hoạt độne kinh tế, xã hội nhất định để đạt đến một cân bằng quyền lợi chung, v ề nsuyên tắc, để điều chỉnh quan hộ cho thích hợp với tương quan xã hội, giữa các thành viên trong cộng đồng thường xuyên diễn ra sự quan sát, thăm dò thu thập thông tin liên tục theo kiểu "nhìn mặt mà bắt hình dong" Sau khi phân tích thông tin, so sánh tương quan giữa mình và các tác nhân lân cận, mỗi cá nhân đưa ra cách ứng

xử thích hợp với các đối tác khác trong cộng đồng phù hợp với tương quan xã hội cho phép Đôi khi sự điều chỉnh này mang tính “thử - sai” và thuộc loại điều tiết tự thân V í dụ, buổi sáng một người rời nhà ra đường Cách thức chào hỏi với những người gặp gỡ tuỳ theo đánh giá của anh ta về mức độ thân

sơ, thứ bậc xã hội, mức độ cần tranh thủ, Có người hôm qua chỉ gật đầu, nhưng hôm nay trở thành khách hàng quan trọng, phải nói mấy câu lấy lòng

Có người trước đây vốn vui vẻ, hôm nay phải tỏ ra lạnh nhạt, vì mới có chuyện mếch lòng nhau

Robert Axelrod trong cuốn Tiến triển của hợp tác xuất bản năm 1984 chỉ

ra rằng: trong những quan hệ được lặp lại nhiều lần giữa con người, chiến lược giành được thắng lợi là chiến lược “ăn miếng trả miếng” , trong đó, mỗi người tham gia hoạt động đáp trả lại theo cách đúng như cách cư xử của đối

tác' Xem xét một cách trực quan, cách nghiên cứu này giống như người nghiên cứu thả các rô bốt có khả nãng tương tác, nhận biết, phản ứng

tự giác vào một sân chơi chung

để cho chúng tương tác ngẫu nhiên, từ đó tự học hỏi và hình thành luật chơi giữa chúng với nhau

1 R A x e lro d : T h e E v o lu tio n o f c o o p e r a tio n N ew York: Basic books 1984.

Trang 30

Xét về cơ cấu, trong trường hợp đơn giản nhất, nếu có hai cộng đồng quan

hệ với nhau thì hệ thống cũng được chia thành hai khối A và B, trong mỗi khối có thể có nhiều cá thê được coi là bình đẳng với nhau về quan hệ Hình thức quan hệ giữa các cá thể trong một khối khá đặc biệt, có tính chất vừa phối hợp vừa cạnh tranh, có thê gọi là mối quan hệ “tương tác” Sự cạnh tranh

và hợp tác này không mạnh và diỗn ra qua lại, tự điều chinh dần Mối quan hệ giữa hai khối lớn cũng giống quan hệ của các thành viên trong cộng đồng, là quan hệ “tương tác” , vừa cạnh tranh yếu vừa hợp tác yếu

Trong các quan hệ này, chi phí giao dịch là rất đáng kể để thực hiện các hoạt động định danh, thông tin, thưởng phạt Đồng thời do các hoạt động này cần có thời gian thực hiện nên các giao dịch được coi một cách tương đối là diễn ra cùng lúc nhưng trong một khoảng thời gian nhất định và chịu ảnh hường của thông tin tích lũy từ trước về đối tác tham gia giao dịch

Các cá thể trong cơ chế cộng đồng không mang ý nghĩa là các tổ chức mà

là các tác nhân (actors, stakeholders) khác nhau trong xã hội Đó có thể là những cá nhân con người, có thể là các cộng đồng địa phương, có thổ là các cộng đồng chuyên môn, cũng có thể là các quốc gia Trong thực tế, quan hệ tương tác thường có thể diễn ra giữa nhiều nhóm đồng đẳng với nhau tạo nên bức tranh phức tạp hơn nhiều về cân bằng quyền lợi giữa các cộng đồng Ngoài ra, bức tranh cộng đồng còn ở mức phức tạp cao do trong mỗi khối có thê chia ra những nhóm nhỏ không bình đẳng nhau trong quan hệ và hình thức quyền lợi của các cộng đồng cũng rất đa dạng

Tóm lại, trong cơ chế thị trường các tương tác diễn ra liên tục, nếu xét riêng từng tương tác thì diễn ra coi như đồns thời về không gian và thời gian (cả A - A, A - B) Trong cơ chế nhà nước, các tương tác tuy xảy ra liên tục nhưng cách quãng theo thời gian hơn Trong khối A - A tập trung thành từng thời kỳ ngắn quyết liệt sau đó ổn định tương đối trons một chu kỳ để tích luỹ thay đổi lực lượng cho lần thay đổi sau Giữa hai khối A - B tương quan thay

Trang 31

đổi diễn ra liên tục trong khoảng thời gian “yên tĩnh” của A - A Trons cơ chê cộng đồng, các quan hệ tương tác cũng xảy ra liên tục và xét riêng từng giao dịch thì xảy ra trong thời gian nhất định và còn chịu cả ảnh hưởng từ thông tin và kinh nghiệm của các giao dịch, quan hộ diễn ra từ trước (kèm theo dư

âm trễ của hoạt động cũ)

3 T ín h k h ách q uan củ a “ ba bàn ta y ”

Ba bàn tay: “bàn tay hữu hình” của nhà nước, “bàn tay vô hình” của thị trường và “bàn tay bán vô hình” của cộng đồng cùng tham gia điều hành mọi hoạt động trong xã hội loài người Ba mâu thuẫn chính về quyền lực, lợi nhuận, và quyền lợi trong xã hội loài người được cơ chế nhà nước, thị trường

và cộng đồng điều chỉnh để đạt đến điểm cân bằng có lợi nhất trong quy luật hoạt động xã hội Đã là quy luật khách quan thì sự hình thành và tồn tại của

ba “bàn tay” phải nằm ngoài sự dàn xếp của con người Chúng vận hành một cách khách quan nhờ những động lực tạo ra chúng tồn tại một cách tự nhiên

Sự khách quan của nhà nước

Như mọi sinh vật khác, quyền đầu tiên và quan trọng nhất là quyền sinh tồn của con người Khó có lời lý giải về lý do của sự sống Mọi người sinh ra

đương nhiên phải có quyền sống, muốn duy trì sự sống, muốn phát triển bình

thường và có điều kiện để tiến hoá và duy trì nòi giống, con người phải thỏa mãn được những yêu cầu thiết yếu của mình Lốccơ viết: "Luật của tự nhiên

là bắt buộc vì nó là tự do", theo ông, quyền tự nhiên của con người là tối cao

và bất khả xâm phạm Đó là quyền được sống, quyền tự do, quyền sở hữu 1

Đó là các quyền cơ bản được thể hiện trong Hiến pháp của nhiều quốc gia

như quyền có việc làm, có nhà ở, có lương thực, tự do đi lại, tự do cư trú, tự

do ngôn luận, bất khả xâm phạm về thân thể, bình đẳng nam nữ, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Những quyền tự nhiên ấy hình thành một cách hoàn toàn khách quan vì sự tồn tại và phát triển của bản thân loài người

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“ Bảy xin hiến pháp ban hành,Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”2

Có lẽ là nhắc đến những luật tự nhiên tối cao do tạo hóa ban cho con người Với các quyền này, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra

'H ọ c viện C h ín h trị qu ố c gia Hồ C hí M inh - CiS Hồ Vãn Thông (Chủ biên và tập thể tác

g iả): T ậ p b à i g iả n g C hính trị học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999.

2 H ồ Chí Minh: T oàn rập Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002 t.l tr.438.

Trang 32

có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc1.

Dân quyền thường nằm trong lời nói đầu của Hiến pháp của một số quốc gia dưới dạng Tuyên ngôn Nhân quyền, thậm chí còn có giá trị pháp lý cao hơn Hiến pháp Hiến pháp Đệ ngũ Cộng hoà Pháp viết: “Nhân dân Pháp long trọng tuyên bố trung thành với bản Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1789”2

Vì các luật lệ này đảm bảo những nhu cầu cơ bản nhất về sự sinh tồn và lẽ sống của con người nên được nhân dân thể hiện thành pháp luật cơ bản của loài người1 và sau đó mới là các pháp luật thứ phát do các nhà nước tạo nên

Từ các luật lệ mang tính căn bản đến các luật lệ thứ phát theo sau, tạo thành

hệ thống quy tắc chính thức được nhà nước ban hành và giám sát thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế và tuyên truyền giáo dục Xã hội loài người tổ chức nên nhà nước chính là vì cần có cơ chế đê bảo vệ và thực hiện các quyền

tự nhiên và thiết yếu của con nsười Khi mới hình thành, tổ chức nhà nước gắn với hiện tượng phàn chia giai cấp trong xã hội nhưng suốt quá trình tiến hóa của loài người, thê chế nhà nước tồn tại được vì nhu cầu khách quan của con người

Độna lực của cơ chế nhà nước là tối đa hoá quyền lực chính trị, từ mâu thuẫn chính là “mỗi người đều giành quyền lực” sẽ tạo nên lợi ích chính trị chung của xã hội Trong phạm vi “khối A” , thông qua cạnh tranh chính trị hoà bình của chế độ dân chủ, hoặc cạnh tranh vũ lực giữa các chế độ khác nhau, sẽ chọn lọc ra những cá nhân đại diện tiêu biểu nhất, những lực lượng chính trị mạnh nhất, từ đó hình thành tính hiệu quả và hợp lý của cương lĩnh chính trị chuna cho xã hội Giữa “khối A” và “khối B” , sự đấu tranh và thoả thuận giữa thống trị và bị trị cũng dẫn đến sự cân bằng lợi ích trong quan hệ quản lý Kết quả là thống nhất hành động, tối đa hoá tiện ích công cộng mà người dàn được hưởng Một khi chỉ có thể chế mạnh mới tồn tại vững bền, chỉ

có chính quyền có hiệu quả mới được nhân dàn tín nhiệm, chỉ có chính sách đúng mới được nhân dân tuân theo, thì cơ chế nhà nước sẽ thể hiện được lý do tồn tại khách quan của mình

1 Sđd, t.3 tr.555.

2 Sơn, B N Cơ sờ của chế độ bảo hiến, Nghiên cím lập pháp Văn phòna Quốc hội, Hà Nội, 12/2003 ' Xem “Thần linh pháp quyền” , Nguyễn Sỹ Dũng Tia Sáng Xuân Quý Mùi 2003.

Trang 33

Sự khách quan của thị trường

Mặc dù xét về quyển lợi với tư cách con người, mọi người sinh ra đều bình đẳng, nhưng xét về hoàn cảnh kinh tế, xã hội, con người đã khác biệt một cách tự nhiên ngay khi ra đời Sự giàu nghèo, xấu đẹp, khoẻ yếu, thông minh

và ngu dốt tạo nên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan của giađình và xã hội đặt trước cho mọi đứa trẻ những thế mạnh so sánh khác nhau ngay khi mới lọt lòng Trong cả cuộc đời, những thế mạnh, thế yếu đó được nhấn thêm, mờ đi tuỳ điều kiện sống của con người Một khi sự khởi đầu đã khác nhau, điều kiện cũng

khác biệt thì sự chênh lệch của

thân phận con người là tự

nhiên Với tác động đem lại

thắng lợi cho kẻ mạnh, kẻ hiệu

quả, tạo nên sự chọn lọc trong

xã hội, bàn tay vô hình của thị

trường mang tính khách quan

từ bản chất

Mục tiêu về lợi nhuận trong quan hệ giao dịch là mục tiêu thiết thân của mỗi cá nhân nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của mình từ thấp đến cao theo mức phát triển của cuộc sống Làm lợi cho mình mà không làm hại cho người khác, hay làm cho mọi người cùng có lợi là nguyên tắc tối cao của cơ c h ế thị trường Nó gắn giữa nhu cầu bản nãng của cá nhân với quyền lợi chung của cộng đồng và tạo ra nhu cầu khách quan của cơ chế thị trường.Mặt khác, nếu như hoạt động của cơ chế nhà nước phải dựa vào các hìnhthức chế tài bắt buộc, đôi khi phải gắn với hình phạt thì trong cơ chế thịtrường, hầu hết chế tài mang tính điều tiết tự thân, mặc dù đôi khi những điều tiết này cũng mang tính bắt buộc Có một độ, món phở nổi tiếng ở Hà Nội bị người ăn tẩy chay chỉ vì một số người bán hàng dùng phoócmôn làm chất bảo quản bánh phở Khách ãn đã phải rời bỏ các cửa hàng này, vì sợ ảnh hưởng đến sức khoẻ Để tiếp tục có thu nhập, chính chủ các cửa hàng phải tìm đến các cơ quan quản lý vệ sinh thực phẩm mời họ đến kiểm tra và cấp giấy chứng nhận không dùng phoócmôn trong phở cho nhà hàng Và tất nhiên không ai trong số họ muốn tái diễn chuyện tẩy chay này mà dùng lại phoócmôn trong bánh phở Khả năng phát huy hiệu lực một cách tự giác thể hiện rõ tính khách quan của cơ chế thị trường

Động lực của thị trường là tối đa hóa lợi nhuận Trong hệ thống, chính mâu thuẫn “mỗi người đều vì quyền lợi của mình” lại tạo nên tác động tổng hợp chung là cả xã hội cùng có lợi Hayek viết: “Thị trường là phương pháp duy

Trang 34

nhất được biết đến tronq việc cun£ cấp thông tin, giúp cho các cá nhân có thể đánh giá được nhữne lợi thê so sánh của những cách thức sử dụng nguồn lực khác nhau, dù họ không biết nhiều về nguồn lực đó Thông qua việc sử dụng nguồn lực của những cá nhân đó, dù họ có cố ý hay không, họ đã làm lợi cho nhiều cá nhân khác mà họ không hề quen biết” 1.

Trong nội bộ phạm vi “khối A” , sự cạnh tranh giữa các tác nhân lọc ranhững kẻ có năng lực cạnh tranh mạnh nhất, nhờ đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh chung Giữa “khối A” và “khối B” , sự mặc cả giữa cung và cầu dẫn đến quan hệ cân bằng lợi ích Kết quả cuối cùng đạt đến là tối đa hóa tiện ích cho người tiêu dùng thông qua đồng lợi ích của thoả thuận Một khi chỉ có kẻ mạnh, kẻ hiệu quả là chiến thắng, xã hội sẽ tiến theo tín hiệu hiệu quả, một khi buôn bán chỉ diễn ra nhờ thoả thuận có lợi cho mọi phía, thì quyền lợi của mọi người tham gia đều được tôn trọng Đó là cái lý của thị trường

Sự khách quan của cộng đồng

Con người là sinh vật xã hội, muốn cùng tồn tại và phát triển ổn định trong

xã hội, trước hết mọi người phải tìm ra và thống nhất cung cách cư xử với nhau Bàn tay bán vô hình của cộng đồng bao hàm các quy tắc ràng buộc quan hệ con người mang tính phi chính thức như các giá trị, chuẩn mực, cung cách ứng xử của con người trong tập thể cộng đồng hoặc giữa các cộng đồng với nhau Chúng đã hình thành từ khi quan hộ giữa người với người vượt lên trên các quan hệ bầy đàn của các loài động vật có sinh hoạt xã hội khác

Những câu như: "Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau"; "Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ"; "Lời chào cao hơn mâm cỗ" là các quy tắc hình thành từ kinh nghiệm hàng nghìn đời truyền lại hoặc được đúc kết thông qua nguyên tắc “thử - sai” trong thực tế cuộc sống, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo, nhằm tiến đến quan hệ xã hội ổn định, an toàn và mang lại quyền lợi cho mọi cá nhân,

vì vậy mang tính khách quan từ bản chất Từ các kết luận trong đời sống khái quát lên thành các chuẩn mực hành xử của phong tục, tập quán, truyền thống, đạo lý, các quy tắc thường xuyên được điều chỉnh, đánh giá lại qua hiệu quả thực tiễn, tuy có dạng kinh nghiệm nhưng vẫn giữ tính thực dụng rõ nét, bảo đảm được sự gần gũi với thực tế khách quan

Động lực của cộng đồng là tối ưu hoá quyền lợi của mọi thành viênthông qua thoả thuận và hợp tác phối hợp luật chơi chung Mâu thuẫn nội

bộ luôn hình thành và thay đổi tuy không mạnh mẽ Cũng giống như trong

Hayek: Tính tự phụ chết người, Nxb Đại học Chicago, 1988; Hilton Root, sách đã dẫn.

Trang 35

cơ chế thị trường, mâu thuẫn "ai cũng muốn tạo ra ảnh hưởng có lợi cho mình" trong xã hội rút cục lại đem lại lợi ích chung cho mọi người Trons mỗi cộng đồng, các thành viên trong quá trình cạnh tranh khôno gay gắt luôn có động lực hướng về hoàn thiện mình để có uy thế xã hội mạnh hơn

Cố gắng này giúp xã hội trở nên hiệu quả, sự hợp tác nhẹ nhàng giữa các tác nhân giúp đạt tới cân bằng quyền lợi tập thể, và sự cọ xát giữa các cộng đồng hướng tới điểm đồno nhất về quyền lợi chung của xã hội Kết quả đạt đến là tối đa hóa sự ổn định của môi trường xã hội thôna qua sự đồng thuận về luật chơi và giải pháp

Mâu thuẫn dẫn đến đấu tranh, nhờ đấu tranh hình thành động lực phát triển Cạnh tranh tạo ra cơ hội đê chọn lọc, chọn lọc đem lại hiệu quả ngày càng cao Đây là quy luật chung trong sự vận động của thế giới tự nhiên và cũng là quy luật của xã hội loài người Trong ba bàn tay, cơ chế nhà nước

và cơ chế thị trường luôn tiềm ẩn và sôi sục những mâu thuẫn và hoạt động cạnh tranh m ạnh mẽ, một mất một còn, có lẽ cũng chính vì vậy mà đời sống thương mại, hoạt động kinh tế, đời sống chính trị luôn luôn sống động, muôn hình vạn trạng, thúc đẩy sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ và kinh tế quản lý Mô hình mới, lý thuyết mới luôn ra đời

để giải thích, tổng hợp kiến thức mới của con nsười

Trong khi đó, trong khuôn khổ C Ư chế cộng đồng, mâu thuẫn “nhẹ

n h àn g ” , cạnh tranh cũng ở mức độ “vừa phải” nên quá trình tiến hoá, thay đổi không nổi bật như hai cơ c h ế trên So sánh với sinh giới, có lẽ nếu như nhà nước và thị trường đóng vai trò tạo "biến dị" thì cộng đồng đóng vai trò "di truyền" trong xã hội loài người Nó cho phép con người thực hiện những điều chỉnh nhỏ giữa các cá thể đủ đê lưu giữ lại, chuyển giao các giá trị truyền thống giữa các thế hệ, vận hành ổn thoả trong khuôn khổ những gì đã hình thành giữa những lần “đột b iến ”

Ba cơ c h ế này khác biệt nhau về mức độ tự nhiên Cộng đồng luôn luôn

có mặt khi con người giao tiếp, quan hệ với nhau nên mang tính phổ biến, bền vững một cách tự nhiên nhất Thị trường xuất hiện khi con nsười cần buôn bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, có phạm vi và điều kiện giới hạn hơn nhưng vẫn m ang tính khách quan rõ nét Nhà nước là quan hệ của con người mang tính tổ chức xã hội rất cao nên có khung phạm vi hẹp hơn và mang tính chủ quan hơn cả

Trang 36

4 C ô n g cụ , biện p h á p đặc tru n g ch o từ n g cơ c h ế

Theo H Root1, công cụ của kiểu quản lý “tôn ti trật tự” là mệnh lệnh, là quản lý tập trung theo chiều dọc còn thị trường định đoạt bởi việc thương lượng giữa người mua và người bán Nhưng nếu phân chia công cụ của các cơ chế sâu hơn, chúng ta sẽ có kết quả khác Quản lý tập trung theo thứ bậc trên dưới “theo chiều dọc” như H Root mô tả, không chỉ là cung cách của cơ chế nhà nước mà còn là của cơ chế cộng đồng Điều khác nhau là trật tự của nhà nước là trật tự biến đổi theo chu kỳ và dựa trên nguyên tắc chọn lọc đại diện (bầu cử, tranh cử) hoặc dựa vào sự cạnh tranh của đấu tranh quyền lực, trong khi đó, tôn ti trật tự của cơ chế cộng đồng được hình thành dựa theo những nhân tố kinh tế, xã hội khách quan, biến đổi một cách làu dài, tương đối tĩnh

Đó là sự hình thành và phân chia quyền lực, quyền lợi theo đẳng cấp, theo tuổi tác, theo mức độ cống hiến, mức tin cậy trung thành theo cung cách

“sống lâu lên lão làng” , “con vua thì lại làm vua” Cũng như vậy, mệnh lệnh không chỉ là biện pháp của cơ chế nhà nước hay “tôn ti trật tự” Trong cơ chế cộng đồng, mệnh lệnh cũng được sử dụng phổ biến Điều khác biệt chính của mệnh lệnh của cơ chế nhà nước là loại “mệnh lệnh cứng” , bất di bất dịch, trong khi mệnh lệnh của cơ chế cộng đồng là loại “mệnh lệnh m ề m ” , được hình thành và thực hiện trong khuôn khổ mềm dẻo của quá trình thương lượng2

Tương tự như vậy, thương lượng cũng không chỉ là công cụ của cơ chế thị trường mà còn được áp dụng rộng rãi trong cơ chế cộng đồng Sự khác biệt giữa hai hình thức thương lượng là chúng được tiến hành dựa trên những căn

cứ khác nhau Cơ chế thị trường tiến hành thương lượng dựa trên mặt bằng giá

cả chung, được hình thành một cách khách quan theo quan hệ cung cầu và các chi phí giao dịch cần thiết, còn cơ chế cộng đồng thực hiện việc thương lượng dựa vào khả năng thông tin giữa các đối tác, trên triển vọng làm ăn lâu dài, trên kỹ năng và lợi th ế đàm phán

Ngoài ra, cơ chế cộng đồng không chỉ vận hành dựa trên trách nhiệm với cộng đồng và uy tín cá nhân như những định đề cho trước theo cách H Root3

mô tả, mà cái chính là dựa trên các hoạt động về thông tin, đàm phán, thoả thuận, quy định thống nhất, để xây dựng nên sự tin cậy và ràng buộc giữa các thành viên trong cộng đồng, hình thành nên luật chơi và trật tự của cộng đồng trong quá trình phát triển theo kiểu “ăn miếng trả miếng” , “ông trao chân giò, bà thò nậm rượu”

1 ' Hilton Root, sách đã dẫn.

2 Xem phần Mệnh lệnh cứng và mệnh lệnh mềm trong Mật yếu cùa cơ c h ế cộng đồng.

Trang 37

Các quy chế, kể cả chính thức và không chính thức là công cụ của cả ba cơ chế Cơ chế nhà nước có các quy chế chính trị, luật pháp quy định trật tự thứ bậc, trình tự hoạt động của tổ chức nhà nước, ; cơ chế thị trường có quy chế kinh tế, hợp đồng xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền phân chia lợi ích, ; cơ chế cộng đồng có các quy chế luật tục địa phương, các quy định gia đìn h

Tóm lại, mỗi cơ chế được đặc trưng bởi một số hình thức hoạt động và vận hành mang tính “chính thống”, đó là những phương thức hoạt động nổi trội, phù hợp với bản chất và hình thức tổ chức của mỗi cơ chế Ngoài ra còn có những công cụ phụ trợ, thậm chí những công cụ “không chính thống” tuy cũng đặc trưng cho cơ chế nhưng lại mang tính tiêu cực

Công cụ của cơ chê nhà nước

Trong mối quan hệ nhà nước, có hai khối chính là thế lực thống trị (khốiA) và thế lực bị trị (khối B), công cụ được sử dụng chính của khối thống trị để quản lý nhà nước và lãnh đạo khối B là luật pháp, thể chế, mệnh lệnh hành chính, bạo lực trấn áp, thông tin tuyên truyền, cấp phát ngân sách hoặc chi tiêu của chính phủ, thu thuế, huy động sức người

Hộp 2: Bộ luật Hamurabi

Hamurabi, Quốc vương xứ Babilon vàờ thế kỷ XVIII trước Công nguyên đã ban hành bộ luật được ghi lại bằng vãn tự đầu tiên của loài người còn lại đến ngày nay, đánh dấu việc chuyển từ áp dụng cơ chế cộng đồng trong chế độ nô

lệ sang cơ chế nhà nước của chế độ phong kiến

Bộ luật gồm 3 phần, trong đó vua thay trời ban hành luật lệ để bảo vệ giai cấp chủ nô bằng 282 điều luật cụ thể về thủ tục tô' tụng, quan hệ chủ và nô lệ, quy định bồi thường thiệt hại, cho vay và trả nợ, hôn nhân, thừa kế, xử phạt

Bộ luật này được khắc trên một cột đá, dựng ở nơi công cộng tại điện thờ Macđuc trong thành Xiâxan

Với việc quy định và thi hành pháp luật rõ ràng, Vương quốc Babilon cổ từ một quốc gia nhỏ yếu, sau 36 năm đã trở nên hùng mạnh, thống nhất toàn bộ vùng Lưỡng Hà, trở thành một nhà nước tập quyền hùng mạnh

(Nguồn: 102 Sự kiện nổi tiếng thế giới, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2001).

Trang 38

Ngược lại, khối B bị trị, dùng các công cụ như ý kiến công luận, bầu cử, biểu tình, vận động hành lang để giao tiếp và cân bằng ảnh hưởng của mình với khối A.

Tùy theo giai đoạn phát triển của xã hội, biện pháp của cơ chế nhà nước có thể được thể hiện qua hình thức quản lý tập trung độc tài hoặc dàn chủ cộng hoà Douglass c North viết: “Ở Beirut, các quyền có giá trị nhất nằm trong lĩnh vực công cộng sẽ do những người có thế lực nhất chiếm giữ, còn trong trường hợp ở Mỹ, cơ cấu luật pháp sẽ xác định và bắt buộc thực hiện phần lớn các quyền” 1

Machiavelli, tác giả của cuốn sách The Prince được coi là tác phẩm kinh

điển của giới chính trị phương Tây viết: "chỉ thu thuế mà không có quyền đại diện thì là độc tài", theo ông, đồng tiền thuế và lá phiếu bầu là hai công cụ quan trọng và đối trọng nhau để đảm bảo quan hệ giữa 2 khối A và B trong cơ chế nhà nước vận hành êm ả Nhưng cũng theo Machiavelli2, công cụ chính của quyền lực chính trị phải là lực lượng quân sự chứ không phải là tôn giáo hay pháp luật Có nhiều chính khách chia sẻ quan điểm này, như tư tưởng

"súng đẻ ra chính quyền", đã được áp dụng một thời ở Trung Quốc là ví dụ điển hình

Trong lịch sử, vũ lực thường vẫn được dùng như một giải pháp chính trị khi các giải pháp chính trị hoà bình đã thất bại, ở Anh những năm 30 của thế kỷ XVIII cũng như ở Bắc Mỹ những năm 30 của thế kỷ XIX, các cử tri đã dùng

lá phiếu của mình xoá bỏ chế độ nô lệ tàji bạo, nhưng ở phía nam nước Mỹ,

để làm được điều đó phải dùng đến nội chiến đổ máu Và những cuộc chiến tranh nhiều khi cũng đem lại thất bại đau đớn mà chẳng thu dược kết quả gì

1 D ouglass c North, sách đã dẫn.

2 Machiavelli: The Prince, 1527.

Trang 39

Những nhà cách mạng như Mohandas Gandhi không tán thành sự lạm dụng các công cụ bạo lực để giành và giữ chính quyền Trong hoàn cảnh dựng nước giữa thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhưng đã gọi tổ chức quàn sự đầu tiên là đội quân "Tuyên truyền giải phóng", đề cao nhiệm vụ tuyên truyền vận động quần chúng Trong hoàn cảnh gấp gáp của thời cơ giành độc lập, Hồ Chí Minh vẫn kiên quyết tổ chức Quốc dân Đại hội tại Tân Trào để tạo thế hợp pháp cho Chính phú Lâm thời và lập tức sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đã tiến hành cuộc phổ thông đầu phiếu lần đầu tiên trong lịch sử để thành lập Quốc hội và Chính phủ dân chú cộng hoà đầu tiên của đất nước Chính những lá phiếu bầu tự nguyện của toàn dân đã giúp chính quyền dân chủ nhân dàn của Việt Nam ra đời và đứng vững với bản Hiến pháp đầu tiên như Hồ Chí Minh thực sự tin tưởng.

Hộp 3: Thuê phải đi đôi với quyền đại diện - cuộc đấu

tranh của nước Mỹ thuộc địa

Thế kỷ XVIII, nước Mỹ bị thực dân Anh cai trị, nhân dân phải đóng thuế nặng nề nhưng không có quyền bầu cử, quyền phát ngôn Năm 1763, nghị sĩ James Otis giương cao khẩu hiệu của Machiavelli: "chỉ thu thuế mà không có quyền đại diện là độc tài", phát động nhân dân đứng lên chống chính quyền thực dân Năm 1765, Nghị viện Anh bắt dân thuộc địa chịu thêm sắc thuế con niêm đánh vào mọi văn kiện công hoặc tư, với khẩu hiệu của Machiavelli, dân Mỹ ở New York, Boston và nhiều thành phố nổi dậy đốt con niêm, phá tài sản công, tẩy chay hàng hoá Anh

Năm 1773, Nghị viện Anh lại cho phép Công ty Ấn Độ của Anh bán phá giá chè xuất khẩu sang Mỹ còn tồn kho và bắt dân thuộc địa vẫn phải đóng thuế mua chè Với sự ủng hộ cao độ của nhân dân, các thành viên của tổ chức

"Người con của tự do" đã đột nhập cảng Boston, leo lên tàu buôn, vứt xuống biển 342 thùng chè, nhen nhóm lên cuộc cách mạng giành độc lập tự do của thuộc địa Mỹ Từ những sắc thuế vô lý, quan hệ giữa kẻ đi thống trị và người

bị trị đã đổ vỡ, dẫn đến cao trào cách mạng lật đổ chế độ thực dân Anh trên đất Mỹ

(N g u ồ n : K iến thứ c th ờ i n a y , 453; 3/2003; L âm Bác V ăn: N hất cú thoại cải biên

th ế g iớ i, N x b T iê n G iác, Đài Bắc 12/2002).

Trang 40

Theo quan điểm của H Zeigler và T Dyc thì những người sáng lập nước

Mỹ không tin tưởng tuyệt đối vào cả quần chúng lẫn những quan chức được dân bầu Đông đảo dân chúng cũng có lúc bồng bột, đại biểu được bầu cũng

có lúc mị dân Vì vậy, tư pháp phải trở thành công cụ quan trọng của cơ chế nhà nước Mỹ Thước đo cho đúng sai trong xã hội phải là hệ thống luật pháp được phát triển một cách khoa học và lâu dài Toà án phải có tư cách độc lập cách ly cả với ảnh hưởng nhất thời của quần chúng Toà án tối cao nắm quyền hành tối đa, nó có quyền tuyên án bất kỳ một hành vi đối lập với hiến pháp nào của tổng thống hay nghị viện Toà án Mỹ hàng năm giải quyết 10 triệu vụ việc và đã giải quyết thành công cả nhiều vấn đề chính sách quan trọng như xoá bỏ nạn phân biệt chủng tộc, cách ly ảnh hưởng hoạt động của nhà thờ, xác lập quyển tự do báo chí, tự do ngôn luận, báo vệ quyền phá thai của phụ nữ, 1

Công cụ của cơ c h ế thị trường

Trong mối quan hệ thị trường, giữa khối cung (khối A) và khối cầu (khốiB), công cụ quan hệ chính là thương lượng kinh doanh, buôn bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, hoạt độna thanh toán bằng tiền tệ, hoạt động tuyên truyền quảng cáo giới thiệu hàng hoá Trong nhóm A của cả hai cơ chế thị trường và cơ chế nhà nước đều có loại quan hộ cạnh tranh (trong nội bộ nhóm cung và nhóm cai trị) Công cụ trong hoạt động cạnh tranh có thể chia làm hai loại: nâng cao ưu thế của mình và hạ thấp ưu thế của đối thủ cạnh tranh

- Loại biện pháp tự nâng cao ưu thế của mỗi bên, thường là biện pháp “hợp luật chơi” được ủng hộ và cho phép, miễn là khi nó còn diễn ra trong phạm vi không làm phương hại trực tiếp đến các đối thủ hoặc các bên liên quan khác Các biện pháp này

trong cơ chế thị trường gồm: tuyên truyền quảng cáo, hạ giá thành, nâng cao chất lượng, tăng thêm giá trị gia tăng ; trong

cơ chế nhà nước gồm tuyên truyền chương trình hành động, vận động bầu cử, cải tiến quản lý, cải cách hành chính, chạy đua vũ trang

- Loại biện pháp nhằm hạ ưu thế đối thủ, loại bỏ đối thủ, làm phá vỡ thế

ổn định, thường tạo ra rủi ro đối đầu

Học viện C hính trị qu ố c gia Hồ Chí M inh - GS Hồ V ãn T hông (Chú biên và tập th ể tác

giả): T ậ p b ùi ỊỊÌàntỊ C h ín h trị học, Nxb Chính trị quốc gia, H à Nội, 1999.

Ngày đăng: 05/03/2021, 18:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm