1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên và xã hội các nguồn thải nguồn gây ô nhiễm làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường trên lưu vực sông la ngà tỉnh bình thuận

285 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 285
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên nước của các địa phương trên lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận .... Phương pháp thực hiện Các phương pháp chính thực hiện bao gồm: - Phương pháp thống kê: Nhằm thu th

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Kết quả đạt được của đề tài 2

5 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ TỈNH BÌNH THUẬN 1.1 Đặc điểm tự nhiên trên toàn lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận 4

1.1.1 Vị trí địa lý 4

1.1.2 Đặc điểm địa hình - địa mạo 6

1.1.3 Đặc điểm khí hậu - khí tượng 6

1.1.4 Đặc điểm thủy văn nguồn nước 10

1.1.5 Hình thái lưu vực 12

1.2 Hiện trạng tài nguyên môi trường trên lưu vực sông La Ngà 14

1.2.1 Đặc điểm tài nguyên nước 14

1.2.2 Tài nguyên nước của các địa phương trên lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận 19

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ TỈNH BÌNH THUẬN 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trườnghuyện Đức linh 22

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 22

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Đức Linh 30

2.1.3 Cơ chế chính sách và hiện trạng quản lý môi trường 44

2.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường 46 2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường huyện Tánh Linh 47

Trang 2

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 47

2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Tánh Linh 61

2.2.3 Cơ chế, chính sách và hiện trạng quản lý môi trường 78

2.2.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 80

2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường Hàm Thuận Bắc 82

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 82

2.3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Hàm Thuận Bắc 90

2.3.3 Cơ chế, chính sách và hiện trạng quản lý môi trường 111

2.3.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường 112

CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TRÊN LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ 3.1 Hiện trạng chất lượng nước trên lưu vực sông La Ngà 114

3.1.1 Hiện trạng chất lượng nước mặt 114

3.1.2 Hiện trạng chất lượng nước ngầm 121

3.1.3 Hiện trạng vấn đề môi trường không khí trên lưu vực sông La Ngà 121

3.1.4 Hiện trạng môi trường đất trên lưu vực sông La Ngà 123

3.1.5 Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn 124

3.2 Những nguyên nhân chính làm thay đổi chất lượng nước, môi trường đất trên lưu vực sông La Ngà 127

3.2.1 Hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh 128

3.2.2 Hoạt động nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản 130

3.2.3 Nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động của con người 131

3.2.4 Các tác động khác 132

3.3 Khảo sát vị trí xả thải trên lưu vực sông La Ngà 135

3.4 Đánh giá chung về hiện trạng môi trường trên lưu vực sông La Ngà 140

3.4.1 Huyện Đức Linh 140

3.4.2 Huyện Tánh Linh 141

3.4.3 Huyện Hàm Thuận Bắc 142

Trang 3

3.5 Cơ chế, chính sách và hiện trạng quản lý môi trường 142 3.5.1 Cơ chế, chính sách quản lý môi trường 142 3.5.2 Hiện trạng quản lý môi trường 143

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ

4.1 Những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý môi trường trên lưu vực sông La Ngà 146 4.2 Các giải pháp được đề xuất bảo vệ môi trường trên lưu vực sông La Ngà Bình Thuận 146

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 148 TÀI LIỆU THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Bản đồ lưu vực sông Đồng Nai 4

Hình 1.2 Bản đồ lưu vực sông La Ngà 5

Hình 1.3 Bản đồ địa hình thung lũng sông La Ngà tỷ lệ 1/500.000 6

Hình 1.4: Bản đồ lượng mưa trung bình năm tỉnh Bình Thuận 17

Hình 1.5 Phân bố trữ lượng khai thác tiềm năng theo các tầng chứa nước 18

Hình 1.6 Hình ảnh khai thác nước dưới đất trên lưu vực sông La Ngà 18

Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn TSS nước sông La Ngà năm 2012 117

Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn COD nước sông La Ngà năm 2012 117

Hình 3.3: Đồ thị biểu diễn BOD5 nước sông La Ngà năm 2012 118

Hình 3.4: Sơ đồ Cụm CN-TTCN lưu vực sông La Ngà 130

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính trên lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận 6

Bảng 1.2 Lượng mưa trung bình năm tại các trạm trên lưu vực sông La Ngà giai đoạn 2001 - 2012 8

Bảng 1.3 Nhiệt độ tại Bình Thuận giai đoạn 2003 – 2012 8

Bảng 1.4 Số giờ nắng tại Bình Thuận giai đoạn 2003 – 2012 8

Bảng 1.5 Độ ẩm trung bình năm của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2003- 2012 9

Bảng 1.6 Các chi lưu, chiều dài và diện tích lưu vực của nó trên sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận 10

Bảng 1.7 Lượng mưa trung bình nhiều năm của các trạm trên lưu vực sông La Ngà 14 Bảng 1.8 Phân phối lượng mưa trung bình theo mùa trong nhiều năm 14

Bảng 1.9 Thông tin tổng quát về tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông La Ngà 15

Bảng 1.10: Khả năng khai thác nước mặt trên các sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận 16

Bảng 1.11 Trữ lượng nước dưới đất trên lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

19

Bảng 2.1: Phân chia nhóm đất của huyện Đức Linh 26

Bảng 2.2: Nhóm đất đỏ- vàng 28

Bảng 2.3: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của huyện Đức Linh

31

Bảng 2.4: Các nhóm đất của huyện Tánh Linh 57

Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế huyện Tánh Linh 62

Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế Hàm Thuận Bắc 90

Bảng 2.7: Cơ cấu các ngành qua một số năm 93

Bảng 2.8: Diện tích dân số và mật độ dân số 98

Bảng 2.9: Dân số lao động và cơ cấu sử dụng lao động 100

Bảng 3.1 Vị trí địa điểm lấy mẫu môi trường trên lưu vực sông La Ngà 114

Trang 6

Bảng 3.2 Tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị trên địa bàn

lưu vực sông La Ngà 125

Bảng 3.3 Hiện trạng nhà máy xử lý chất thải trên lưu vực sông La Ngà 126

Bảng 3.4 Tình hình phát sinh chất thải rắn công nghiệp trên địa bàn tỉnh 126

Bảng 3.5 Các Khu công nghiệp TTCN trên lưu vực sông La ngà 129

Bảng 3.6 Nhu cầu sử dụng nước và khả năng khai thác nước bề mặt (106m3) 131

Bảng 3.7 Tọa độ các vị trí xã thải đã khảo sát trên lưu vực sông La Ngà 135

Trang 7

KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT

BOD : Nhu cầu oxy sinh học

BTNMT : Bộ tài nguyên và Môi trường

COD : Nhu cầu oxy hóa học

FAO : Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới HTXL : Hệ thống xử lý

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

TTKTTV : Trung tâm khí tượng thủy văn

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa mạnh mẽ xuất phát từ sự phát triển kinh tế nhanh của Việt Nam đang gây ra những quan ngại về ô nhiễm môi trường Trong đó vấn đề ô nhiễm môi trường nước là đang được quan tâm và ưu tiên hàng đầu trong việc bảo vệ, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá – nguồn tài nguyên quan trọng thứ hai sau tài nguyên con người Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, quyết định sự thành công trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt Nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước

Trong khi Chính Phủ Việt Nam và các cơ quan quản lý nhà nước về quản lý môi trường đã và đang có những nỗ lực đáng kể nhằm bảo vệ môi trường, thì các biện pháp hành chính vẫn chưa đủ tương ứng với sức ép ngày càng lớn về lượng thải chất ô nhiễm Để khắc phục tình trạng đó, Chính Phủ nước ta đã đẩy mạnh quá trình quản lý môi trường với việc sử dụng phương pháp tiếp cận lưu vực sông, đó là quản lý bảo vệ lưu vực sông

Sông La Ngà có diện tích toàn lưu vực là 3990 km2, có chiều dài gần 299 km chảy qua địa ba tỉnh là Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai, sự hợp thành của nhiều sông suối ở tả ngạn sông Đồng Nai đã tạo cho sông La Ngà một dòng chảy quanh co uốn khúc với lưu lượng lớn nước khá lớn, trở thành phụ lưu cấp một cho hệ thống sông Đồng Nai Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh (Bảo Lộc – Lâm Đồng), Sông La Ngà là một trong những phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai Đây là con sông dồi dào về nguồn nước, phong phú về cảnh đẹp, lưu vực của nó là vùng kinh tế nông lâm nghiệp phát triển, có nhiều cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có nhiều loại cây công nghiệp ngắn… đã xuất hiện nhiều điểm ô nhiễm dọc lưu vực sông La Ngà, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật mất nơi cư trú đang bị đe dọa nghiêm trọng Nạn ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước do chất thải công

Trang 9

nghiệp, làng nghề, sinh hoạt và do hoạt động sản xuất nông nghiệp,… là những nguồn gây ô nhiễm đang bắt đầu đáng báo động

Vì vậy việc điều tra đánh giá phân loại các nguồn gây ô nhiễm môi trường, từ đó

đề ra những biện pháp quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước quý giá trên lưu

vực sông La Ngà là rất cần thiết Nên tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên và xã hội, các nguồn thải, nguồn gây ô nhiễm làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường trên lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với mục tiêu chính như sau: khảo sát, thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu về điều kiện môi trường tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn thải, nguồn gây ô nhiễm trên toàn lưu vực sông La Ngà làm cơ sở cho việc nghiên cứu các giải pháp xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường trên toàn lưu vực sông La Ngà

3 Phương pháp thực hiện

Các phương pháp chính thực hiện bao gồm:

- Phương pháp thống kê: Nhằm thu thập và xử lý các số liệu về tài nguyên và môi trường tự nhiên trên toàn lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

- Phương pháp kế thừa: đề tài này được xây dựng trên cơ sở phân tích các số liệu

đã có sẵn, thu thập được từ các Sở/ban ngành, huyện thị, các Viện/Trường, đang hoạt động trên toàn lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

- Phương pháp đánh giá kết quả: đưa ra đánh giá dựa trên các số liệu kết quả quan trắc thu thập được

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của thầy cô hướng dẫn và các thầy cô khác trong khoa

4 Kết quả đạt được của đề tài

- Đánh giá được các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên lưu vực sông La Ngà

- Xác định được các nguyên nhân, các nguồn gây ô nhiễm lưu vực sông La Ngà

- Kết quả nghiên cứu làm cơ sở đề ra các biện pháp, chính sách nhằm bảo vệ môi

trường lưu vực sông La Ngà

Trang 10

5 Kết cấu của đồ án

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan về lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận

- Trình bày các yếu tố như vị trí địa lý, địa hình địa mạo, khí hậu, thủy văn, hình

thái lưu vực và các nguồn tài nguyên trên lưu vực sông La Ngà

Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên lưu vực sông La Ngà tỉnh Bình Thuận

- Trình bày nghiên cứu đánh giá các đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

của 3 huyện Đức Linh, Tánh Linh, Hàm Thuận Bắc trên lưu vực sông La Ngà Chương 3: Hiện trạng chất lượng môi trường trên lưu vực sông La Ngà

- Trình bày hiện trạng chất lượng môi trường như: nước mặt, nước ngầm, đất,

không khí qua các kết quả quan trắc môi trường của tỉnh Nêu rõ nguyên nhân gây ô nhiễm và các cơ chế chính sách quản lý môi trường của địa phương Chương 4: Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường trên lưu vực sông La Ngà

- Nêu những hạn chế trong công tác quản lý môi trường của tỉnh Bình Thuận Đề

ra các giải pháp bảo vệ môi trường trên lưu vực sông La Ngà

Kết luận và kiến nghị

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ

TỈNH BÌNH THUẬN 1.1 Đặc điểm tự nhiên trên toàn lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

1.1.1 Vị trí địa lý

Sông La Ngà là tên một con sông ở miền Đông Nam Bộ, Việt Nam, là phụ lưu cấp

I của sông Đồng Nai Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh ven khu vực thuộc thị xã Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng, chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai với chiều dài là 299 km và diện tích lưu vực 3990 km² rồi đổ vào hồ Trị An Trong đó phần diện tích lưu vực nằm trên địa bàn tỉnh Bình Thuận là 1759km2 có chiều dài là 143km

Hình 1.1 Bản đồ lưu vực sông Đồng Nai

Ở thượng nguồn sông La Ngà là hợp lưu của hệ thống nhiều sông suối nhỏ, nhưng

về tổng thể có thể coi là ba sông nhánh bắt nguồn từ phía tây, đông bắc và đông thị xã Bảo Lộc Chúng hợp lưu ở phía nam thị xã Bảo Lộc, theo đường chim bay khoảng 7

km Từ đây sông La Ngà chảy ngoằn ngoèo theo hướng Bắc Tây Bắc - Đông Đông Nam trên chiều dài khoảng 30 km tới hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện Hàm Thuận công suất 300 MW của cụm nhà máy thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi nằm trên địa phận hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận Từ hồ chứa nước này sông La Ngà tách

Trang 12

làm hai nhánh, một nhánh chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam để dẫn nước tới hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện Đa Mi công suất 175 MW (ở phía Tây Tây Nam hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Hàm Thuận) Nhánh phía đông chảy vòng thúng rồi hợp lưu với nhánh thoát nước của nhà máy thủy điện Đa Mi trong địa phận huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận Sau đó sông La Ngà đổi hướng thành Đông Nam - Tây Bắc tới ranh giới với tỉnh Đồng Nai Từ đây nó đổi hướng thành Đông Bắc - Tây Nam, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận rồi sau đó chảy theo hướng Đông Nam - Tây bắc trong địa phận tỉnh Đồng Nai tới hồ Trị An

Sông La Ngà là một trong những phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai Đây là con sông dồi dào về nguồn nước, phong phú về cảnh đẹp, lưu vực của nó là vùng kinh

tế nông lâm nghiệp phát triển, có nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày như: mía, thuốc lá,…và các loại cây lương thực như: bắp, đậu các loại,…

Hình 1.2 Bản đồ lưu vực sông La Ngà

Trang 13

Bảng 1.1: Các đơn vị hành chính trên lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

Nguồn: Niên giám thống kê 2012

1.1.2 Đặc điểm địa hình - địa mạo

Thung lũng sông La Ngà về địa hình, địa mạo thuộc vùng trũng phân bố ở hạ lưu sông La Ngà Đây là vùng đồng bằng trũng, độ cao từ 100m đến 120m với những nón

lũ tích rộng vây bọc diện tích rộng lớn chủ yếu là các trầm tích sông - hồ (hoặc hồ - sông) và bên trong có những đầm lầy ngập úng, có nhiều khúc sông chết dạng "hố sừng trâu" bị lầy hoá

Ở phía Bắc, phía Nam và phía Đông vùng là các đồi núi thấp được cấu thành bởi granitoit, đá trầm tích bị bóc mòn (ở phía Bắc: núi BRGno - 496m, BNom Bang Hya - 1478m, ); phía Đông (núi Lốp - 730m); phía Nam (núi Ông - 1307m); ở phía Tây là

"bán bình nguyên bazan" độ cao trên 120m

1.1.3 Đặc điểm khí hậu - khí tượng

Hình 1.3 Bản đồ địa hình thung lũng sông La Ngà tỷ lệ 1/500.000

Trang 14

Vùng lưu vực sông La Ngà gồm toàn bộ phần lưu vực sông nằm trong ranh giới tỉnh gần như trọn vẹn 2 huyện Đức Linh và Tánh Linh Đây là vùng ảnh hưởng chủ yếu của khí hậu Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, có nền nhiệt độ thấp hơn, lượng mưa cao, đất đai khá tốt, thực vật tự nhiên với thảm rừng xanh lá nhiệt đới lạnh ẩm và các hệ thống cây trồng nông nghiệp phát triển phong phú Huyện Hàm Thuận Bắc thuộc lưu vực sông La Ngà về đặc điểm khí hậu có đôi chút khác biệt so với 2 huyện còn lại của lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

Trang 15

Đơn vị: mm

Trạm NĂM

Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Bình Thuận

Bảng 1.3 Nhiệt độ tại Bình Thuận giai đoạn 2003 – 2012

Nhiệt độ TB ( 0 C)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận, 2012

Bảng 1.4 Số giờ nắng tại Bình Thuận giai đoạn 2003 – 2012

Trang 17

1.1.4 Đặc điểm thủy văn nguồn nước

Tỉnh Bình Thuận có 7 lưu vực sông chính và các sông suối nhỏ khác nhau với tổng lượng dòng chảy sông ngòi bình quân hàng năm khoảng 5,63 tỉ m3, trong đó lượng dòng chảy sông La Ngà đã lên tới 3,09 tỉ m3

Do ảnh hưởng của chế độ mưa theo mùa nên lượng dòng chảy mùa lũ chiếm 80% tổng lượng dòng chảy cả năm, modun dòng chảy lũ biến động từ 40-70 l/s/km2 Mùa cạn, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau nhưng chỉ chiếm 20-24 % tổng lượng mưa, đa số sông suối phía Bắc tỉnh hầu như khô cạn Tổng lượng dòng chảy 3 tháng mùa kiệt (tháng 2, 3 và 4) chỉ chiếm 2,75 -3,50% tổng lượng dòng chảy cả năm Khu vực phía Tây tỉnh thuộc lưu vực sông La Ngà, do nằm trong khu vực mưa nhiều nên có dòng chảy dồi dào hơn Tuy vậy, vào mùa khô dòng chảy cũng rất nhỏ như tại Tà Pao có khi lưu lượng cũng chỉ đạt 3,5 - 4 m3/s Tại hai huyện Tánh Linh và Đức Linh hiện đang thi công đập dâng Tà Pao, đây là công trình thủy lợi với quy mô lớn, tổng vốn đầu tư khoảng 2.700 tỷ đồng gồm các công trình đầu mối là đập tràn dài

75-370 mét, 2 cống lấy nước với lưu lượng từ 15 đến 17 m3/s và hệ thống kênh chính dài

67 km, phục vụ tưới tiêu trên 20.300 ha đất nông nghiệp của 2 huyện Tánh Linh, Đức Linh và cấp nước sinh hoạt cho 150.000 dân trong vùng Do vậy nguồn nước ở lòng sông ở hạ lưu sẽ bị cạn kiệt về mùa khô trong thời gian thi công đập dâng Tà Pao Vì tính chất khô hạn, nguồn nước chỉ tập trung vào mùa mưa, đồng thời lượng nước dự trữ từ ao hồ tự nhiên không đáng kể nên giải pháp cơ bản để giải quyết nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư là tập trung xây dựng các hồ, đập chứa nước, các

hệ thống thủy lợi liên hoàn để có khả năng điều tiết lại dòng chảy trong vùng

Bảng 1.6 Các chi lưu, chiều dài và diện tích lưu vực của nó

trên sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

Địa điểm (nơi bắt nguồn, chảy qua các xã, huyện)

Ghi chú

Sông La

Ngà

Sông Đồng Nai

143 1759 Bắt nguồn từ cao nguyên Di

Linh, Bảo Lộc Lâm Đồng, Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận chảy qua 03 huyện: Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh, Đức

sông chính

Trang 18

3 Sông Da Tro Sông La

Bắt nguồn từ tỉnh Lâm Đồng qua xã Đa Mi thuộc huyện Hàm Thuận Bắc và xã La Ngâu thuộc huyện Tánh Linh

Trang 19

Mi thuộc huyện Hàm Thuận Bắc và qua xã La Ngâu thuộc huyện Tánh Linh

10 Suối Đa Bru Sông Đa

Bắt nguồn từ Núi chảy qua

xã Đa Mi thuộc huyện Hàm Thuận Bắc và xã La Ngâu thuộc huyện Tánh Linh

12 Suối Kè

Suối Lăng Quăng

Bắt nguồn từ xã Gia Huynh chảy qua xã Gia Huynh, xã Gia An thuộc huyện Tánh Linh

xã Đức Phú thuộc huyện Tánh Linh

Suối

Ba Thê

1.1.5 Hình thái lưu vực

Có thể phân Toàn bộ sông La Ngà làm 3 vùng:

Trang 20

- Vùng thượng lưu sông có tên gọi là Đargna, lòng sông cắt sâu vào lòng đất Nằm

ở tâm mưa Nam Tây Nguyên (Bảo Lộc), dòng chảy lớn, mật độ lưới sông dày tới 1,2km/km2 Sau khi tiếp nhận các sông nhánh Đartol, Da Binh ở hữu ngạn và sông Đariam ở tả ngạn, sông chảy vào địa phận tỉnh Bình Thuận men theo các chân núi và thung lũng hẹp Từ đó tới trạm thủy văn Tà Pao có tới 9 thác nước lớn, nhỏ, cho thấy

độ dốc ở đây lớn và nền địa chất không đồng nhất

- Vùng đồng bằng sông La Ngà: Nằm ở khoảng giữa lưu vực chiếm từ 10 - 15% tổng diện tích lưu vực Có thể coi trạm thủy văn Tà Pao là điểm bắt đầu đoạn này Địa hình lưu vực bằng phẳng xen lẫn một vài đỉnh núi thấp dưới 300m Về xuôi sông chảy quanh co uốn khúc trên vùng trũng huyện Tánh Linh, Đức Linh

- Vùng đồi núi thấp hạ lưu chiếm khoảng 30% diện tích lưu vực Địa hình chủ yếu

là dạng đồi bát úp không liên tục, xen lẫn một vài đỉnh núi cao độc lập Do địa hình thay đổi, ở đoạn này lòng sông thu hẹp, chảy giữa các sườn đồi núi thấp và hình thành hai thác nước trên sông, càng làm trở ngại cho việc thoát lũ các vùng trũng bên trên Sông La Ngà ở vùng này vào mùa mưa được các hệ thống sông suối nhánh chủ yếu ở phía đông cung cấp thêm làm mực nước lên cao đến vài mét Lũ trên sông La Ngà mỗi năm có thể xuất hiện 7 trận lũ, lũ tập trung chủ yếu vào các tháng 8-10 Đặc biệt, trong những năm gần đây do nạn phá rừng và khai thác rừng bừa bãi nên các cơn

lũ càng gây ra những hậu quả nghiêm trọng Sông chính có tổng chiều dài là 299km Mật độ lưới sông trung bình của toàn bộ hệ thống sông này là 0,207km/km2, lớn nhất

là 0,91 và nhỏ nhất là 0,12km/km2 Hệ số uốn khúc của sông La Ngà đạt tới 3,02 Sông La Ngà liên tục thay đổi dạng sông do chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên nên việc sử dụng nước ở lưu vực này rất khó khăn - nơi địa hình bằng phẳng thuận lợi cho canh tác nông nghiệp trong mùa lũ thường xuyên bị úng ngập còn phần địa hình núi dốc thung lũng sông hẹp ít có khả năng canh tác

Sông La Ngà có nhiều chi lưu, tính riêng trên đất Đồng Nai đã có gần 20 suối lớn nhỏ, không kể một số suối cạn về mùa khô Tính từ thượng lưu, phía bờ phải có 8 suối, các suối này đều có nguồn gốc từ cao nguyên Bình Lộc, An Lộc, nơi có độ cao trung bình 200m, trong đó đáng kể nhất là suối Tam Bung có chiều dài 23km Các chi lưu của sông La Ngà đều ngắn, độ dốc lớn, thời gian tập trung nước vào mùa lũ nhanh,

Trang 21

thường hay xảy ra lũ quét gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương

Đặc điểm nổi bật của sông La Ngà là các dạng sông địa hình núi xen kẽ với các dạng sông địa hình bằng phẳng

Phải nói rằng việc phát triển kinh tế xã hội trong vùng nhất là Đức Linh, Tánh Linh và Hàm Thuận Bắc dựa rất nhiều vào khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên ở lưu vực sông La Ngà nhất là tài nguyên nước và cát xây dựng

1.2 Hiện trạng tài nguyên môi trường trên lưu vực sông La Ngà

1.2.1 Đặc điểm tài nguyên nước

1.2.1.1 Tài nguyên nước mưa

Mưa tại Bình Thuận phân bố không đều cả về thời gian và không gian

Trên lưu vực sông La Ngà thì lượng mưa vào tháng 2 hàng năm ít hơn so với các tháng khác trong năm Lượng mưa trung bình hàng năm thay đổi theo hướng tăng dần

từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông

Bảng 1.7 Lượng mưa trung bình nhiều năm của các trạm

trên lưu vực sông La Ngà

TT Tên trạm Lượng mưa trung bình

năm (mm) Thời gian quan trắc

Nguồn: Trung tâm KTTV Bình Thuận

Bảng 1.8 Phân phối lượng mưa trung bình theo mùa trong nhiều năm

TT Tên trạm Đặc Trưng Mùa khô Mùa mưa Tổng lượng mưa năm

Trang 22

Phân bố mưa theo thời gian

Lượng mưa tại tỉnh Bình Thuận phân bố không đều theo thời gian, mùa mưa chiếm từ khoảng 75 - 90% lượng mưa năm, lượng mưa vào mùa khô chiếm từ 10-15% Trong khi đó thời gian mùa khô chiếm từ 6 - 8 tháng

1.2.1.2 Tài nguyên nước mặt

Kết quả tổng thống kê, tổng hợp một số đặc trưng của sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

Bảng 1.9 Thông tin tổng quát về tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông La Ngà

Sông La Ngà

Chiều dài dòng chính trên toàn lưu vực (km2) 143

Lượng mưa trung bình nhiều năm trên lưu vực (10 m3/ năm) 2370 Tổng lượng bốc hơi trên toàn diện tích trên toàn lưu vực 990 Lượng dòng chảy phát sinh tại chỗ (10 m3/ năm) 80,5 Lượng dòng chảy ngoài phạm vi tỉnh chuyển đến 2387,7 Tổng lượng dòng chảy phát sinh tại chỗ từ ngoài vào 2964

Tỉ lệ lượng dòng chảy mùa lũ so với tổng lượng dòng chảy năm (%) 75-80%

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường (2011), Xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Bình Thuận đến năm 2020

1.2.1.3 Khả năng khai thác nguồn nước mưa, nước mặt

Trang 23

Khả năng khai thác nguồn nước mưa

Theo số liệu thống kê nhiều năm của TTKTTV tỉnh Bình Thuận, tổng lượng mưa rơi xuống địa bàn tỉnh trung bình vào khoảng 12,064 tỷ m3/năm

Khả năng khai thác nguồn nước mặt

Bảng 1.10 Khả năng khai thác nước mặt trên các sông La Ngà

TB (l/s.km 2 )

Tổng lượng dòng chảy TB năm (10 6

m 3 )

Diện tích lưu vực

có thể khai thác (km 2 )

Tổng lượng nước đến

W 75%

(10 6 m 3 )

Tổng lượng khai thác (10 6 m 3 )

Tuyến công trình khai thác

Trang 24

Hình 1.4 Bản đồ lượng mưa trung bình năm tỉnh Bình Thuận

Trang 25

1.2.1.4 Tài nguyên nước ngầm

Theo “Báo cáo quy hoạch tổng thể cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bình Thuận từ năm 2000 đến 2010” do trường Đại học Mỏ - Địa chất thực hiện cho thấy: tổng trữ lượng khai thác tiềm năng trong các tầng chứa nước trong toàn tỉnh khoảng 2,1 triệu m3/ngày

Hình 1.5 Phân bố trữ lượng khai thác tiềm năng theo các tầng chứa nước

Sông La Ngà là lưu vực sông có trữ lượng nước dưới đất lớn nhất trên toàn tỉnh (khoảng 34% tổng trữ lượng nước dưới đất có thể sử dụng, khai thác cấp nước cho sinh hoạt)

Hình 1.6 Hình ảnh khai thác nước dưới đất trên lưu vực sông La Ngà

Pleistocen 57.00%

Holocen 13.00%

§Ö tø kh«ng ph©n chia 0.48%

Mezozoi 9.20%

Bazan 9.52%

Neogen -

Pleistocen

10.80%

Trang 26

Bảng 1.11 Trữ lượng nước dưới đất trên lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận STT Lưu vực sông Trữ lượng (1,000 m 3 /ngày)

Nguồn: Đoàn địa chất 705

1.2.2 Tài nguyên nước của các địa phương trên lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận

a Huyện Đức Linh

 Nước mặt

Sông La Ngà: Đây là con sông chính lớn nhất của huyện và cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp trong vùng, là phụ lưu cấp 1 của hệ thống sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh tỉnh Lâm Đồng Lưu lượng trung bình vào mùa mưa từ 65 - 190 m3/s, tháng kiệt nhất 7,37 m3/s

 Nước ngầm

Theo tài liệu địa chất thuỷ văn tỉnh Bình Thuận cho thấy: Nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện dồi dào và khá phong phú Ở những nơi có địa hình thấp nước ngầm nông chất lượng tốt nên hầu hết các hộ nông dân tự đào giếng lấy nước sử dụng Riêng vùng đồi gò của thị trấn Đức Tài, Võ Xu và xã Đức Hạnh tầng nước ngầm sâu và trữ lượng ít, một số nơi bị nhiễm phèn

b Huyện Tánh Linh

Sông La Ngà là con sông chính, lớn nhất của huyện (chiều dài khoảng 50 Km, diện tích lưu vực khoảng 417,4 km2) và cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp trong vùng, là phụ lưu cấp 1 của hệ thống sông Đồng Nai, bắt nguồn

từ dãy núi của cao nguyên Di Linh (Lâm Đồng) cao trên 1.300m chảy từ thượng nguồn xuống đến huyện Tánh Linh theo hướng Bắc - Nam, sau đó bị chắn bởi núi Ông

và núi Dangruin và đổi hướng Đông - Tây

Trang 27

toàn mỗi giếng trong tầng nước này biến động từ 2m3 - 15m3/giờ Nước thuộc loại siêu nhạt (độ khoáng M = 0,1 mg/l)

- Các tầng chứa của đá phun trào Bazan có lỗ hổng và nứt nẻ lớn, có khả năng thấm nước tốt nhưng bề dày không lớn nên chứa nước không nhiều lắm Năng suất khai thác an toàn từ 1 - 2 m3/h cho mỗi giếng Nước thuộc loại nhạt (độ khoáng M = 0,1 - 0,5 mg/l) và siêu nhạt (độ khoáng M < 0,1 mg/l)

Về trữ lượng nước, nhờ ảnh hưởng thâm nhập của sông La Ngà nên nhìn chung nguồn nước dưới đất ở huyện Tánh Linh khá dồi dào, có thể đáp ứng tốt cho nhu cầu đời sống và sản xuất

c Huyện Hàm Thuận Bắc

Hệ thống sông ngòi của huyện Hàm Thuận Bắc hầu hết bắt nguồn từ cao nguyên

Di Linh Do địa hình dốc nên đa số sông ngòi của huyện ngắn, dốc và hẹp thường chảy xiết vào màu mưa và khô cạn vào mùa khô Với tổng chiều dài sông ngòi của huyện là 433,42 km, tổng lưu lượng trung bình đạt 289 triệu m3/năm và diện tích lưu vực 1.050

km2 giúp cho tưới tiêu hàng chục ngàn ha gieo trồng lúa nước của huyện

Tiềm năng nước ngầm của huyện không lớn nhưng vẫn có thể đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân ở một số khu vực

Theo tài liệu điều tra của chương trình nước sinh hoạt nông thôn, tiềm năng nước ngầm trên địa bàn huyện không phong phú, chỉ có khả năng khai thác đáp ứng một phần cho nhu cầu sinh hoạt Trữ lượng nước ngầm cũng biến đổi theo từng vùng

và từng khu vực được phân bố như sau:

- Tầng nước dưới đất cát đỏ được đánh giá là có trữ lượng khá nhất trong huyện, chủ yếu khai thác ở độ sâu từ 50 - 100m Tùy theo từng nơi, trung bình mỗi giếng có thể khai thác từ 2 - 4m3/giờ (tương đương khoảng 50 - 100m3/ngày.đêm)

- Tầng chứa nước ở các thung lũng và vùng tam giác các cửa sông có tiềm năng đứng thứ hai sau tầng nước dưới đất cát đỏ Tầng nước này có sự biến đổi khá lớn theo cấu trúc tầng địa chất ở từng khu vực Chất lượng nước không sạch, cần được xử lý trước khi đưa vào sử dụng trong sinh hoạt

Các tầng chứa nước trầm tích: Phân bố chủ yếu ở vùng đồi gò, khả năng chứa nước kém (phụ thuộc vào mức độ nứt nẻ của tầng đá Mácma) Khả năng khai thác

Trang 28

trung bình mỗi giếng khoảng 0,5m3/giờ, nhưng ở các vị trí đứt gãy có thể khai thác đạt lưu lượng cao hơn

Nhìn chung nguồn nước của huyện khá dồi dào, có thể đảm bảo chủ động cung cấp đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt nếu được đầu tư đầy đủ để xây dựng các công trình thủy lợi kết hợp lớn, vừa và nhỏ Nhưng dễ úng lụt vào mùa mưa, gây sạt lở đất nếu không tổ chức tốt tái sinh và trồng rừng chống xói mòn đất, bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 29

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ TỈNH BÌNH THUẬN

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường huyện Đức linh [2], [4], [5], [6], [20], [21], [22]

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Đức Linh là một huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Bình Thuận, trung tâm huyện cách thành phố Phan Thiết 140 km về phía Đông Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km về phía Nam Huyện có đường ranh tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai thuộc vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và tỉnh Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên Toàn huyện có 13 đơn vị hành chính, gồm 02 thị trấn và 11 xã

Tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ: 107o23'35,166'' đến 107o39'38,917'' Kinh độ Đông; và từ 11o00'26,672'' đến 11o23'01,391'' Vĩ độ Bắc;

- Phía Bắc giáp huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng,

- Phía Nam giáp huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai,

- Phía Đông giáp huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận,

- Phía Tây giáp huyện Định Quán và huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai

Nằm ở vị trí chuyển tiếp của các vùng Nam Trung bộ, Tây nguyên và Đông Nam bộ, Đức Linh có vị trí thuận lợi trong giao lưu kinh tế - văn hóa với vùng Tây nguyên, Đông Nam bộ và Nam Trung bộ - qua quốc lộ 1A, qua Đồng Nai đi thành phố

Hồ Chi Minh và Đà Lạt

2.1.1.2 Địa hình địa mạo

Đức Linh là một huyện miền núi nên địa hình phức tạp, nhìn toàn thể địa hình của huyện có dạng hình lòng chảo phía Bắc và phía Nam cao còn vùng đồng bằng trung tâm thấp và được chia làm 3 tiểu vùng như sau:

- Vùng núi cao: Nằm ở phía bắc huyện giáp với tỉnh Lâm Đồng bao gồm phía

Bắc các xã Đa Kai, Sùng Nhơn và Mê Pu diện tích khoảng 11.500 ha chiếm 21% diện tích đất tự nhiên Vùng này chủ yếu là những dãy núi có độ cao trung bình từ 400m đến 900m, có đỉnh cao nhất là đỉnh 992m, phần lớn có rừng tự nhiên che phủ Độ dốc trung bình > 8o

Trang 30

- Vùng đồi gò lượn sóng: Nằm ở phía Nam huyện giáp với tỉnh Đồng Nai có độ

cao từ 100m đến 150m, diện tích khoảng 19.000 ha, chiếm 36% diện tích tự nhiên Đây là vùng trọng điểm cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả của Huyện Độ dốc trung bình từ 3 - 8o

- Vùng đồng bằng trung tâm: Do phù sa sông La Ngà bồi đắp nên, bao gồm các

xã Vũ Hòa, Đức Chính, Nam Chính, Đức Hạnh, Đức Tín, các thị trấn Đức Tài, Võ Xu,

và phần phía Nam của các xã Đa Kai, Mê Pu, Sùng Nhơn Vùng này có địa hình tương đối bằng phẳng diện tích khoảng 23.000 ha chiếm 43% diện tích tự nhiên, đây là vùng trọng điểm lúa và cây công nghiệp ngắn ngày của huyện Độ dốc trung bình 0 - 3o

Nhìn chung địa hình của huyện đa dạng phức tạp gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhất là trong việc phát triển hệ thống giao thông, thủy lợi giữa các vùng trong huyện nhưng địa hình cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh sản xuất hàng hóa khác nhau tập trung như vùng chuyên lúa, cao su , điều, cây ăn quả

2.1.1.3 Khí hậu

Đức Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình phân ra hai mùa khô và mưa rõ rệt, Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, hàng năm không có mùa đông khắc nghiệt

Nhiệt độ bình quân cả năm là 26,080C nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 24,65oC (tháng 1), cao nhất là 28,42 0C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất từ 3 0C - 40C

Lượng mưa trung bình hàng năm giao động khoảng từ 1800 mm đến 2800 mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng l0 chiếm tới 90% tổng lượng mưa trong năm, những tháng còn lại mưa rất ít và có tới 2 -

3 tháng là không có mưa (tháng 1,2)

Số giờ nắng trung bình trong năm của huyện là 2643,91 giờ, trung bình mỗi ngày có 7,2 giờ nắng Tháng có số giờ nắng nhiều nhất là tháng 3 (293,56 giờ) và tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng 8 (140,43 giờ)

Hàng năm có 2 mùa gió chính là gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, gió mùa Tây Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 11 vận tốc gió lớn nhất từ

Trang 31

18 - 27m/s, gió mang theo hơi nước thường gây mưa rào

Độ ẩm không khi trung bình trong năm của huyện là 81,83% thấp nhất là tháng

2 (71%) và cao nhất là tháng 8,9 (91%)

Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình cả năm là 1255 mm, cao nhất là

tháng 3 (130 mm) và thấp nhất là tháng 8 (88 mm)

Vào các tháng mùa mưa thường có giông kèm theo sấm sét; bão ít xuất hiện;

mùa mưa thường có mưa lớn kéo dài gây ngập úng cho vùng đồng bằng trung tâm huyện làm thiệt hại cho sản xuất và đời sống Các tháng mùa khô ít có sương muối, sương mù nhưng không có mưa, bị khô hạn nghiêm trọng cũng gây ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất nông nghiệp

Tóm lại: Khí hậu của huyện diễn biến theo mùa rõ rệt đặc biệt ở yếu tố lượng mưa Biên độ nhiệt độ và số giờ nắng giữa các tháng trong năm chênh lệch nhỏ, ít gây

sự biến đổi đột ngột về thời tiết khí hậu Lượng mưa lớn và tập trung theo mùa làm hạn chế khả năng sản xuất nông nghiệp

2.1.1.4 Thủy văn và nguồn nước

a Tài nguyên nước mặt

Huyện Đức Linh nằm trong vùng có lượng mưa cao nhất so với các huyện khác trong tỉnh Bình Thuận Do địa hình phức tạp nên đã hình thành nhiều sông suối tự nhiên, thuận lợi cho việc khai thác sử dụng nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt Sông La Ngà bắt nguồn từ miền cao nguyên Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng, có chiều dài 272km, đoạn chảy qua huyện Đức Linh dài 70km, là một trong những con sông

có nguồn nước dồi dào nhất trong tỉnh Bình Thuận (lưu lượng trung bình về mùa mưa là 65,2 - 190m3/s, lưu lượng mùa kiệt là 7,37m3/s)

Đồng thời còn có các suối phân bố trên nhiều địa bàn, bao gồm: suối Gia Huynh, suối Lăng Quăng, suối Ráp Răng, suối Lạnh, suối MêPuKlong Du, suối Cầu

đỏ, suối Nách (ở Đức Tín), suối Cầu Cháy… Phần lớn các suối trên địa bàn Huyện đều ngắn và dốc nên thoát nước nhanh, gây ra lũ lụt trong mùa mưa và hạn hán trong mùa khô Trên địa bàn Huyện còn có hồ Trà Tân, diện tích 240 ha và khá nhiều ao bàu nhỏ

có vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước phục vụ cho sản xuất

Nhìn chung, nguồn nước mặt trên địa bàn huyện Đức Linh khá dồi dào, cơ bản

Trang 32

đáp ứng được nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt Tuy nhiên, do địa hình phức tạp cộng với lượng mưa tập trung theo mùa nên việc xây dựng các công trình thủy lợi để tích trữ nước và phân phối sử dụng nước đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư rất lớn cho cả giai đoạn trước mắt và lâu dải

b Tài nguyên nước ngầm

Theo kết quả khảo sát và đánh giá của chương trình nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, đồng thời qua thực tế khai thác sử dụng của nhân dân trong Huyện Nguồn nước ngầm trên địa bàn Huyện có trữ lượng khá, chất lượng nước tương đối tốt, đáp ứng yêu cầu khai thác và xử lý phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp

Đầu tư xây dựng các trạm cấp nước quy mô nhỏ, khai thác và xử lý nguồn nước ngầm phục vụ cho các khu dân dư ở xa nguồn nước mặt là rất cần thiết Cần có sự hỗ trợ tích cực của các ngành, các cấp ở tỉnh và trung ương trong việc giải quyết nhu cầu nước sạch

2.1.1.5 Các nguồn tài nguyên

a) Tài nguyên đất

Theo tài liệu của chương trình Điều tra, đánh giá thích nghi đất đai và đề xuất

sử dụng đất nông nghiệp huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận do Phân Viện Quy hoạch

và Thiết kế Nông nghiệp Miền Trung thực hiện năm 2004 (Phạm vi nghiên cứu là toàn

bộ vùng đất sản xuất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng có khả

với qui mô 43.580 ha chiếm 81,47 % tổng diện tích tự nhiên toàn huyện (53.491,2 ha))

thì tài nguyên đất của Đức Linh phong phú và đa dạng với 5 nhóm đất chính với 11 đơn vị chú dẫn bản đồ Các nhóm đất phân bố trên 3 nền địa hình đặc trưng là vùng núi, vùng đồi và đồng bằng có những đặc điểm như sau:

- Diện tích 2.520 ha chiếm 6,51 % tổng diện tích tự nhiên vùng nghiên cứu

- Phân bố tập trung trên địa bàn 5 xã : Đức Hạnh, Trà Tân, Tân Hà, Đông Hà và Vũ Hoà

Trang 33

- Đất cát được hình thành do sự bồi tụ trong mùa lũ, các hạt cát thô được rửa trôi từ các sản phẩm phong hóa của đá macma acid (chủ yếu là đá Granit) ở các địa hình cao

và khu vực đồi núi xung quanh bồi tụ lại Đất có phản ứng chua và độ phì rất thấp

- Diện tích 12.479 ha, chiếm 32,23 % tổng diện tích tự nhiên vùng nghiên cứu

- Phân bố dọc theo các sông suối lớn trong vùng, chủ yếu là sông La Ngà, có địa hình khá bằng phẳng và thấp, phân bố ở hầu hết các xã trong huyện, nhưng tập trung nhiều

ở các xã Đức Hạnh, Đức Tài, Nam Chính, Đức Chính, Võ Xu, Sùng Nhơn

- Điều kiện hình thành và phân loại: Đất phù sa được hình thành từ trầm tích có nguồn gốc sông, suối, thành phần chủ yếu là cấp hạt mịn và trung bình Do phân bố ở những khu vực có vị trí và địa hình tương đối cao thấp khác nhau, dẫn đến có những phân biệt về mức độ bồi đắp phù sa về mùa lũ, độ sâu và mức độ bão hòa nước ngầm là yếu

tố quyết định đến ưu thế xảy ra của 1 trong 2 quá trình oxy hóa và khử trong đất, đây

là yếu tố làm phân hóa phẫu diện đất Việc chiếm ưu thế của 1 trong các quá trình trên được sử dụng làm cơ sở để phân chia đất phù sa ra 4 đơn vị phân loại sau:

Bảng 2.1 Phân chia các nhóm đất huyện Đức Linh Tên đất Ký hiệu D tích (ha) Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Tổng hợp đất huyện Đức Linh - Phân Viện QH&TKNN Miền Trung, 2004)

- Hiện trạng và hướng sử dụng: Hầu hết diện tích đất phù sa được bồi hiện đang sử dụng để trồng lúa, bắp, rau, đậu đỗ các loại, mía và cây ăn quả, … Đất này tuy có diện tích không lớn nhưng có chất lượng cao đối với sản xuất nông nghiệp Hướng sử dụng đất này là các cây truyền thống như lúa, rau, màu, đậu đỗ các loại, bắp, mía và cây ăn quả…Đất phù sa có tầng loang lổ đang được sử dụng 2-3 vụ lúa, luân canh lúa màu,

Trang 34

chuyên màu hoặc trồng mía Một số chân đất phân bố ở các khu vực thuận lợi về nguồn nước do đó có thể sử dụng để chuyên canh 2-3 vụ lúa, luân canh lúa-màu hoặc chuyên màu Hiện nay, đất phù sa gley chủ yếu là trồng lúa 1-2 vụ Về lâu dài nên đầu

tư mạnh các công trình thủy lợi, tiêu thoát nước trong mùa mưa, cung cấp nước tưới trong mùa khô và xây dựng đồng ruộng Ưu tiên đất này cho việc sản xuất lúa 2-3 vụ nhằm cung cấp nhu cầu lương thực Một số khu vực đất phù sa úng nước có thể đưa vào sử dụng mô hình canh tác lúa nước kết hợp nuôi trồng thủy sản

Nhóm đất xám trong vùng nghiên cứu huyện Đức Linh có 2 đơn vị phân loại là đất xám trên phù sa cổ và đất xám Glây Diện tích đất xám trên phù sa cổ khá lớn 10.318 ha, chiếm 26,65 % tổng diện tích vùng nghiên cứu Đất xám trên phù sa cổ có

ở hầu hết các xã trong huyện, nhưng tập trung nhiều ở các xã:Tân Hà, Trà Tân, Đức Hạnh, Vũ Hoà, Đông Hà Đất xám Glây có diện tích ít có 66 ha ở Thị trấn Đức Tài

Đất xám trên phù sa cổ có dạng địa hình bậc thềm cao đến đồi núi thấp có độ dốc thay đổi từ 0 -15o Trong đó phổ biến là dạng bậc thềm cao có độ dốc 0-8o Đất xám trên phù sa cổ có độ phì nhiêu thấp nhưng nó lại rất đa dạng về các loại hình sử dụng Bao gồm cả các cây lâu năm (cao su, điều, cây ăn quả…) lẫn cây hàng năm như lúa, hoa màu và cây công nghiệp hàng năm Các dạng có thể sử dụng chính sau:

+ Đất xám có tầng đất mịn dầy, không có tầng kết von, mặc dù có những hạn chế về độ phì nhiêu, song lại có những ưu điểm về phân bố địa hình về cơ lý và cấu trúc đất như có thành phần cơ giới nhẹ và không có độc tố Do đó, có thể sử dụng để trồng nhiều loại cây trồng cạn khác nhau như : cây công nghiệp lâu năm

+ Các đất xám có tầng kết von nhìn chung có độ phì thấp lại bị hạn chế về độ sâu tầng đất, do đó, ở những khu vực đất có địa hình ít dốc có thể sử dụng để trồng các cây trồng cạn hàng năm, ngoài ra, nên sử dụng trồng Điều hoặc tu bổ rừng để bảo vệ đất + Các vùng đất xám nếu có nguồn nước tưới có khả năng trồng lúa

Diện tích 7.798 ha, chiếm 20,14 % tổng diện tích vùng nghiên cứu Đất đỏ vàng phân

bố ở vùng đồi núi và các bậc thềm đồi bát úp lượn sóng Phân bố ở hầu hết các xã trong huyện, tập trung nhiều ở các xã : Đa kai, Mê Pu, Đức Hạnh, Trà Tân

Trang 35

Bảng 2.2 Nhóm đất đỏ-vàng ở huyện Đức Linh Tên đất Ký hiệu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

- Hiện trạng và khả năng sử dụng: Đất nâu vàng trên phù sa cổ tuy có độ phì không cao nhưng nó thích hợp với nhiều loại hình sử dụng đất, kể cả nông nghiệp và lâm nghiệp Trong nông nghiệp các loại hình sử dụng đất có cả các cây dài ngày, cây ăn quả và nhiều loại cây hàng năm Hiện đất nâu vàng trên phù sa cổ trên địa bàn huyện Đức Linh có một số khu vực trồng cao su, điều, màu và cây công nghiệp ngắn ngày Khả năng sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều vào địa hình và độ dầy tầng đất mịn:

* Các đất nâu vàng ở địa hình cao thoát nước tốt và có tầng đất hữu hiệu dầy có khả năng trồng được nhiều loại cây kể cả cây dài ngày và cây hàng năm, đặc biệt là các cây dài ngày như cao su, điều, cây ăn trái

*Các đất có tầng đất mỏng, chỉ có khả năng trồng cây hàng năm Những nơi đất quá mỏng hoặc địa hình dốc chỉ nên trồng rừng nhằm bảo vệ đất và môi trường

- Đất vàng đỏ trên đá Mácma acid tuy có diện tích lớn, nhưng chất lượng rất kém, lại phân bố ở địa hình cao, dốc Khả năng cho sản xuất nông nghiệp có hạn chế Một số chân đất có độ dốc nhỏ, tầng đất dày có thể sử dụng trồng cây công nghiệp (điều, cao su…), cây ăn quả, và hoa màu

- Đất đỏ trên Bazan có độ phì khá, nó thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh

tế cao Tuy vậy khả năng sử dụng của đất này phụ thuộc rất nhiều vào độ dầy tầng đất mịn

* Các chân đất có tầng đất dầy (trên 70 cm) nên giành cho việc trồng các cây dài ngày như cao su, cà phê, tiêu và các cây ăn trái …

Trang 36

* Các chân đất có tầng mỏng sử dụng trồng cây hàng năm như các loại đậu đỗ, bông, bắp, hoa màu khác …

Nhóm đất chưa điều tra: Nằm ở vùng núi cao phía Bắc Huyện, diện tích tự nhiên khoảng 9.911,2 ha chiếm 18,83% diện tích tự nhiên của Huyện

b) Tài nguyên rừng

Diện tích rừng năm 2010 là 8.131,00 ha, chủ yếu là diện tích rừng tự nhiên (chiếm 85,17%) Công tác quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng tập trung và trồng cây phân tán dược quan tâm chỉ đạo Phần lớn diện tích rừng đã có chủ quản lý

c) Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn huyện nguồn tài nguyên khoáng sản có thể khai thác để phát triển kinh tế gồm có Nhóm năng lượng có than bùn ở vùng bàu Núi (Đa Kai), Bàu Sình (Vũ Hoà) với tổng tài nguyên 361.820 tấn, chủ yếu khai thác làm phân vi sinh; nhóm kim loại có wonfram ở Mê Pu; nhóm phi kim có các mỏ Diatomit với diện tích 8.625 m2, sét chịu lửa ở Đa Kai, đá Carbonat, puzolan ở 02 xả DaKai và Đức Hạnh với tổng diện tích 1.659.000 m2, nước khoáng; nhóm vật liệu xây dựng thông thường gồm 04 loại hình khoáng sản khác nhau: khoáng sản đá xây dựng có 3 điểm với tổng trữ lượng và tài nguyên 10.424.947m3; cát xây dựng có 8 điểm với tổng trữ lượng và tài nguyên 10.381.800m3; sét gạch ngói có 5 điểm với tổng trữ lượng và tài nguyên 46.902.263m3; vật liệu san lấp bồi nền có 14 điểm với tổng trữ lượng và tài nguyên 4.766.124m3 Với nguồn tài nguyên khoáng sản trên đây, nếu được tổ chức khai thác tốt sẽ mang lại nguồn thu đáng kể cho huyện, tạo điều kiện thúc đẩy ngành công nghiệp khai thác, chế biến trong những năm tới

Trang 37

(Theo tài liệu tại Báo cáo kết quả khảo sát bổ sung tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Thuận và Báo cáo quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật lieu xây dựng thông thường, than bùn tỉnh Bình Thuận)

d) Tài nguyên nhân văn

Theo kết quả thống kê, dân số năm 2010 của huyện có 127.756 người Tại huyện Đức Linh ngoài người kinh còn có 13 dân tộc thiểu số khác nhau sống rải rác trên địa bàn toàn huyện như: K'Ho, Châu Ro, Tày, Nùng, Mường, Hoa Nhân dân các dân tộc Đức Linh đã viết nên trang sử quê hương rạng rỡ, với truyền thống văn hoá đặc sắc, gắn liền với truyền thống kiên cường trong đấu tranh cách mạng Cộng đồng các dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó, cần cù chịu khó trong lao động, cùng những thành tựu đạt được đã đánh dấu sự nỗ lực vươn lên không ngừng của người dân xây dựng nên mảnh đất Đức Linh ngày nay Phát huy truyền thống cách mạng, niềm tự hào quê hương; ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, năng động, sáng tạo; kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất, Đức Linh có điều kiện để phát triển mạnh kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Đức Linh

2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

a Tăng trưởng kinh tế

Tổng giá trị sản xuất (GO) của Huyện tăng từ 688,9 tỷ đồng năm 2005 lên 1.073,5 tỷ đồng năm 2009 (theo giá so sánh năm 1994) và năm 2011 là 1.227,0 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2005 - 2011 đạt 12,9%

Tổng giá trị sản xuất chia theo các nhóm ngành như sau:

- Nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ 334,4 tỷ đồng năm 2005 lên 501,8

tỷ đồng năm 2009, năm 2011 là 552,6 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2005 - 2010 đạt 10,6%

- Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 181,8 tỷ đồng năm 2005 lên 304,0 tỷ đồng năm 2009, năm 2011 là 347,0 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2005 - 2010 đạt 13,8%

- Nhóm ngành dịch vụ tăng từ 152,7 tỷ đồng năm 2005 lên 267,7 tỷ đồng năm

2009, năm 2010 là 327,4 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2005 -

Trang 38

2010 đạt 16,5%

b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong những năm qua, nhiều thành phần kinh tế đã chuyển dịch cơ cấu đầu tư, phát triển những ngành và lĩnh vực sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường Tạo ra bước chuyển dịch về cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong tổng giá trị gia tăng của Huyện Tuy nhiên, chất lượng chuyển dịch còn thấp, qui mô sản xuất của các ngành công nghiệp và dịch vụ còn nhỏ

- Tỷ trọng giá trị gia tăng của nhóm ngành nông- lâm- ngư nghiệp giảm từ

51,5% năm 2006 xuống còn 42,3% năm 2011

Bảng 2.3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu huyện Đức Linh

TT CHỈ TIÊU ĐVT 2006 2007 2008 2009 2010 2011

Tốc

độ tăng

bq (%)

- Nông, lâm, ngư

nghiệp

Tỷ đồng 191,6 212,1 235,5 262,4 286,4 315,3 10,5

- Công nghiệp và xây

dựng

Tỷ đồng 77,3 87,0 100,3 116,8 130,4 143,5 13,2

+ Công nghiệp

Tỷ đồng 52,1 55,8 64,0 73,5 81,0 87,8 11,0

Trang 39

+ Xây dựng

Tỷ đồng 25,2 31,2 36,3 43,3 49,4 55,7 17,2

- Dịch vụ

Tỷ đồng 96,2 110,9 128,2 147,5 166,0 192,8 14,9

- Nông, lâm, ngư

nghiệp

Tỷ đồng 345,7 432,8 538,1 678 795 870

- Công nghiệp và xây

dựng

Tỷ đồng 138,9 181,6 236,4 317 388 492

a Khu vực kinh tế nông nghiệp

 Sản xuất nông nghiệp

Giá trị gia tăng ngành sản xuất nông nghiệp huyện Đức Linh có mức tăng trưởng khá Giai đoạn 2005 - 2011 tăng bình quân 10,5%/năm (từ 191,6 tỷ đồng năm

2005 lên 315,3 tỷ đồng năm 2011)

Cơ cấu nội bộ ngành giữa trồng trọt và căn nuôi chuyển dịch đúng hướng (tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm khoảng 28%) Việc chuyển giao, ứng dụng những tiến bộ

Trang 40

của khoa học, kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp được triển khai khá đồng bộ; công tác khuyến nông thực hiện tốt đã chỉ đạo sản xuất đúng lịch thời vụ và chương trình xã hội hóa giống cây trồng, vật nuôi được quan tâm thường xuyên, từng bước tạo ý thức

sử dụng giống mới cho nông dân, đã đưa giống lúa xác nhận vào sản xuất đạt 70% Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đạt trên 80% ở tất cả các khâu từ làm đất đến thu hoạch Phát triển một số giống cây trồng mới bước đầu có hiệu quả Thu nhập bình quân của 01 ha đạt khoảng 25 triệu đồng/ năm đã trừ các khoản chi phí

60%-* Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm 2010 đạt 25.147,00 ha, trong đó chủ yếu là cây lượng thực chiếm 80,05 % Tổng sản lượng lương thực đạt 95.000 tấn Hệ thống giao thông nội đồng, giao thông nông thôn được đầu tư nâng cấp, tạo điều kiện lưu thông và vận chuyển thuận lợi; các công trình thủy lợi tiếp tục được đầu tư và phát triển hiệu quả, đưa diện tích tưới 3 vụ tăng 38% so với năm 2008

Cùng với sự gia tăng về diện tích, năng suất và sản lượng, bước đầu đã có sự hình thành các vùng sản xuất lương thực tập trung Vùng trồng lúa tập trung ở vùng thung lũng sông La Ngà Cây mì tập trung ở các xã Đức Hạnh, Đức Tín, Đông Hà, Tân

Hà và Trà Tân Ngoài ra, đối với các loại cây công nghiệp ngắn ngày như đậu phộng, đậu nành, bông vải, mía đường, do thị trường tiêu thụ và đầu ra cho sản phẩm còn khá bấp bênh nên nhìn chung phát triển không ổn định

Các loại cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả cũng phát triển khá với diện tích 28.878,66 ha , trong đó khoảng 80% diện tích là trồng cao su và điều trên cơ sở từng bước hình thành các vùng chuyên canh điều, cây cao su ở các xã Trà Tân, Tân

Hà, Đông Hà, Vũ Hoà, Đức Tín, Đức Tài,Võ Xu

* Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi huyện Đức Linh đã có bước phát triển cao hơn so với các huyện khác trong tỉnh Bình Thuận Đến năm 2011, đã có 4 trang trại chăn nuôi heo công nghiệp và hàng chục trang trại chăn nuôi heo bán công nghiệp Chất lượng giống heo được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ nạc hóa đạt trên 80% Giống bò Lai sind chiếm tỷ

lệ trên 85% Số lượng đàn gia súc như sau: đàn trâu 1.391 con; đàn bò13.708 con; đàn heo 66.767 con Cơ cấu giá trị chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp năm 2010 chiếm khoảng 28% (theo giá hiện hành)

Ngày đăng: 05/03/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm