1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp khắc phục trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng theo quy định của công ước vienna 1980 so sánh luật thương mại 2005

63 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá thế nào là “nghiêm trọng” phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể và thông thường sử dụng các tiêu chí như: việc vi phạm hợp đồng làm bên kia không đạt được kết quả mong muốn,

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN BÁN VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 - SO SÁNH

LUẬT THƯƠNG MẠI 2005

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 2

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN BÁN VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 – SO SÁNH

LUẬT THƯƠNG MẠI 2005

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: TH.S NGUYỄN CHÍ THẮNG

Sinh viên thực hiện: BÙI THỊ THÙY TRANG

MSSV: 1511271527 Lớp: 15DLK15

Tp Hồ Chí Minh - 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thiện học phần khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được nhiều sự quan tâm và giúp đỡ tận tình, cùng sự chỉ bảo sâu sắc về kiến thức cũng như chuyên môn nghiệp vụ từ phía Giảng viên hướng dẫn thực tập, giảng viên khoa Luật Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH) Nhờ có sự quan tâm, giúp

đỡ đã tạo điều khiện thuận lợi để em có thể hoàn thành tốt khóa luận cuối khóa, vì vậy trong bài luận này em xin gởi lời lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc nhất đến: Thầy Nguyễn Chí Thắng, là giảng viên hướng dẫn em trong suốt thời gian làm bài luận vừa qua Trong quá trình hướng dẫn, thầy luôn tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho em những kinh nghiệm và kiến thức quý báu để em hoàn thành tốt bài luận của mình Trong suốt quá trình làm bài sẽ khó tránh khỏi những sai sót về kiến thức và lỗi trình bày vì bản nhân còn nhiều hạn chế Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu từ thầy cô để hoàn thiện bản thân Sau cùng, em xin chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong công việc

Em xin chân thành cảm ơn!

TP HCM, ngày 18 tháng 11 năm 2018 Sinh viên thực hiện

Bùi Thị Thùy Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Bùi Thị Thùy Trang MSSV: 1511271527 Lớp: 15DLK15

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài khóa luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế trên các sách báo khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định)

Nội dung trong báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình nghiên cứu, KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, báo cáo khác

Nếu sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường và Pháp luật

Sinh viên

Bùi Thị Thùy Trang

Trang 5

Công ước Viên của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980

2

UNIDROIT

Insitut International Pour l’Unification des Droits Privé

Viện Thống nhất tư pháp quốc tế, một

tổ chức quốc tế liên chính phủ thành lập năm 1929, đặt trụ sở tại Roma, Italia soạn thảo và ấn hành vào năm

2004

3

PICC

Principles of International

Commercial Contract

Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT

4 LTM Luật Thương mại

5 PECL Principles of

European Contract Law

Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng châu Âu

2002

6 FOB Free On Board Điều kiện giao hàng miễn trách nhiệm

của người bán khi hàng đã lên boong tàu Có nghĩa là hàng chưa lên tàu thì mọi trách nhiệm thuộc về người bán (seller), sau khi hàng đã lên tàu thì tất

cả rủi ro, trách nhiệm chuyển cho người mua (buyer)

7 CIF Cost + Insurance +

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu khóa luận 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC KHI BÊN BÁN VI PHẠM HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 4

1.1 Tổng quan về vi phạm hợp đồng của bên bán 4

1.1.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng 4

1.1.2 Hệ quả pháp lý của vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 11

1.2 Nghĩa vụ của bên bán theo quy định của Công ước Vienna 1980 15

1.2.1 Nghĩa vụ giao hàng của bên bán 15

1.2.1.1 Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm 15

1.2.1.2 Nghĩa vụ giao hàng đúng thời gian 17

1.2.1.3 Nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng và chất lượng 18

1.2.2 Nghĩa vụ giao các chứng từ liên quan đến hàng hóa 21

1.2.3 Nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa 22

1.3 Các biện pháp khắc phục khi bên bán vi phạm hợp đồng theo Công ước Viên 1980 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VÀ LUẬT THƯƠNG MẠI 2005 VỀ BIỆN PHÁP ÁP DỤNG KHI BÊN BÁN VI PHẠM HỢP ĐỒNG 28

2.1 Điểm tương đồng trong quy định về biện pháp khắc phục khi bên bán vi phạm hợp đồng theo Công ước Viên 1980 và Luật Thương mại 2005 28

2.1.1 Biện pháp bồi thường thiệt hại 28

2.1.2 Biện pháp buộc thực hiện hợp đồng 33

2.1.3 Hủy hợp đồng do bên bán vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng 35

2.2 Sự khác biệt trong quy định của Công ước Viên 1980 và Luật Thương mại 2005 về biện pháp áp dụng khi bên bán vi phạm hợp đồng 40

Trang 7

2.2.1 Biện pháp đình chỉ, tạm ngừng thực hiện hợp đồng 40

2.2.2 Biện pháp gia hạn thực hiện hợp đồng 42

2.2.3 Biện pháp phạt vi phạm 46

2.2.4 Biện pháp giảm giá 49

KẾT LUẬN 52

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 8

để điều chỉnh, tuy nhiên vấn đề đặt ra là hợp đồng không chỉ là giữa các bên trong cùng một quốc gia ký kết với nhau mà còn là sự ký kết mang tính quốc tính quốc tế Điển hình cho loại hợp đồng này là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xem là một sự tiến bộ vượt bậc trong nền kinh tế, tức

là đã có sự giao lưu, mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài ở đây Nhưng cũng vì mang tính quốc tế nên phát sinh nhiều vấn đề khi có tranh chấp xảy ra điển hình là việc áp dụng pháp luật của quốc gia bên nào để giải quyết, liệu rằng các bên có chấp nhận với phán quyết của cơ quan có thẩm quyền hay không? Chính vì vậy để hạn chế vấn đề xung đột pháp luật xảy ra các nhà làm luật đã đặt ra các biện pháp khắc phục

vi phạm hợp đồng , mà cụ thể ở đây là các biện pháp khắc phục trong trường hợp người bán vi phạm trong hợp đồng quốc tế ( CISG ) và so với luật thường mại Việt Nam 2005, cơ sở để xây dựng các biện pháp này bắt nguồn từ việc thỏa thuận giữa các bên nhằm mục đích hợp tác một cách thiện chí trung thực, hạn chế tranh chấp xảy

ra để việc thực hiện hợp đồng được tiến hành ổn định.Như vậy, để hiểu rõ thế nào là

vi phạm hợp đồng thương mại quốc tế, vi phạm hợp đồng trong luật thương mại Việt Nam 2005 Trong trường hợp người bán vi phạm Áp dụng những biện pháp gì để khắc phục vi phạm hợp đồng? Trường hợp trường hợp nào sẽ được áp dụng miễn trừ

trách nhiệm? Với đề tài: “Các biện pháp khắc phục trong trường hợp bên bán vi phạm

hợp đồng theo quy định của Công ước Vienna 1980 - So sánh Luật Thương mại 2005”

Cá nhân người viết hi vọng phần nào sẽ giải đáp cho các thầy cô và các bạn hiểu rõ được vấn đề này Vì khả năng nghiên cứu của bản thân còn hạn hẹp, không tránh khỏi những thiếu sót khiến đề tài không hoàn thiện Mong quý thầy cô và các bạn thông

cảm

Trang 9

2

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và một số khía cạnh chuyên sâu về pháp luật mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng đã được một số chuyên gia, học giả nghiên cứu Đối với khía cạnh chế độ trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau Trong các công trình nêu trên, một số công trình đề cập một cách khái quái hầu hết các vấn

đề về mua bán hàng hóa quốc tế trong bối cảnh Việt Nam mới hội nhập kinh tế quốc tế; một số công trình khác nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật Việt Nam điều chỉnh chế độ trách nhiệm vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hoặc một chế tải cụ thể đối với hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm của người bán trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, đặc biệt là sau khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Trên cơ sở đó

để làm rõ những vấn đề cơ bản về chế tài trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng theo Công ước Viên 1980 và so với luật thương mại 2005 để nhấn mạnh những bất cập của pháp luật Việt Nam trong các quy định về chế tài này Bài luận đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm do người bán vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cũng như áp dụng đúng đắn nhất luật Công ước Viên 1980 trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trong mọi bài nghiên cứu báo cáo khoa học nói chung, nghiên cứu ngành luật nói riêng thì việc xác định phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài là rất quan trọng Việc xác định này nhằm để biết phạm vi về không gian, thời gian và đối tượng nghiên cứu để tránh trường hợp làm lạc đề hay gây hoang mang cho người đọc

Ở đề tài so sánh các biện pháp khắc phục trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng trong Công ước Liên Hiệp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)

và luật thương mại Việt Nam 2005, thì đối tượng nghiên cứu là các quy định của CISG và luật thương mại Việt Nam 2005 , còn phạm vi nghiên cứu trong bài viết này chỉ nói về các biện pháp khắc phục trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa đối với luật Việt Nam và Luật quốc tế (CISG)

Trang 10

3

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong suốt quá trình nghiên cứu bài báo cáo, người viết đã sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, liệt kê

5 Kết cấu khóa luận

Bài luận ngoài lời mở đầu và phần kết luận thì còn có 2 chương:

- Chương 1: Tổng quan về nghĩa vụ của người bán và biện pháp khắc phục khi bên bán vi phạm hợp đồng theo công ước Vienna 1980

- Kết luận chương 1

- Chương 2: Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của CISG 1980 và luật thương mại 2005 về biện pháp áp dụng khi bên bán vi phạm hợp đồng

Trang 11

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BÁN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC KHI BÊN BÁN VI PHẠM HỢP ĐỒNG

THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980

1.1 Tổng quan về vi phạm hợp đồng của bên bán

1.1.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng

Luật Thương mại Việt Nam 2005 định nghĩa vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật Thương mại.1 Theo các chuyên gia, dấu hiệu của vi phạm hợp đồng là không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ hợp đồng Nhìn từ góc độ pháp lý, quy định này có phần thừa và chưa chính xác bởi lẽ thực hiện không đầy đủ với ý nghĩa

là có thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên còn thiếu ở các khía cạnh cụ thể, ví dụ giao thiếu hàng, giao hàng không đúng chất lượng chủng loại… như đã cam kết chính là “thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận” Do đó, chỉ cần quy định rằng vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ giữa các bên là phù hợp về mặt pháp lý.2 Nhìn ra một số quy định của pháp luật thế giới thì khái niệm về vi phạm hợp đồng lại không được định nghĩa trực tiếp trong các đạo luật của các quốc gia này mà thay vào đó pháp luật của nhiều quốc gia quy định các dạng vi phạm hợp đồng

Điều 11 Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh quy định “Ở Scotland,

người bán không thực hiện bất kỳ phần quan trọng nào của hợp đồng mua bán là vi phạm hợp đồng…”.3 Còn theo điều 1-201(b) Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ năm 1952 không đưa ra khái niệm vi phạm nhưng quy định “lỗi là khiếm khuyết, vi phạm hay hành động sai trái hoặc không làm đầy đủ” Từ quy định này có thể hiểu vi phạm là lỗi, là sự khiếm khuyết hay hành động sai trái hay không làm đầy đủ.4 Dù được định nghĩa, giải thích theo các cách khác nhau nhưng nhìn chung cách hiểu về

vi phạm hợp đồng của pháp luật một số quốc gia là việc không thực hiện hoặc thực

Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3, tr.50-60

lý dự thảo Luật thương mại (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua

thiện pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học

Trang 12

5

hiện không đúng nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Điều này cũng phù hợp với khái niệm về vi phạm hợp đồng cũng được quy định trong điểm d khoản

3 Điều 1 Công ước về thời hiệu mua bán hàng hóa quốc tế năm 1974, theo đó “vi

phạm hợp đồng là việc không thực hiện hợp đồng hoặc bất kỳ sự thực hiện nào mà không phù hợp với hợp đồng”.5 CISG không đưa ra định nghĩa về vi phạm hợp đồng nhưng qua nội dung những quy định cụ thể tại Công ước này thì có thể hiểu vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng

Vi phạm cơ bản được quy định tại Điều 25 của CISG, theo đó “Một sự vi phạm

hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả

và một người có lý trí bình thường cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự” CISG chỉ đưa ra một định nghĩa khá mơ hồ về vi phạm cơ bản

mà không có một điều luật nào trong Công ước hay một văn bản cụ thể giải thích rõ nội dung về khái niệm này Nhiều câu hỏi xoay quanh khái niệm này vẫn chưa có lời giải đáp: thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đến mức nào thì được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng? Mục đích của các bên khi giao kết hợp đồng là gì? Chính vì vậy, vi phạm cơ bản hợp đồng là khái niệm phức tạp và trừu tượng, gây khó khăn cho các bên trong hợp đồng khi xảy ra tranh chấp và cả các cơ quan giải quyết

Trong PICC và PECL, thuật ngữ vi phạm hợp đồng không xuất hiện mà thay vào đó là không thực hiện hợp đồng.6 Theo PICC quy định: “Không thực hiện hợp

đồng là việc một bên không thực hiện một nghĩa vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng, kể

cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm trễ ”; PECL quy định: “Không thực hiện hợp đồng có nghĩa là việc không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, bao gồm thực hiện chậm, thực hiện không đúng và không hợp tác để làm cho hợp đồng

có hiệu lực” 7

Có hai loại vi phạm hợp đồng: vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản Vi phạm cơ bản trong LTM 2005 là khái niệm mới của pháp luật Việt Nam, là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.8 Vi phạm cơ bản trước hết phải là vi phạm hợp đồng; đồng thời, phải xác định các yếu tố: thiệt hại xảy ra, mục đích giao

Trang 13

6

kết hợp đồng và mức độ ảnh hưởng của thiệt hại đến mục đích giao kết hợp đồng Tuy nhiên, làm rõ các yếu tố trên để xác định vi phạm cơ bản là vấn đề không dễ dàng Khi một vi phạm không là vi phạm cơ bản thì nó là vi phạm không cơ bản Có thể hiểu, vi phạm không cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên nhưng chưa đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng Chỉ khi nào xác định được vi phạm cơ bản thì mới có thể biết được đó có phải là vi phạm không cơ bản hay không và vì vậy, việc làm rõ nội hàm của khái niệm vi phạm cơ bản là cần thiết Điểm b khoản 4 Điều 312 LTM 2005 quy định các bên còn có quyền hủy bỏ hợp đồng khi xảy ra vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, trừ trường hợp được miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 294 LTM 2005 Để hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp này cần hai điều kiện: (i) có sự vi phạm hợp đồng của một bên và (ii) vi phạm này phải là vi phạm cơ bản Điều 293 LTM 2005 chỉ rõ rằng: trừ trường hợp

có thoả thuận khác, bên bị vi phạm không được áp dụng chế tài huỷ bỏ hợp đồng đối với vi phạm không cơ bản Đối với hủy bỏ hợp đồng có thỏa thuận giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần tại Điều 313 LTM 2005 thì cũng chỉ được quyền thực hiện nếu có vi phạm cơ bản nghĩa vụ hoặc có cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽ xảy ra Sở dĩ phân biệt vi phạm không cơ bản và vi phạm cơ bản để làm căn

cứ hủy bỏ hợp đồng bởi một khi hợp đồng bị hủy bỏ sẽ đem lại hậu quả nghiêm trọng; nhằm đảm bảo tính bền vững của hợp đồng, khi các bên tuân thủ đúng hợp đồng thì

sẽ đem lại lợi ích cho chính các bên và cả xã hội; một bên không thể lấy cớ vi phạm hợp đồng của bên kia để giải phóng mình khỏi nghĩa vụ khi vi phạm không đáng kể

Căn cứ vào khoản 13 Điều 3 LTM 2005, để xác định vi phạm cơ bản cần làm

rõ hai tiêu chí là: có thiệt hại xảy ra và thiệt hại đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích giao kết hợp đồng Song, nhìn vào quy định trên thì thật khó để xác định vi phạm nào là cơ bản, vi phạm nào là không cơ bản Thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đã không được giải thích cũng như không đưa ra dẫn chứng mức độ thiệt hại như thế nào thì sẽ cấu thành vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Đó

có phải là những tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra, khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không

có hành vi vi phạm như quy định tại Điều 302 LTM 2005 về bồi thường thiệt hại hay không? Những vấn đề này đều chưa được làm rõ khi dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam cũng như hướng dẫn, giải thích của cơ quan có thẩm quyền Mục đích của việc giao kết hợp đồng thương mại không được giải thích cụ thể trong các văn bản pháp luật Đó là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó Mục đích giao kết hợp đồng thường được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng nhằm ràng buộc trách nhiệm của bên kia Thế nhưng, mục đích

Trang 14

7

giao kết hợp đồng không phải lúc nào cũng được thể hiện trong hợp đồng và khi đó

cơ quan giải quyết phải áp dụng việc giải thích hợp đồng mới biết được Việc xác định lợi ích hợp pháp của các bên không phải là điều dễ dàng khi mà mỗi bên đều có những mong muốn, hướng đến các lợi ích khác nhau

Theo tác giả, việc xác định mục đích giao kết hợp đồng cần gắn liền với mục đích của hoạt động thương mại bởi chủ thể của hợp đồng thương mại chủ yếu là thương nhân tiến hành hoạt động thương mại với mục tiêu lợi nhuận Điều khó khăn

lớn nhất là dựa vào tiêu chí nào để xác định “đến mức làm cho bên kia không đạt

được mục đích của việc giao kết hợp đồng”, quy định này mang tính định tính hơn là

định lượng Về cơ bản, thiệt hại có nghĩa là mục đích mà bên bị vi phạm chờ đợi trên

cơ sở hợp đồng đã không còn; mức độ thiệt hại được xem xét dựa trên sự tương quan giữa mục đích giao kết hợp đồng và thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra.9 Tuy nhiên, ngay cả khi thiệt hại thấp hơn mục đích thì cũng chưa thể kết luận rằng không có hành vi vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng mà còn tùy vào từng tranh chấp cụ thể

Cần phân biệt “vi phạm cơ bản” trong LTM 2005 với “vi phạm nghiêm trọng” trong BLDS 2005 Tiêu chí “vi phạm nghiêm trọng” là căn cứ để một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng Việc đánh giá thế nào là “nghiêm trọng” phụ thuộc vào từng

hoàn cảnh cụ thể và thông thường sử dụng các tiêu chí như: việc vi phạm hợp đồng làm bên kia không đạt được kết quả mong muốn, tuân thủ chặt chẽ nghĩa vụ hợp đồng, mất lòng tin vào việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, thiệt hại không cân xứng.10Ðiều 25 Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế (CISG) đưa ra định nghĩa vi phạm cơ bản như sau: “Một sự vi phạm hợp đồng

do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại

mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự” Từ quy định trên, xét về mặt lý thuyết, có thể thấy vi phạm cơ bản hợp

đồng được xác định dựa trên các yếu tố: (1) Phải có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; (2) Sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đó phải dẫn đến hậu quả là một bên mất đi điều

mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng; (3) Bên vi phạm hợp đồng không thể nhìn thấy trước được hậu quả của sự vi phạm đó Công ước Viên không đưa ra định nghĩa về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có thể hiểu là việc một bên giao kết hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ mà các bên thỏa

Thương mại 2005”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 08 (304), tr 47

Trang 15

8

thuận trong hợp đồng hoặc thực hiện không hết nghĩa vụ hợp đồng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng Ví dụ, các bên thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng nhưng người bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu, giao sai hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng

Như vậy, nếu người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng,11 ví dụ như hàng hóa được giao thiếu về số lượng và/hoặc không phù hợp về chất lượng hoặc giao sai chủng loại hàng mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, thì được coi là người bán đã có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Ngoài ra, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại đáng kể cho bên bị vi phạm Thế nào là thiệt hại đáng kể? Công ước Viên cho rằng thiệt hại đáng kể là những thiệt hại làm cho bên bị vi phạm mất đi cái mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng Công ước Viên không giải thích rõ cái mà người này chờ đợi là gì Vì vậy, việc xác định mức độ thiệt hại là đáng kể hay không đáng kể sẽ do tòa án (hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp) quyết định căn cứ vào từng trường hợp, từng vụ tranh chấp cụ thể Ví dụ, phải căn cứ vào giá trị kinh tế của hợp đồng, sự tổn hại về mặt tiền bạc do hành vi vi phạm hợp đồng hoặc mức độ mà hành vi vi phạm hợp đồng gây cản trở đến các hoạt động khác của bên bị vi phạm.12 Tuy nhiên, mặc dù hành vi

vi phạm hợp đồng dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm nhưng hành vi vi phạm hợp

đồng đó sẽ không bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng nếu bên vi phạm “không thể

nhìn thấy trước hậu quả của hành vi vi phạm đó và ngưi ở vào hoàn cảnh tương tự cũng không thể tiên liệu được” Chính xác hơn, khả năng nhìn thấy trước hậu quả của

hành vi vi phạm hợp đồng là yếu tố cần thiết để xác định hành vi vi phạm đó có phải

là một sự vi phạm cơ bản hợp đồng hay không Khả năng tiên liệu trước được những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra sẽ phụ thuộc vào kiến thức của bên vi phạm về những sự kiện xoay quanh giao dịch13 như kinh nghiệm, mức độ tinh tế và khả năng tổ chức của bên vi phạm.14 So với định nghĩa trong LTM 2005 thì quy định trên trong CISG có điểm tiến bộ hơn khi tính đến cả lợi ích của người bị thiệt hại và người gây thiệt hại bởi có tính đến các yếu tố khách quan làm họ không thể tiên liệu được việc sẽ gây ra thiệt hại Theo quy định của LTM 2005 thì khi xét một vi phạm

cơ bản chỉ cần xem xét một cách chủ quan, dựa vào mức độ nghiêm trọng của thiệt hại gây ra cho người bị thiệt hại mà không tính đến hoàn cảnh, lợi ích của bên vi

Secretariat, Document A/CONF.97/5, art 25 (antecedent to art 23), United Nations Conference on Contracts for the International Sale of Goods, Official Records, New York, 1981 (A/CONF 97/19)

the Interntational Sale of Goods’ 6 Temple Int’l & Comp L.J 113, tr 119 (1992)

Trang 16

9

phạm.15 Trên thực tế, việc xác định vi phạm cơ bản trong CISG cũng phụ thuộc nhiều vào quan điểm của cơ quan giải quyết Khi đó, thông thường, những tiêu chí dùng để xác định vi phạm cơ bản đối với hàng hóa đã giao không phù hợp với hợp đồng là thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về vi phạm cơ bản; hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên là nghiêm trọng; khả năng bán được của hàng hóa không phù hợp hợp đồng; và khả năng sử dụng được của hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.16 Có thể thấy rằng không phải mọi trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng đều cấu thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng Vì vậy, việc xác định được mức độ không phù hợp như thế nào của hàng hóa dẫn đến cấu thành một sự vi phạm

cơ bản hợp đồng là điều rất quan trọng Tuy nhiên, Công ước Viên không quy định tiêu chí để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa so với quy định của hợp đồng Thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng có áp dụng Công ước Viên, tòa án

và trọng tài một số nước thường áp dụng bốn căn cứ để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa cấu thành một vi phạm cơ bản theo quy định tại điều 25 của Công ước Viên Đó là thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về vi phạm cơ bản; Hậu quả

do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên là nghiêm trọng; Khả năng bán được của hàng

hóa không phù hợp hợp đồng; và khả năng “sử dụng được” của hàng hóa không phù

hợp hợp đồng Dưới đây, sẽ phân tích thực tiễn xét xử tranh chấp liên quan đến vi phạm cơ bản hợp đồng dựa trên bốn căn cứ này Việc xem xét có hay không có sự thỏa thuận của các bên về sự vi phạm cơ bản hợp đồng: Nếu các bên giao kết hợp đồng thỏa thuận rằng trong trường hợp người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng mà sự tuân thủ nghiêm ngặt hợp đồng là yếu tố cần thiết thì bất kỳ sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nào cũng đều bị xem là vi phạm cơ bản hợp đồng Ví dụ, nếu người mua tuyên bố rằng hàng hóa không phù hợp sẽ khiến cho người mua không đạt được một mục đích cụ thể hoặc nếu người mua thông báo cho người bán biết rõ mục đích mua hàng của người mua nhầm nhắc người bán phải giao hàng như hợp đồng quy định thì bất kỳ hành vi vi phạm nào ảnh hưởng tới mục đích cụ thể đó đều cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng Căn cứ vào những thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng, lúc này, người bán không thể lập luận rằng anh ta không nhìn thấy trước được (không tiên liệu được) những thiệt hại có thể xảy đến cho người mua nếu anh ta không

hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980 và Luật thương mại 2005, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 17

https://cisgvn.wordpress.com/2011/04/09/ban-v%E1%BB%81-khai-ni%E1%BB%87m-vi-

ph%E1%BA%A1m-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-h%E1%BB%A3p-d%E1%BB%93ng-theo-cong-%C6%B0%E1%BB%9Bc-vien-1980/

Trang 17

10

giao hàng theo những quy định đó Như vậy, tòa án sẽ dễ dàng xác định được một sự

vi phạm cơ bản hợp đồng nếu hàng hóa được giao không đúng những gì đã thỏa thuận trong hợp đồng Trong trường hợp này, tòa án dễ dàng kết luận người bán đã có sự vi phạm cơ bản hợp đồng Điều quan trọng đối với việc áp dụng căn cứ này là người mua có nghĩa vụ chứng minh có hay không có điều khoản trong hợp đồng quy định rằng không thực hiện một nghĩa vụ liên quan đến giao hàng sẽ được coi là vi phạm

cơ bản hợp đồng Nếu không, người mua không thể tuyên bố hành vi vi phạm đó của người bàn là vi phạm cơ bản hợp đồng và làm cơ sở để tuyên bố hủy bỏ hợp đồng theo Điều 49 của Công ước Viên.17

Phân tích vụ Garden flowers 18 dưới dây sẽ thấy rõ điều này Vụ Garden flowers là tranh chấp giữa người bán (Đan Mạch) và người mua (Úc) Vào mùa

xuân 1991, người mua Úc đến Đan Mạch để đặt mua cây từ người bán Cùng với Andreas Schwabe – nhân viên của người bán, người mua đã đến vườn hoa của Anders Jonsson – người bán loại cây Osteospermum ecklonis (Cúc Châu phi) Người mua đã kiểm tra những cây này, Schwabe đã giải thích cho người mua rằng đây là cây trồng trong vườn và cần chỗ có ánh nắng Schwabe không hướng dẫn gì thêm cho người mua về việc bảo quản và chăm sóc cây, cũng như không có bất cứ bảo đảm nào rằng hoa sẽ nở suốt mùa hè Người mua đã bán lại số cúc Châu phi nói trên cho một khách hàng và cam kết với khách hàng này rằng cúc sẽ nở suốt mùa hè Tuy nhiên, khách hàng này đã khiếu nại người mua vì cúc không nở suốt mùa hè Vì thế, người mua đã khiếu nại lại người bán với lý do là chất lượng hàng hóa giao (tức là cúc Châu phi) không phù hợp với quy định về chất lượng trong hợp đồng – hoa không nở suốt mùa

hè Theo người mua, đây là sự vi phạm cơ bản hợp đồng và đã từ chối thanh toán cho người bán Tòa án đã bác bỏ lập luận này với lý do là người mua đã không chứng minh được rằng người bán có đưa ra một sự bảo đảm rằng hoa sẽ nở suốt mùa hè

Tương tự như vậy, trong “Vụ tranh chấp về hạt tiêu Spanish paprika”19 giữa người bán Đức và người mua Tây Ban Nha về việc giao hạt tiêu, theo đó hạt tiêu chứa gần 150% hỗn hợp ethyla oxit tối đa được chấp nhận theo luật về thuốc và thực phẩm của Đức Trong vụ tranh chấp này, người bán đã chứng minh được rằng giữa người

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950821g2.html

Convention on Contracts for the International Sale of Goods’ (1984) N.Y.L.Sch.J.Int & Comp.L 93, 113 See also Robert Koch, The Concept of Fundamental Breach of Contract under the United Nations

Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG)’ in Review of the Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG) 1998, Kluwer Law International (1999) 177 – 354

khảo tại http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/951206u1.html

Trang 18

11

bán và người mua đã có thỏa thuận cụ thể về việc hàng hóa (tức là hạt tiêu) phải phù hợp với người tiêu dùng ở Đức Vì thế, Tòa án quận Ellwangen20 ra phán quyết tuyên rằng người mua đã có sự vi phạm cơ bản hợp đồng Hai vụ tranh chấp với hai phán quyết khác nhau của tòa án cho thấy, khi các bên giao kết hợp đồng đã có thỏa thuận

rõ ràng trong hợp đồng về vi phạm cơ bản hợp đồng thì tòa án chỉ căn cứ vào thỏa thuận đó của các bên để quyết định hành vi vi phạm của một bên có phải là vi phạm

cơ bản hợp đồng hay không Tuy nhiên, nếu các bên không có thỏa thuận về vi phạm

cơ bản hợp đồng thì tòa án sẽ cố gắng suy luận dựa trên ngôn ngữ hợp đồng, tập quán, thói quen và giao dịch giữa các bên.21 Điều này thường là rất phức tạp vì luật pháp chưa đưa ra những quy định cụ thể về cái gọi là vi phạm cơ bản hợp đồng

Điều 9:301 Bộ Nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu 2002 (PECL) cho phép một bên hủy bỏ hợp đồng khi có việc không thực hiện chủ yếu hợp đồng nhưng không nêu lên các tiêu chí xác định Cũng sử dụng thuật ngữ trên nhưng Bộ Nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 (PICC), khoản 2 Điều 7.3.1 quy định

cụ thể các căn cứ xác định việc không thực hiện chủ yếu khi: “a Việc không thực

hiện làm mất đi chủ yếu những gì người có quyền được mong đợi từ hợp đồng, trừ trường hợp bên có nghĩa vụ đã không dự tính trước hoặc đã không thể dự tính trước một cách hợp lý hậu quả này; b Việc thực hiện nghiêm ngặt nghĩa vụ là bản chất của hợp đồng; c Việc không thực hiện là cố ý hoặc không tính đến hậu quả; d Việc không thực hiện khiến cho bên có quyền tin rằng không thể tin cậy vào việc thực hiện hợp đồng trong tương lai” Việc quy định rõ các tiêu chí như trên tạo cơ sở pháp lý vững

chắc cho cơ quan giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn khi xem xét có chấp nhận yêu cầu hủy bỏ hợp đồng hay không Đây là hướng đi có thể tham khảo để giải quyết những bất cập về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng của LTM 2005

1.1.2 Hệ quả pháp lý của vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa

Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng Hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá là

xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với các nghĩa vụ theo hợp đồng Biểu hiện cụ thể là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng Nếu hành vi vi phạm hợp đồng có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra thì đây là căn cứ áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại Thiệt hại thực tế là những

khảo tại http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/951206u1.html

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920922g1.html

Trang 19

có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế hay không? Mối quan hệ này được xác định khi hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế có mối liên hệ nội tại, tất yếu; hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại Bên có hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng Trên thực tế, một hành vi vi phạm hợp đồng có thể gây ra nhiều khoản thiệt hại và một khoản thiệt hại có thể gây ra bởi nhiều hành vi vi phạm Vì vậy việc xác định chính xác mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế không phải dễ dàng và chỉ dựa vào sựu suy đoán chủ quan Điều này đòi hỏi các bên cũng như cơ quan tài phán phải dựa trên những chứng cứ rõ ràng và khách quan để quyết định áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại.22

Thực tiễn giải quyết một số vụ tranh chấp về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì hệ quả do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên còn là căn cứ để xét xem đó có phải là vi phạm cơ bản hay không? Trong trường hợp hợp đồng không quy định rõ ràng, vi phạm cơ bản hợp đồng có thể được xem xét căn cứ vào tính nghiêm trọng của hậu do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên

Theo quy định tại Điều 25 Công ước Viên, một trong những yếu tố quan trọng

để xác định vi phạm cơ bản là thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây nên lên tới mức làm cho bên bị vi phạm không đạt được cái mà họ chờ đợi từ hợp đồng Như vậy, tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây nên được xem như sự thiệt hại đáng kể mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm của bên vi phạm

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về vấn đề này, tòa án đã sử dụng một số tiêu chí dưới đây để xác định tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây

nên, tức là xác định mức độ “đáng kể” của thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh

chịu

Căn cứ vào tỷ lệ hàng hóa bị tổn thất trên tổng giá trị của hàng hóa được giao:

Vụ Delchi v Rotorex 23 được xem là ví dụ điển hình trong việc sử dụng tiêu chí về tỷ

dong-mua-ban-hang-hoa/7-trach-nhiem-khi-vi-pham-hop-dong-mua-ban-hang-hoa

khảo tại http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/951206u1.html

Trang 20

13

lệ phần trăm của hàng hóa bị tổn thất khi xác định một vi phạm cơ bản hợp đồng Vào tháng 1/1988, Rotorex đống ý bán 10.800 máy nén khí cho Delchi để sử dụng cho máy điều hòa trong phòng Trước khi ký kết hợp đồng, Rotorex gửi cho Delchi mẫu máy nén kèm theo chi tiết kỹ thuật về hiệu suất sử dụng Tuy nhiên, trong khi lô hàng thứ hai đang trên đường vận chuyển cho Delchi, Delchi phát hiện rằng một số lượng lớn máy nén của lô hàng thứ nhất có chất lượng không phù hợp với mẫu và tiêu chí

kỹ thuật kèm theo Cụ thể, Rotorex phát hiện có đến 93% số máy nén điều hòa được giao có khả năng làm lạnh yếu và tiêu thụ nhiều điện năng hơn so với hàng mẫu cùng chi tiết kỹ thuật kèm theo hàng mẫu Tòa phúc thẩm Liên bang đã giữ nguyên phán quyết của Tòa án New York và cho rằng người bán đã có sự vi phạm cơ bản hợp đồng

vì khả năng làm lạnh và tiêu thị điện năng của điều hòa là yếu tố quan trọng xác định giá trị về chất lượng sản phẩm.24

Tuy nhiên, trong vụ Frozen bacon 25, Tòa phúc thẩm Hamm26 lại có quyết định trái ngược khi xác định tỷ lệ phần trăm của hàng hóa bị tổn thất Cụ thể, trong vụ tranh chấp này, người bán (Italy) đã ký hợp đồng với người mua (Đức) giao 200 tấn thịt lợn muối xông khói, hàng được giao thành 10 lần Người bán đã giao 4 lần với tổng số 83,4 tấn Tuy nhiên, người mua đã từ chối nhận số hàng còn lại với lý do người bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì người bán, trong lô hàng thứ tư, đã giao

420 kg trên tổng số 22,4 tấn thịt lợn muối xông khói bị bẩn Tòa án cho rằng tỷ lệ phần trăm của hàng bị bẩn là quá nhỏ nên không thể coi đó là vi phạm cơ bản hợp đồng và bác bỏ lập luận của người mua Tỷ lệ phần trăm hàng tổn thất dẫn đến thỏa mãn vi phạm cơ bản hợp đồng là không giống nhau tùy vào từng vụ tranh chấp cụ thể

Ví dụ, trong vụ Granite 27, mặc dù hàng hóa bị tổn thất đến 40% và rất khó khăn cho việc sử dụng cũng như cho việc bán lại hàng hóa nhưng Tòa án cho rằng tỷ

lệ này là chưa đủ điều kiện cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng theo tinh thần của điều 25 Công ước Viên mà chỉ thỏa mãn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại Tương

tự, trong vụ tranh chấp Frozen Meat 28 giữa người bán Đức và người mua Thụy Sĩ,

khảo tại http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/951206u1.html

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920922g1.html

Hamm (Sieg) có diện tích 3,66 kilômét vuông, dân số thời điểm ngày 31 tháng 12 năm2008 là hơn 3431 người Đô thị này nằm bên sông Sieg, cự ly khoảng 10 km north-về phía đông củaAltenkirchen, và 40 km về phía đông của Bonn

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/001012g1.html

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/981028s1.html

Trang 21

14

mặc dù 25% chất lượng thịt đông lạnh không phù hợp với quy định trong hợp đồng, thậm chí thịt đông lạnh quá béo và ướt, giá trị thịt đông lạnh giảm đi 25% tương ứng nhưng tòa án tuyên quyết định rằng thiệt hại đó là chưa đủ “đáng kể” và hành vi vi phạm hợp đồng của người bán không cấu thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng Từ các vụ tranh chấp trên có thể thấy rằng, tiêu chí căn cứ vào tỷ lệ tổn thất để xác định một vi phạm cơ bản hợp đồng thường được áp dụng đối với những tổn thất của hàng hóa chiếm tỷ lệ lớn (trên 90%) trong tổng giá trị hàng hóa Tuy nhiên, khó có thể dự đoán được là tỷ lệ hàng hóa không phù hợp với hợp đồng từ 10% – 50% có bị xem là

vi phạm cơ bản hay không,29 bởi vì trong vụ Christmas trees 30 giữa người bán Đan mạch và người mua Pháp, Tòa án tuyên là có sự vi phạm cơ bản hợp đồng khi tòa án căn cứ vào tỷ lệ 25%-50% hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, tức là chỉ 75% cây thông có chất lượng tốt và 50% cây thông có chất lượng tốt bậc nhì phù hợp với quy định của hợp đồng Ngày 28/11/1996, giữa người bán và người mua đã ký hợp đồng bằng một thỏa thuận miệng về việc giao cây thông noel cho người mua Ngày 29/11/1996, người mua đã gửi fax xác nhận những nội dung mà các bên đã thỏa thuận qua điện thoại trước đó và người mua không đưa ra được bằng chứng nào chứng minh

là người mua đã từ chối nội dung của bản fax này Vì thế, tòa án căn cứ vào nội dung của hợp đồng được ký bằng điện thoại, theo đó người bán giao 1.000 đến 1.200 cây thông noel cho người mua, trong đó 40% cây thông có chất lượng tốt nhất, 60% cây thông có chất lượng tốt bậc nhì, cây to không có khiếm khuyết nghiêm trọng với chiều cao từ 1.7m đến 2.2m, giá 100 DKK/1 cây.31 Tuy nhiên, người bán lại giao hàng với

tỷ lệ có tới 25%-50% số cây thông không phù hợp với hợp đồng Trong vụ tranh chấp này, tòa án tuyên hành vi vi phạm của người bán là vi phạm cơ bản hợp đồng Căn

cứ vào chi phí sửa chữa dự tính trên tổng giá trị hàng hóa được giao: Đây cũng là tiêu chí được tòa án sử dụng khi xem xét tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi

phạm hợp đồng gây nên – “thiệt hại đáng kể” mà người mua phải gánh chịu để xác

định vi phạm cơ bản

Perspectives’ in Galston & Smit ed., International Sales: The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, (Mtr.thew Bender, 1984), Chương 9, các trang 9-1 đến 9-43 tham khảo tại http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/ziegel6.html#65

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/981104d1.html

(46,8% thuận, 53,2% chống), Đan Mạch đã từ chối không gia nhập đồng tiền chung của Liên minh châu Âu Cùng với Anh, Đan mạch đã ký với các nước trong Liên minh một điều khoản gọi là opting-out (sự chọn lựa không tham gia) cho phép Đan Mạch không gia nhập đồng tiền chung của Liên minh là đồngeuro

Trang 22

15

Tranh chấp Scaffold fittings 32 giữa người bán Trung Quốc và người mua Úc

về cột chống dàn giáo là một ví dụ Người bán ký hợp đồng bán 80.000 cột chống dàn giáo cho người mua theo mẫu Tuy nhiên, số cột chống dàn giáo này hoàn toàn không phù hơp với mẫu Tòa án nhận thấy rằng chi phí dự tính để phân loại cột chống kém chất lượng trong số cột chống dàn giáo tốt chiếm hơn 1/3 giá mua, vì thế tòa

tuyên hành vi vi phạm của người bán là vi phạm cơ bản với lý do “phần quan trọng”

của 80.000 cột chống dàn giáo không phù hợp với mẫu

1.2 Nghĩa vụ của bên bán theo quy định của Công ước Vienna 1980 1.2.1 Nghĩa vụ giao hàng của bên bán

1.2.1.1 Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm

Điều 31 Công ước Viên năm 1980 có quy định: “Nếu người bán không bắt

buộc phải giao hàng tại một nơi nhất định nào đó, thì địa điểm giao hàng sẽ được xác định như sau: a Nếu hợp đồng mua bán quy định cả việc vận chuyển hàng hoá thì người bán phải giao hàng cho người chuyên chở đầu tiên để chuyển giao cho người mua b Trong những trường hợp không quy định ở điểm trên, mà đối tượng của hợp đồng mua bán là hàng đặc định hoặc là hàng đồng loại phải được lấy ra từ một khối lượng hàng xác định hoặc phải được chế tạo hay sản xuất ra và vào lúc giao kết hợp đồng, các bên đã biết rằng hàng đã ở kho hàng đó hay được chế tạo hoặc sản xuất ra tại một địa điểm cụ thể thì người bán phải có nghĩa vụ đặt hàng dưới quyền định đoạt của người mua tại địa điểm đó c Trong các trường hợp khác, người bán

có nghĩa vụ đặt hàng dưới quyền định đoạt của người mua tại nơi người bán có trụ

sở thương mại vào thời điểm giao kết hợp đồng.”

Về nguyên tắc, điều 31 này chỉ được áp dụng nếu các bên không có thỏa thuận khác Khi các bên đã có thỏa thuận trong hợp đồng về địa điểm giao hàng hoặc các quy định trong hợp đồng cho phép xác định địa điểm giao hàng (như thông qua một điều kiện cơ sở giao hàng trong Incoterms được dẫn chiếu trong hợp đồng hoặc một

số điều khoản khác)33 thì các quy định đó sẽ được ưu tiên áp dụng.34 Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, thì điều 31 CISG cho phép xác định địa điểm giao hàng trong ba trường hợp cụ thể, đó là:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/947531i1.html

International Sale of Goods, 2012 edition, United Nations, New York, 2012, trang 133, đoạn 11

International Sale of Goods, 2012 edition, United Nations, New York, 2012, trang 132, đoạn 3-4

Trang 23

16

Thứ nhất, nếu hợp đồng có quy định cả việc vận chuyển hàng hóa thì người

bán phải giao hàng cho người chuyên chở đầu tiên Trong trường hợp này, hợp đồng được coi là có quy định việc vận chuyển khi các bên đã xem xét tới vấn đề hàng hóa

sẽ được vận chuyển bởi một hay nhiều người chuyên chở độc lập từ người bán sang cho người mua Các hợp đồng sử dụng các điều kiện nhóm F, C hay D của Incoterms (ví dụ, phiên bản 2010) đều được coi là những hợp đồng mua bán có dẫn đến việc chuyên chở hàng hóa.35 Đồng thời, quy định nêu trên cũng chỉ được áp dụng nếu cả người mua và người bán không có nghĩa vụ theo hợp đồng phải chuyên chở hàng hóa

từ trụ sở của người bán đến trụ sở của người mua.36

Tòa án Handelsgericht des Kantons Zurich của Thụy Sỹ trong vụ tranh chấp giữa một người mua Thụy Sỹ và người bán Italia, với phán quyết ngày

10/2/1999, đã chỉ ra rằng người bán không có nghĩa vụ phải giao hàng đến tận điểm đến, bởi vì Điều 31.a không tạo ra một nghĩa vụ như vậy.37 Nói cách khác, các thuật ngữ được sử dụng ở đây chỉ nói rằng người bán sẽ giao hàng cho người chuyên chở độc lập Nơi mà người bán giao hàng cho người chuyên chở sẽ được coi là địa điểm giao hàng Nếu có nhiều người chuyên chở tham gia vận chuyển hàng hóa, thì người bán được coi là hoàn thành nghĩa vụ của mình nếu đã giao hàng xong cho người chuyên chở đầu tiên

Thứ hai, khi hàng hóa đang được đặt ở một nơi cụ thể, người bán sẽ giao hàng

cho người mua ở nơi đó Trường hợp thứ hai chỉ được áp dụng khi có ba điều kiện xảy ra: một là, hợp đồng không có quy định về việc chuyên chở hàng hóa; hai là, hàng hóa, là đối tượng của hợp đồng, có thể là hàng đặc định hoặc đồng loại, phải được trích ra từ một khối lượng dự trữ xác định hoặc phải được chế tạo hay sản xuất; ba là, các bên phải biết được, vào thời điểm giao kết hợp đồng, nơi có hàng hóa đó Thuật

ngữ “đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của người mua” được sử dụng trong quy định nêu trên được hiểu là “người bán đã làm điều cần thiết để người mua có thể sở

hữu hàng hóa” Điều này có nghĩa là người bán sẽ phải làm mọi việc cần thiết để

đảm bảo rằng người mua không còn phải làm gì khác ngoài việc nhận hàng tại địa điểm giao hàng.38

Thứ ba, trong các trường hợp khác, người bán sẽ giao hàng cho người mua tại

địa điểm kinh doanh của người bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng

Goods prepared by the Secretariat, A/CONF.97/5, Article 29, trang 29, đoạn 5

Goods prepared by the Secretariat, A/CONF.97/5, Article 29, trang 29, đoạn 5, 8

Goods prepared by the Secretariat, Article 29, trang 29, đoạn 15

Trang 24

17

Như vậy, trường hợp thứ ba này chỉ được áp dụng nếu địa điểm giao hàng không được xác định theo cách thứ nhất hay thứ hai ở trên Cần lưu ý là khi người bán đã giao hàng, theo quy định của hợp đồng hay theo các cách thức xác định nêu trên, thì người bán được coi là đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình và người bán không còn chịu trách nhiệm về hàng hóa nữa Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp ngoại lệ mà CISG đã dự đoán trước tại các điều liên quan đến chuyển giao rủi ro (các Điều 66 đến Điều 70 CISG)

1.2.1.2 Nghĩa vụ giao hàng đúng thời gian

Thời hạn giao hàng của người bán được quy định tại Điều 33 CISG theo ba trường hợp cụ thể: Nếu hợp đồng có thỏa thuận một ngày cụ thể, hoặc có thể xác định ngày cụ thể bằng cách tham chiếu hợp đồng: Điều 33.a giả thiết rằng các bên đã ấn định một thời điểm chính xác để giao hàng hoặc thời điểm có thể được xác định bằng

cách tham chiếu vào hợp đồng (ví dụ, “15 ngày sau lễ Phục sinh”) hoặc có thể được

xác định bằng bất cứ thói quen hay tập quán nào giữa các bên Trong trường hợp đó, người bán phải giao hàng chính xác vào thời điểm được ấn định.39 Bất cứ sự giao hàng chậm trễ nào cũng sẽ cấu thành một sự vi phạm hợp đồng

Theo “Tòa án Oberlandesgericht Hamm trong phán quyết ngày 23/6/1998

đối với vụ việc 19 U127/97 giữa bên bán là hai người mang quốc tịch Áo và người mua mang quốc tịch Đức”, Điều 33.a cũng bao gồm trường hợp các bên không ấn

định thời gian cụ thể giao hàng nhưng đã cùng đồng ý rằng người bán nên giao hàng tại thời điểm theo yêu cầu của người mua.40 Tuy nhiên, nếu người mua không yêu cầu thời gian giao hàng thì người bán sẽ không vi phạm hợp đồng.41 Nếu hợp đồng không quy định ngày cụ thể, nhưng có thỏa thuận một khoảng thời gian cụ thể, hoặc

có thể xác định khoảng thời gian đó bằng cách tham chiếu hợp đồng: Trong trường hợp này, người bán có thể giao hàng vào bất cứ thời điểm nào trong khoảng thời gian

đó, trừ trường hợp hoàn cảnh chỉ ra rằng bên mua có quyền chọn ngày giao hàng Ví

dụ, khoảng thời gian giao hàng được ấn định bởi điều khoản hợp đồng như “trước

thời điểm cuối tháng 12” Bất cứ sự giao hàng nào trong khoảng từ khi ký kết hợp

đồng đến khi kết thúc tháng 12 là phù hợp Trong khi đó, nếu người bán giao hàng sau ngày 31 tháng 12 sẽ vi phạm hợp đồng Tương tự, nếu thời gian giao hàng được

xác định là “trong khoảng năm 1993 - 1994” Trong trường hợp này, thời gian giao

hàng phù hợp là trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1993 đến ngày 31/12/1994

Nhưng người mua không bao giờ cung cấp những “đồ thị” này

Trang 25

18

Quyền lựa chọn thời gian giao hàng cụ thể trong khoảng thời gian đó nói chung tùy thuộc vào người bán Người mua có thể chọn thời gian giao hàng, với điều kiện giữa các bên phải có thỏa thuận có hiệu lực.42 Trong trường hợp, điều khoản hợp đồng về

thời gian giao hàng là “tháng bảy, tháng tám, tháng chín” được hiểu là việc vận

chuyển hàng hóa sẽ được diễn ra tại một trong số những tháng nói trên.43Trong những trường hợp khác: Điều 33.c quy định nếu cả hợp đồng lẫn thói quen, tập quán giữa các bên đều không quy định khoảng thời gian giao hàng cụ thể thì người bán phải

giao hàng trong khoảng thời gian hợp lý sau thời điểm giao kết hợp đồng “Hợp lý”

ở đây nghĩa là khoảng thời gian thích hợp trong những hoàn cảnh cụ thể, ví dụ như thời gian cần thiết để thu xếp việc vận chuyển, người bán có phải mua sắm nguyên vật liệu hoặc sản xuất ra hàng hóa hay không,…

1.2.1.3 Nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng và chất lượng

Theo Điều 35 CISG về sự phù hợp của hàng hóa, người bán sẽ vi phạm nghĩa

vụ của mình nếu hàng hoá được giao không phù hợp với quy định của hợp đồng Thế nào là hàng hoá không phù hợp với hợp đồng và khi nào thì người bán phải chịu trách nhiệm? Trong một vụ tranh chấp về mua bán áo khoác da cừu, Toà án Thương mại Zürich đã cho rằng người bán sẽ không bị coi là vi phạm nghĩa vụ nếu số hàng hoá không phù hợp với hợp đồng vẫn đáp ứng đủ về mặt giá trị và chức năng sử dụng của hãng phù hợp hợp đồng.44 Tuy nhiên, người bán sẽ bị coi là vi phạm Điều 35 nếu giao giấy tờ giả mạo nguồn gốc của hàng hoá.45 Các nội dung chính của Điều 35 được diễn giải cụ thể như sau:

Điều 35.1: Điều 35.1 yêu cầu người bán giao hàng theo đúng số lượng, chất lượng, mô tả và đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu Để xác định xem hợp đồng có yêu cầu hàng hoá phải được giao đúng số lượng, chất lượng, mô tả hoặc phải được đóng gói theo một cách cụ thể nào đó không, cơ quan giải quyết tranh chấp phải dựa vào những nguyên tắc xác định nội dung hợp đồng.46 Trong một vụ “ Tranh

chấp liên quan đến sò có hàm lượng chất cát-mi (cadmium) cao”, toà án đã phán

quyết rằng người bán đã không ngụ ý đồng ý sẽ tuân theo tiêu chuẩn nội địa (khuyến cáo, nhưng không bắt buộc) về hàm lượng cát-mi của nước người mua Toà lý luận rằng, mặc dù người bán phải giao hàng đến một địa điểm nằm trong nước của người

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/981130s1.html

Serbia (White crystal sugar case), xem tại: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/080123sb.html

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/094505gr.html

Trang 26

và bên mua có thể thoả thuận để loại trừ những tiêu chuẩn này khỏi hợp đồng

Điều 35.2.a yêu cầu hàng hoá phải thích hợp cho những mục đích sử dụng mà các hàng hoá cùng loại vẫn thường đáp ứng Tuy nhiên, điều này không quy định rằng hàng hoá phải hoàn hảo, ngoại trừ trường hợp bắt buộc phải hoàn hảo để có thể được

sử dụng cho những mục đích mà hàng hoá đó vẫn thường được sử dụng

Một số toà án đã nêu rằng tiêu chuẩn đặt ra bởi quy định này là “tiêu chuẩn

trung bình” (average),48 “tiêu chuẩn hợp lý” (reasonable)49, hoặc “tiêu chuẩn thị

trường” (marketable).50 Trong một trường hợp khác, Toà án Tối cao Liên bang Đức

đã nêu rằng khả năng tiêu thụ (resaleability) của hàng hoá là một phần của tiêu chuẩn

mà Điều 35.2.a đặt ra.51 Một số toà án cho rằng Điều 35.2.a không yêu cầu người bán phải tuân theo những tiêu chuẩn chất lượng đặt ra trong nước của người mua, trừ khi những tiêu chuẩn đó cũng được đặt ra ở nước của người bán, hoặc nếu người mua đã nêu rõ những tiêu chuẩn đó cho người bán biết và dựa vào kiến thức và thẩm định của người bán để lựa chọn hàng hoá.52 Tuy nhiên, một số toà án khác cho rằng trong trường hợp đặc biệt, ví dụ như khi người bán có cơ sở bán hàng ở nước người mua, hoặc có mối quan hệ làm ăn lâu dài với người mua, hoặc thường xuyên xuất hàng, quảng bá hoặc giới thiệu sản phẩm ở nước người mua, thì người bán có nghĩa vụ phải tuân theo những tiêu chuẩn chất lượng nội địa ở đất nước của người mua.53

Theo Điều 35.2.b, nếu người bán nêu rõ với người mua những mục đích mà hàng hoá sẽ được sử dụng tại thời điểm hợp đồng được ký, thì người bán sẽ phải giao hàng phù hợp để sử dụng cho những mục đích đó Một khi người mua chứng minh

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950821g2.html; New Zealand, ngày 30/07/2010, Toà án Thượng thẩm New Zealand (RJ & AM Smallmon v Transport Sales Limited and Grant Alan Miller), xem tại:

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/100730n6.html

Trang 27

20

được rằng hàng hoá không phù hợp để sử dụng cho một mục đích cụ thể nào đó, người bán sẽ vi phạm quy định này và người mua không cần phải tìm ra nguyên nhân của sự không phù hợp đó.54 Tuy nhiên, nếu người mua không dựa vào, hoặc sẽ không hợp lý nếu người mua dựa vào ý kiến hay phán đoán của người bán, thì người bán sẽ không vi phạm điều 35.2.b Ví dụ, nếu người mua có kinh nghiệm trong việc nhập khẩu loại hàng hoá đó, hoặc nếu người mua có kỹ năng và kiến thức bằng hoặc cao hơn người bán, thì sẽ không hợp lý nếu người mua dựa vào ý kiến của người bán.55Trong một số trường hợp khác, toà cũng đã nêu rằng sẽ không hợp lý nếu người mua dựa vào kiến thức của người bán về luật hoặc những tiêu chuẩn quản lý hành chính của đất nước người mua, trừ khi người mua chỉ rõ những luật hoặc tiêu chuẩn đó cho người bán biết.56

Theo Điều 35.2.c, hàng được giao phải có các tính chất của hàng mẫu hoặc kiểu dáng mà người bán đã cung cấp cho người mua Tuy nhiên, người mua nên lưu

ý rằng điều này chỉ có hiệu lực nếu cả người bán và người mua cùng đồng ý trong hợp đồng là hàng giao sẽ có những tính chất đó.57 Trong trường hợp người mua là người đưa ra hàng mẫu, điều này sẽ được áp dụng nếu cả hai bên đồng ý trong hợp đồng là hàng hoá sẽ có những tính chất của hàng mẫu do người mua đưa ra.58

Điều 35.3: Trong trường hợp người bán vi phạm Điều 35.2, Điều 35.3 quy định rằng người bán vẫn sẽ không phải chịu trách nhiệm nếu người bán có thể chứng minh59 được rằng người mua biết hoặc không thể không biết rằng hàng hoá không phù hợp tại thời điểm hợp đồng được ký kết Thông thường, nếu người mua kiểm tra

và thử hàng trước khi mua, người bán sẽ không phải chịu trách nhiệm theo điều 35.3.60Tuy nhiên, nếu người bán biết được rằng hàng hoá không phù hợp nhưng lại cố ý không chỉ ra cho người mua biết, thì ngay cả khi người mua không thể không nhận

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/021105s1.html

Đức, ngày 12/12/2006, Toà án huyện Coburg (Plants case), xem tại:

(Cotton twilled fabric case), xem tại: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/060420g1.html; Áo, ngày 09/11/1995, Tòa Phúc thẩm Graz (Marble slabs case), xem tại: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/951109a3.html

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/070117g1.html

xem tại: http://cisgw3.law.pace.edu/cases/971028s1.html

Trang 28

21

ra rằng hàng hoá không phù hợp, người bán vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm do cố ý lừa dối.61

1.2.2 Nghĩa vụ giao các chứng từ liên quan đến hàng hóa

Nghĩa vụ giao chứng từ của người bán được quy định tại điều 30 và 34 của

CISG, theo đó, “nếu người bán có nghĩa vụ giao các chứng từ liên quan đến hàng

hoá thì người bán phải thực hành nghĩa vụ này đúng thời hạn, đúng địa điểm và đúng hình thức như quy định trong hợp đồng” Ngôn từ được sử dụng trong Điều 34 cho

thấy CISG chỉ xem xét nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa của người bán khi các nghĩa vụ này đã phát sinh trên cơ sở hợp đồng, theo thói quen được thiết lập giữa các bên hoặc theo tập quán thương mại 62 CISG cũng không xác định các loại chứng từ liên quan đến hàng hóa mà người bán có nghĩa vụ phải giao Về việc này, các bên có thể thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng Các điều khoản hợp đồng liên quan đến giá, giao hàng, phương thức thanh toán (như thanh toán qua nhờ thu hoặc tín dụng chứng từ…) hoặc việc lựa chọn điều kiện giao hàng theo Incoterms có thể giúp xác định những loại chứng từ mà người bán phải giao cho người mua Các chứng từ

“liên quan đến hàng hóa” là các chứng từ liên quan trực tiếp đến quyền kiểm soát

hàng hóa như: vận đơn, biên nhận hàng của cảng, kho bãi, chứng từ bảo hiểm, hóa đơn thương mại, các loại giấy chứng nhận (về chất lượng, trọng lượng, nguồn gốc xuất xứ) Trọng tài Compromex (Ủy ban bảo vệ Ngoại thương Mehico) trong vụ tranh chấp giữa Conservas la Costena S.A de C.V (người mua Mehico) với Lanis San Luis S.A (người bán Argentina) và Argo-industrial Santa Adela S.A (hãng sản xuất Chi-lê), trong phán quyết ngày 29/04/1996 của mình, đã xác định với điều khoản FOB được sử dụng trong hợp đồng được ký kết giữa người mua Mehico và người bán Argentina, người bán có nghĩa vụ phải cung cấp cho người mua các hóa đơn thương mại trong đó phải ghi rõ số lượng và giá trị của hàng hóa.63CISG cũng không quy định rõ việc xác định địa điểm, ngày và thể thức giao chứng từ liên quan đến hàng hóa của người bán cho người mua mà về nguyên tắc, các nội dung trên được xác định trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng Thông thường, người bán phải giao

chứng từ “vào thời điểm và dưới hình thức mà chúng cho phép người mua nắm quyền

sở hữu đối với hàng hóa từ tay người chuyên chở khi hàng hóa đến nơi giao hàng,

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960521g1.html

International Sale of Goods, 2012 edition, United Nations, New York, 2012, trang 140

Santa Adela S.A., Mexico, 29 April 1996, xem tại:

http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id=258&step=Abstract

Trang 29

có thể hiểu rằng tùy theo sự thỏa thuận giữa người bán và người mua mà người bán

có thể hoặc không cần phải giao các chứng từ liên quan Các chứng từ này người bán

có thể giao trước, cùng lúc hoặc bảo lưu thời hạn giao tùy theo sự thỏa thuận trong hợp đồng, theo thói quen được thiết lập giữa hai bên hoặc theo tập quán thương mại

Về vấn đề giao chứng từ trước thời hạn, điều 34 cũng quy định, nếu người bán giao chứng từ trước thời hạn, thì họ có thể, trước khi hết thời hạn quy định sẽ giao chứng

từ, loại bỏ bất kỳ điểm nào không phù hợp với chứng từ với điều kiện là việc làm này không gây cho người mua một trở ngại hay phí tổn vô lý nào Tuy nhiên, người mua vẫn có quyền đòi người bán bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.65

1.2.3 Nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa

Điều 42.1 CISG quy định: “Người bán phải giao những hàng hóa không bị

ràng buộc bởi bất cứ quyền hạn hay yêu sách nào của người thứ ba trên cơ sở quyền

sở hữu công nghiệp hay các quyền sở hữu trí tuệ khác mà người bán đã biết hoặc không thể không biết vào thời điểm giao kết hợp đồng, với điều kiện nếu các quyền

và yêu sách nói trên được hình thành trên cơ sở quyền sở hữu công nghiệp hoặc quyền sở hữu trí tuệ khác chiểu theo (a) pháp luật của quốc gia nơi hàng hóa sẽ được bán lại hay sử dụng bằng cách khác, nếu các bên có dự đoán vào lúc ký kết hợp đồng rằng hàng hóa sẽ được bán lại hay sử dụng bằng cách khác tại quốc gia đó; hoặc (b) trong mọi trường hợp khác- chiểu theo luật pháp của quốc gia có địa điểm kinh doanh của người mua” Quy định này được đưa ra để đảm bảo quyền sở hữu thực sự của

người mua đối với hàng hóa sau khi nhận chuyển giao từ người bán Nói cách khác, nếu người bán giao hàng hóa vi phạm quy định điều này thì sẽ bị coi là vi phạm nghĩa

vụ của mình theo hợp đồng Khi đó, người mua là người có nghĩa vụ phải chứng minh

sự vi phạm này.66 Tuy nhiên, người bán chỉ bị coi là vi phạm điều 42 CISG khi hội

tụ đủ ba điều kiện: một là, người bán phải biết hoặc không thể không biết về những

Goods prepared by the Secretariat, A/CONF.97/5, Article 32, trang, đoạn 3, xem tại: http://www.uncitral.org/pdf/a_conf.97_5-ocred.pdf

for the International Sale of Goods, trang 140-141

Trang 30

23

quyền hạn hoặc yêu sách liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp hay quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa của người thứ ba vào thời điểm giao kết hợp đồng; hai là, các quyền và yêu sách của người thứ ba phải dựa trên quy định của quốc gia được xác định theo điểm a và điểm b của khoản 1 nêu trên; ba là, các điều kiện được nêu tại khoản 2 điều 42 không tồn tại trên thực tế Đồng thời, để đảm bảo quyền lợi của mình, người mua có nghĩa vụ gửi thông báo cho người bán về việc này theo đúng quy định của điều 43 CISG

Trong vụ “Tranh chấp giữa người bán có trụ sở tại Áo và người mua có trụ

sở tại Đức được tòa án quận Koln (Landgericht Koln, Đức) xét xử”, người mua đã

cho rằng hàng hóa mà người bán giao có sự vi phạm nhãn hiệu được bảo hộ của một người thứ ba và vì vậy, hàng hóa đã bị tịch thu Tuy nhiên, tòa án đã bác bỏ luận điểm này của người mua khi cho rằng người mua đã không gửi thông báo cho người bán chỉ rõ quyền hoặc yêu sách của bên thứ ba hoặc khiếu kiện trong một khoảng thời gian hợp lý sau khi người mua biết hoặc phải biết về những quyền hay yêu sách đó.67Như vậy, nếu một trong ba điều kiện nêu trên không được đáp ứng, người bán không phải chịu trách nhiệm vì việc giao hàng có tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ với người thứ ba không bị coi là vi phạm quy định của Điều 42 Ngoài ra, Điều 42.2 cũng chỉ ra rõ hơn, dựa trên các nguyên tắc về chịu rủi ro, rằng người bán sẽ không phải

chịu trách nhiệm nếu người mua “đã biết hoặc không thể không biết” về sự hiện hữu

của các quyền và khiếu nại nói trên vào thời điểm giao kết hợp đồng hoặc các quyền lợi hay yêu sách đó bắt nguồn từ việc người bán đã tuân thủ theo các bản thiết kế kỹ thuật, hình vẽ, công thức hay những số liệu cơ sở do người mua cung cấp

1.3 Các biện pháp khắc phục khi bên bán vi phạm hợp đồng theo Công

ước Viên 1980

Khi bên bán vi phạm hợp đồng, có thể áp dụng những biện pháp như: Yêu cầu bên bán thực hiện nghĩa vụ, sửa chữa hay thay thế hàng hóa không phù hợp (Khoản

1 điều 46 CISG) ; Gia hạn một thời hạn bổ sung hợp lý để bên bán thực hiện nghĩa

vụ (Điều 47 CISG); Yêu cầu giảm giá hàng (điều 50 CISG); Đòi bồi thường thiệt hại (Theo các quy định tại các điều từ 74 đến 77); Hủy hợp đồng (Điều 49 CISG), nếu vi phạm của bên bán là vi phạm cơ bản hoặc khi bên bán vẫn tiếp tục vi phạm khi hết thời hạn bổ sung (về khái niệm vi phạm cơ bản: xem điều 25) Trong đó biện xét thấy

biện pháp gia hạn hợp đồng tại khoản 1 điều 47 CISG nói rằng: “bên mua có thể cho

bên bán them một thời hạn bổ sung hợp lý để bên bán thực hiện nghĩa vụ” Nghĩa là

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/061205g1.html

Trang 31

24

biện pháp này là một phần nào đó để sử dụng nhằm đạt được biện pháp buộc thực hiện hợp đồng ở khoản 1 điều 46 CISG Tuy nhiên ở khoản 2 điều 47 CISG có nói

trong biện pháp gia hạn hợp đông này thì “bên mua cũng không mất quyền yêu cầu

bên bán bồi thường thiệt hại do bên bán chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ”,

đảm bảo cho nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo điều 74 CISG Thêm vào đó điểm

b khoản 1 điều 49 trong biện pháp hủy hợp đồng có nói: “ Nếu bên bán không giao

hàng trong thời gian đã được bên mua gia hạn thêm cho họ chiếu theo khoản 1 điều

47 hoặc bên bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian được gia hạn này thì bên mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng” Ngoài ra khi hợp đồng bị hủy theo điều 49

CISG và nếu bằng một cách hợp lý và trong một khoản thời gian hợp lý sau khi hủy hợp đồng bên mua đã mua hàng thay thế hay bên bán đã bán hàng lại hàng thì bên yêu cầu được bồi thường có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thế hay bán lại hàng cũng như mọi khoản tiền bồi thường thiệt hại khác có thể đòi chiếu theo điều 74 của biện pháp bồi thường thiệt hại.68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tiêu chí về tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa theo CISG có khác biệt so với pháp luật Việt Nam Luật Thương mại Việt Nam dựa vào tiêu chí quốc tịch của các thương nhân khi định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài ở Điều 80.69 Trong khi đó, điều 1.370 CISG nói rõ là Công ước không xem xét đến yếu tố quốc tịch của các bên khi xác định phạm vi áp dụng Công ước Luật Thương mại 2005 Điều 27 thì quy định mua bán hàng hóa được xác định theo phương pháp liệt kê: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu Tiêu chí để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định này là sự chuyển dịch hàng hóa qua biên giới hải quan Trong khi đó CISG không quy định tiêu chí phải có sự chuyển dịch hàng hóa qua biên giới mà chỉ cần các bên

có địa điểm kinh doanh ở các quốc gia khác nhau Khi một công ước quan trọng có phạm vi áp dụng gần như cho hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới có hiệu lực với Việt Nam, biết được khi nào công ước được áp dụng cho một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thay cho luật quốc gia là vấn đề luôn được đặt ra đầu tiên cho tòa án, trọng tài, luật sư cũng như các thương nhân Cần nắm rõ rằng công ước được áp dụng

giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài”

xác định phạm vi áp dụng của Công ước này.”

Ngày đăng: 05/03/2021, 17:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Bá Bình, “Bàn về nội hàm khái niệm và tính hợp pháp của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về nội hàm khái niệm và tính hợp pháp của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”
7. TS. Đỗ Văn Đại và TS. Trần Hoàng Hải, “Tuyển tập các bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về Trọng tài thương mại”, NXB Lao động, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuyển tập các bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về Trọng tài thương mại
Nhà XB: NXB Lao động
9. Nguyễn Thị Hương (2014), “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2014
10. Phạm Duy Nghĩa (2003), Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, trong quyển “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Như Phát và Lê Thị Thu Thủy (Cb), Nxb. CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Nxb. CAND
Năm: 2003
11. Võ Sỹ Mạnh (2011), “Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên 1980” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên 1980
Tác giả: Võ Sỹ Mạnh
Năm: 2011
12. Võ Sỹ Mạnh (2015), “Vi phạm cơ bản hợp đồng theo công ước viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của Pháp luật Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vi phạm cơ bản hợp đồng theo công ước viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của Pháp luật Việt Nam”
Tác giả: Võ Sỹ Mạnh
Năm: 2015
13. Võ Sỹ Mạnh (2014), “Vi phạm cơ bản hợp đồng trong pháp luật Việt Nam: “Một số bất cập và định hướng hoàn thiện”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi phạm cơ bản hợp đồng trong pháp luật Việt Nam: "“Một số bất cập và định hướng hoàn thiện”
Tác giả: Võ Sỹ Mạnh
Năm: 2014
15. Phan Thị Thanh Thủy, “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014) 50-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980”
16. TS. Nguyễn Thị Hồng Trinh (khoa Luật đại học Huế) , “ Phạm vi áp dụng của công ước CISG cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”- Tạp chí tòa án (26/09/2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Phạm vi áp dụng của công ước CISG cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”
17. Bùi Thị Bích Sơn (2011), “Tuyên bố hủy hợp đồng và hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980 và Luật thương mại 2005”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuyên bố hủy hợp đồng và hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980 và Luật thương mại 2005”
Tác giả: Bùi Thị Bích Sơn
Năm: 2011
20. Xem John Y. Gotanda, Using the UNIDROIT principles to fill gaps in the CISG, Hart Publishing, 2008, tr.18; Xem thêm 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc, Trung tâm trọng tài quốc tế VIAC,Hà nội, 2002, phán quyết số 9“Tranh chấp hợp đồng mua bán thép”, tr.72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tranh chấp hợp đồng mua bán thép”
23. Andrew Babiak, “Defining “Fundamental Breach” under the United Nations Convention on Contracts for the Interntational Sale of Goods’ 6 Temple Int’l& Comp. L.J. 113, tr. 119 (1992) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Defining “Fundamental Breach
21. Án lệ Công ước ICSID số ARB/96/1 (2000), http://www.worldbank.org/icsid/cases/awards.htm.II. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Link
2. Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, Dịch giả: Nguyễn Minh Hằng, Đào Thu Hiền và các Dgk, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005 Khác
4. Công ước Vienna của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 Khác
5. Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội Khác
18. 50 phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc, Trung tâm trọng tài quốc tế VIAC, Hà Nội, 2002 Khác
19. 101 Câu hỏi đáp về công ước của liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), trường ĐH Ngoại thương Khác
25. C.M. Bianca et al., Commentary on the International Sales Law 3 (Giuffré, Milano, 1987) Khác
26. Commentary on the Draft Convention on Contracts for the International Sale of Goods prepared by the Secretariat, Document A/CONF.97/5, art. 25 (antecedent to art. 23), United Nations Conference on Contracts for the Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm