Chính vì vậy, bài khóa luận này được tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư” nhằm đánh giá thực trạng của pháp luật về thủ tục đầu tư qua đó
Trang 1Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS BÀNH QUỐC TUẤN
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ KIM NGÂN
MSSV: 1411270770 Lớp: 14DLK11
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian 4 năm được học tập tại trường Đại học Công Nghệ TP.HCM Em xin cảm ơn Quý thầy cô trường Đại học Công Nghệ TP.HCM, đặc biệt là Quý thầy cô ở Khoa Luật đã tận tình chỉ dạy và truyền đạt cho chúng em nâng cao sự hiểu biết của mình về chuyên ngành Nhờ vậy mà em có được những kiến thức cơ bản để hiểu được và nắm bắt được ngành nghề mà em đã chọn cho tương lai Hy vọng rằng Nhà trường sẽ đón nhận được nhiều sinh viên ưu tú nhất
để góp phần làm phong phú thêm nguồn nhân tài cho đất nước
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến giáo viên hướng dẫn thầy Bành Quốc Tuấn, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này Xin chúc cho thầy luôn thành công và có nhiều sức khỏe để tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp “trồng người” cho đất nước
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do còn hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những sai sót trong bài khóa luận Kính mong nhận được lời nhận xét, đóng góp của Quý thầy cô để bài khóa luận tốt nghiệp của em được tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện Trần Thị Kim Ngân
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: TRẦN THỊ KIM NGÂN, MSSV: 1411270770
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khóa luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế trên các sách báo và các tạp chí khoa
học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định);
Nội dung trong khóa luận này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình nghiên cứu và thực tế tại khoa Luật, trường Đại học Công Nghệ
Tp.HCM KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, khóa luận khác
Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường và Pháp luật
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Trang 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của khóa luận 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 5
1.1.1 Khái niệm pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 5
1.1.2 Đặc điểm của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 8
1.2 Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 8
1.2.1 Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với cơ quan nhà nước 8
1.2.2 Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư 9
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thủ tục đầu tư 10
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2: THỦ TỤC VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ 19
2.1 Nội dung điều chỉnh và thủ tục đầu tư, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 19
2.1.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 19
2.1.2 Thủ tục đầu tư đối với hoạt động đầu tư trong nước 22
Trang 62.1.3 Thủ tục đầu tư đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài 30
2.1.4 Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 34
2.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 42
2.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Năm 2014 là năm của cải cách thể chế với hàng loạt thay đổi tạo nên sự khác biệt về kinh tế, dự kiến mang lại những tác động to lớn, tích cực đối với môi trường đầu tư trong những năm tới Trong đó, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (Luật Doanh nghiệp 2014), Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 (Luật Đầu tư 2014) được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8 đã chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phục vụ kinh doanh, đầu tư Bên cạnh đó, những điểm mới trong Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 (Luật Nhà ở 2014), Luật Kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 (Luật Kinh doanh bất động sản 2014), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế và những hành động cụ thể đẩy mạnh cải cách thể chế tạo môi trường đầu tư thông thoáng, bình đẳng sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của các nhà đầu tư trong những năm tiếp theo
Trên cơ sở đó, một trong những mục tiêu chủ đạo khi ban hành Luật Đầu
tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành là đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong đó có việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư cho chủ đầu tư khi đáp ứng đủ các điều kiện theo luật định và trong thời hạn quy định Tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, dễ dàng hơn cho các nhà đầu
tư, đối xử bình đẳng về thủ tục giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với nền kinh tế thị trường theo hướng đơn giản, minh bạch, nhất quán Xây dựng trình tự thủ tục đơn giản, thuận lợi không chỉ cho nhà đầu tư mà còn cho cả cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo chính sách đến được với nhà đầu tư, tạo lòng tin cho nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế sử dụng nguồn lực của mình để đầu tư, kinh doanh Việc xây dựng Luật Đầu tư chung, thống nhất các quy định áp dụng cho hoạt động đầu tư trong nước và ngoài nước là tính tất yếu, khách quan trên tiến trình đổi mới kinh tế đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Luật Đầu tư 2014 với nhiều cải cách đáng kể như sửa đổi, bổ sung những quy định mới nhằm tháo gỡ những bất cập, hạn chế của luật cũ, phù hợp với xu hướng chung của thế giới Tuy nhiên, sau gần ba năm đi vào áp dụng Luật Đầu
tư 2014 đã bộc lộ nhiều hạn chế cũng như nhiều vấn đề gây băn khoăn cần nghiên cứu chỉnh sửa như sự bất hợp lý về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành còn chưa đồng nhất cũng như chưa
cụ thể khiến cho các nhà đầu tư còn khó khăn trong quá trình thực hiện thủ tục đầu tư
Trang 8Bên cạnh đó, ở một góc độ khác Luật Đầu tư 2014 có nhiều tư tưởng mở rộng tạo môi trường đầu tư cho doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Nhưng trong thực tiễn đầu tư hiện nay có những rào cản do quy định pháp luật đặt ra, nhưng cũng tồn tại những rào cản do vấn đề thực thi Một đạo luật mới được sửa đổi để phát triển mà đội ngũ thực thi không chịu sửa đổi thì không thể phát triển theo đúng tinh thần của Luật đề ra
Chính vì vậy, bài khóa luận này được tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật
về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư” nhằm đánh giá thực trạng của
pháp luật về thủ tục đầu tư qua đó làm r những điểm mới, điểm hạn chế còn tồn tại và đề ra phương án giải quyết góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước trong l nh vực cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tạo một môi trường cạnh tranh và cởi mở cho các nhà đầu tư phát triển nền kinh tế trong nước, đầu tư
ra nước ngoài, cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Phát triển kinh tế luôn là hướng đi hàng đầu để xây dựng một quốc gia phồn thịnh.Trong đó trọng tâm của vấn đề phát triển kinh tế đó chính là thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và ngoài nước Nhận thấy được điều này Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng một môi trường đầu tư kinh doanh cởi mở cho doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức đặc biệt là vấn đề thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Bởi vậy, vấn đề thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đã được Chính phủ chú trọng cải cách cũng như được rất nhiều các học giả, các nhà nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này trong các giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước, nổi bật như:
- “Thực trạng thi hành pháp luật về cấp giấy chứng nhận đầu tư theo Luật
Đầu tư năm 2005”, Luận văn thạc s của Đặng Ngọc Bảo (Khoa Luật, năm
2011)
- “Pháp luật về thủ tục đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam”, Luận văn
thạc s của Phan Thị Ngân Hà (Khoa Luật, năm 2011)
- “Thủ tục đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt
Nam”, Luận văn thạc s của Nguyễn Thị Phương Hồng (Khoa Luật, năm 2010)
- “Luật đầu tư và những bất cập” Hoàng Văn Dụ (Tạp chí khoa học)
- “Luật đầu tư năm 2005- Một số vấn đề bất cập” Ths Đoàn Trung Kiên
(Tạp chí Luật học số 05/2008)
Trang 9- “Quy định về đầu tư còn nhiều bất cập”, Luận văn thạc s của Phạm
Thanh Quang (Khoa Luật, năm 2016)
Tuy nhiên, những đề tài kể trên mới chỉ ra được những tiến bộ và hạn chế của thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư như các quy định về nhà đầu tư
bỏ bao nhiêu % vốn điều lệ thì được thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc thành lập tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài….ở thời kì trước khi mà Luật Đầu tư 2005 còn có hiệu lực song đến nay khi mà Luật Đầu tư 2014 đi vào
có hiệu lực thì những vấn đề được nghiên cứu trong các công trình trên đã không còn đáp ứng kịp thời với thực tiễn thi hành Vì Luật Đầu tư 2014 đã có rất nhiều điểm mới và khác biệt so với bộ Luật Đầu tư 2005
Do tính mới của Luật doanh nghiệp 2014 mới có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 vậy nên hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay vẫn còn chưa cập nhập hay cập nhập chưa đầy đủ những đổi mới của thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Do vây, khóa luận là những cập nhập, những phát hiện về những mặt tích cực và hạn chế còn xót của những quy định pháp luật được ghi nhận trong Luật Đầu tư 2014 nhằm hoàn thiện xây dựng thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư đơn giản gọn nhẹ phù hợp với xu thế của thế giới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài là pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thì đối tượng nghiên cứu chủ yếu là thủ tục đầu tư, các Luật, văn bản dưới luật có liên quan đến thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và quan trọng nhất là việc
đi sâu phân tích những điều luật về thủ tục nằm trong Luật Đầu tư, thực hiện thủ tục đầu tư đơn giản, rút ngắn thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong Luật Đầu tư 2014
Phạm vi nghiên cứu: khóa luận phân tích thực trạng về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, từ đó đưa ra các kiến nghị đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014.
4 Phương pháp nghiên cứu
Chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu từ các Bộ, ngành, Sở Kế hoạch và Đầu tư để xem xét các điểm mới và hạn chế trong các quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thực tiễn cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
Trang 10luật và nâng cao hiệu quả hoạt động cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
5 Kết cấu của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu kết luận và phần tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Chương 2: Thủ tục và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Trang 11CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
1.1.1 Khái niệm pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Với những công việc được thực hiện khá thường xuyên trên thực tế, con người luôn có xu hướng quan sát, nhận xét, rút kinh nghiệm để lần thực hiện sau thuận lợi, tiết kiệm, có kết quả cao hơn lần trước, dần dần hình thành quy trình (hay còn gọi là thủ tục) ngày càng hợp lý cho quá trình thực hiện công việc
đó Thủ tục là một thuật ngữ Hán - Việt được sử dụng khá phổ biến trong sinh hoạt xã hội Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức thì thủ tục càng được sử
dụng rộng rãi hơn Theo Từ điển tiếng Việt thì thủ tục được hiểu là “những việc
cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” Khái niệm thủ tục không được đặt ra khi chỉ có một hoạt động đơn
lẻ mà chỉ được nói đến khi có nhiều hoạt động khác nhau cần phải tiến hành theo
một thứ tự nhất định để hoàn thành một công việc nhất định
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, hoạt động đầu tư không ngừng được mở rộng và chiếm vị trí ngày càng quan trọng Khái niệm về thủ tục đầu tư được quy định trong Luật Đầu tư 2014 như sau:
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư
Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung Bên cạnh đó đầu tư còn có những cách hiểu khác
nữa
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực
có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Trang 12Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội 1
1.1.1.2 Khái niệm thủ tục đầu tư
Khi nhà đầu tư muốn triển khai dự án nào đó trên thực tế, tùy vào từng dự
án cụ thể mà nhà đầu tư có thể phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu
tư, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Trong quá trình thực hiện dự án trên thực tế, vì lý do khác nhau mà nhà đầu tư có thể thực hiện các thủ tục liên quan đến giãn tiến độ thực hiện dự án, tạm ngừng hoạt động của dự án Tất cả những thủ tục đó được gọi chung là thủ tục đầu tư
Mục đích quy định các thủ tục đầu tư là để đảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với các dự án của đầu tư cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, tránh sự lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả trong đầu tư Đồng thời, thông qua đó Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, từ đó có
cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư
1.1.1.3 Khái niệm Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
“Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản, bản điện tử ghi nhận thông
tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư”.2
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản, bản điện tử ghi nhận thông tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư do Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận, cấp và điều chỉnh Mục đích cá nhân và tổ chức xin cấp Giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư để được đầu tư hợp pháp ra nước ngoài
Khi thực hiện dự án đầu tư, thành lập công ty ở nước ngoài, nhà đầu tư bắt buộc phải có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, việc này giúp cho Nhà nước quản
lý tốt hoạt động cũng như nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bao gồm những nội dung chủ yếu sau3:
2 Khoản 6 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 Giải thích từ ngữ
3 Điều 39 Luật Đầu tư 2014 Nội dung cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Trang 13- Tên, địa chỉ của nhà đầu tư;
- Tên dự án đầu tư;
- Địa điểm thực hiện dự án đầu tư, diện tích sử dụng đất;
- Mục tiêu, quy mô dự án đầu tư;
- Vốn đầu tư của dự án; tiến độ góp vốn và huy động các nguồn vốn;
- Thời hạn hoạt động của dự án;
- Tiến độ thực hiện dự án;
- Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, các điều kiện đối với nhà đầu tư thực hiện dự
án
Hình 1.1: Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
(Nguồn: plf.com.vn: Mẫu Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư)
1.1.1.4 Khái niệm pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Từ những cơ sở đã nêu ở trên nên có khái niệm pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư như sau:
Pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là những quy định, điều kiện mà nhà đầu tư phải thực hiện theo quy định của cơ quan nhà nước
Trang 14có thẩm quyền (Sở Kế hoạch và Đầu tư) để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
1.1.2 Đặc điểm của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư
Đòi hỏi phải có số vốn nhất định Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tàinguyên khác Vốn đầu tư có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
Thời gian đầu tư tương đối dài, thường là 02 năm trở lên tùy thuộc vào quy mô, phạm vi, ngoài ra có thể lên đến 50 năm nhưng tối đa cũng không quá
70 năm.4 Những hoạt động ngắn hạn, thường trong vòng 01 năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án
Thành quả của đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài Lợi ích do đầu
tư đem lại thể hiện ở hai mặt là: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế - xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế - xã hội) Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng
Để đảm bảo cho việc đầu tư đạt mục tiêu như mong muốn, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội thì phải làm tốt công tác tính toán toàn diện các mặt kinh tế -
kỹ thuật, xã hội, môi trường, pháp lý có liên quan và các yếu tố khác
1.2 Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 1.2.1 Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với cơ quan nhà nước
Thời đại ngày nay, trong bối cảnh và điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,
sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự phát triển toàn diện của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Tính phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế cũng như về các l nh vực khác là nét phổ biến của thế giới hiện đại Khi trình độ khoa học phát triển nhanh với tốc độ chưa từng có và
đã vượt ra khỏi phạm vi của mỗi quốc gia, đầu tư phát triển kinh tế trở thành một
4 Bùi Xuân Phong, “thời gian thương là 02 năm trở lên, ngoài ra có thể lên đến 50 năm nhưng tối đa cũng không quá 70 năm” Nguồn: “Quantri.vn (Trang thông tin điện tử tổng hợp)”
Trang 15yêu cầu phát triển khách quan mang tính quy luật Đó cũng là vấn đề trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta và nhiều nước khác trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới đầu tư nước ngoài không phải là vấn đề mới mẻ, đặc biệt là ở những nước có nền kinh tế thị trường đang phát triển Ở nước ta, thì đầu tư nước ngoài đến nay vẫn được coi là mới mẻ cả về hình thức và nội dung
Vì vậy, mục tiêu của các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư là lựa chọn được dự
án đầu tư có hiệu quả đồng thời xây dựng một cơ chế phù hợp về quản lý, giám sát sau đầu tư
Về mặt quản lý nhà nước, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là phương tiện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu tư, là cơ sở để theo d i, kiểm tra việc chấp hành thực hiện ưu đãi của các cơ quan liên quan
Khi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư phải giải trình về mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, nhu cầu sử dụng đất… Cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là công việc được tiến hành trong quy trình quản lý đầu tư của cơ quan quản lý về đầu tư Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản làm căn cứ cho việc quản lý hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trên các khía cạnh như: tư cách pháp lý của nhà đầu
tư, mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư, vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án đầu tư, ưu đãi đầu tư (nếu có)…
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư giúp cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra,
rà sót tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư sẽ kinh doanh gì, ở đâu, nhà đầu tư thực sự có năng lực hay không, trước khi dự án được tiến hành trên thực tế Theo
đó, đối với mỗi mức vốn đầu tư hoặc l nh vực đầu tư, kinh doanh nhất định sẽ có những yêu cầu cụ thể về hồ sơ phải nộp cho cơ quan quản lý nhà nước
Việc quy định các thủ tục đầu tư là để đảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư Nhằm tránh sự thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả trong hoạt động đầu tư
1.2.2 Vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư
Từ nhiều năm nay, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật liên quan đến l nh vực đầu tư nói riêng luôn không ngừng được hoàn thiện trên lộ trình cải cách, điều chỉnh kịp thời cơ chế, chính sách, luật lệ cho phù hợp với luật chơi của quốc tế, chú trọng việc cải thiện môi trường đầu tư
Trang 16Chính phủ Việt Nam khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục đầu
tư thông thoáng, nhanh gọn theo cơ chế một cửa, tại chỗ, giảm thiểu các quy định mang tính “xin-cho”5 hoặc phê duyệt bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư, kinh doanh
Trên cơ sở đó, một trong những mục tiêu chủ đạo khi ban hành Luật Đầu
tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành là đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong đó có việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho chủ đầu tư khi đáp ứng đủ các điều kiện theo luật định và trong thời hạn quy định Các nhà đầu tư sẽ được hướng dẫn cụ thể và giải đáp kịp thời những vướng mắc trong quá trình xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nếu có
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không còn là cơ chế xin cho mà là giấy chứng nhận hoạt động đầu tư Giấy này giúp nhà đầu tư làm các thủ tục ưu đãi dễ dàng hơn Đây là cơ sở để các cơ quan chấp hành như: thuế, hải quan, tài nguyên
và môi trường… tiến hành giải quyết ưu đãi cho nhà đầu tư Nhà đầu tư chỉ đến một cửa là Sở Kế hoạch và Đầu tư thay vì phải đến rất nhiều cơ quan nắm quyền quyết định ưu đãi như: hải quan, thuế, địa chính như trước đây
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thủ tục đầu tư
Chủ trương hợp tác đầu tư với nước ngoài nhằm tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thị trường xuất khẩu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa
- hiện đại hóa đã được xác định và cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành từ cuối năm 1987 đã thể chế hóa đường lối của Đảng, mở đầu cho việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
Từ những chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước cũng như sự chỉ đạo thực hiện một cách tích cực và triệt để của Chính phủ trong những năm qua nên đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp đáng kể vào công cuộc xây dựng nền kinh tế nước ta, tạo đà và khơi dậy các tiềm năng kinh tế Để đạt được những thành tựu như vậy ta càng thấy rõ vai trò vô cùng quan trọng của Luật Đầu tư
5 Đỗ Phú Thọ (06/05/2016), “xin-cho” là một trong những tàn dư còn sót lại của thời kỳ bao cấp “Bên xin” (thường là cấp dưới, người dân, hay doanh nghiệp), “bên cho” (thường là cấp trên, các cơ quan nhà nước) Nguồn: http://qdnd.vn, bài viết : xóa bỏ cơ chế xin cho.(Báo Quân đội nhân dân online)
Trang 17nước ngoài tại Việt Nam, một đạo luật cơ bản tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, một kênh quan trọng cho quá trình hội nhập quốc tế và là động lực quan trọng khơi dậy các nguồn lực trong nước, phát huy có hiệu quả các nguồn lực, làm cho bộ mặt đất nước ngày càng đổi mới và phát triển Với vai trò quan trọng như vậy, bài khóa luận này sẽ trình bày về lịch
sử quá trình hình thành pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qua các thời
kỳ, từ khi có văn bản pháp quy đầu tiên quy định về đầu tư nước ngoài đó là Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, sau đó được nâng cấp lên thành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987.6 Tiếp đó qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào
năm 1990 và năm 1992; và đến năm 1996 Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, sau đó đã lại được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và năm
2005, và đến năm 2014 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư mới áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và nước ngoài So với các đạo luật khác thì gần như trong cùng thời gian ngắn, đây là đạo luật mà có nhiều thay đổi nhất Sự thay đổi này một mặt thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, mặt khác đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987
Trong những năm 1980, nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng, sự vận hành của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đã cản trở sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, mức lạm phát lên tới 774,7% năm 1986 Tốc
độ tăng trưởng bình quân trong các năm từ 1986 đến 1990 là 3,9%.7 Nhiều xí
6 Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ 4 năm 1976, “thực hiện chủ trương đúng đắn đó của Đảng, ngày 18/4/1977, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/CP kèm theo Điều lệ đầu tư nước ngoài (sau đây gọi tắt là Điều lệ đầu tư năm 1977), một văn bản pháp quy riêng biệt nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Văn bản pháp quy đầu tiên về đầu tư nước ngoài này, đã thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được các nhà đầu tư nước ngoài thời kỳ đó đón nhận như một tín hiệu mở cửa của Việt Nam” Nguồn: http://mpi.gov.vn, bài viết “Quá trình hình thành và phát triển của luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” (Trang thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Chủ Ngh a trong cả nước với mục tiêu lớn: xây dựng chế độ làm chủ tập thể và sản xuất lớn Do các mục tiêu đề ra quá lớn nên trong kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981-1985) nền kinh tế thiếu cân đối và lâm vào khủng hoảng trầm trọng Sản xuất đình trệ thể hiện trên tất cả các l nh vực Nạn lạm phát tăng nhanh, đầu những năm 80 tăng khoảng 30-50 % hàng năm, cuối năm 1985 lên đến 587,2 % và siêu lạm phát đạt đến đỉnh cao vào năm 1986, với 774,7 % Đời sống nhân dân hết sức khó khăn
Nguồn: “https://sites.google.com/
Trang 18nghiệp quốc doanh, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp sản xuất cầm chừng, thậm chí đóng cửa hoặc giải thể, hàng chục vạn công nhân dời bỏ dây chuyền sản xuất,
đổ vỡ tín dụng liên tiếp xảy ra ở nhiều nơi gây ảnh hưởng rất xấu tới tình hình kinh tế xã hội Trong khi đó, hàng loạt các ngành có ưu thế như: công nghiệp chế biến, công nghiệp tiêu dùng, gia công lắp ráp lại không được Nhà nước quan tâm đúng mức, cơ sở kỹ thuật lạc hậu và tất cả đều ở trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng
Đứng trước bối cảnh đất nước như vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đã đề ra những chính sách hết sức đúng đắn, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, mở ra công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trên
l nh vực kinh tế Cụ thể hoá đường lối chỉ đạo của Đảng là mở rộng giao lưu quốc tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước Do vậy, thực hiện Nghị quyết số 19 của Bộ Chính trị ngày 17/7/1984 và Nghị quyết Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá V ngày 20/12/1984 về việc
bổ sung và hoàn thiện Điều lệ đầu tư đã ban hành năm 1977, tiến tới xây dựng một bộ Luật Đầu tư hoàn chỉnh, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá VIII ngày 31/12/1987 đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987) Có thể nói sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 xuất phát từ những yêu cầu khách quan của sự vận động xã hội, nó đã tạo ra được một môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được soạn thảo dựa trên nội dung cơ bản của Điều lệ đầu tư năm 1977, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới Với một nội dung tương đối hấp dẫn, cấu trúc đơn giản, đầy đủ và nhìn chung phù hợp với tập quán luật pháp quốc tế, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã đáp ứng được sự mong mỏi của các nhà đầu tư nước ngoài Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 gồm 6 chương với 42 điều
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990
Như trên đã phân tích, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 qua hơn hai năm thực hiện, từ những kết quả bước đầu đạt được đã cho phép khẳng định: việc ban hành Luật và nội dung cơ bản của Luật là phù hợp với xu thế chung, phù hợp với mục tiêu khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng có lợi
Trang 19Bên cạnh những kết quả tích cực và đáng khích lệ bước đầu, còn có mặt hạn chế do những nguyên nhân khách quan về tình hình chính trị quốc tế và khu vực hoặc do những thiếu sót của Nhà nước ta trong việc thi hành Luật, đồng thời cũng có một số vấn đề trong bản thân nội dung của luật chưa thật phù hợp với sự phát triển của Nhà nước ta và cũng chưa phù hợp với đòi hỏi của tình hình thực
tế Vì vậy tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá VIII ngày 30/6/1990 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990) Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 gồm 2 điều, đã sửa đổi và bổ sung 15 điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1992
Sau những sửa đổi, bổ sung của Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 mức độ tăng trưởng của tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tăng rõ rệt từ 213 dự
án đầu tư với tổng vốn đầu tư là 1,793 tỷ USD tại thời điểm năm 1990, chỉ sau 2 năm thực hiện có số đầu tư đã lên đến 459 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư là 5,28 tỷ USD.8 Điều này chứng tỏ sự sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài đã phần nào tác động đến tâm lý nhà đầu tư, làm cho nhà đầu tư yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt Nam, và nhiều nhà đầu tư khác quan tâm đến thị trường Việt Nam Từ đó làm nảy sinh nhiều nhu cầu và đòi hỏi cần phải có một hành lang pháp lý hoàn chỉnh hơn Như trên đã phân tích Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 chỉ sửa đổi, bổ sung được 3 vấn đề lớn trong hàng loạt vấn đề còn nổi cộm và trong quá trình 2 năm sau khi triển khai Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990, nhiều vấn đề pháp lý đã phát sinh, phần nào làm cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài Để đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội đã đặt ra chúng ta cần phải tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện pháp Luật Đầu tư nước ngoài Tại thời điểm năm 1992 việc đặt vấn đề sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài là cần
thiết, bởi vì: Một là, thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở thành một cuộc
cạnh tranh gay gắt vì cung cầu vốn đầu tư trên thế giới có sự biến động lớn; Hai
là, thực tiễn hợp tác đầu tư cho phép chúng ta nhận thức rõ hơn vị trí của các
mục tiêu, kinh tế, xã hội và tài chính của hoạt động đầu tư Không khuyến khích
đủ mức về tài chính thì không thu hút được nhiều vốn đầu tư, sẽ hạn chế mục tiêu kinh tế, xã hội; mục tiêu kinh tế, xã hội đạt càng thấp thì nguồn thu tài chính sẽ
càng eo hẹp; Ba là, tình hình kinh tế của nước ta đã có nhiều biến chuyển tích
cực rất có ý ngh a với sự phát triển của các thành phần kinh tế Hiến pháp năm
1992 đã tạo cơ sở pháp lý mới cho việc mở rộng hợp tác với bên ngoài, cụ thể
8Đỗ Nhất Hoàng (22/03/2008), “Quá trình hình thành và phát triển của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” Nguồn: http://fia.mpi.gov.vn/
Trang 20Điều 22 Hiến pháp 1992 quy định “Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật”, Điều 24 quy định: “…phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế … ”9, Điều 25 quy định “ Nhà
nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước”; Bốn là, từ sau khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1987, nhất là trong vài năm gần đây và triển vọng các năm tới, thực tiễn đầu
tư đã và đang xuất hiện một số khả năng và cơ hội mới, những nhu cầu và định hướng mới đòi hỏi phải có những điều chỉnh hành lang pháp lý về đầu tư nước ngoài cho phù hợp
Từ những sự cần thiết phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài Như vậy, ngày 23/12/1992 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài (sau đây goi là Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1992)
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996
Cho đến năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã được sửa đổi, bổ sung 2 lần vào những năm 1990, 1992, đó là những bước rất quan trọng góp phần vào việc tạo lập hành lang pháp lý ngày càng hoàn chỉnh nhằm tăng tính hấp dẫn và cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam, từ đó đưa đến những kết quả tăng trưởng rõ rệt
Luật Đầu tư nước ngoài cũng như nhiều văn bản dưới luật được ban hành trong hoàn cảnh đất nước ta chưa có kinh nghiệm về hợp tác đầu tư trực tiếp với nước ngoài, nhưng về cơ bản đã dựng lên được một khuôn khổ pháp lý phù hợp với đường lối quan điểm của Đảng về kinh tế đối ngoại Luật Đầu tư nước ngoài
đã có những quy định vừa rộng rãi vừa chặt chẽ, bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài an toàn về đầu tư và quyền tự chủ kinh doanh, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, tuân thủ pháp luật của Việt Nam và bình đẳng, cùng có lợi Tuy nhiên, đến thời điểm năm 1996, khi đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, nhìn lại hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài, chúng ta thấy nhiều nhược
9
Điều 24 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước”.
Trang 21điểm cần được khắc phục trong hoàn cảnh mới Những nhược điểm đó là: một số quy định quá chung, không đủ mức cụ thể để dễ thi hành; thiếu tính đồng bộ, nhiều văn bản còn chồng chéo và thiếu tính cập nhật; thủ tục hành chính quá phức tạp, rườm rà; chủ trương và quy hoạch chưa đủ mức cụ thể, làm cho các nhà đầu tư mất nhiều thời gian tìm hiểu, làm cho các cơ quan quản lý nhà nước gặp khó khăn trong việc xử lý
Những thành tựu quan trọng của 10 năm đổi mới, đặc biệt là sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong nhiều năm với nhịp độ cao như năng lực sản xuất, năng lực xuất khẩu, mức sống của nhân dân và sức mua của thị trường trong nước, những cố gắng rất lớn để hình thành và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đã tạo ra cho Việt Nam một hình ảnh mới trên thế giới như là một thị trường thương mại và đầu tư có sức hấp dẫn Đây là cơ hội mà ta có thể tranh thủ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài với quy mô lớn hơn, chất lượng cao hơn để phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài càng
có ý ngh a quan trọng, đáp ứng nhu cầu to lớn cho đầu tư phát triển Hoạt động hợp tác đầu tư của ta với nước ngoài từ năm 1996 trở đi đứng trước những cơ hội
và thách thức mới, số nước gia nhập vào cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng đông, làm cho cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn trước Trong cuộc cạnh tranh này, nhiều nước đã tiến hành những cải cách theo hướng thông thoáng hơn nhằm vượt lên trên những nước khác
Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông qua Luật Đầu
tư nước ngoài mới (sau đây gọi là Luật Đầu tư nước ngoài 1996) Luật Đầu tư
nước ngoài năm 1996 được soạn thảo trên cơ sở gộp các Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990, 1992
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000
Ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000), đã bổ sung 2 điều mới và sửa đổi, bổ sung 20 điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 đã đưa ra nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Có thể nói, các quy định của Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 đã tạo điều kiện xích gần nhau hơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo thế chủ động trong quá trình hội nhập và đảm bảo các cam kết quốc tế, làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn so với trước đây và so với một
số nước trong khu vực
Trang 22 Luật Đầu tư năm 2005
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo một sân chơi bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư và có hiệu lực từ 1/7/2006, Luật Đầu tư năm 2005 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Đầu tư
Khác cơ bản với Luật Đầu tư nước ngoài trước đây, Luật Đầu tư năm
2005 được thiết kế theo hướng chỉ quy định các nội dung liên quan đến hoạt động đầu tư, còn các nội dung liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp thì chuyển sang Luật Doanh nghiệp điều chỉnh, các mức ưu đãi về thuế chuyển sang quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và các nội dung
mang tính chất đặc thù thì dẫn chiếu sang pháp luật chuyên ngành điều chỉnh
Luật Đầu tư được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 trên cơ sở hợp nhất hai văn bản luật là Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, gồm có 10 chương, 89 điều
Luật Đầu tư năm 2014
Tuy nhiên, sau 9 năm triển khai thi hành bên cạnh những kết quả tích cực thì cũng có những mặt tiêu cực Luật Đầu tư năm 2005 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập không còn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay nữa, nên đã được sửa
đổi, bổ sung và thay thế Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ra đời thay thế Luật Đầu
tư năm 2005 để phù hợp với điều kiện mới Luật Đầu tư năm 2014 được sửa đổi,
bổ sung bởi Luật số 03/2016/QH14
Luật Đầu tư sữa đổi năm 2014 đã tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thông thoáng, hy vọng sẽ thu hút ngày càng nhiều tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động đầu tư, góp phần tạo ra bước phát triển mạnh mẽ và bền vững cho nền kinh tế Việt Nam
Trong khoảng 20 năm qua, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước, tạo thêm thế và lực cho Việt Nam chủ động hội nhập với kinh tế khu vực
Trang 23và thế giới Trong những thành tựu to lớn của đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng của Luật Đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở khu vực và trên thế giới, Luật Đầu tư nước ngoài
đã thực sự trở thành đòn bẩy quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Nghiên cứu toàn bộ lịch sử của sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cho thấy, từ năm 1977 cho đến nay, pháp luật đầu tư nước ngoài đã luôn được hoàn thiện, tạo dựng một khung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài, trên cơ sở quán triệt quan điểm mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế Những đóng góp của đầu tư nước ngoài vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -
xã hội của đất nước là một minh chứng khẳng định vai trò tích cực của pháp luật đầu tư nước ngoài
Trang 24KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1 chỉ đề cập những vấn đề cơ bản nhất mang tính chất lý luận chung về khái niệm và đặc điểm của thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, vai trò của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thủ tục đầu tư
Trong đó tác giả nêu rõ từng khái niệm cụ thể như: khái niệm thủ tục đầu
tư, khái niệm Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
có ý ngh a quan trọng đối với cơ quan quản lý nhà nước lẫn nhà đầu tư Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là văn bản làm căn cứ cho việc quản lý hoạt động đầu
tư của nhà đầu tư Ngoài ra, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư còn có vai trò quan trọng ở các khía cạnh sau: Thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước nhằm thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế khu vực cũng như đầu tư ra nước ngoài, góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế; Góp phần tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế cho các hoạt động đầu tư tại Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài; Khai thác có hiệu quả tài nguyên của đất nước, tạo thêm công ăn việc làm, đẩy mạnh hoạt động đầu tư, tăng tích lũy cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước
Như vậy, với những nội dung được trình bày ở Chương 1 sẽ là cơ sở, tiền
đề cho việc phân tích, đánh giá luật thực định, thực tiễn về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Trang 25CHƯƠNG 2: THỦ TỤC VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ
2.1 Nội dung điều chỉnh và thủ tục đầu tư, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
2.1.1 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
2.1.1.1 Nguyên tắc thực hiện thủ tục đầu tư
Thủ tục đầu tư thực hiện một số nguyên tắc như sau:10
Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký đầu tư và giải quyết thủ tục liên quan đến hoạt động đầu tư, Cơ quan đăng ký đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký đầu tư Nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, chính xác, trung thực của hồ sơ đăng ký đầu tư và các văn bản gửi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Cơ quan đăng ký đầu tư không được yêu cầu nhà đầu tư nộp thêm giấy tờ khác ngoài các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký đầu tư theo quy định tại Luật Đầu tư
2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP
Khi yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký đầu tư, Cơ quan đăng ký đầu
tư thông báo 01 lần bằng văn bản cho nhà đầu tư về toàn bộ các nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung đối với mỗi một bộ hồ sơ Thông báo phải nêu rõ yêu cầu sửa đổi, bổ sung và lý do của việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ
Trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính về đầu tư, cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời về nội dung được lấy ý kiến trong thời hạn quy định tại Luật Đầu tư 2014 và Nghị định118/2015/NĐ-CP; quá thời hạn quy định
mà không có ý kiến thì được coi là đã đồng ý với nội dung dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý của mình
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do trong trường hợp từ chối cấp, điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và các thủ tục hành chính về đầu tư khác theo quy định tại Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP
tư
Trang 26Cơ quan đăng ký đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước không giải quyết tranh chấp giữa các nhà đầu tư và tranh chấp giữa nhà đầu tư với các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình hoạt động đầu tư
2.1.1.2 Ngôn ngữ trong hồ sơ đăng ký đầu tư
Theo quy định pháp luật hiện hành, hồ sơ đăng ký đầu tư nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam phải được làm bằng tiếng Việt Trường hợp sử dụng tài liệu tiếng Anh trong hồ sơ đăng ký đầu tư thì nhà đầu tư phải nộp kèm bản dịch tiếng Việt hợp lệ được quy định cụ thể như sau:
“Điều 4 Ngôn ngữ sử dụng trong hồ sơ đăng ký đầu tư
1 Hồ sơ đăng ký đầu tư, các văn bản, báo cáo gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền được làm bằng tiếng Việt
2 Trường hợp hồ sơ đăng ký đầu tư có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì nhà đầu tư phải có bản dịch tiếng Việt hợp lệ kèm theo tài liệu bằng tiếng nước ngoài
3 Trường hợp giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đăng ký đầu tư được làm bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việt được sử dụng để thực hiện thủ tục đầu tư
4 Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trong trường hợp có sự khác nhau giữa nội dung bản dịch hoặc bản sao với bản chính và trong trường hợp có sự khác nhau giữa bản tiếng Việt với bản tiếng nước ngoài.” 11
2.1.1.3 Mã số dự án đầu tư
Mã số dự án đầu tư là một dãy gồm 10 chữ số, được tạo tự động bởi hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài và được ghi tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Mỗi dự án đầu tư được cấp một mã số duy nhất, không thay đổi trong suốt quá trình hoạt động của dự án và không được cấp cho dự án khác Mã số dự án đầu tư hết hiệu lực khi dự án đầu tư chấm dứt hoạt động
Đối với dự án đầu tư thực hiện theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy phép đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị tương đương khác, mã số dự án đầu
tư là số Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, số Giấy phép đầu tư hoặc số giấy tờ
tư
Trang 27tương đương khác đã cấp cho dự án đầu tư Trường hợp Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc giấy tờ tương đương khác được điều chỉnh, dự
án đầu tư thì được cấp mã số mới
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thống nhất sử dụng mã số dự án đầu tư
để quản lý và trao đổi thông tin về dự án đầu tư.12
Hình 2.1: Mã số dự án đầu tư
(Nguồn: dautunuocngoai.com.vn: Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư nước ngoài)
2.1.1.4 Xử lý hồ sơ không chính xác, giả mạo
Giả mạo hồ sơ sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Luật Đầu tư năm 2014 quy định các trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.13
Trường hợp đầu tiên bị phát hiện là “thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký đầu tư không chính xác”, Cơ quan đăng ký đầu tư sẽ yêu cầu nhà đầu tư làm lại
hồ sơ để cấp lại, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của nhà đầu tư.14
Tiếp đó, khi có căn cứ xác định nhà đầu tư có hành vi giả mạo là “nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký đầu tư”15, thì Cơ quan đăng ký đầu tư sẽ thông báo về hành vi vi phạm của nhà đầu tư và hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư
13
Điều 41 Luật Đầu tư 2014, “Cơ quan đăng ký đầu tư quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư trong trường hợp dự án đầu tư chấm dứt hoạt động theo quy định khoản 1 Điều 48 của Luật này; Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư”
14
Khoản 1 Điều 7 Nghị định 118/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Luật Đầu tư