Cùng với việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc tế của nước ta đã và đang xuất hiện ngày một nhiều các vụ việc tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động mà một bên đương sự l
Trang 1Sự tâm huyết của các thầy cô đã vun đắp cho kiến thức trở nên kiên cố hơn Ngẫm lại những năm học đã qua, tôi đã trưởng thành hơn Bên cạnh những kiến thức về ngành luật chúng tôi còn được trau dồi thêm các kỷ năng mềm Những điều thầy cô dạy sẽ là vũ khí giúp tôi vượt qua những thử thách trên con đường phát triển
sự nghiệp sau này Không những thế Khoa và Nhà trường cũng đã tạo mọi điều kiện giúp tôi được làm bài khóa luận tốt nghiệp
Em chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Luật kinh tế – Trường Đại học Công nghệ TP.HCM đã giúp đỡ và hỗ trợ em thực hiện các thủ tục trong quá trình hoàn thành khóa luận
Đặc biệt, tôi xin gửi đến thầy Nguyễn Đức Quang lời cảm ơn sâu sắc nhất vì thầy đã giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành báo cáo thực tập này Tôi xin chân thành cảm ơn thầy đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn!
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Hồ Vũ Thùy Trang
Ngày 01 tháng 8 năm 2013
Sinh viên thực hiện
( Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự LTHADS Luật thi hành án dân sự TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh TANN Tòa án nước ngoài TTNN Trọng tài nước ngoài
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Vấn đề cấp thiết 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu khóa luận 2
CHƯƠNG I: CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNG CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI 3
1.1 Khái quát về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của TANN 3
1.1.1 Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN 3
1.1.2 Sơ lược về pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN 5
1.1.3 Ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN 6
1.2 Các quy định về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài 8
1.2.1 Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài 8
1.2.2 Cơ quan có thẩm quyền xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành 8 1.2.3 Vai trò của Viện kiểm sát 9
1.2.4 Sự có mặt của các bên đương sự tại phiên họp 9
1.2.5 Một số quy định chung khác 10
1.3 Các quy định chung về không không nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam 11
1.3.1 Thủ tục không không nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam 11
1.3.2 Các trường hợp không được công nhận và cho thi hành những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài 12
1.3.3 Một số quy định khác 17
1.4 Các quy định chung về không công nhận bản án, quyết định không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam 17
1.4.1 Thủ tục không công nhận bán án, quyết định không có yêu cầu thi hành 17
Trang 51.4.2 Một số quy định khác 17
CHƯƠNG II: CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI 19
2.1 Khái quát về công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN 19
2.1.1 Công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN 19
2.1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN 20
2.1.3 Công ước về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài ngày 10/6.1958 (Công ước NewYork năm 1958) 22
2.2 Các trường hợp công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN tại Việt Nam 24
2.3 Các trường hợp không công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN tại Việt Nam 26
2.4 Một số quy định khác 33
CHƯƠNG III: THỰC TIỄN VỀ VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BÁN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TANN, PHÁN QUYẾT CỦA TTNN 35
3.1 Thực tiễn về việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN, phán quyết của TTNN của một số quốc gia khác 35
3.1.1 Singapore 35
3.1.2 Thái Lan 35
3.1.3 Cộng hòa Liên bang Đức 36
3.1.4 Hoa Kỳ 37
3.2 Thực tiễn về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của TANN, phán quyết của TTNN 38
3.2.1 Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN 38
3.2.2 Công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN 40
KẾT LUẬN 42
PHỤ LỤC I 43
PHỤ LỤC II 53
TÀI LIỆU KHAM KHẢO 56
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Vấn đề cấp thiết
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay thì các quan hệ tư pháp quốc tế đang ngày càng diễn ra một cách phổ biến và kéo theo đó là số lượng các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể trong các quan hệ đó cũng ngày càng tăng Các tranh chấp này
có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau, và để giải quyết các tranh chấp này thì việc công nhận và cho thi hành phán quyết nước ngoài cũng trở thành một việc quan trọng
Cùng với việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc tế của nước ta đã và đang xuất hiện ngày một nhiều các vụ việc tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động mà một bên đương sự là công dân, pháp nhân Việt Nam; nhiều vụ án được Tòa án nước ngoài giải quyết và gửi bản án, quyết định đến Việt Nam kèm theo đơn yêu cầu công nhận và thi hành tại nước ta các bản án, quyết định đó Thực tiễn hiện nay cho thấy, số lượng các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài cần được công nhận và thi hành tại Việt Nam ngày càng tăng
Thực tế tại Việt Nam cũng cho thấy ngày càng có nhiều tranh chấp phát sinh
từ các quan hệ có yếu tố nước ngoài được các bên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài và nhu cầu về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài nước ngoài cũng đang ngày một trờ nên phổ biến hơn
Như vậy có thể nói, trong những năm vừa qua, việc áp dụng các quy định của pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam trên thực tế đã cho thấy một điều, đó là mặc dù pháp luật Việt Nam về vấn đề này đã tương đối đồng
bộ và hoàn thiện so với các giai đoạn trước đó, nhưng vẫn còn khá nhiều những bất cập Những bất cập này đã tạo ra những cản trở không nhỏ cho việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết nước ngoài
Vì những lý do trên, có thể thấy việc nghiên cứu về vấn đề công nhận cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài là vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết, cả về mặt lý luận
và thực tiễn Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Công nhận và cho thi hành bản án, quyết
định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp Cụ thể trong đề tài này vấn đề trọng tâm
là “Công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt
Nam”
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm tỏ sáng các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời tìm hiểu thực trạng vấn đề này theo quy định của pháp luật
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, do thời gian và trình độ nghiên cứu có giới hạn nên chỉ nghiên cứu những vấn đề xoay quanh vấn đề “Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp Và chủ yếu vấn đề trọng tâm là
“Công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt
Nam”
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu, các phương pháp phấn tích vấn đề, tổng hợp,
so sánh,…sẽ được sử dụng nhằm nghiên cứu trên cơ sở công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu kham khảo, kết cấu khóa luận gồm có 3 chương:
- Chương I: Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài theo BLTTDS năm 2015
- Chương II: Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo BLTTDS năm 2015
- Chương III: Thực tiễn về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Trang 8CHƯƠNG I: CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNG CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái quát về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của TANN 1.1.1 Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN
Theo định nghĩa trong từ điển Luật học “Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài là việc thừa nhận và cho phép thi hành bản
án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định dân sự về hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài theo những nguyên tắc và trình tự pháp
lý nhất định”
Có ý kiến nói rằng “Công nhận bản án dân sự của Tòa án nước ngoài có nghĩa là cho phép được coi bản án dân sự đó như là sự khẳng định các quyền và nghĩa vụ dân sự theo đúng bản án dân sự trong nước” Một số quan điểm khác lại cho rằng công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài “Đó là một thủ tục tố tụng đặc biệt do cơ quan có thẩm quyền của nước có bên phải thi hành án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của bản án,quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ nước mình.”
Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài nhưng tựu trung lại đều thừa nhận: Kết quả công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài là sự thừa nhận và cho phép thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có giá trị bình đẳng như các bản
án quyết định của Tòa án, phán quyết của Trọng tài trong nước.[1]
Về cơ bản, khái niệm “Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài” phù hợp với phạm vi công nhận tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, theo đó, các bản án, quyết định được công nhận là các bản án, quyết định dân sự hoặc phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự Trong một số hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các quốc gia còn có sự phân biệt giữa bản án, quyết định dân sự mang tính chất tài sản và bản án, quyết định dân sự không mang tính chất tài sản
Phán quyết của tòa án nước ngoài bao gồm tất cả các phán quyết mà không phân biệt phán quyết đó có hiệu lực hay chưa có hiệu lực Bản án, quyết định dân sự
Việt Nam”; Tác giả: Phạm Thị Hồng Đào; Thuộc Văn phòng luật sư Thạnh Hưng; Ngày công bố:
26/10/2017; http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2235
Trang 9của tòa án nước ngoài có thể có thể bao gồm nhiều loại phán quyết khác nhau tùy thuộc và tiêu chí phân loại.[2]
Đối với bản án, quyết định không mang tính chất tài sản, các quốc gia có xu hướng đương nhiên công nhận mà không phải thông qua một thủ tục đặc biệt nào (Ví dụ: Hiệp định Tương trợ tư pháp với Nga) Do đó, thông thường các bản án, quyết định có yêu cầu công nhận tại Việt Nam là các bản án, quyết định dân sự mang tính chất tài sản, và sau khi được công nhận có thể phải áp dụng những biện pháp cưỡng chế thi hành nếu người phải thi hành không tự nguyện thi hành
Còn theo pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 423 BLTTDS 2015:
“Điều 423 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó
và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận
và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại;
c) Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành
2 Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này.”
Như vậy theo Điều 423 BLTTDS năm 2015 có thể nói, phạm vi các quyết định, bản án dân sự nêu trên đã bao quát được các quan hệ pháp luật dân sự trong
dân thành phố Hà Nội” Đại học Quốc gia Hà Nội; Tác giả: Ngô Xuân Huy; Sáng tác tại Hà Nội, năm 2014; Chuyên ngành: Luật Quốc tế; Mã số 60380108, tr 11
Trang 10đời sống pháp luật quốc tế Tuy nhiên, việc xem xét công nhận và cho thi hành phải dựa trên các nguyên tắc sau đây:
– Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà Việt Nam và nước đó đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này;
– Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành;
– Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải lý kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó;
– Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành;
– Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo điều ước quốc tế Việt Nam ký kết hoặc gia nhập;
– Tòa án Việt Nam chỉ xem xét việc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam khi có đơn yêu cầu không công nhận;
– Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu việc công nhận và cho thi hành đó trái với nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam và trật tự công cộng
1.1.2 Sơ lược về pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN
1.1.2.1 Giai đoạn trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự
Văn bản pháp luật đầu tiên của nước ta có quy định về công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án nước ngoài là thông tư số 11/TATC ngày 12/7/1974 của tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về nguyên tắc và thủ tục trong việc giải quyết những việc ly hôn có yếu tố nước ngoài (Phần IV về vần đề công nhận và thi hành bản án của tòa án nước ngoài)
Trong giai đoạn này, Việt Nam đã tiến hành ký kết một số các hiệp định tương trợ tư pháp với một số nước xã hội chủ nghĩa như:
Trang 11- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Công hòa dân chủ Đức (ký ngày 15/12/1980);
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình
sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết (ký ngày 10/12/1981);
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc(ký ngày 12/10/1982);
- Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự, gia đình, lao động và hình
sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Cu Ba (ký ngày 30/11/1984);
- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Hung-ga-ry (ký ngày 18/01/1985);
- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Bun-ga-ry (ký ngày 03/10/1986);
1.1.2.2 Giai đoạn sau khi có Bộ Luật tố tụng dân sự
Có thể nói, về cơ bản cho đến nay, chúng ra đã có cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ để giải quyết vấn đề công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài.[3]
1.1.3 Ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN
Ý nghĩa quan trọng nhất của việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài là nó đảm bảo khả năng thi hành các bản án, quyết định dân sự, đã được cơ quan tài phán nước ngoài tuyên cũng như đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án cũng như tránh tình trạng về cũng một vụ việc nhưng lại bị xét xử hai lần
Ngoài ý nghĩa trên thì việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN còn cũng có ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, pháp lý
dân thành phố Hà Nội” Đại học Quốc gia Hà Nội; Tác giả: Ngô Xuân Huy; Công bố tại Hà Nội, năm 2014; Chuyên ngành: Luật Quốc tế; Mã số 60380108; tr 13
Trang 12Về chính trị, công nhân và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN sẽ thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia Sự công nhân và thi hành bản
án, quyết định của TANN cũng thể hiện sự tôn trọng, thiện chí của quốc gia này đối với quốc gia khác, thể hiện chính sách bảo hộ quyền lợi ích hợp pháp không chỉ của các cá nhân, tổ chức nước mình mà còn cả lợi ích của các cá nhân, tổ chức nước ngoài.Ý nghĩa trong lĩnh vực này còn thể hiện quyền tài phán độc lập của một quốc gia , không một quốc gia, một tổ chức quốc tế nào có thể ép buộc một quốc gia hai
tổ chức quốc tế khác công nhận và thi hành bản án, quyết định Tòa án nước mình
Về phương diện kinh tế, việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân
sự của TANN có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia trên cơ sở hợp tác bình đẳng, các bên cùng có lợi, sẽ hạn chế các hành vi thoả thuân, vi phạm hợp đồng, tạo tâm lý an toàn cho các nhà đầu
tư nước ngoài Việc công nhân và thi hành bản án quyết định dân sự của TANN còn
là cơ sở để Tòa án có thẩm quyền của các quốc gia khác công nhận và thi hành bản
án quyết định dân sự của Tòa án nước mình trên nguyên tắc có đi có lại Mặt khác công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN cũng làm giảm chi phí
tố tụng, thủ tục tố tụng để thực thi các bản án, quyết định dân sự của TANN
Về phương diện pháp lý, công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN là một giai đoạn của quá trình tố tụng nếu các phán quyết của TANN không được thực thi thì kết quả ở giai đoạn trước đó sẽ không còn ý nghĩa Không những thế, việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN tại một quốc gia góp phần khắc phục các lỗ hổng của pháp luật quốc gia về vấn đề này, pháp luật giữa các quốc gia có cơ hội được so sánh trực tiếp với nhau, từ đó có những sơ hở của pháp luật các quốc gia được củng cố, đảm bảo cho pháp luật quốc gia có tính hệ thống Đây còn là một căn cứ pháp luật quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết của TA đối với các yêu cầu giải quyết khi có vụ việc của đương sự (được quy định cụ thể tại ĐIều 413 BLTTDS)
Không những thế công nhận và thi hành bản án quyết định dân sự của TANN cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực mở cửa quan hệ quốc tế Việc giải quyết thoả đáng vấn đề công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN sẽ là nhân tố tạo niềm tin, sự an tâm, ổn định cho các đối tác nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình với đối tác VN
Điều này cũng sẽ góp phần tạo môi trường để giao lưu dân sự phát triển lành mạnh Tuy nhiên hiện nay, vấn đề này vẫn còn khá nhiều vướng mắc, bất cập về mặt pháp luật thực định cũng như thực tiễn thi hành Do vậy, cần phải tháo gỡ
Trang 13nhanh chóng những vướng mắc này nhằm xây dựng một hành lang pháp lý thông thoáng, góp phần thúc đẩy phát triển các quan hệ với nước ngoài, tại điều kiện cho
VN trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
1.2 Các quy định về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài
1.2.1 Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân
sự của tòa án nước ngoài
Sơ đồ 1: Sơ đồ trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành
bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài
1.2.2 Cơ quan có thẩm quyền xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành
Theo quy định tại điều 432 BLTTDS năm 2015, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là Bộ Tư pháp – đối với trường hợp Việt Nam và quốc gia có Tòa án đã
ra bản án, quyết định dân sự cùng tham gia điều ước quốc tế; Tòa án nhân dân trong trường hợp Việt Nam và quốc gia có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự chưa cùng tham gia điều ước quốc tế
Bộ Tư pháp có thẩm quyền tiếp nhận đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành nhưng không có thẩm quyền xem xét chấp nhận đơn Trường hợp Bộ Tư pháp nhận được đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành thì trong thời hạn 05 ngày làm kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền
Ra quyết định
Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
Đình chỉ việc xét đơn
Mở phiên họp xét đơn yêu cầu
Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
Thụ lý đơn yêu cầu (Điều
436 BLTTDS năm 2015)
Nộp đơn yêu cầu (Điều 433
BLTTDS năm 2015)
Trang 141.2.3 Vai trò của Viện kiểm sát
Pháp luật các nước không quy định về việc tham gia của cơ quan công tố vào quy trình công nhận và cho thi hành bản án, phán quyết của Tòa án nước ngoài, Trọng tài nước ngoài, đồng thời cũng không bản án nào có đề cập đến sự tham gia của các cơ quan công tố Tại Việt Nam, do tính đặc thù của thiết chế Viện kiểm sát cũng như mô hình tố tụng, cơ quan này có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động tuân thủ pháp luật của không chỉ các đương sự, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan, mà còn cả cơ quan có thẩm quyền công nhận và cho thi hành phán quyết nước ngoài
Viện kiểm sát không tham gia vào việc ra quyết định có công nhận phán quyết nước ngoài hay không, vì chỉ có tòa án (thông qua việc chỉ định Hội đồng xét đơn yêu cầu) có thẩm quyền này, nhưng Viện kiểm sát, thông qua việc thực hiện các quyền và chức năng của mình sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết nước ngoài
Chức năng của Viện kiểm sát thể hiện ở một số điểm như sau: (i) nghiên cứu các hồ sơ, giấy tờ liên quan đến yêu cầu công nhận và cho thi hành, bao gồm phán quyết trọng tài, thỏa thuận trọng tài và các giấy tờ khác; (ii) tham gia phiên họp giải quyết đơn yêu cầu; (iii) phát biểu ý kiến tại phiên họp; (iv) kháng nghị quyết định của tòa án về việc đình chỉ, tạm đình chỉ việc xét đơn cũng như việc công nhận hay không công nhận phán quyết của TTNN; (v) ở các phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm liên quan đến việc xem xét lại quyết định của tòa án về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN, Viện kiểm sát cũng có các quyền tương tự
Đối với việc Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam được quy định tại Điều 1 và điểm d khoản 1 Điều 2 LTHADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì khi bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, của Trọng tài nước ngoài được Toà án Việt Nam công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam Việc thi hành bản án, quyết định đó theo pháp luật thi hành án tại Việt Nam Các hoạt động kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định dân
sự của Toà án nước ngoài cũng tương tự như hoạt động kiểm sát việc thi hành bản
án, quyết định dân sự của Toà án Việt Nam và theo thủ tục chung về thi hành án tại Việt Nam
1.2.4 Sự có mặt của các bên đương sự tại phiên họp
Để tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết quốc tế về hoàn thiện thủ tục giải quyết các vụ việc có yếu tố
Trang 15nước ngoài, BLTTDS đã có nhiều quy định về thủ tục giải quyết các yêu cầu, tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Cụ thể về giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tạiViệt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài cũng
đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm khắc phục những bất cập hiện nay
về sự có mặt của các đương sự nước ngoài
Ngoài sự có mặt của các đương sự ở Việt Nam, sự có mặt của các đương sự nước ngoài cũng là một vấn đề cần thiết Và theo đó là sự thay đổi căn bản về thủ tục thông báo, tống đạt văn bản tố tụng củaTòa án cho đương sự ở nước ngoài Việc thay đổi này nhằm đa dạng hóa các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và đảm bảo hiệu quả, rút ngắn thời gian của việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài
Theo đó bên cạnh phương thức tống đạt, thông báo truyền thống được quy định tại điều ước quốc tế và thông qua con đường ngoại giao trước đây, BLTTDS
bổ sung thêm các phương thức tống đạt mới như: tống đạt theo đường dịch vụ bưu chính, tống đạt qua văn phòng đại diện, chi nhánh của nước ngoài tại Việt Nam, trường hợp thực hiện các phương thức tống đạt không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
Ngoài ra, yêu cầu về tống đạt cũng được làm rõ Việc tống đạt có được xem
là hợp lệ hay không là phụ thuộc vào pháp luật của nước nơi bản án được tuyên, và yếu tố này được xét đến là để đảm bảo quyền tự bảo vệ của đương sự Điều này cũng tương tự như nguyên tắc về công bằng của các nước theo hệ thống thông luật khi cho rằng bị đơn phải có quyền tham gia tố tụng và tự bảo vệ một cách công bằng.[4]
1.2.5 Một số quy định chung khác
- Bên cạnh việc có quyền nộp đơn yêu cầu yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, người có quyền, lợi ích liên quan còn có quyền nộp đơn yêu cầu không công nhận bản án,quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam và yêu cầu không công nhận bản án, quyết định
Nam”; Tác giả: Phạm Thị Hồng Đào, thuộc Văn phòng luật sư Thạnh Hưng; Công bố ngày: 26/10/2017; http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2235#_ftn4
Trang 16dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tạiViệt Nam theo quy định tại điều 425 BLTTDS năm 2015
- Theo điều 432 BLTTDS năm 2015 thì thời hiệu nộp đơn yêu cầu cũng có những sửa đổi cơ bản được quy định dài hơn là 03 năm đối với yêu cầu không công nhận, yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết củaTrọng tài nước ngoài; thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam là 06 tháng, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật
- Bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị theo Điều 426 BLTTDS năm 2015 thì đương sự có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét lại
- Bảo đảm hiệu lực quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo Điều 427 BLTTDS năm 2015
- Gửi quyết định của tòa án về quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN theo Điều 428 BLTTDS năm 2015
- Lệ phí, chi phí xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành theo Điều 430 BLTTDS năm 2015
1.3 Các quy định chung về không không nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam
1.3.1 Thủ tục không không nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam
Trang 17Sơ đồ 2: Sơ đồ trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài
1.3.2 Các trường hợp không được công nhận và cho thi hành những bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
“Điều 439 Những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam khi đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành Việc xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài thực hiện theo nguyên tắc: (i) Giữa Việt Nam và nước có bản án, quyết định dân sự này phải có ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này; và (ii) Không thuộc trường hợp bị pháp luật Việt Nam cấm công nhận và cho thi hành
2 Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó
Tòa án Việt Nam chỉ công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài đã có hiệu lực pháp luật Theo pháp luật tố tụng dân sự nói chung, bản án, quyết định sau khi được Tòa án tuyên thì phải có một thời hạn nhất định để các bên hoặc các cơ quan liên quan thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị Nếu sau khoảng thời gian đó không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án,
Đình chỉ việc xét đơn
Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
Mở phiên họp xét đơn yêu cầu
Nộp đơn yêu cầu (Điều 445
Trang 18quyết định của Tòa án mới phát sinh hiệu lực pháp lý Quyền kháng cáo, kháng nghị hoàn toàn có khả năng làm thay đổi trình tự thủ tục tố tụng và do đó, có khả năng làm thay đổi toàn bộ nội dung bản án, quyết định dân sự
Do vậy, việc không công nhận các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chưa có hiệu lực pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các bên đương sự cũng như tính thống nhất của quá trình giải quyết vụ án Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không thể được công nhận tại quốc gia khác nếu bản thân chúng chưa có hiệu lực pháp lý tại chính quốc gia nơi có Tòa án tuyên các phán quyết đó
Mặt khác, việc xác định hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài áp dụng theo các quy định của pháp luật của nước nơi có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó Như vậy, Tòa án Việt Nam đương nhiên chấp nhận việc áp dụng các quy phạm pháp luật nước ngoài để xem xét hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định dân sự Tuy nhiên, pháp luật của quốc gia khác nhau sẽ có các quy định khác nhau về thời hiệu phát sinh hiệu lực của bản án, quyết định dân sự
Do đó, thực tế xảy ra trường hợp, theo quy định của pháp luật nước ngoài, bản án, quyết định dân sự đã phát sinh hiệu lực nhưng theo pháp luật Việt Nam, bản
án, quyết định dân sự chưa phát sinh hiệu lực và ngược lại Trong trường hợp này, pháp luật nước ngoài nơi có Tòa án đã tuyên bản án, quyết định dân sự được ưu tiên
áp dụng, theo đó, nếu bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp lý theo quy định của pháp luật nước nơi Tòa án ra bản án, quyết định thì bản án, quyết định đó không được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
3 Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án nước ngoài
đó để họ thực hiện quyền tự bảo vệ
Về nguyên tắc, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người phải thi hành Sự vắng mặt của người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ là căn cứ để hoãn phiên tòa Việc vắng mặt của người phải thi hành tại phiên tòa có thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Tuy nhiên, nếu người phải thi hành vắng mặt không phải do lỗi của
họ cũng không phải do nguyên nhân khách quan mà do không được triệu tập hợp lệ nhưng Tòa án vẫn tiến hành phiên họp xét xử là biểu hiện của sự vi phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người phải thi hành
Trang 19Do đó, việc Tòa án Việt Nam không công nhận các bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài mà người phải thi hành vắng mặt do không được triệu tập hợp lệ là có căn cứ Thủ tục triệu tập trong Điều luật này được hiểu là thủ tục triệu tập theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nơi bản án, quyết định dân sự được tuyên
4 Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật này
Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết
Theo Điều 440 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, yêu cầu khi Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định mà bản án, quyết định đó đang được xem xét để công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó trong những trường hợp vụ việc dân sự không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều
470 của Bộ luật này;
Hoặc trong trường hợp vụ việc dân sự quy định tại Điều 469 của Bộ luật này nhưng có một trong các điều kiện sau đây: (i) Bị đơn tham gia tranh tụng mà không
có ý kiến phản đối thẩm quyền của Tòa án nước ngoài đó;(ii) Vụ việc dân sự này chưa có bản án, quyết định của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành;(iii) Vụ việc dân sự này đã được Tòa án nước ngoài thụ lý trước khi Tòa án Việt Nam thụ lý
5 Vụ việc dân sự này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ
lý vụ việc, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc hoặc đã có bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
Tòa án Việt Nam từ chối không công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong trường hợp cùng một vụ án mà đã có bản
án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
Đây là quy định nhằm hạn chế tối đa các trường hợp cùng một vụ án nhưng lại được xét xử hoặc công nhận hai lần Quy định trên khẳng định thẩm quyền của
Trang 20Tòa án Việt Nam hoặc Tòa án nước ngoài mang tính đương nhiên, nghĩa là điều luật chỉ nêu ra trường hợp vụ án đó đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực của Tòa án Việt Nam hoặc đã có quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam mà không đề cập đến vấn đề liệu thẩm quyền của Tòa án Việt Nam hoặc thẩm quyền của Tòa án nước ngoài có thể bị tuyên bố bãi bỏ Việt Nam tuyên bố có thẩm quyền riêng biệt đối với một số vụ án nhất định và sự chấp nhận thẩm quyền riêng biệt này phụ thuộc vào từng quốc gia
Đối với các vụ án thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam thì Tòa
án Việt Nam đương nhiên có thẩm quyền giải quyết Đối với Tòa án nước ngoài, việc xem xét thẩm quyền của Tòa án nước ngoài là một vấn đề khá khó khăn Trong trường hợp này, đối với các vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án Việt Nam đương nhiên công nhận thẩm quyền của Tòa án nước ngoài
Mặt khác, việc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cũng được đặt ra ngay trong giai đoạn thụ lý vụ án, theo đó, nếu trước khi cơ quan xét xử nước ngoài thụ lý vụ án, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết
vụ án đó thì bản án, quyết định dân sự của cơ quan xét xử nước ngoài cũng không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
6 Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản
án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam
Tòa án Việt Nam không công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật Việt Nam Về khái niệm “thời hiệu thi hành án”, LTHADS có quy định là thời hạn mà người được thi hành hoặc người phải thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự Nếu hết thời hạn này mà người có quyền yêu cầu không thực hiện quyền yêu cầu của mình thì các bản án, quyết định được coi là hết thời hiệu yêu cầu thi hành án
Như vậy, đối với thuật ngữ thời hiệu thi hành án theo Bộ luật Tố tụng dân sự phải được hiểu là thời hiệu yêu cầu thi hành án Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời gian dành cho các đương sự yêu cầu cơ quan nhà nước tổ chức thi hành các bản
án, quyết định dân sự trên thực tế, yêu cầu bên bên phải thi hành phải thực hiện nghĩa vụ và bên được thi hành được nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, việc thi hành án không phải bắt buộc mà phải dựa trên ý chí mong muốn của các bên Quyền yêu cầu chỉ được thực hiện trong một thời hạn nhất định và hết thời hạn này thì các đương sự coi như không còn quyền yêu cầu
Trang 21Việc hết thời hiệu yêu cầu thi hành án được xác định trên pháp luật của nước nơi có Tòa án ra các bản án, quyết định hoặc theo pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, thời hiệu yêu cầu thi hành án có thể quy định khác nhau giữa pháp luật nước ngoài
và pháp luật Việt Nam
7 Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Đình chỉ thi hành án là việc cơ quan thi hành án ngừng hẳn việc thi hành bản án, quyết định dân sự khi có những căn cứ theo quy định của pháp luật Đặc điểm của đình chỉ thi hành án là việc chấm dứt thi hành đối với các bản án, quyết định dân sự Việc thi hành án sau khi bị đình chỉ sẽ không được đưa ra thi hành nữa, các bên đương sự cũng chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ của họ đã tuyên trong bản án
8 Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cũng không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu nội dung của chúng trái với các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam “Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là một thuật ngữ được sử dụng trong khá nhiều các quy định nhằm mục đích mở rộng tối đa phạm vi điều chỉnh của pháp luật
Hiện nay chưa có quy định pháp luật nào giải thích rõ nội dung và phạm vi của các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam Các nguyên lý cơ bản nhằm duy trì và đảm bảo một trật tự pháp lý mà hệ thống pháp luật Việt Nam hướng tới trên
cơ sở các quy phạm đạo đức, đặc điểm văn hóa, phong tục, truyền thống của người Việt Nam Đây cũng là thuật ngữ được pháp luật quốc gia cũng như pháp luật luật quốc tế dẫn chiếu để loại bỏ các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết các tranh chấp phát sinh tại lãnh thổ một quốc gia
Ở phạm vi quốc tế, các nguyên tắc này có thể được hiểu là “trật tự công” mà các quốc gia thường dẫn chiếu nhằm bảo lưu một điều khoản nào đó trong một hiệp định quốc tế, theo đó, các hành vi xâm phạm đến trật tự công của một quốc gia đều
bị nghiêm cấm và các quốc gia có thể không thực hiện nghĩa vụ thành viên với lý do bảo lưu trật tự công Do vậy, việc không công nhận các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam là một cách để Việt Nam bảo lưu, duy trì và bảo đảm trật tự công của mình
Trang 221.3.3 Một số quy định khác
- Thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam theo Điều 444 BLTTDS năm 2015 quy định thìtrong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
- Gửi đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trong đơn yêu cầu phải đáp ứng đủ nội dung được quy định tại Điều 445 BLTTDS năm 2015
1.4 Các quy định chung về không công nhận bản án, quyết định không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
1.4.1 Thủ tục không công nhận bán án, quyết định không có yêu cầu thi hành
Sơ đồ 3: Sơ đồ trình tự, thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
1.4.2 Một số quy định khác
- Thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của TANN không có yêu cầu thi hànhtại Việt Nam theo Điều 447 BLTTDS năm 2015 quy định là trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định dân sự đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt
Nộp đơn yêu cầu (Điều 445 BLTTDS năm 2015)
Thụ lý đơn yêu cầu (Điều
436 BLTTDS năm 2015)
Ra quyết định
Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
Đình chỉ việc xét đơn
Mở phiên họp xét đơn yêu cầu
Bác đơn yêu
cầu không công
nhận
Không công nhận
Trang 23Nam, đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền để yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự đó
- Đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam phải có đủ nội dung được quy định tại Điều 448 BLTTDS năm 2015
Trang 24CHƯƠNG II: CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
2.1 Khái quát về công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN
2.1.1 Công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN
Theo Từ điển Luật học, công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài là việc thừa nhận và cho phép thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo những nguyên tắc và trình tự pháp lý nhất định Theo đó là nhiều sửa đổi, bổ sung của pháp luật Việt Nam cho phù hợp với Công ước New York năm
1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
Ngay khi trở thành thành viên chính thức của Công ước New York, Việt Nam đã gấp rút chuyển hóa các điều khoản của Công ước này vào trong nền pháp chế của mình Bằng chứng là Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài (Pháp lệnh 1995) đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 14/9/1995 Ngay từ Điều 1 của Pháp lệnh 1995 quy định khái niệm phán quyết của trọng tài nước ngoài được đề cập một cách cụ thể, theo đó phán quyết của trọng tài nước ngoài sẽ rơi vào một trong hai trường hợp: (i) phán quyết được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam do các bên thỏa thuận để giải quyết các tranh chấp thương mại, và (ii) phán quyết tuyên trong lãnh thổ Việt Nam nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên
Theo quan niệm của Điều 342 BLTTDS 2004 thì phán quyết của quyết trọng tài nước ngoài là phán quyết được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của trọng tài nước ngoài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại và lao động Quan niệm
về việc sử dụng khái niệm phán quyết của trọng tài nước ngoài thay vì khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài từ Pháp lệnh 1995 vẫn được giữ nguyên khi ban hành BLTTDS 2004
Khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài trong khuôn khổ của BLTTDS
2004 bao hàm luôn các các phán quyết nhằm giải quyết các tranh chấp lao động, trong khi Pháp lệnh 1995 chỉ điều chỉnh các phán quyết về thương mại Ngược lại, BLTTDS 2004 chỉ điều chỉnh hai trường hợp là (i) và (iii) trong bốn trường hợp được Pháp lệnh 1995 dự liệu (bao gồm phán quyết do trọng tài nước ngoài lập ngoài lãnh thổ Việt Nam và phán quyết do trọng tài nước ngoài lập trong lãnh thổ Việt Nam)
Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã quy định rất rõ ràng về phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam tại điều 424
Trang 25BLTTDS năm 2015 đố với các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, pháp luật Việt Nam chỉ xem xét công nhận và cho thi hành đối với các phán quyết của Trọng tài thương mại nước ngoài Tức là, các phán quyết của Trọng tài nước ngoài giải quyết các tranh chấp thương mại mới là đối tượng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Và việc xem xét dựa trên các nguyên tắc sau đây:
– Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà Việt Nam và nước đó đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này;
– Phán quyết của Trọng tài nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải lý kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó;
– Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn
bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành;
– Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam;
– Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không được chấp nhận nếu theo quy định của pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài;
– Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không được chấp nhận nếu việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
2.1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, trọng tài thương mại mới được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam, tuy nhiên trong lịch sử thương mại quốc tế thì trọng tài thương mại đã manh nha rất sớm, thậm chí còn là tiền đề hình thành tòa án
Trọng tài là phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất đồng giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia Hy Lạp và La Mã cổ đại được cho là những nơi khởi nguồn của phương thức trọng tài này Xuất hiện đầu tiên trong giao thương, mua bán giữa các lái buôn, khi có bất đồng trong việc trao đổi hàng hóa, thanh toán,
họ sử dụng một bên thứ ba không phải Nhà nước, được cho là công minh, đủ hiểu
Trang 26biết, thường là một hoặc một số cá nhân độc lập, thông tuệ để phân xử; phương thức trọng tài bắt nguồn từ đó
Văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ra đời ở Anh năm 1697, tại thời điểm mà phương thức này vốn dĩ đã được
sử dụng phổ biến
Năm 1794, trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa Mỹ và Anh về ấn đề các khoản nợ và thỏa thuận biên giới được quy định rõ sẽ sử dụng phương thức trọng tài trong Hiệp ước Jay 1794 (Jay's Treaty 1794) Không chỉ các thương nhân
ưa chuộng sử dụng phương thức này mà trong quan hệ giữa quốc gia với quốc gia, phương thức này cũng được ưu tiên sử dụng
Theo sự phát triển của thương mại quốc tế, phương thức trọng tài được phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia và giống như một sự tất yếu, một chiếc tàu cứu hộ cho cơ quan tố tụng là tòa án đang quá tải, kém hiệu quả ở các quốc gia, trọng tài thương mại với những đặc thù phù hợp với kinh tế, đã phát triển nhanh chóng, trở nên được ưu ái hơn với các phương thức khác Các tổ chức trọng tài thương mại ra đời và đóng góp quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Năm 1958, Công ước New York ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của phương thức trọng tài thương mại Công ước New York về công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài giống như một mạng lưới liên kết hệ thống pháp luật quốc gia với các quyết định của trọng tài thương mại Công ước này cho phép một phán quyết của trọng tài nước ngoài được thực thi tại bất cứ quốc gia thành viên của công ước và các quốc gia thành viên có trách nhiệm công nhận và cho thi hành phán quyết này giống như bất cứ quyết định nào của tòa án nước mình
Ngay khi trở thành thành viên chính thức của Công ước New York, Việt Nam đã gấp rút chuyển hóa các điều khoản của Công ước này vào trong nền pháp chế của mình Bằng chứng là Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài (Pháp lệnh 1995) đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 14/9/1995 Ngay từ Điều 1 của Pháp lệnh 1995, khái niệm phán quyết của trọng tài nước ngoài đã được đề cập một cách cụ thể, theo đó phán quyết của trọng tài nước ngoài sẽ rơi vào một trong hai trường hợp: (i) phán quyết được tuyên ngoài lãnh thổ Việt Nam do các bên thỏa thuận để giải quyết các tranh chấp thương mại, và (ii) phán quyết tuyên trong lãnh thổ Việt Nam nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên
Trang 27Nhìn vào quy định trên thì có thể khẳng định rằng Pháp lệnh 1995 đã nội luật hóa quan điểm của Công ước New York về hai cách thức nhằm xác định khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài Ngoài ra, tính đến nay Việt Nam đã kí kết 18 điều ước quốc tế song phương với các nước khác về tương trợ tư pháp Các hiệp định song phương này đều có đề cập đến việc công nhận bản án của tòa án cũng như phán quyết của trọng tài Trong số đó, 9 hiệp định dẫn chiếu đến Công ước New York và 4 hiệp định có quy định riêng Đến nay, phương thức trọng tài thương mại
đã được phổ biến rộng, được ưa chuộng trong giải quyết tranh chấp không chỉ trong các hợp đồng ngoại thương nữa mà còn ngay trong một quốc gia Việt Nam không nằm ngoài ảnh hưởng của xu thế này
2.1.3 Công ước về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài ngày 10/6.1958 (Công ước NewYork năm 1958)
Công ước New York vốn được xem là điều ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia nhất, cũng như có tầm bao phủ rộng nhất trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế, thiết lập một "mức sàn" tối thiểu mang tính nền tảng mà mọi quốc gia thành viên đều phải tuân thủ khi đã tham gia ký kết hoặc phê chuẩn Tinh thần xuyên suốt của Công ước là ủng hộ trọng tài (pro-arbitration), đồng thời khuyến khích các nước thành viên tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng để việc công nhận
và cho thi hành phán quyết của TTNN tại nước thành viên đó được dễ dàng, nhanh chóng
Điều III Công ước nhấn mạnh: "Các quốc gia thành viên sẽ công nhận các phán quyết trọng tài (nước ngoài) là có hiệu lực ràng buộc và cho thi hành các phán quyết này theo những nguyên tắc tố tụng của nơi mà phán quyết được xem xét công nhận và cho thi hành, theo các điều kiện nằm trong những điều khoản tiếp theo của Công ước New York Pháp luật quốc gia không được áp đặt những điều kiện phức tạp hơn, hoặc phí/chi phí liên quan đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN chịu sự điều chỉnh của Công ước New York cao hơn việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài trong nước"
Như vậy, Công ước nhường lại việc quy định cụ thể quy trình, phương cách cho pháp luật của quốc gia nơi xem xét công nhận và cho thi hành Tuy nhiên, các điều kiện cơ bản, tối thiểu mà Công ước đã liệt kê thì pháp luật quốc gia không được xâm phạm Trên thực tế, có thể xảy ra một số trường hợp như sau: (i) các điều kiện để công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN cao hơn phán quyết trọng
Trang 28tài trong nước, (ii) các điều kiện để công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN thấp hơn hoặc bằng phán quyết của trọng tài trong nước.[5]
Công ước New York là Điều ước quốc tế đa phương quan trọng nhất không chỉ trong lĩnh vực trọng tài thương mại mà còn trong thương mại quốc tế nói chung Công ước này thiết lập một khung pháp lý vững chắc nhằm đảm bảo cho việc công nhận và cho thi hành các phán quyết trọng tài nước ngoài Việc công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài hiện nay được hầu hết các nước áp dụng theo Công ước NewYork năm 1958 Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp
mà nước ta ký thời gian gần đây (Hiệp định với Nga, Trung Quốc, Pháp) cũng quy định đối với việc công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài thực hiện theo các quy định của Công ước này
Nội dung Công ước New York quy định các nước thành viên phải công nhận các phán quyết Trọng tài được đưa ra ngoài lãnh thổ của họ và các phán quyết không được coi là phán quyết trong nước của các nước thành viên Các phán quyết Trọng tài nước ngoài sẽ được thi hành như những quyết định của Toà án địa phương
và hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành phán quyết Khi tham gia Công ước, Nhà nước ta đã tuyên bố 3 điểm bảo lưu:
- Chỉ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của các quốc gia thành viên của Công ước; đối với quyết định của Trọng tài nước ngoài tuyên tại lãnh thổ của quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, Công ước được áp dụng tại Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại
- Chỉ áp dụng Công ước đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại
- Mọi sự giải thích Công ước trước Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.[6]
Các hiệp định song phương này đều có đề cập đến việc công nhận bản án của tòa án cũng như phán quyết của trọng tài Trong số đó, 9 hiệp định dẫn chiếu đến Công ước New York và 4 hiệp định có quy định riêng
Thiện – Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; Nguồn: Tạp chỉ nghiên cứu lập pháp, Số 24, tháng 12/2016, tr 45
[6] Theo bài “Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”; Tác giả: Đặng Trung Hà; http://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=33
Trang 29Như vậy, phán quyết trọng tài của các nước thành viên của Công ước New York hoặc có điều ước song phương với Việt Nam đều có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo quy định của các điều ước nói trên Phù hợp với quy định tại Điều VII của Công ước New York, bên yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam vẫn có thể viện dẫn các quyền lợi của mình trong các hiệu định, điều ước song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết để ủng hộ việc thi hành phán quyết trọng tài
Sau hơn 20 năm chính thức gia nhập Công ước New York (vào ngày 28/7/1995), việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam trải qua nhiều thực tiễn sinh động Đa phần các phán quyết trọng tài nước ngoài được đảm bảo công nhận và cho thi hành đúng theo quy định Công ước New York, các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp luật Việt Nam Gần đây, với việc ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, pháp luật về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam đã được hoàn thiện hơn
2.2 Các trường hợp công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN tại Việt Nam
“Điều 424 Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1 Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
Khi xem xét việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không xét xử lại vụ tranh chấp theo khoản 4 điều 458 BLTTDS năm 2015 Việc không xét xử lại vụ tranh chấp đã được pháp lệnh 1995 và BLTTDS quy định để phù hợp với công ước New York để tránh cùng một vụ việc mà xét xử hai lần
Theo những quy định chung ở chương XXXV và chương XXXVII của BLTTDS, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên để làm cơ sở để ra quyết định công nhận hoặc không công nhận Hội đồng xét xử tiến hành kiểm tra, đối chiếu các giấy tờ, tài liệu và tống đạt nhanh chóng và hợp thức giấy triệu tập, sau khi các thủ tục đã được thực hiện đúng pháp luật thì ra quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của
Trọng tài nước ngoài (xem thêm Bản án số 198 Phụ lục I trang 43)
Trang 30“b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.”
Không phải mọi phán quyết của mọi trọng tài nước ngoài đều được quyền yêu cầu công nhận tại Việt Nam, Việt Nam chỉ cam kết công nhận phán quyết của các trọng tài nước ngoài khi đáp ứng điều kiện theo Điều 424 BLTTDS năm 2015,
có thể là trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại với quốc gia có trọng tài nước ngoài Trên cơ sở lý luận về nguyên lý có đi có lại trong quan hệ quốc tế, có thể hiểu là Tòa án của Việt Nam có thể công nhận và cho thi hành đối với phán quyết của trọng tài Việt Nam và ngược lại Nghĩa là ở đây, trường hợp này phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam có ràng buộc về mặt nghĩa vụ công nhận phán quyết của trọng tài
“2 Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành.”
Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, Trọng tài có thể đưa ra nhiều quyết định, phán quyết phục vụ cho việc giải quyết nội dung vụ tranh chấp Tuy nhiên, chỉ có phán quyết của trọng tài mới được quyền yêu cầu công nhận tại Việt Nam, các quyết định của Trọng tài không thuộc đối tượng được quyền yêu cầu công nhận Hơn nữa, theo pháp luật Việt Nam, phán quyết này phải đảm bảo đủ điều kiện “phải là phán quyết giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt
tố tụng trọng tài và đã có hiệu lực” (Theo khoản 2 điều 424 BLTTDS năm 2015)
Như vậy, trên thực tế, các phán quyết từng phần (nghĩa là phán quyết đưa ra quyết định chung thẩm đối với từng phần của tranh chấp và để những yêu cầu còn lại cho giai đoạn tố tụng trọng tài tiếp theo) hay Phán quyết sơ bộ (nghĩa là phán quyết quyết định một vấn đề sơ bộ cần thiết để xử lý yêu cầu của các bên) theo cách hiểu của Công ước New York 1958 mà Việt Nam đã tham gia sẽ rất khó được công nhận tại Việt Nam do không đủ điều kiện để được coi là phán quyết trọng tài
“3 Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam.”
Từ những quy định trên có thể thấy:
Thứ nhất, BLTTDS 2015 quy định cụ thể phán quyết của trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành ở Việt Nam gồm: Phán quyết của trọng tài nước ngoài mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc
Trang 31tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài Phán quyết của trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp trên thì thực hiện nguyên tắc “có
đi có lại” Ngoài ra, phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết cuối cùng của hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành
Thứ hai, BLTTDS 2015 còn quy định quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN Theo đó, người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của TTNN nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của TTNN có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu
Thứ ba, phán quyết của TTNN được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có giá trị như phán quyết của tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự Phán quyết của TTNN chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN của tòa án Việt Nam có hiệu lực pháp luật Những nguyên tắc trên
sẽ đảm bảo tính bắt buộc thi hành của các phán quyết TTNN nếu được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
2.3 Các trường hợp không công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN tại Việt Nam
Về nguyên tắc, Tòa án Việt Nam khi xem xét công nhận phán quyết Trọng tài nước ngoài sẽ không có quyền xem xét lại nội dung vụ tranh chấp và không được lấy lý do có sự khác biệt do cách giải quyết về mặt nội dung của phán quyết Trọng tài với Tòa án làm cơ sở để không công nhận Tuy nhiên, trng những trường hợp đặc biệt sau đây, Tòa án Việt Nam có quyền không công nhận phán quyết Trọng tài nước ngoài (Điều 459 BLTTDS 2015) khi:
“Điều 459 Những trường hợp không công nhận
1 Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;”