1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

51 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 902,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Đề tài quản lý vốn đầu tư tại các doanh nghiệp là một đề tài mang lại nhiều sự chú ý trong xã hội, như chúng ta biết, bởi vì khâu quản lý không đồng nhất và việc luật

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI

DOANH NGHIỆP

NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS BÀNH QUỐC TUẤN Sinh viên thực hiện: TRỊNH THỊ NGỌC ÁNH MSSV: 1411270548 Lớp: 14DLK11

TP Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Hôm nay là một trong những ngày cuối cùng để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, em tạm ngưng những nội dung, hình thức trình bày và muốn dành ít thời gian để viết những dòng này, những lời cảm ơn dành cho thầy cô, bạn

bè, ngôi trường này và còn dành cho những người mà em không quen biết, không thân thuộc nhưng nhiệt tình giúp đỡ em

Lời đầu tiên em muốn dành cho trường, trường Đại Học Công Nghệ TP HCM (Hutech), nhờ bước chân vào trường, tiếp nhận một nền giáo dục hiện đại, thân thhiện và chuyên nghiệp mà em học được rất nhiều điều, một môi trường quản lý tốt, chặt chẽ và đoàn kết, cảm ơn trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành được khóa học suốt 4 năm của em, chúc trường luôn thành công và đào tạo ngày càng nhiều nhân tài cho đất nước

Tiếp đến em muốn cảm ơn thầy cô trong khoa Luật, Ngành Luật Kinh tế, cả những giảng viên là giảng viên cơ hữu và cả những giảng viên thỉnh giảng, nhờ thầy cô

em học được rất nhiều kiến thức chuyên môn, giúp cho em rất nhiều trong môi trường thực tế bên ngoài

Và cuối cùng là người thầy đã hướng dẫn trực tiếp khóa luận cho em, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Bành Quốc Tuấn, người đã chỉ dẫn em từ ngày đầu tiên cho đến buổi cuối cùng để em có thể hoàn thành đề tài của mình, em cảm ơn thầy rất nhiều, chúc thầy luôn nhiều sức khỏe và ngày càng thành công trên con đường giảng dạy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: TRỊNH THỊ NGỌC ÁNH MSSV: 1411270548

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp được

thu thập từ nguồn thực tế trên các sách báo và các tạp chí chuyên ngành (có trích

dẫn đầy đủ)

Nội dung trong báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình học tập nghiên cứu và thực tế tại khoa Luật, trường Đại học Công nghệ TP.HCM

KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, báo cáo khác

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của Nhà trường và Pháp luật

Sinh viên thực hiện

(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU……… 1

Lý do chọn đề tài……… 1

Lý do nghiên cứu……… 2

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………2

Phương pháp nghiên cứu……… 3

Bố cục khóa luận……… 4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI DOANH NGHIỆP………5

1.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……… 5

1.1.1 Khái niệm của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……….5

1.1.2 Đặc điểm của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……… 7

1.2 Mục tiêu và nguyên tắc của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……….11

1.2.1 Mục tiêu của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……….11

1.2.2 Nguyên tắc của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……….12

1.3 Vai trò và quá trình phát triển của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……….13

1.3.1 Vai trò của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……….13

1.3.2 Quá trình phát triển của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp….15 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI DOANH NGHIỆP……….20

Trang 6

2.1 Văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại

doanh nghiệp……….20

2.1.1 Luật về quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp………20

2.1.2 Các văn bản dưới luật về quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp…24 2.2 Nội dung điều chỉnh về quản lý vốn Nhà nước của Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 và thực tiễn quản lý vốn Nhà nước hiện nay………27

2.2.1 Nội dung điều chỉnh về quản lý vốn Nhà nước của Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014……… 27

2.2.2 Thực tiễn quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hiện nay……… 30

2.3 Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……… 36

2.3.1 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp……… 37

2.3.2 Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014……… 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… 42

KẾT LUẬN………43

TÀI LIỆU THAM KHẢO………44

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đề tài quản lý vốn đầu tư tại các doanh nghiệp là một đề tài mang lại nhiều sự chú

ý trong xã hội, như chúng ta biết, bởi vì khâu quản lý không đồng nhất và việc luật chưa được phát huy tối đa hiệu quả mà đã để lại những hệ quả vô cùng nghiêm trọng cho đất nước, thất thoát lớn nguồn vốn của Nhà nước, do sai phạm mà nhiều cán bộ công chức vướn vào phạm pháp, với mục đích nghiên cứu kỹ hơn cách thức vận hành và quản lý của Nhà nước trong việc phát triển nền kinh tế thị trường, đưa đất nước phát triển theo đường lối chính sách được đề ra, quản lý chặt chẽ và thống nhất, tìm ra cách phát huy cao nhất quyền uy của pháp luật, để phần nào hạn chế và đẩy lùi những sai phạm đáng tiếc trong khâu quản lý, luật phải được đưa đến từng ngóc ngách của xã hội, phải có hệ thống một cách kịp thời và

dễ hiểu, không gây khó khăn, chồng chéo, đùng đẩy trách nhiệm trong việc áp dụng vào thực tiễn

Về sự cấp thiết mà đề tài mang lại: trong xã hội hiện tại đang có rất nhiều trường hợp sai phạm khi những người làm việc trong Nhà nước đưa ra những quyết định không đúng quy định pháp luật, dẫn đến thất thoát nguồn vốn cũng như nhân lực của Nhà nước, gây nên nhiều mất mát và những hậu quả nghiêm trọng, ngân sách Nhà nước bị ảnh hưởng rất lớn, nhầm muốn được hiểu biết và nắm thật rõ về các yêu cầu và tính pháp lý của việc đầu tư vốn này mà tôi quyết định chọn một đề tài khá nóng và nhạy cảm trong môi trường hiện tại, chỉ với mục đích nghiên cứu để khi có cơ hội tham gia vào là một phần phục vụ nhân dân sẽ hiểu được, điều gì nên

và không nên, điều gì đúng luật và sai luật để có thể tiến hành và dừng lại, đúng nơi đúng lúc, góp một phần để mang luật lại gần với người dân hơn, cũng như chính bản thân mình là người học luật có thể hiểu cận kẻ vấn đề

Chúng ta cũng biết nguồn vốn Nhà nước phần lớn là từ nguồn thu thuế của nhân dân, dùng để xây dựng và phát triển đất nước, nếu như dùng một cách sai phạm và không có sự quản lý chặt chẽ rất dễ mang lại sự bức xúc và phản đối từ nhân dân, cũng như sự thất vọng về một bộ máy quản lý mà dân đã tin tưởng, đặt trọn sự hi vọng của nhân dân, việc đầu tư để phát triển là một việc rất cần thiết cho một đất nước đang ngày càng lớn lên theo sự đi lên của toàn thế giới, thế nên bên cạnh sự

đi lên cũng sẽ có những điều bất lợi, nếu phát triển quá nhanh mà việc quản lý không theo kịp sẽ tạo ra nhiều khe hở dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho đất nước, một văn bản pháp luật đúng thời điểm và đánh vào đúng vấn đề đang cấp bách sẽ mang lại nhiều hiệu quả và sự tin tưởng nơi nhân dân, đặc biệt là việc quản lý nguồn vốn của một đất nước, chúng ta cần có cái nhìn chân thực và đúng

Trang 8

đắn để tránh hiểu sai về sự đầu tư và quản lý nguồn vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, chúng ta nghe nhiều về việc đầu tư sai phạm dẫn đến thất thoát và không

có khả năng thu hồi nhưng không biết phải làm như thế nào để hạn chế cũng như đẩy lùi được những yếu điểm này của một nền kinh tế đang phát triển, luật nước ta

đã làm được những gì, hiệu quả đạt được đến đâu, như thế nào mà luật có lại cách

xa nhân dân đến vậy, sai phạm không thể phát hiện, tôi là một người học luật tôi muốn nghiên cứu và nắm một cách chặt chẽ sự cố gắn của Nhà nước, những văn bản pháp luật mà Nhà nước đã ban hành ra sao, có gì vướn mắc dẫn đến áp dụng vào thực tế chưa hiệu quả

Đây là một đề tài có khối lượng kiến thức rất lớn, tôi chỉ là một sinh viên học luật

và mong muốn tìm hiểu vì nó cho tôi cảm giác thú vị và ý nghĩa, nhưng do kiến thức của bản thân có giới hạn nên chỉ nghiên cứu được phần nào vấn đề của đề tài, rất mong sự góp ý, đánh giá và nhận xét từ phía chuyên môn

2 Lý do nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu đề tài này là nhầm hiểu và nắm rõ cách nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp, và việc quản lý nguồn vốn đó theo luật là như thế nào, tính hợp

lý và sự phát triển qua từng giai đoạn của nền kinh tế

Nguồn vốn để nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp phần lớn là nguồn thu thuế từ dân, chỉ với tư cách một công dân của đất nước tôi muốn biết và hiểu việc đầu tư

đó ra sao, quản lý như thế nào, hiệu quả ra sao, điểm gì tích cực và còn phần nào hạn chế, bên cạnh đó với kiến thức tôi được học tôi cũng muốn góp một phần vào việc đưa ra những kiến nghị góp phần để luật có thể ngày càng được áp dụng hiệu quả hơn từ góc độ của bản thân

Như đã biết, một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ không thể xuất phát từ việc tự phát của mọi người trong xã hội, luôn có sự khác nhau từ cách nhìn nhận của mõi

cá nhân, vậy nên để có sự thống nhất chúng ta cần có luật để cùng làm theo, việc tính toán một công việc hiệu quả và khả thi ra sao cần có sự giám sát hay còn được coi là quản lý, quản lý từ lúc chưa bắt đầu cho đến khi mang lại lợi nhuận trong đầu tư, đó mới là sự chặt chẽ và đánh giá được đúng mức độ hiệu quả của luật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài là pháp luật về quản lý vốn đầu tư tại doanh nghiệp thì đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nguồn vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, các Luật, văn bản dưới luật có liên quan đến quản lý Nhà nước và quan trọng nhất là việc đi sâu

Trang 9

phân tích những điều luật về quản lý nằm trong Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp 2014

Việc nghiên cứu một đề tài là điều rất khó với một sinh viên, và càng đi lên càng cần phải gom gọn lại cái cần viết, khi chỉ tập trung vào một vấn đề sẽ giúp tôi có

sự nghiên cứu sâu sắc và đánh giá đúng thực trạng hơn, vậy nên có rất nhiều văn bản nói đến quản lý vốn, còn có việc xử lý sai phạm trong quản lý vốn Nhà nước, nhưng ở đề tài này tôi chỉ làm rõ một vấn đề là quản lý vốn trong Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014

Vì lý do thời gian có hạn và quy định về số trang nên trong bài viết khóa luận này chỉ đề cập đến những văn bản pháp luật có trong bài viết, còn những văn bản luật khác không có trong bài thì sẽ không có giá trị trong bài viết này

4 Phương pháp nghiên cứu

Chủ yếu sửa dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, thu thập thông tin, tài liệu số liệu từ các nguồn kiến thức về luật học

Từ những kiến thức đã được học trên ghế nhà trường và tham khảo những nguồn tài liệu liên quan đến đề tài như báo chí, bài viết của các nhà nghiên cứu, từ sự hỗ trợ của giảng viên và bạn bè, tôi sẽ nghiên cứu thật kỹ và chi tiết, mong muốn có thể nắm rõ được cách thức quản lý vốn của nhà nước

Tôi muốn đi sâu vào một vấn đề về quản lý, phân tích và hiểu rõ cách vận hành, từ đâu dẫn đến những sai phạm đáng tiếc trong thời gian vừa qua, chúng ta thấy những cán bộ, những người nếu không phạm phải việc sai luật đã là những người hùng trong lòng nhân dân khi mang lại được những điều đổi mới cho đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển đi lên của nước nhà, chúng ta thấy được họ mang lại công lao cho đất nước ra sao, nhưng khi có sai phạm cũng không thể làm ngơ

và phải được xử phạt nghiêm minh để cho thấy quyền uy của luật pháp

Vậy vấn đề là do đâu, lý do gì dẫn đến những sai phạm kia, dẫn đến thất thoát tiền của và mất niềm tin của nhân dân như vậy, ở bộ phận nào, sự xáo trộn nào đã làm cho luật có mà không được áp dụng triệt để, quản lý ra sao để mang đến hậu quả nghiêm trọng và nhân dân phận nộ lẫn tiếc nuối cho những người từng được xem

là nhân tài, chất xám của quốc gia Tôi muốn mình tìm hiểu tất cả những điều trên, theo như nhận định và đánh giá của bản thân, tôi muốn nhìn nhận một cách chính xác và sâu sắc nhất vấn đề nhức nhói mà bất cứ người dân nào, cán bộ nào cũng canh cánh trong lòng

Trang 10

5 Bố cục khóa luận

Trong một bài khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận còn có phần nội dung, được viết cụ thể dưới đây Gồm 2 chương:

- Chương 1 Khái quát chung về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

- Chương 2 Thực trạng pháp luật và kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Trang 11

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU

TƯ TẠI DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Đất nước đang trong một quá trình phát triển đi lên ngày càng mạnh mẽ, những

mô hình kinh tế tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và mang lại lợi ích cực kỳ lớn, vậy nên việc đầu tư vốn Nhà nước vào để làm lợi cho đất nước là điều cần thiết, chúng

ta cũng có những giới hạn nhất định trong việc đầu tư và cùng với việc phát triển

đó luật pháp cũng phải đồng hành cùng để tạo một tiền đề cho nhân dân tin tưởng,

có nơi để giải quyết những bất đồng tranh chấp và sai sót trong quá trình kinh doanh, mà một phần như vậy phải nói đến việc quản lý ở đây chúng ta đang nói đến là vốn Nhà nước, như đã đề cập nguồn vốn này là một đề tài nhạy cảm, muốn mang đầu tư phải chịu trách nhiệmthống nhất từ trên xuống và dưới và không thể không nghĩ đến những sai phạm, khi đó chúng ta cần có chế tài xử lý nghiêm ngạc

và chính xác, để lòng dân có thể yên tâm mà phát triển kinh tế, góp phần cho nước nhà đi lên trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa

Nhà nước đã ngày càng hoàn thiện trong khâu quản lý của mình, luật và văn bản dưới luật các thông tư, nghị định, nghị quyết luôn cố gắn nhằm tạo một mạng lưới bao bọc tất cả các nguy cơ sai phạm có thể xảy ra đã và đang được xây dựng nhưng như chúng ta biết có nhiều vấn đề xảy ra thì mới có luật đi kèm theo để xử

lý, như việc có án lệ từ xưa đến nay, nói rằng một xã hội phát triển thì luật cũng phát phát triển tương đương hay ở mức cao hơn nhưng phải hiểu rằng không ai mong muốn có những sai phạm, khi xây dựng một nền kinh tế cái con người cần là

sự phát triển, vậy nên khi một vấn đề mới phát sinh Nhà nước cũng cần có thời gian để đưa ra những biện pháp xử lý và ngăn chặn cho sau này, không có điều gì

có thể hoàn thiện ngay từ lúc đầu, luật cũng cần có thời gian để soạn thảo ra và kiểm tra đánh giá trước khi được Quốc hội ban hành và có hiệu lực thi hành, nhưng chúng ta có thể hiểu trong thời gian đó sự phát triển vẫn tiếp tục đi lên và sai phạm hay nói đúng hơn là khoản hở của luật đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, Nhà nước vẫn luôn cố gắn để có thể xử lý hết mọi vấn đề và luôn muốn bảo

vệ nhân dân trên cơ sở pháp luật, lấy pháp luật làm cơ sở để xử lý vụ việc, tuy có nhiều trường hợp vẫn là chạy phía sau sai phạm, nhưng chúng ta cùng cần nhìn nhận rằng đã có sự phát triển tích cực trong khâu xây dựng pháp luật như đã được

đề cập đến trong bài

Trang 12

Quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng và mục đích của chủ

thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động

Vốn Nhà nước: Bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu

chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ;vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất1

Thứ nhất là Ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước2

Thứ hai là Quỹ đầu tư phát triển: Tại Điều 3 Nghị định số 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007 của Chính phủ về tổ chức hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương quy định, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển Quỹ Đầu tư phát triển địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam

Điều 2 Nghị định số 138/2007/NĐ-CP quy định, vốn hoạt động là tổng số vốn chủ

sở hữu và vốn huy động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương tại một thời điểm Theo Khoản 5, Điều 4 Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp thì vốn của Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác là vốn Nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên do cơ quan đại diện chủ sở hữu làm chủ sở hữu phần vốn góp

Trang 13

Khoản 1, Điều 4 Nghị định số 91/2015/NĐ-CP quy định, cơ quan đại diện chủ sở hữu là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật

Căn cứ các quy định nêu trên thì việc Quỹ Đầu tư phát triển của địa phương dùng nguồn vốn hoạt động của Quỹ để góp vốn thành lập công ty cổ phần (Quỹ là cổ đông góp vốn trong công ty cổ phần, không phải do UBND tỉnh làm đại diện chủ

sở hữu phần vốn góp đó), do đó, không được xác định là vốn Nhà nước góp tại công ty cổ phần3

Thứ ba Trái phiếu chính phủ: Trái phiếu chính phủ, công trái hay công khố phiếu

là trái phiếu được phát hành bởi chính phủ một quốc gia Trái phiếu chính phủ có thể được phát hành bằng đồng tiền nước đó hoặc ngoại tệ

Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp là việc quản lý các nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả khi đầu tư vào doanh nghiệp

1.1.2 đặc điểm của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Thứ nhất đối tượng của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Đại diện chủ sở hữu nhà nước: là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Trong đó có Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều

lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

3

Nội dung tư vấn của Bộ Tài chính

Trang 14

Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp4

Thứ hai tiêu chuẩn người đại diện quản lý phần vốn Nhà nước

Công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam Có phẩm chất chính trị, đạo đức, có

đủ năng lực hành vi dân sự, đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao Hiểu biết pháp luật, có ý thức chấp hành pháp luật Có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác phù hợp với yêu cầu của vị trí, chức danh được

cử làm người đại diện Không trong thời gian cấm đảm nhiệm chức vụ, xem xét xử

lý kỷ luật, điều tra, truy tố, xét xử, chấp hành hình phạt tù, thi hành quyết định kỷ luật Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em một, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc, Kế toán trưởng của doanh nghiệp Tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan5

Thứ ba hành vi bị cấm của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Quyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp không đúng thẩm quyền, phạm

vi, trình tự, thủ tục Can thiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vào hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Thực hiện không đúng quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp Thực hiện không đúng quy định về quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp

do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Giám sát, kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật Cung cấp thông tin, báo cáo không trung thực, không chính xác, không đầy đủ, không kịp thời theo quy định của pháp luật Tiết lộ, sử

Trang 15

dụng thông tin do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý nhà nước cung cấp không đúng quy định của pháp luật6

Thứ tư có sự giám sát của Quốc hội

Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội giám sát hoạt động đầu tư, quản

lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định, của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội Quốc hội xem xét báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội cuối năm về tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp của năm trước Giữa hai kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ giải trình, trả lời chất vấn những vấn đề về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp7

Thứ năm có sự Kiểm tra, thanh tra của Chính phủ

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức kiểm tra, thanh tra các hoạt động sau đây: Việc xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu; Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Bộ Tài chính: Kiến nghị, đề xuất giải pháp với cơ quan đại diện chủ sở hữu về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Hằng năm tổng hợp, kiến nghị, đề xuất giải pháp về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc và báo cáo Chính phủ

Các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện kiểm tra, thanh tra hoạt động đầu tư, quản lý,

sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn8

Thứ sáu chuyển nhượng vốn phải gắn với tái cơ cấu DN

Trang 16

Nguyên tắc chuyển nhượng vốn đầu tư ra ngoài của DNNN tại công ty cổ phần và công ty TNHH hai thành viên trở lên được ghi trong NĐ 32: Việc chuyển nhượng vốn phải gắn với phương án cơ cấu lại DN đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Việc chuyển nhượng bảo đảm theo nguyên tắc thị trường, công khai, minh bạch, bảo toàn vốn đầu tư ra ngoài của DNNN ở mức cao nhất, hạn chế tối đa tổn thất đầu tư trong chuyển nhượng vốn…

Khi chuyển nhượng vốn của DNNN đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định của Nghị định này, DNNN phải công khai đầy đủ các thông tin về điều kiện đối với nhà đầu tư trúng đấu giá được chấp thuận là cổ đông của ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng có liên quan đến chuyển nhượng vốn góp của cổ đông tại các ngân hàng thương mại cổ phần để nhà đầu tư biết và thực hiện

Trường hợp sau khi trúng đấu giá nhưng nhà đầu tư không đủ điều kiện được chấp thuận là cổ đông của ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định của pháp luật

về các tổ chức tín dụng thì nhà đầu tư không phải thanh toán tiền bán cổ phần cho DNNN, trường hợp đã thanh toán thì được hoàn trả (kể cả tiền đặt cọc) và số cổ phần chưa thanh toán hoặc đã thanh toán nhưng được hoàn trả tiền thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhà nước…

Về phương thức chuyển nhượng vốn đầu tư của nhà nước hoặc của DNNN tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên, NĐ 32 bổ sung chi tiết sẽ tiến hành đấu giá công khai

Đấu giá công khai bao gồm, đấu giá thông thường hoặc đấu giá theo lô Đấu giá thông thường là cuộc đấu giá trong đó không hạn chế số lượng cổ phần, phần vốn góp đặt mua đối với nhà đầu tư tại cuộc đấu giá chuyển nhượng vốn; Đấu giá theo

lô là cuộc đấu giá trong đó số lượng cổ phần bán đấu giá được xác định theo một hoặc nhiều lô, nhà đầu tư tham gia đấu giá phải đặt mua tối thiểu từ một lô trở lên Việc chia tổng số cổ phần thành từng lô cổ phần để bán đấu giá theo lô do chủ sở hữu vốn quyết định

Trong trường hợp DN tiếp nhận tài sản từ nơi khác chuyển đến, NĐ 32 bổ sung chi tiết: Khi DN tiếp nhận nhận tài sản từ nơi khác chuyển đến được đầu tư bằng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, tiếp nhận tiền theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước (hỗ trợ di dời, sắp xếp lại, xử lý nhà đất, hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp) để thực hiện dự án đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo cơ

Trang 17

sở sản xuất kinh doanh, DN căn cứ vào quyết định điều chuyển tài sản của cấp có thẩm quyền và biên bản bàn giao tài sản, quyết toán tiền hỗ trợ của Nhà nước, thực hiện ghi tăng vốn nhà nước tại DN9

1.2 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

1.2.1 Mục tiêu của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Khi nói đến mục tiêu cho một vấn đề cụ thể nào đó ta nghĩ đến là nhằm mục đích

gì, ở đây cũng như vậy, mục tiêu của quản lý vốn, có nghĩa rằng chúng ta đang mong muốn một kết quả nhất định cho việc nguồn vốn được áp dụng hiệu quả và mang lại lợi nhuận cao nhất, hạn chế đến mức thất nhất rủi ro trong các bước đi của nguồn vốn từ lúc còn trong sự quản lý của Nhà nước cho đến khi được chạy

êm xui trong doanh nghiệp, vậy nên cần có sự quản lý khi vốn đã vào doanh nghiệp, vốn không nằm im một chổ, để có sự đồng bộ và thống nhất, giám sát một cách chặt và đương nhiên phải mang lại hiệu quả cho mục đích đề ra từ đầu, là quản lý nguồn vốn tối ưu

Thực hiện định hướng, điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô mang tính chiến lược trong từng thời kỳ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới, nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp10

Tiếp tục rà soát, tách bạch giữa những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế hoặc lĩnh vực công ích mà Nhà nước cần nắm quyền chi phối với những lĩnh vực nên huy động vốn đầu tư từ xã hội; xác định tỷ lệ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp ở mức hợp lý nhằm thu hút nhà đầu tư bên ngoài và thay đổi mô hình quản trị doanh nghiệp một cách thực chất Tách bạch giữa hoạt động sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, an sinh xã hội với hoạt động sản xuất, kinh doanh vì lợi nhuận của doanh nghiệp

Việc thành lập ra những tổ chức mang tính chất quyết định trong việc quản lý vốn

là một điều canh cánh đối với Nhà nước ta, chưa khi nào việc đó lại quan trọng và

Trang 18

cấp bách như mười năm trở lại đây, với việc ngày càng đi theo con đường thị trường mở cửa, ngày càng rút dần các doanh nghiệp Nhà nước, với tiêu chí Nhà nước chỉ nắm một số ngành nghề nhất định và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp khác có cơ hội đầu tư phát triển, và Nhà nước đầu tư vào một số doanh nghiệp cũng chỉ với những ngành được quy định rõ ràng cụ thể, khi việc đón nhận nhiều loại doanh nghiệp như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân nghĩa là chúng ta đang đón nhận những cách quản lý và xây dựng khác nhau trong hình thức của từng công ty và cũng được luật quy định rất rõ ràng, vì vậy khi muốn đưa vốn Nhà nước vào đầu tư tại doanh nghiệp như vậy Nhà nước cũng cần

có cơ chế để quản lý và phù hợp với từng loại hình, và phải có đồng nhất trong khâu quản lý, để tránh những sai phạm và lỗ hỏng phát luật có thể dẫn đến những hậu quả ngiêm trọng cho nền kinh tế

1.2.2 Nguyên tắc của quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành Đầu tư vốn nhà nước để hình thành và duy trì doanh nghiệp ở những khâu, công đoạn then chốt trong một số ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không tham gia hoặc thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp theo quy định tại Điều 10 và Điều 16 của Luật này

Cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý, điều hành của người quản lý doanh nghiệp Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp phải thông qua người đại diện chủ sở hữu trực tiếp hoặc người đại diện phần vốn nhà nước; bảo đảm doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, bình, đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật

Cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm hiệu quả, bảo toàn và gia tăng giá trị vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; phòng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp Công khai, minh bạch trong đầu tư, quản lý, sử dụng vốn

Trang 19

nhà nước tại doanh nghiệp Phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên11

1.3 Vai trò và quá trình phát triển về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

1.3.1 Vai trò quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Thứ nhất người đại diện phần vốn Nhà nước có trách nhiệm

Báo cáo, xin ý kiến cơ quan đại diện chủ sở hữu trước khi tham gia ý kiến, biểu quyết và quyết định tại Đại hội đồng cổ đông, cuộc họp của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên về các vấn đề quy định tại khoản 1 Điều 48 của Luật Báo cáo kịp thời về việc công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoạt động thua lỗ, không bảo đảm khả năng thanh toán, không hoàn thành nhiệm

vụ được giao và những trường hợp sai phạm khác

Định kỳ hằng quý, hằng năm và đột xuất theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện phần vốn nhà nước tổng hợp, báo cáo tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính và kiến nghị giải pháp Yêu cầu công ty cổ phần, công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nộp vào ngân sách nhà nước khoản lợi nhuận, cổ tức được chia tương ứng với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty Không được tiếp tục làm người đại diện khi thực hiện không đúng quyền, trách nhiệm được giao hoặc không còn đáp ứng tiêu chuẩn của người đại diện Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm gây tổn thất vốn nhà nước Thực hiện quyền, trách nhiệm khác quy định tại điều lệ công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, pháp luật về doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan

Doanh nghiệp đăng tải công khai, kịp thời trên cổng thông tin điện tử của doanh nghiệp các nội dung về hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể: Kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch tài chính hằng năm của doanh nghiệp; Kết quả thực hiện kế hoạch định kỳ hằng quý, hằng năm; Báo cáo tài chính 06 tháng, hằng năm; Nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên; Các

dự án đầu tư, tiến độ thực hiện các dự án đầu tư; Các vấn đề phát sinh có thể tác

11

Điều 5 Luật quản lý, sử dụng vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014

Trang 20

động đến kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch tài chính của doanh nghiệp; Kết quả giám sát nội bộ; Nội dung khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp

Cơ quan đại diện chủ sở hữu đăng tải công khai, kịp thời trên cổng thông tin điện

tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý12

Thứ hai báo cáo hoạt động của doanh nghiệp:

Doanh nghiệp báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu các nội dung sau đây: Kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch tài chính hằng năm của doanh nghiệp; Kết quả thực hiện kế hoạch định kỳ hằng quý, hằng năm; Báo cáo tài chính 06 tháng, hằng năm; Nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên; Các dự án đầu tư, tiến độ thực hiện các dự án đầu tư; Các vấn đề phát sinh có thể tác động đến kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch tài chính của doanh nghiệp Kết quả giám sát nội bộ; Nội dung khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp13

Doanh nghiệp phải thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp Trước và sau khi kiểm toán, Báo cáo tài chính năm phải được gửi đến cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật Hội đồng thành viên, Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực các nội dung báo cáo quy định tại khoản 1 Điều này

Thứ ba công khai thông tin về hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp đăng tải công khai, kịp thời trên cổng thông tin điện tử của doanh nghiệp các nội dung về hoạt động của doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật này Cơ quan đại diện chủ sở hữu đăng tải công khai, kịp thời trên cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp đối với doanh nghiệp do mình quyết định

Trang 21

thành lập hoặc được giao quản lý Bộ Tài chính đăng tải công khai, kịp thời trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính báo cáo của Chính phủ về hoạt động đầu

tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc sau khi Chính phủ báo cáo Quốc hội14

1.3.2 Quá trình phát triển về quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Quá trình tổ chức sắp xếp nâng cao hiệu quả hoạt động DN nhà nước (DNNN) được tiến hành từ năm 1992 Sau 5 năm thực hiện, 1 trong 3 ưu tiên tái cơ cấu nền kinh tế (đầu tư công, hệ thống ngân hàng và DNNN) đều đặt ra vấn đề cần xây dựng mô hình quản lý sử dụng vốn đầu tư kinh doanh của Nhà nước phù hợp với tính chất nền kinh tế thị trường; nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn kinh doanh của Nhà nước, bởi đến nay ước lượng số vốn lên đến hàng triệu tỷ đồng

Đây là vấn đề đặt ra từ trước Đại hội Đảng lần thứ IX, nhằm giải quyết tận gốc 2 vấn đề: Thứ nhất, tách quản lý nhà nước ra khỏi sản xuất kinh doanh và gắn với quá trình cải cách DNNN Các cơ quan hành chính công quyền không trực tiếp quản lý DN, xóa cơ chế chủ quản DNNN của các bộ, ngành và chính quyền địa phương Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thực hiện chức năng kinh tế và xác định cụ thể địa chỉ trách nhiệm người quản lý vốn kinh doanh của Nhà nước Tuy nhiên, sau hơn 15 năm thực hiện các mục tiêu trên, kết quả rất hạn chế và cơ chế chủ quản DNNN bị biến dạng, không thể tách được và lỗ hổng về cơ chế trách nhiệm vẫn cứ tồn tại

Quyền hạn, trách nhiệm của Ủy ban được thực hiện theo nguyên tắc ủy quyền của Chính phủ, không phải phân cấp hay phân quyền, nên trách nhiệm cuối cùng về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nhà nước vẫn là Chính phủ Và hàng năm Chính phủ phải báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiêp trong phạm vi cả nước cho Quốc hội, tại kỳ họp cuối năm

Chúng ta cũng mất nhiều năm để nghiên cứu mô hình tổ chức cơ quan quản lý vốn kinh doanh của Nhà nước, nhưng do đặc điểm DNNN nước ta có mặt hầu như ở mọi ngành, mọi lĩnh vực của nền kinh tế, số lượng quá nhiều, đóng góp đến 1/3 cơ cấu GDP, nên rất khó khăn trong việc tìm sự đồng thuận về một mô hình quản lý nào đó Trong quá trình cải cách DNNN, chúng ta đã thử nghiệm nhiều mô hình

14

Điều 61 Luật quản lý, sử dụng vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014

Trang 22

tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT) như TCT 90, 91 thực hiện từ năm 1995, TĐ kinh tế nhà nước từ năm 2006 và đặc biệt mô hình TCT Đầu tư tài chính (SCIC) như hiện nay đang hoạt động… nhưng đến nay đều chưa thể đạt được 2 mục tiêu nêu trên

Từ đầu thập niên 2000, với tiến trình cải cách DNNN (tạm gọi là giai đoạn 3), chúng ta đã xóa bỏ chức năng quản lý DNNN trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh

ở hầu hết địa phương, chỉ còn lại vài nơi như Hà nội, TPHCM nên cơ chế chủ quản DNNN cơ bản chỉ còn lại chủ yếu ở cấp chính quyền Trung ương Song vẫn gặp khó khăn và trở ngại của quá trình cải cách DNNN, trong đó có mô hình quản

lý, nguyên nhân chủ yếu vẫn chưa định vị vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Cho đến nay Chính phủ thực chất đóng 2 vai trò: Nhà nước để quản lý nhà nước và là nhà đầu tư kinh doanh trên thị trường Thực ra việc Nhà nước tham gia đầu tư kinh doanh trên thị trường đã được nhiều quốc gia thực hiện theo mô hình kinh tế thị trường, nhưng có 3 điểm khác biệt chính: Nhà nước không kinh doanh quá nhiều lĩnh vực; có mô hình quản lý để Nhà nước “không vừa đá bóng vừa thổi còi”; sự kinh doanh của Nhà nước mang tính “dẫn đường” thúc đẩy thị trường phát triển, chứ không cạnh tranh với thị trường vì mục tiêu kiếm lời

Để làm rõ vai trò của Nhà nước, tại Điều 10, Khoản 1, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN, quy định phạm vi đầu tư vốn nhà nước để thành lập DN giới hạn trong 4 lĩnh vực: (1) cung ứng sản phẩm, dịch

vụ công ích thiết yếu cho xã hội; (2) hoạt động trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; (3) hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên; (4) ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế Quan điểm này có ý nghĩa định hướng để Chính phủ thực hiện kế hoạch sắp xếp lại và cổ phần hóa DNNN, thoái vốn và đầu tư mới Từ thực tiễn tình hình quản lý DNNN, quản lý vốn kinh doanh của Nhà nước đang đặt ra, và từ quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng XII liên quan đến vấn đề quản lý sử dụng vốn kinh doanh của Nhà nước, đặc biệt để nâng cao chức năng, hiệu quả quản lý nhà nước của các bộ, ngành, chính quyền địa phương… Do vậy hiện nay đang là thời điểm khá chín mùi để xây dựng mô hình quản lý vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh của Nhà nước

Nhiều người quan ngại tạo ra “một siêu bộ” với nhiều bất cập và khó kiểm soát

Lo ngại này là có cơ sở Để khắc phục xu hướng này tùy thuộc vào mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động và đội ngũ viên chức thực thi Luật Quản lý, sử dụng vốn

Trang 23

nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN còn bỏ ngỏ mô hình tổ chức cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước, nhưng tại tại Chương V, từ Điều 40 đến Điều

45 đã quy định khá cụ thể quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước Trong đó tại Điều 42 và 43 quy định quyền và trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước Do đó mô hình tổ chức phải gắn với nội dung của 2 điều này

Trước tiên cần làm rõ mục tiêu thành lập tổ chức này nhằm bảo đảm 3 mục tiêu: (1) thành lập cơ quan quản lý vốn nhà nước trực thuộc Chính phủ là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ trương xóa bỏ cơ chế chủ quản DNNN; (2) xây dựng mô hình quản lý sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và tài sản vô hình của Nhà nước đang đầu tư ở các DN phù hợp với tinh thần của luật pháp; (3) đổi mới phương phức quản lý vốn đầu tư kinh doanh của Nhà nước phù hợp với sự vận hành của cơ chế thị trường, tránh sự can thiệp mang tính hành chính của “chủ quản” vào hoạt động

DN, bảo đảm tính tự chủ của DN theo Luật DN

Việc xây dựng định chế quản lý, sử dụng vốn đầu tư kinh doanh của Nhà nước cần dựa trên các căn cứ pháp lý sau đây: Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN, Luật DN, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Tổ chức Chính phủ… Tuy nhiên, khi hoạt động chịu sự điều chỉnh với tất cả bộ luật, đạo luật có liên quan Vì thế, nên tổ chức theo mô hình Ủy ban với

cơ cấu đa ngành, trực thuộc Chính phủ (theo Điều 23, Khoản 3 Luật Tổ chức Chính phủ) Có thể nghiên cứu tên gọi phù hợp với chức năng của Ủy ban như

“Ủy ban quản lý vốn kinh doanh nhà nước” Cơ cấu gồm chủ tịch do phó thủ tướng đứng đầu; 1 phó chủ tịch thường trực đóng vai trò người trực tiếp điều hành (chọn chuyên gia quản trị chuyên nghiệp, có uy tín và năng lực chuyên môn); các

ủy viên kiêm nhiệm đại điện cho các bộ có liên quan Bộ máy chuyên môn giúp việc của Ủy ban được tổ chức thành các ban chuyên môn, đứng đầu là giám đốc

bộ phận Chọn những chuyên gia quản trị có kinh nghiệm trong từng lĩnh vực để phụ trách 3 chức danh quan trọng nhất trong bộ máy chuyên môn là giám đốc nhân sự, giám đốc tài chính và giám đốc đầu tư Ngoài ra có thể tổ chức 1 cơ quan nghiên cứu phát triển để định hướng hoạt động đầu tư của Ủy ban

Về chức năng nhiệm vụ của Ủy ban sẽ quy định cụ thể căn cứ theo Điều 42, 43 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN và Điều 8, Khoản 6 Luật Tổ chức Chính phủ Tuy nhiên, cần tập trung vào 3 nhiệm

vụ chính: (1) quản lý nhân sự đại diện vốn nhà nước tại DN, với tư cách là những

Trang 24

quản trị viên chuyên nghiệp; (2) xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch, đầu tư, sử dụng vốn nhà nước (kế hoạch này phải thông qua Chính phủ); (3) thúc đẩy quá trình tổ chức lại DNNN, trọng tâm là cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước ở các DN không cần nắm giữ, thu hẹp số lượng DNNN

Ủy ban này hoạt động theo nguyên tắc: Nhà nước tham gia vốn vào DN với tư cách cổ đông, không phải tư cách Nhà nước Tài sản là sở hữu của pháp nhân DN chịu sự điều chỉnh của Luật DN và pháp luật dân sự Hoạt động cụ thể của Ủy ban được quy định dựa theo nguyên tắc trách nhiệm cá nhân, với cơ chế hợp đồng quyền lợi nghĩa vụ minh bạch15

15

Mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trang 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Sơ lược về quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp là một phần cần thiết

để có thể nắm được các khái niệm và những điều liên quan đến vốn Nhà nước và cách thức quản lý, cũng như tìm hiểu được sự phát trển như bước đầu để đưa ra một luật quản lý nguồn vốn Nhà nước

Cho thấy được vai trò và sự cần thiết của việc có một luật cụ thể quy định thống nhất các cách quản lý và đầu tư ngồn vốn nhà nước cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp bên ngoài có một phần vốn nhà nước, như công ty THNN hay công ty cổ phần Cùng nắm được mục tiêu và nguyên tắt quản lý, cũng như nhìn nhận được sự hiệu quả khi có sự quản lý nguồn vốn, kinh tế phát triển, kèm theo sự đồng bộ để ngày càng linh hoạt hơn trong quá trình đất nước đi lên Việc ngày càng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã mang đến những kết quả phát triển mạnh mẽ, bên cạnh đó việc quản lý nguồn vốn, được xem như chủ

sở hữu vốn trong một doanh nghiệp cần phải được hợp lý và chặt chẽ, khi nền kinh

tế thị trường càng phát triển cũng là lúc doanh nghiệp nhà nước càng rút bớt khỏi thị trường để hoạt động tư nhân được đẩy mạnh, tuy nhiên việc đầu tư nguồn vốn nhà nước vào để duy trì một số ngành nghề nhất định là cần thiết

Dù ngày sẽ càng ít cang thiệp vào công việc đầu tư kinh doanh trên thị trường và chỉ liên quan đến một số lĩnh vực, nhưng luôn là những lĩnh vực then chốt và quan trọng vì vậy một cấp quản lý đồng bộ thống nhất là cấp thiết để nhà nước có thể kiểm soát công bằng, rõ ràng và chính xác, kiểm soát được các sai phạm cần tránh

và những thiếu sót cần bổ sung, nguồn vốn nhà nước cho thấy sự phát triển của đất nước, là một bộ mặt quan trọng và thể hiện với bên ngoài bước phát triển của đất nước là thế nào

Bên cạnh đó có sự quản lý rõ ràng, đồng bộ cho thấy nhà nước không cang thiệp vào những hoạt động kinh doanh bên ngoài, không gây sức ép lên nền kinh tế thị trường, tự do thương mại gia nhập với nền kinh tế thế giới, một đất nước phát triển cần có sự tự do trong kinh doanh khi các công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn có chổ phát triển, trãi qua rất nhiều thời gian, học hỏi được rất nhiều điều từ các nước tiên tiến mà nước ta đã thay đổi quan niệm về xã hội, cần có sự mở của và ít kiểm soát lại các hoạt động kinh doanh bên ngoài sẽ mang lại hiệu quả như thế nào cho một nền kinh tế

Ngày đăng: 05/03/2021, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w