1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới

43 364 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số khuyến nghị và giải pháp hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới
Tác giả Trịnh Thị Bích Hồng
Trường học Trường ĐH Lao Động- Xã Hội
Chuyên ngành Khoa Bảo Hiểm
Thể loại Báo cáo TTTN
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 92,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, trong một hợp đồng bảo hiểm bao gồm hai phần: phần một bảo hiểm cho các thiệt hại vật chất từ a đến e và phần hai bảo hiểm cho trách nhiệm

Trang 1

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới

3.1 Phương hướng hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới.

- Mục tiêu của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện: Phát triển ổn định, bềnvững, hiệu quả

- Đảm bảo tốc độ tăng trưởng doanh thu bảo hiểm hàng năm của Công ty bằng tốc độ tăng trưởng của thị trường; tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phíbảo hiểm cả giai đoạn là 12%

- Xây dựng PTI thành doanh nghiệp bảo hiểm chuyên nghiệp, uy tín, hiệu quả với phương châm hoạt động “Trao niềm tin tận tay khách hàng”

- Đẩy mạnh và đa dạng hóa hoạt động đầu tư, đưa hoạt động này trở thành hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu của doanh nghiệp trong giai đoạn tới

- Đến năm 2010, chuyển đổi mô hình Công ty thành Tổng Công ty

Bảng 5: Dự kiến kế hoạch lợinhuận và cổ tức PTI 2007-2010

Tỷ lệ lợi nhuận sau

thuế/Doanh thu thuần (%)

Trang 2

3.1.2 Chiến lược thị trường.

- Khai thác triệt để thế mạnh đối với các sản phẩm PTI hiện đang cung cấp đặc biệt là sản phẩm bảo hiểm thiết bị điện tử nhằm duy trì và nâng cao vị trí và thịphần của PTI trên thị trường bảo hiểm

- Xây dựng và phát triển hệ thống phân phối sản phẩm bảo hiểm qua kênh phân phối của mạng lưới Bưu cục Bưu chính Việt Nam

3.1.3 Phát triển nguồn nhân lực.

- Xây dựng đội ngũ nhân viên trình độ cao, kỹ năng tốt nhằm đáp ứng nhữngyêu cầu ngày càng cao của khách hàng và các thay đổi của thị trường

- Nâng cao trình độ và kinh nghiệm của bộ máy lãnh đạo

- Với nỗ lực không ngừng, PTI đã phát triển đội ngũ trên 500 cán bộ nhân viên làm việc tại Hà Nội, 22 chi nhánh, các văn phòng đại diện trong phạm vi toàn

quốc

3.2 Các giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra.

1 Nâng cao khả năng tài chính và năng lực cạnh tranh, mở rộng đầu tư đẩy nhanh tiến trình hội nhập

2 Xây dựng mô hình tổ chức phù hợp nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh

3 Đào tào đội ngũ nhân viên và lãnh đạo nhằm phát huy tối đa nội lực

4 Cân đối dòng tiền, đảm bảo khả năng thanh toán và đa dạng hóa nguồn đầu tư sinh lời

5 Đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất

6 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ

7 Hợp tác chặt chẽ với các đối tác trong và ngoài nước nhằm trao đổi kinh nghiệm và tiếp thu công nghệ mới

8 Tăng cường khai thác qua hệ thống bán lẻ và triển khai thêm một số phòngBảo hiểm khu vực

3.3 Kiến nghị với công ty.

Trang 3

1 Sớm hoàn thiện hệ thống phần mềm phục vụ công tác kế toán, thống kê và báo cáo Làm việc với VNPOST thống nhất về phần mềm quản lý triển khai qua

hệ thống bưu cục phục vụ kênh bán lẻ trên cơ sở đơn giản, đầy đủ dữ liệu đảm bảo kiểm soát của PTI

2 Thường xuyên cập nhật năng lực Công ty vào bộ hồ sơ thầu quy chuẩn (có

mở rộng) để phục vụ công tác thầu các dự án

3 Thực hiện quảng cáo , khuyếch trương hình ảnh của PTI trong hiện tại và lâu dài như quảng cáo tấm lớn, quảng cáo tài trợ, phối hợp với các tổ chức tài chính ngân hàng trong hoạt động bán hàng và khuyến mại sản phẩm, tham gia các chương trình giao lưu văn hoá, hoạt động thể thao…

4 Xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược khách hàng dài hạn tạo định hướng tích cực cho hoạt động kinh doanh tại các đơn vị

5 Xử lý các kỹ thuật nghiệp vụ và khai thác, thực tế hoá các tình huống xử

lý trong hoạt động kinh doanh tại các đơn vị

6 Hỗ trợ các đơn vị trong quan hệ khách hàng, mở rộng và quan hệ sâu hơn với các Bộ, Ban, Ngành và các địa phương khác nhau để có thêm cơ hội tiếp cận khai thác, tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị phần của công ty

Trang 4

PHẦN 2:

CHUYÊN ĐỀ “ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH- GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG Ở PTI

HIỆN NAY” CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG

VÀ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH – BỒI THƯỜNG 1.1 Tổng quan về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:

1.1.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:

1.1.1.1 Vai trò của ngành xây dựng:

Hiện nay, các kiến trúc hiện đại được xây dựng trên cơ sở khoa học và công nghệ Phạm vi của ngành xây dựng ngày càng được mở rộng hơn: từ những ngôi nhà cấp bốn, đến những “ tháp” cao hàng trăm tầng, từ những công trình thủy lợi mương máng đến những con đập khổng lồ ngăn hàng ngàn mét khối nước, từ các con đường, cây cầu, đường hầm đến các sân bay, cầu cảng, nhà máy… Các phát minh về kỹ thuật, công nghệ gần đây làm gia tăng tầm cỡ, và mức độ phức tạp cho các dự án xây dựng Ngành xây dựng đã và đang đạt được nhiều thành tựu quan trọng mà thiếu nó, chúng ta hầu như không thể khẳng định được sự tiến bộ của loàingười Sự văn minh, phát triển của một quốc gia được đánh giá qua cơ sở vật chất

hạ tầng- được đảm bảo thông qua ngành xây dựng Và con người hàng ngày đang thực hiện xây dựng mới, nâng cấp các công trình về quy mô nhằm nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả sản xuât, tiến hành mở rộng quy mô sản xuất, đảm bảo mối quan hệ tỷ lệ, cấn đối, hợp lý cho sự phát triển kinh tế giữa các ngành, các khuvực, các vùng kinh tế trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước Tạo điềukiện xóa bỏ dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền

ngược, năng cao trình độ dân trí cho người dân Ngành xây dựng tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động xã hội, dân sinh, quốc phòng thông qua việc đầu tư xây dựng các công trình xã hội, cơ sở hạ tầng Góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân Bên cạnh đó, hàng năm, ngành công nghiệp xây dựng đóng góp cho ngân sách hàng ngàn tỷ đồng Giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn công nhân

1.1.1.2 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng

- Trong kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào, kinh doanh trong ngành nghề nào đều cần có sự đảm bảo về mặt tài chính để bù đắp cho những thiệt hại do

những rủi ro không lường trước được gây ra Ngành xây dựng ngày càng có vai tròquan trọng trong quá trình phát triển đất nước, mặt khác, nếu gặp rủi ro, thiệt hại thường là rất lớn Vì thế Bảo hiểm xây dựng là một nhu cầu khách quan, và hầu hếtcác gói thầu xây dựng, Bảo hiểm thường là bắt buộc

- Thực tế gần đã cho thấy tầm quan trọng của bảo hiểm xây dựng như thế nào khi một số vụ tai nạn đáng tiếc xẩy ra như sập hai nhịp dẫn cầu Cần Thơ, sập cầu Trung Lương… Nhờ có sự san sẻ của các công ty bảo hiểm mà hậu quả của những vụ tai nạn đó được khắc phục nhanh chóng hơn

1.1.2 Một số định nghĩa:

Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng là loại hình bảo hiểm ra đời tương đối muộn

so với các nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm

Trang 5

cháy,… Ở Việt Nam, loại hình bảo hiểm này bắt đầu được áp dụng từ đầu nhữngnăm 80 và được áp dụng phổ biến trong những năm gần đây Trong nhóm cácnghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật bao gồm bảo hiểm xây dựng, lắp đặt, bảo hiểm máymóc, bảo hiểm thiết bị điện tử,… thì doanh thu phí bảo hiểm xây dựng, lắp đặtchiếm tỷ trọng lớn nhất.

Hiện nay, hầu hết các dự án xây dựng, lắp đặt có giá trị lớn đều được bảohiểm xây dựng, lắp đặt để đảm bảo bù đắp về mặt tài chính cho chủ đầu tư trongtrường hợp tổn thất xảy ra trong quá trình thi công xây lắp Đây là loại hình bảohiểm liên quan đến rất nhiều khía cạnh kỹ thuật trong các ngành nghề khác nhau từxây dựng cao ốc văn phòng, khách sạn đến các nhà máy, xí nghiệp, kể cả nhữngcông trình hết sức đặc thù như nhiệt điện, thuỷ điện, xi măng,…

Để có thể nắm vững được nội dung nghiệp vụ, cần đề cập đến một số địnhnghĩa và diễn giãi sau :

- Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng của bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các công trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp,vv…vv., hay nói cách khác là bao gồm tất cả các công trình xây dựng mà kết cấu của nó có sử dụng xi măng và bê tông cốt thép Cụthể các nhóm công trình sau:

- Nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, rạp hát, rạp chiếu phim, các công trình văn hóa khác…

- Nhà máy, xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất…

- Đường sá ( bao gồm cả đường bộ và đường sắt) đường băng sân bay…

- Cầu cống, đê đập công trình thoát nước, kênh đào, cảng…

Mỗi công trình bao gồm nhiều hạng mục riêng biệt được xác định và dự tìnhthông qua sơ đồ tổng thể, bản vẽ thiết kế cùng các máy móc trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác xây dựng cũng như công việc có liên quan trong quá trình xây dựng Để thuận tiện cho việc tính phí bảo hiểm cũng như giải quyết khiếu nại trong trường hợp tổn thất xẩy ra, một công trình được chia thành nhiều hạng mục khác nhau Bao gồm:

a Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng: Hạng mục này chiếm phần lớn giá trị công trình Nó bao gồm tất cả các công việc của chủ thầu chính ( bên B ) và tất cả các nhà thầu phụ của chủ thầu chính theo hợp đồng xây dựng ký kết giữa bên

A và bên B : Từ công tác chuẩn bị, dọn dẹp mặt bằng, xây dựng các công trình tạmthời phục vụ cho công tác thi công cho đến công việc đóng cọc, làm móng và xây dựng cấu trúc chính của công trình

b Trang thiết bị xây dựng: Gồm các thiết bị cố định phục vụ thi công như các công trình phụ trợ ( lán trại, trụ sở tạm thời, kho bãi, nhà xưởng ), giàn giáo, hệthống băng tải, thiết bị cung cấp điện, nước, rào chắn…Khi yêu cầu bảo hiểm cho các thiết bị này cần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm

c Máy móc xây dựng: Bao gồm các mày móc có động cơ tự hành hoặc tự hành phục vụ thi công như máy xúc, máy ủi, cần cẩu, xe chuyên dùng…thuộc

Trang 6

quyền sở hữu của người được bảo hiểm hoặc họ đi thuê Các loại máy móc này chỉ được bảo hiểm trong thời gian sử dụng trên khu vực công trường Khi yêu cầu bảo hiểm cho các máy móc này cần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm.

d Các tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực công trường thuộc quyền

sở hữu, quản lý, trông nom, coi sóc của người được bảo hiểm Trường hợp này thường có ở các công trình mở rộng hoặc cải tạo lại, các tài sản trên có thể bị thiệt hại trong quá trình xây dựng mới Giá trị của tài sản này không nằm trong giá trị của công trình mới nên chúng thường không thuộc phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm xây dựng Nhưng nếu người được bảo hiểm có nhu cầu thì người bảo hiểm cóthể xem xét và mở rộng phạm vi bảo hiểm theo điều khoản bổ sung

e Chi phí dọn dẹp hiện trường Bao gồm các chi phí phát sinh do việc thu dọn và di chuyển mảnh vụn, đất đá do các rủi ro được bảo hiểm xẩy ra trên phạm

vi công trường

f Trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba : Bao gồm các trách nhiệm pháp lý do thiệt hại về tài sản và/ hoặc thương tật thân thể củabên thứ ba phát sinh trong quá trình thi công công trình tại hoặc xung quanh khu vực công trường Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các tổn thất đối với người làm công, người thân hoặc người đại diện của người được bảo hiểm không thuộc phạm vi bảohiểm này

Đối với nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, trong một hợp đồng bảo hiểm bao gồm hai phần: phần một bảo hiểm cho các thiệt hại vật chất (từ a đến e) và phần hai bảo hiểm cho trách nhiệm đối với người thứ ba ( phần f )

- Người được bảo hiểm:

Mỗi công trình xây dựng là một quy hoạch tổng thể có liên quan đến rất nhiều khíacạnh của các vấn đề pháp luật, hợp đồng và kỹ thuật cho nên việc hợp tác chặt chẽ giữa các bên là vấn đề cấp thiết không thể thiếu được

Chính vì vậy, việc xác định rõ người được bảo hiểm trong một công trình xây dựng là vấn đề cấp thiết Trong bảo hiểm xây dựng, tất cả các bên liên quan đến công việc xây dựng và quyền lợi trong công trình xây dựng và được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảo hiểm đều có thể là người được bảo hiểm:

- Chủ đầu tư hoặc chủ công trình ( bên A trong hợp đồng xây dựng )

- Nhà thầu chính ( bên B trong hợp đồng xây dựng )

Hình 1: Các bên liên quan đến công trình

Trang 8

Các công ty tái bảo hiểm

Người bảo hiểm

Công ty giám định

Chủ đầu tư

Tư vấn, giám sát và các bên liên quan khác

Nhà thầu xây lắp Hình 2: Sơ đồ quan hệ giữa các bên để thực hiện bảo hiểm cho dự án

Quan hệ trực tiếp

Quan hệ gián tiếp

- Người bảo hiểm:

Là các công ty bảo hiểm, có cam kết bảo hiểm cho các đơn vị bảo hiểm thông qua hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng Người tham gia bảo hiểm phải đóng phí cho người bảo hiểm, ngược lại, người bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường chi trả cho đối tượng thụ hưởng khi sự kiện bảo hiểm xẩy ra

- Bên mua bảo hiểm

Bên mua bảo hiểm là chủ đầu tư (hoặc ban quản lý dự án) Trường hợp phí bảo

hiểm đã được tính vào giá trúng thầu thì nhà thầu thực hiện việc mua bảo hiểm

Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm

- Người thứ ba:

Là bên khác, ngoài bên được bảo hiểm và bên bảo hiểm phải chịu tổn thất hay

được quyền nhận tiển bồi thường, chi trả do hậu quả của hành động hay khiếm

khuyết của bên được bảo hiểm gây ra

- Trách nhiệm đối với người thứ ba:

Là trách nhiệm pháp lý của người được bảo hiểm đối với bên thứ ba phát sinh trực tiếp từ các công việc xây dựng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm

- Giá trị bảo hiểm:

Trong hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng bao gồm hai phần, phần bảo hiểm cho những tổn thất vật chất và phần bảo hiểm trách nhiệm người thứ ba Vì thế

trong hợp đồng, giá trị bảo hiểm cũng được chia làm hai phần:

- Số tiền bảo hiểm:

Là khoản tiền được xác định trong hợp đồng bảo hiểm thể hiện hạn mức trách

nhiệm của công ty bảo hiểm Đó là số tiền tối đa mà công ty bảo hiểm phải chi trả, bồi thường cho bên được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xẩy ra Số tiền bảo

hiểm tương ứng với mức phí mà người tham gia đóng cho nhà bảo hiểm

- Tỷ lệ phí bảo hiểm và Phí bảo hiểm:

Phí bảo hiểm hay giá trị hợp đồng là số tiền bên được bảo hiểm phải thanh

toán cho bên bảo hiểm để được bảo hiểm thao quy định của hợp đồng Do hợp

đồng bảo hiểm được ký kết trước khi khởi công công trình, vì thế phí bảo hiểm

được tính trong hợp đồng chỉ là phí tạm tính, phí bảo hiểm chính thức sẽ được tính toán theo quyết toán công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Người được bảo hiểm bồi thường

Trang 9

Một công trình xây dựng, có thể bao gồm nhiều hạng mục

Ví dụ: Như xây dựng khu đô thị thông thường bao gồm phần đường nội bộ, các nhà cao tầng, biệt thự, công viên,…Công ty bảo hiểm tính phí bảo hiểm riêng cho từng hạng mục công trình sau đó tính tổng phí bảo hiểm

Trong quá trình tính phí bảo hiểm, nếu đối tượng bảo hiểm không có trong biểu phí, thì sẽ được tham chiếu tới những đối tượng bảo hiểm khác có mức độ rủi

ro tương tự

Mặc dù Bộ Tài chính có đề nghị không nên sử dụng tiếp Quyết định số

33/2004/QĐ-BTC ngày 12/04/2004, song hiện tại Bộ tài chính cũng chưa có văn bản nào thay thế cho nghị định 33, nên hiện nay các công ty bảo hiểm vẫn đang áp dụng Biểu phí bảo hiểm xây dựng, ban hành kèm theo Quyết định này

Biểu phí bảo hiểm áp dụng cho các công trình và các hạng mục có tổng số tiền bảo hiểm không vượt quá 50.000.000 USD Đối với các công trình có giá trị từ50.000.000 USD trở lên, phí bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thoả thuận và được xác định trên cơ sở tỷ lệ phí bảo hiểm của một công

ty đứng đầu nhận tái bảo hiểm được các tổ chức định giá quốc tế xếp hạng có khả năng tài chính tốt (Standard & Poor's xếp hạng từ B trở lên, Moody's xếp hạng từ

A trở lên…) cung cấp

Tỉ lệ phí bảo hiểm rủi ro lũ lụt chỉ được áp dụng cho các đối tượng bảo hiểm không nằm trong các khu vực có độ cao thấp hơn mực nước biển hoặc khả năng xảy ra lũ lụt cao và các thông tin về rủi ro lũ lụt phải được cung cấp đầy đủ dựa trên cơ sở thống kê 25 năm Nếu đối tượng bảo hiểm được đặt trong khu vực có khả năng xảy ra rủi ro cao thì có thể tăng tỉ lệ phí bảo hiểm rủi ro lũ lụt một cách phù hợp

Điều chỉnh phí bảo hiểm

a) Giảm phí bảo hiểm

Theo Quy định của Bộ Tài chính, có thể tăng hoặc giảm mức phí bảo hiểm trong phạm vi 25% so với tỉ lệ phí qui định trong biểu phí cơ bản của Bộ Tài chính.Tuỳ từng trường hợp cụ thể, nhà bảo hiểm tính toán mức phí bảo hiểm theo biểu phí rồi cân nhắc tình hình thị trường để áp dụng một mức giảm phí thích hợp (nếu cần) ;

b) Tăng phí bảo hiểm

Tỷ lệ phí cơ bản chỉ được áp dụng trong trường hợp không có các nguy cơ đặc biệt làm tăng khả năng xảy ra rủi ro Tuy nhiên, trong thực tế rất nhiều công trình gặp phải những nguy cơ hay yếu tố làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro như:

- Sự thiếu kinh nghiệm của chủ thầu;

- Phương pháp xây dựng công trình mới lạ;

- Kết cấu tầng đất phức tạp, đòi hỏi phải có các loại móng đặc biệt;

- Nước ngầm làm suy yếu nền đất;

- Nguy cơ xẩy ra lún đất, sụt lở đất đá;

- Sự không đảm bảo an toàn cháy nổ, an toàn lao động trên công trường

Do đó, khai thác viên cần đánh giá rủi ro một cách kỹ lưỡng, đồng thời thu thập đầy đủ các thông tin liên quan đến dự án xây dựng, để có thể đưa ra mức phí bảo hiểm hợp lý nhất

Trang 10

- Mức miễn thường và mức miễn thường có khấu trừ:

Mức miễn thường là số tiền mà công ty bảo hiểm bắt đầu chấp nhận bồi

thường khi sự kiện bảo hiểm xẩy ra Nếu trong một hay một loạt vụ tổn thất, giá trịthiệt hại bé hơn hoặc bằng mức miễn thường, công ty bảo hiểm sẽ không bồi

thường; chỉ khi nào giá trị thiệt hại lớn hơn mức miễn thường, công ty bảo hiểm

mới có trách nhiệm bồi thường Vì giá trị bảo hiểm của mỗi hợp đồng bảo hiểm

mọi rủi ro thường rất lớn, và nếu gặp rủi ro thì tổn thất cũng rất lớn, mặt khác để đềcao hơn trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm, các công ty bảo hiểm thường đưa ra mức miễn thường có khấu trừ

Mức khấu trừ hay mức miễn thường có khấu trừ là số tiền bên được bảo hiểm

phải tự chịu trong mỗi vụ tổn thất hay một loạt các vụ tổn thất bắt nguồn từ một sự kiện khi số tiền đó bằng hoặc nhỏ hơn giá trị mức khấu trừ được quy định trong hợp đồng.Nếu tổn thất trong các trường hợp trên lớn hơn mức khấu trừ thì bên bảo hiểm phải thanh toán cho bên được bảo hiểm số tiển bảo hiểm chênh lệch Mức khấu trừ áp dụng cho cả hai phần trong hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro tài sản, tức

là cả bảo hiểm tổn thất vật chất và bảo hiểm trách nhiệm người thứ ba Mỗi phần

sẽ có một mức miễn thường riêng Nhưng đối với bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba, mức miến thường chỉ áp dụng đối với tổn thất tài sản của người thứ

ba, không áp dụng cho những thiệt hại về người

- Thời hạn bảo hiểm:

Thời hạn bảo hiểm được ghi rõ trong hợp đồng bảo hiểm Thời hạn bảo hiểm thường là thời gian thi công công trình được tính từ khi bắt đầu khởi công công trình đến khi hoàn thiện hay chuyển giao hoặc đưa vào hoạt động Trên thực tế thờigian thi công không nhất thiết phải trùng với thời hạn ghi trong hợp đồng

Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm xây dựng chỉ thực sự có hiệu lực sau khi người được bảo hiểm đã trả phí bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm trừ khi có thoả thuận khác bằng văn bản

Thông thường, thời hạn bảo hiểm bao gồm thời gian:

- Lưu kho ( vật liệu ) trước khi xây dựng ( tối đa là ba tháng)

- Giai đoạn xây dựng

- Kiểm nghiệm, chạy thử ( nếu có máy móc )

- Thời gian bảo hành

1.1.3 Phạm vi bảo hiểm và công việc bảo hiểm trong nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:

1.1.3.1 Bảo hiểm thiệt hại vật chất:

- Bảo hiểm thiệt hại vật chất:

Nếu trong thời hạn bảo hiểm, bất kỳ một hạng mục tài sản nào có tên tronghợp đồng bảo hiểm hay bất kỳ bộ phận nào của hạng mục đó bị tổn thất bất ngờ

và không lường trước được do bất kỳ nguyên nhân nào khác với những nguyênnhân bị loại trừ dưới đây gây ra tới mức cần phải sửa chữa hoặc thay thế thìdoanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểmtổn thất đó theo quy định tại quy tắc bảo hiểm này bằng cách trả tiền, sửa chữahoặc thay thế (theo sự lựa chọn của doanh nghiệp bảo hiểm) Mức bồi thườngđối với từng hạng mục tài sản ghi trong hợp đồng bảo hiểm không vượt quá số

Trang 11

tiền bảo hiểm của hạng mục tài sản đó và trong phạm vi hạn mức trách nhiệmbồi thường đối với mỗi sự kiện bảo hiểm (nếu có) Tổng số tiền bồi thường bảohiểm không vượt quá tổng số tiền được bảo hiểm quy định trong hợp đồng bảohiểm.

Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảohiểm chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi xảy ra tai nạn dẫn đến yêu cầu bồithường với điều kiện số tiền bảo hiểm cho chi phí này đã được quy định tronghợp đồng bảo hiểm

- Các điểm loại trừ áp dụng đối với bảo hiểm thiệt hại vật chất:

Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không có trách nhiệm bồi thường đối với:

a) Mức khấu trừ quy định trong hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm phải

tự chịu mức khấu trừ này trong mỗi sự kiện bảo hiểm

b) Tất cả các loại tổn thất có tính chất hậu quả, bao gồm tiền phạt, tổn thất dochậm trễ, do không thực hiện được công việc, thiệt hại mất hợp đồng;

c) Những tổn thất trực tiếp do thiết kế sai;

d) Những chi phí thay thế, sửa chữa, khắc phục khuyết tật của nguyên vật liệuhoặc của lỗi do tay nghề kém, tuy nhiên loại trừ này chỉ hạn chế trong chínhnhững hạng mục bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất của các hạng mục khác xảy ra

do hậu quả của nguyên vật liệu bị khuyết tật hoặc tay nghề kém không bị loạitrừ;

e) Các hiện tượng ăn mòn, mài mòn, ô xy hoá, mục rữa do ít sử dụng hay diễn

ra trong điều kiện áp suất, nhiệt độ bình thường;

g) Tổn thất hoặc thiệt hại đối với máy móc, trang thiết bị xây dựng do hỏng hóchoặc trục trặc về điện hoặc về cơ, do nứt vỡ, do chất lỏng làm nguội hoặc dungdịch khác bị đông đặc; do hệ thống bôi trơn có khiếm khuyết hoặc do thiếu dầuhay chất lỏng Tuy nhiên, nếu do hậu quả của những sự cố hỏng hóc hoặc trụctrặc này làm xảy ra tai nạn gây thiệt hại đối với những hạng mục được bảo hiểmthì những thiệt hại đó sẽ được bồi thường;

h) Mất mát hay thiệt hại đối với xe cơ giới được phép sử dụng trên đường côngcộng hay phương tiện vận tải thuỷ và máy bay;

i) Mất mát hay thiệt hại đối với hồ sơ, bản vẽ, chứng từ kế toán, hoá đơn, tiền,tem phiếu, văn bản, chứng thư nợ, cổ phiếu, thư bảo lãnh, séc;

k) Mất mát hay thiệt hại chỉ phát hiện được vào thời điểm kiểm kê

- Các điều khoản áp dụng đối với bảo hiểm thiệt hại vật chất

Số tiền bảo hiểm:

a) Đối với các công trình xây dựng: công trình công cộng, nhà ở, giao thông :

Số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm bao gồm toàn bộ vật liệu, tiềnlương, cước phí vận chuyển, thuế hải quan, các loại thuế khác, nguyên vật liệuhay các hạng mục do chủ công trình cung cấp và không được thấp hơn tổng giátrị hợp đồng xây dựng

Trang 12

b) Đối với trang thiết bị xây dựng, máy móc xây dựng phục vụ quá trình xâydựng : Số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm không được thấp hơn giátrị thay thế (giá thị trường) của trang thiết bị xây dựng và máy móc xây dựng,tức là chi phí thay thế các hạng mục được bảo hiểm bằng các hạng mục mớicùng loại và cùng tính năng.

Trong trường hợp có sự biến động đáng kể về tiền lương hay giá cả, ngườiđược bảo hiểm cần phải điều chỉnh lại số tiền bảo hiểm Việc điều chỉnh này chỉ

có hiệu lực sau khi đã được ghi vào hợp đồng bảo hiểm hoặc có văn bản chấpthuận của doanh nghiệp bảo hiểm

Trong trường hợp có tổn thất, nếu phát hiện thấy số tiền bảo hiểm thấp hơngiá trị của tài sản được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có trách nhiệmbồi thường cho người được bảo hiểm theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trịcủa tài sản được bảo hiểm Mọi đối tượng và khoản mục chi phí đều phải tuân

theo điều kiện này một cách riêng rẽ.

- Cơ sở giải quyết bồi thường:

Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bồi thường saukhi đã chấp nhận các tài liệu, chứng từ cần thiết để chứng minh rằng việc sửachữa đã được tiến hành hay việc thay thế đã được thực hiện Chi phí sửa chữatạm thời sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm chịu nếu như chi phí đó là một bộ phậncấu thành của việc sửa chữa chính thức và không làm tăng chi phí sửa chữa Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường mọi chi phí nhằm cải hoán, bổ sung và/ hoặc nâng cấp các hạng mục được bảo hiểm

1.1.3.2 Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba:

- Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba:

Trong phạm vi các số tiền bảo hiểm quy định trong hợp đồng bảo hiểm, doanhnghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những số tiền màngười được bảo hiểm có trách nhiệm pháp lý phải bồi thường những thiệt hạiphát sinh do việc gây ra:

a) Thương vong hay ốm đau bất ngờ cho người thứ ba (chết hay không chếtngười),

b) Tổn thất bất ngờ đối với tài sản của người thứ ba,

Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phát sinh với điều kiện những thiệthại nêu trên có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng các hạng mục được bảohiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tại khu vực công trường hay khuvực phụ cận trong thời hạn bảo hiểm

Đối với những yêu cầu bồi thường được chấp nhận thanh toán, ngoài các khoảnchi phí phải trả thuộc phạm vi bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệmbồi thường thêm cho người được bảo hiểm:

- Tất cả chi phí pháp lý mà bên nguyên đơn đòi được từ người được bảo hiểm;

- Tất cả các chi phí đã phát sinh với sự đồng ý bằng văn bản của doanh nghiệpbảo hiểm,

Trang 13

Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm thuộc phần này không vượt quá hạnmức bồi thường ghi trong hợp đồng bảo hiểm.

- Các điều khoản áp dụng đối với bảo hiểm trách nhiệm với người thứ ba:

a) Người được bảo hiểm hay người thay mặt người được bảo hiểm không được

tự ý thừa nhận, đề xuất, hứa hẹn thanh toán hay bồi thường các khoản tiền liênquan đến hợp đồng bảo hiểm nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của doanhnghiệp bảo hiểm Khi cần thiết doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tiến hành bàochữa hoặc giải quyết bất kỳ khiếu nại nào dưới danh nghĩa người được bảohiểm hay có quyền đứng tên người được bảo hiểm để tiến hành khởi kiện haythực hiện các biện pháp khác đòi bồi thường thiệt hại và có toàn quyền hànhđộng trong việc tiến hành tranh tụng hay giải quyết khiếu nại Người được bảohiểm có nghĩa vụ cung cấp mọi thông tin có liên quan và hỗ trợ khi doanhnghiệp bảo hiểm yêu cầu

b) Đối với tai nạn thuộc trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có thể trả cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bồi thường (sau khi trừ đi bất kỳ khoản tiền đền bù nào đã trả cho vụ tai nạn đó) hoặc trả một khoản tiền ít hơn đúng với sốtiền có thể chấp nhận bồi thường cho vụ tai nạn đó, sau đó doanh nghiệp bảo hiểm

sẽ không chịu thêm bất kỳ trách nhiệm nào liên quan đến tai nạn đó theo quy định tại Điều này

1.1.3.3 Phạm vi bảo hiểm áp dụng chung cho bảo hiểm thiệt hại vật chất và bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba:

Các rủi ro chính thuộc trách nhiệm bồi thường của Đơn bảo hiểm xây dựng có thể chia thành 3 nhóm:

Nhóm 1: Tác động của thiên nhiên hay rủi ro thiên tai

- Gió mạnh (bão, gió xoáy, cuồng phong);

- Hoạt động của núi lửa;

Nhóm 2: Các tổn thất gây ra do hoạt động của con người

- Thiếu kinh nghiệm, kỹ năng;

- Các lỗi của con người như: Bất cẩn, sơ sót, phối hợp công việc thiếu hợp

lý, lỗi vận hành;

- Trộm cắp;

- Hành động ác ý, phá hoại của người làm công;

- Tập trung cao độ/cường độ làm việc quá cao do thời gian xây dựng quá ngắn;

- Trông nom bảo vệ công trường không tốt;

- Thiếu các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất;

- Rủi ro thiết kế;

Trang 14

- Vận chuyển, khuân vác nguyên vật liệu trên phạm vi công trường;

Nhóm 3: Rủi ro kỹ thuật, vận hành các máy móc thiết bị xây dựng thi công trên

- Lỗi của hệ thống, thiết bị điều hành, điều khiển;

- Áp suất ép quá lớn gây nổ (nổ vật lý);…

Các nhóm rủi ro được liệt kê rõ ràng để giúp Khai thác viên có được những đánh giá sơ bộ về khả năng xảy ra và mức độ rủi ro

- Các điểm loại trừ áp dụng chung cho bảo hiểm thiệt hại vật chất và bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba :

Doanh nghiệp bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường về thiệt hại vật chất hoặc trách nhiệm đối với người thứ ba gây nên bởi, phát sinh từ hoặc có thể quy cho:

1 Chiến tranh, xâm lược, hành động thù địch của nước ngoài (có tuyên chiến hay không tuyên chiến), nội chiến, bạo loạn, bạo động có thể dẫn đến nổi dậy vũ trang hoặc dành chính quyền;

2 Hành động khủng bố có nghĩa là hành động do một người hay một nhóm người thực hiện đơn độc hoặc nhân danh hoặc có liên quan đến bất kỳ tổ chức hoặc chínhphủ nào vì mục đích chính trị, tôn giáo, tư tưởng hoặc các mục đích tương tự bao gồm cả ý đồ gây ảnh hưởng đến bất kỳ chính phủ nào, làm cho dân chúng hoặc bất

kỳ bộ phận dân chúng nào lo sợ

Những loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này không bao gồm những tổn thất, thiệt hại, chi phí, phí tổn do bất kỳ nguyên nhân nào trực tiếp hay gián tiếpgây ra bởi, bắt nguồn từ hoặc có liên quan đến bất kỳ hành động nào được thực hiện để kiểm soát, ngăn chặn, dập tắt hoặc có liên quan đến những sự kiện được nêu tại khoản 1 và 2 của Điều này

Nếu căn cứ theo những loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này mà

doanh nghiệp bảo hiểm từ chối bồi thường cho tổn thất, thiệt hại, chi phí hay phí tổn theo hợp đồng bảo hiểm, thì Người được bảo hiểm có trách nhiệm chứng minh rằng các tổn thất, thiệt hại, chi phí hay phí tổn đó thuộc trách nhiệm bảo hiểm và không thuộc các trường hợp loại trừ quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này

3 Phản ứng hạt nhân, phóng xạ hạt nhân hay nhiễm phóng xạ

4 Hành động cố ý hay sơ suất lặp đi lặp lại của người được bảo hiểm;

5 Ngừng công việc dù là toàn bộ hay một phần;

6 Tổn thất đối với dữ liệu, phần mềm và các chương trình máy tính, bao gồm:

- Tổn thất hay thiệt hại đối với dữ liệu hoặc phần mềm, đặc biệt là bất kỳ sự thay đổi bất lợi nào về dữ liệu, phần mềm hoặc các chương trình máy tính do việc xoá, làm hỏng hoặc làm biến dạng các cấu trúc ban đầu của dữ liệu, phần mềm, chương trình máy tính đó gây ra và mọi tổn thất gián đoạn kinh doanh do có

nguyên nhân từ các tổn thất trên trừ các tổn thất hoặc thiệt hại đối với dữ liệu hoặc

Trang 15

phần mềm là hậu quả trực tiếp từ một thiệt hại vật chất được bảo hiểm xảy ra đối với phần vật chất của tài sản.

- Tổn thất hoặc thiệt hại phát sinh từ việc mất hoặc suy giảm khả năng sử dụng, truy cập các dữ liệu, phần mềm hay các chương trình máy tính và mọi tổn thất giánđoạn kinh doanh có nguyên nhân từ các tổn thất trên

1.2 Nguyên tắc giám định bồi thường 1.2.1 Vai trò của giám định bồi thường:

Thứ nhất: giám đinh bồi thường là một khâu quan trọng trong quá trình triển khai

- Đề phòng hạn chế tổn thất: sau khi ký hợp đồng với khách hang, công ty bảo hiểm đã cam kết chi trả bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xẩy ra Vì vậy, để giảm thiểu số vụ phải bồi thường, số tiền phải bồi thường mỗi vụ, công ty bảo hiểm trích một phần doanh thu phí để tiến hành các công việc nhằm đề phòng hạn chế tổn thất, tăng mức độ an toàn cho đối tượng bảo hiểm, và cả công ty bảo hiểm

- Giám định và bồi thường: là giai đoạn cuối của quá trình triển khai sản phẩm bảo hiểm Đây là giai đoạn công ty thực hiện cam kết của mình, thể hiện quyền lợi của người tham gia, uy tín của nhà bảo hiểm

Thứ hai: Giám định bồi thường là khâu trực tiếp quyết định tính hấp dẫn của sản

phẩm bảo hiểm và mang lại uy tín cho công ty bảo hiểm Sản phẩm bảo hiểm với đặc tính dễ bắt chước, vì thế trong sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt thì chất

lương sản phẩm là công cụ cạnh tranh hữu hiệu Mặt khác, chất lượng sản phẩm bảo hiểm được khách hàng cẩm nhận chủ yếu thông qua công tác giám định bồi thường Mong muốn lớn nhất của khách hàng là được giải quyết thỏa đáng và nhanh chóng khi không may cso rủi ro xẩy ra đối với đối tượng mà họ mua bảo hiểm Do đó, thực hiện tốt khâu này là tăng tính thõa mãn cho khách hàng, tăng tính hấp dẫn của sản phẩm bảo hiểm và mang lại uy tín cho công ty

Thứ ba: Giám định bồi thường là một điều kiện ảnh hưởng đến quyết định tái tục

của khách hàng: Chỉ khi nào khách hàng được thõa mãn, cảm thấy hài lòng về chấtlượng sản phẩm thông qua công tác giám định, bồi thường có nghĩa là công ty đã

có chỗ đứng trong lòng khách hàng Nhờ đó khách hàng sẽ quay lại với công ty nhiều hon, tức là tỷ lệ tái tục các hợp đồng bảo hiểm sẽ cao hơn, công ty bảo hiểm giữ được khách hàng, tăng uy tín trên thị trường

Thứ tư: Giám định, bồi thường ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của công ty bảo

hiểm: Thông qua công tác giám định, công ty lấy kết quả làm cơ sở cho công tác bồi thường Số tiền bồi thường là một khoản chi phí lớn đối với bất kỳ công ty bảo hiểm nào Mặt khác, trong công tác giám dịnh bồi thường, rất dễ xẩy ra các hành vigian lận, trục lợi bảo hiểm Chỉ khi nào công ty bảo hiểm kiểm soát được công tác

Trang 16

giám định và chi phí bồi thường thì các doanh nghiệp mới có thể đảm bảo được mục đích lợi nhuận.

Thứ năm: Giám định bồi thường có vai trò quan trọng trong công tác chống trục

lợi bảo hiểm:

Nếu công tác giám định không tốt, trình độ chuyên môn của cán bộ giám định không cao, thì thường dẫn đến sai sót, tạo điều kiện cho người tham gia gian lận bảo hiểm, làm cho công tác bồi thường sai Hoặc nếu cán bộ giám định có đạo đức không tốt, có thể gian lận bảo hiểm lại xuất phát từ họ Từ đó gây thiệt hại cho công ty

1.2.2 Nguyên tắc của giám định bồi thường

- Khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người

được doanh nghiệp ủy quyền thực hiện giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất, chi phí giám định là do công ty chịu

Trang 17

1.3 Phân biệt bảo hiểm xây dựng với bảo hiểm lắp đặt

công trườngVật liệu chủ yếu là bê tông, đá và

cát

Chủ yếu là sắt thép

Chủ thầu chịu rủi ro chế tạo Nhà sản xuất chịu rủi ro chế

tạo

Nếu giá trị xây dựng > 50 % tổng

số tiền bảo hiểm thì cấp đơn bảo

hiểm xây dựng (CAR policy)

Nếu giá trị lắp đặt > 50 %tổng

số tiền bảo hiểm thì cấp đơn bảo hiểm lắp đặt (EARpolicy )

Phạm vi của Đơn bảo hiểm mọi

rủi ro xây dựng không bao gồm

Trang 18

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH BỒI THƯỜNG

CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG

2.1 Thực trạng công tác giám định- bồi thường trong nghiệp vụ mọi rủi ro xây dựng ở PTI

2.1.1 Công tác giám định

2.1.1.1 Yêu cầu của công tác giám định

- Xác định chính xác nguyên nhân gây ra tổn thất có thuộc phạm vi bảo hiểmhay không?

- Tính toán chính xác tổn thất thực tế xẩy ra trong tai nạn

- Xác định số tiền bồi thường thuộc trách nhiệm bảo hiểm để tạo điều kiện giải quyết bồi thường một cách nhanh chóng, chính xác

- Đề xuất biện pháp ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tổn thất trong tương lai

- Giúp các cán bộ khai thác thực hiện tốt hơn công tác đánh giá rủi ro đối vớicác nhiệm vụ tương tự

2.1.1.2 Quy trình giám định bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI

Sơ đồ quy trình giám định bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:

Bước 1: nhận yêu cầu giám định / thông tin tổn thất

Bước 2: xử lý thông tin

Bước 3: tiến hành giám dịnh

Bước 4: lập /trình duyệt phương án xử lý, khắc phục tổn thất

Bước 5:thu thập,hoàn thiện hồ sơ giám định và giám sát khắc phục tổn thất

Trang 19

Bước 1 : nhận yêu cầu giám định/thông tin tổn thất

- Khi nhận thông báo tổn thất từ NĐBH, cần thu thập các thông tin ban đầu liên quan đến tổn thất theo Phiếu tiếp nhận thông tin (BM.PTI.TS.04.01);

- Vào sổ theo dõi tổn thất;

- Người được phân công phải lập tức xuống ngay hiện trường (nếu có thể);

Thu thập các thông tin ban đầu liên quan đến tổn thất theo mẫu Thông báo tổn thất (BM.PTI.TS 04.02);

- Hướng dẫn khách hàng kê khai theo mẫu thông báo tổn thất;

- Thông báo lãnh đạo đơn vị và bộ phận liên quan phối hợp giải quyết.

bước 2: Xử lý thông tin

* Đánh giá sơ bộ tổn thất

- Đánh giá sơ bộ tổn thất có (hoặc có khả năng) thuộc trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm hay không? Nếu tổn thất không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì có thể thông báo ngay cho khách hàng để khách hàng có biện pháp thích hợp đối với tài sản của mình tránh tổn thất phát sinh thêm

* Hướng dẫn khách hàng xử lý ban đầu

GĐV/NĐPC hướng dẫn khách hàng:

- Yêu cầu khách hàng có các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất đồng thời cố gắng giữ nguyên hiện hiện trạng tổn thất để PTI hoặc đại diện của PTI tiến hành giám định

- Thực hiện các biện pháp nhằm bảo lưu quyền đòi người thứ ba của PTI

- Thông báo tổn thất tới các cơ quan chức năng và các bên liên quan.

* Tập hợp hồ sơ tài liệu có liên quan đến tổn thất

* Xem xét phân cấp

- Sau khi tập hợp các hồ sơ tài liệu ban đầu của vụ tổn thất, trên cơ sở đánh giá sơ

bộ nguyên nhân và mức độ tổn thất, GĐV/NĐPC xác định tổn thất có thuộc phân cấp của đơn vị hay không và báo cáo lãnh đạo đơn vị hướng xử lý

Trang 20

bước 3: Tiến hành giám định

GĐV/NĐPC đề xuất phương án giám định:

- Tự giám định

- Thuê giám định

Lãnh đạo đơn vị (trường hợp tổn thất thuộc phân cấp), lãnh đạo Công ty (trường hợp tổn thất trên phân cấp) căn cứ vào thông tin báo cáo ban đầu và đề xuất của GĐV/NĐPC để quyết định phương án giám định tổn thất

bước4 : Lập/trình duyệt phương án xử lý, khắc phục tổn thất

* GĐV/NĐPC đề xuất phương án chi tiết xử lý tổn thất:

GĐV/NĐPC trình lãnh đạo xem xét duyệt phương án xử lý tổn thất

(BM.PTI.TS.04.09)

* Duyệt phương án xử lý tổn thất

Lãnh đạo xem xét duyệt phương án xử lý tổn thất

bước 5: Thu thập, hoàn thiện hồ sơ giám định và giám sát khắc phục tổn thất

GĐV/NĐPC tiến hành thu thập bổ sung hồ sơ khắc phục tổn thất, chuyển cho bộ phận bồi thường

2.1.1.3 Kết quả giám định

Công tác giám định là một khâu rất quan trọng, công ty PTI luôn chú trọng thực hiện tốt công tác này, để đảm bảo chăm sóc khách hàng tận tình, khách quan, chính xác, khi các công trình mà công ty nhận bảo hiểm gặp rủi ro

Theo thời gian hoạt động, số lượng khách hàng tăng lên, tất yếu số trường hợp khiếu nại bồi thường cũng sẽ tăng lên, vì thế công tác giám định bồi thường càng cần được chú trọng

Trang 21

Bảng 6: Tình hình giám định tai nạn

Năm Số vụ tai nạn

(vụ)

Số tai nạn do PTI giám định

(vụ)

Số tai nạn thuê

giám định độc lập (vụ)

Tỷ lệ số tai nạn tự giám định (%)

(Nguồn : công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện)

Ta thấy, qua các năm, số vụ tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm ngày càng tăng, một

phần do số hợp đồng ký kết được qua các năm tăng lên, một phần do đặc thù của đối tượng bảo hiểm là các công trình xây dựng, thời gian thi công thường kéo dài nhiều năm, nên có những năm, rủi ro tích tụ lại và số vụ tổn thất tăng lên rõ rệt Năm 2007, số vụ tổn thất gần gấp đôi năm 2004, sang năm 2008, số vụ tổn thất là 177,8% năm 2004 Do PTI thường tự giám định những tổn thất ước tính dưới 50 triệu, nên tỷ lệ số tai nạn tự giám định không cao, dưới 45%, còn lại là công ty phải

bỏ chi phí thuê giám định độc lập Chỉ có năm 2008, số tiền bồi thường bình quan một vụ là 42,2 triệu, nên tỷ lệ tự giám định tăng lên 64%

Ngày đăng: 07/11/2013, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5: Dự kiến kế hoạch lợi nhuận và cổ tức PTI 2007-2010 - MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới
Bảng 5 Dự kiến kế hoạch lợi nhuận và cổ tức PTI 2007-2010 (Trang 1)
Bảng 6:  Tình hình giám định tai nạn - MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới
Bảng 6 Tình hình giám định tai nạn (Trang 21)
Sơ đồ quy trình bồi thưòng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng - MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới
Sơ đồ quy trình bồi thưòng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng (Trang 22)
Đồ thị 1 : Tình hình giám định tổn thất - MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới
th ị 1 : Tình hình giám định tổn thất (Trang 22)
Bảng 7 :  STBT nghiệp vụ CAR qua các năm 2004-2009 - MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới
Bảng 7 STBT nghiệp vụ CAR qua các năm 2004-2009 (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w