1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả một số loại hình sử dụng đất trồng rừng sản xuất tại huyện hòa an, tỉnh cao bằng

85 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐOÀN TRUNG HIẾU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP Thái Nguyên - 2020... Mục tiêu của đề tài

Trang 1

ĐOÀN TRUNG HIẾU

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

ĐOÀN TRUNG HIẾU

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu

và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả

Đoàn Trung Hiếu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sĩ khóa 2018 - 2020 Được sự nhất trí, phân công của Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên và sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn PGS.TS Lê Sỹ Trung

tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số loại hình sử dụng đất trồng rừng sản xuất tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, các thầy cô giáo tham gia giảng dạy và trong Khoa Lâm Nghiệp, các cán bộ Kiểm lâm Hạt Kiểm lâm huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên PGS.TS Lê Sỹ Trung đã tận tình, quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do mới làm quen với công tác nghiên cứu cũng như có phần hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa nhận thấy được Tôi rất mong sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo để đề tài hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả

Đoàn Trung Hiếu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ÐOAN i

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

3 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số vấn đề lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng đất 7

1.1.3 Một số cơ chế chính sách có liên quan đến sử dụng đất lâm nghiệp 10

1.2.Tổng quan nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất 20

1.2.1 Tình nghiên cứu trên thế giới 20

1.2.2 Tình hình sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam 28

1.2.3 Các kết quả nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất 31

1.3 Nhận xét chung 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU 34

2.1 Đối tượng nghiên cứu 34

2.2 Phạm vi nghiên cứu 34

2.3 Nội dung nghiên cứu 34

2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội ảnh hưởng đến phát triển trồng rừng sản xuất 34

Trang 6

2.3.2 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất rừng trồng Thông, Keo, Sa

mộc tại huyện Hòa An 34

2.3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến trồng rừng sản xuất 34

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp phát triển rừng trồng sản xuất tại huyện Hòa An 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu 35

2.4.1 Phương pháp kế thừa 35

2.4.2 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 35

2.4 3 Phương pháp điều ra phỏng vấn (PRA) 36

2.4.4 Phương pháp chuyên gia 36

2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất rừng sản xuất ở huyện Hoà An 38

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

3.1.2 Điều kiện dân số, kinh tế, xã hội 41

3.1.3 Nhận xét và đánh giá chung 44

3.2 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng rừng tại huyện Hòa An 45

3.2.1 Tài nguyên rừng hiện nay tại huyện Hòa An 45

3.2.2 Tình hình giao rừng, giao đất lâm nghiệp 47

3.2.3 Các loại hình sử dụng đất rừng trồng sản xuất tại huyện Hòa An 48

3.2.4 Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng sản xuất 53

3.2.5 Đánh giá sinh trưởng của các loại hình sử dụng đất rừng trồng Thông, Keo, Sa mộc: 55

3.3 Đánh giá hiệu quả của các mô hình trồng Thông, Keo, Sa mộc 56

3.3.1 Hiệu quả kinh tế 56

3.3.2 Hiệu quả xã hội: 60

3.3.3 Hiệu quả môi trường: 63

Trang 7

3.4 Đề xuất một số giải pháp phát triển và nhân rộng các loại hình sử dụng đất

hiệu quả 68

3.4.1 Giải pháp về quy hoạch 68

3.4.2 Giải pháp về chính sách 69

3.4.3 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 70

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Kiến nghị 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 8

PAM : Rừng trồng bằng nguồn vốn tài trợ của

chương trình lương thực thế giới PAO : Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của

Liên hợp quốc

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyệnHoà An 45

Bảng 3.2: Trồng rừng sản xuất ở huyện Hoà An 49

Bảng 3.3: Hiện trạng diện tích rừng trồng tại Huyện Hoà An 50

Bảng 3.4: Các loại hình sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu 52

Bảng 3.5: Biện pháp kỹ thuật lâm sinh được áp dụng trong các mô hình 53

Bảng 3.6: Sinh trưởng của Thông, Keo, Sa mộc tại thời điểm nghiên cứu 56

Bảng 3.7: Chi phí trồng và khai thác Keo, Thông, Sa mộc cho 01 ha 57

Bảng 3.8: Trữ lượng của rừng trồng Keo, Thông, Sa mộc (01ha) 58

Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất trồng Keo, Thông, Sa mộc cho 01ha 60

Bảng 3.10 Công lao động tạo ra từ các KSDĐ rừng trồng sản xuất 61

Bảng 3.11 Tính chất đất dưới rừng trồng Keo 65

Bảng 3.12 Tính chất đất dưới rừng trồng thông 66

Bảng 3.13 Tính chất đất dưới rừng trồng Sa mộc 67

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng là một tài nguyên có khả năng tự tái tạo nếu con người biết khai thác, lợi dụng đúng mức Tuy nhiên do áp lực dân số và nhu cầu lâm sản tăng

để phát triển kinh tế - xã hội, con người đã khai thác ồ ạt, vượt quá khả năng tự điều khiển của rừng nên cân bằng trong hệ sinh thái bị phá vỡ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống

Việt Nam cũng đã và ðang diễn ra trong tình trạng trên, đặc biệt là sau ngày thống nhất đất nước Do nhu cầu lâm sản cho tái thiết và phát triển kinh

tế - xã hội tăng đã dẫn đến tài nguyên rừng bị tàn phá nặng nề Thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), chỉ trong hơn 5 năm từ 2012 – 2017, diện tích rừng tự nhiên đã bị mất do chặt phá rừng trái pháp luật mất chiếm 11%, 89% còn lại là do chuyển mục đích sử dụng rừng tại những dự án được duyệt Tính đến tháng 09/2017, diện tích rừng bị chặt phá là 155,68 ha và 5364,85 ha diện tích rừng bị cháy Thực tế, diện tích rừng tự nhiên ở Việt Nam đang ngày càng suy giảm nhanh với tốc độ chóng mặt Nhất là độ che phủ rừng

ở khu vực miền Trung Độ che phủ rừng ở nước ta hiện còn chưa đến 40%, diện tích rừng nguyên sinh còn khoảng 10%, đồng thời trữ lượng cũng suy giảm nghiêm trọng khả năng bảo vệ môi trường (đất, nước, không khí) đã xuống dưới ngưỡng cho phép Đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới thiên tai (lũ lụt, hạn hán, sa mạc hóa…) diễn ra thường xuyên với mức độ ngày càng lớn (Tổng cục Lâm nghiệp, 2018)

Đứng trước tình hình trên nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế đã và đang nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề làm thế nào đề phát triển kinh tế - xã hội nhưng không làm suy thoái môi trường sống?

Trong sản xuất lâm nghiệp, vấn đề trên được giải quyết bằng các mô hình sản xuất hợp lý, điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh tế và sinh thái có tầm quan trọng như nhau trong kinh doanh rừng

Trang 11

Về kinh tế - xã hội, mô hình sản xuất lâm nghiệp phải đem lại thu nhập

về lâm sản cao và ổn định, giải quyết việc làm cho nhân dân địa phương, đầu

tư hợp lý vàđược người dân chấp nhận Đồng thời mô hình cũng có khả năng bảo vệ nguồn nước, duy trì độ phì nhiêu của đất, bảo vệ đa dạng sinh học Như vậy các vấn đề kinh tế và sinh thái được xem xét đồng thời trong mô hình sản xuất, trong đó sự tác động tương hỗ giữa sinh vật và môi trường dưới

sự điều khiển của con người, mô hình sản xuất sẽ phát triển và đạt được mục tiêu người sản xuất đề ra

Là tỉnh miền núi, đất rộng người thưa và địa hình chủ yếu là đồi núi cao, nên những năm qua tỉnh Cao Bằng đã coi phát triển lâm nghiệp là hướng đi hiệu quả cho công tác xóa đói, giảm nghèo và trở thành hướng phát triển kinh

tế trọng tâm của tỉnh.Theo kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng năm 2013, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp toàn tỉnh trên 534.000 ha, trong đó có hơn 17.622 ha đất rừng đặc dụng (gồm 14.759 ha đất có rừng); 297.450 ha đất rừng phòng hộ (185.447 ha đất có rừng); 218.931 ha đất rừng sản xuất (139.277 ha đất có rừng)1 Hòa An là huyện miền núi, nằm ở trung tâm tỉnh Cao Bằng, theo đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện Hòa An tính đến năm 2018 thì tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 6.690,72 km² Trong đó 140.942 ha đất có khả năng phát triển nông nghiệp, chiếm 21% diện tích tự nhiên Huyện Hòa An, hiện có tới hơn 36.000 ha đất có rừng, trong đó diện tích rừng trồng là 3.863 ha Tỷ lệ che phủ của rừng năm 2018 là 59,6% Trong đó: Đất rừng sản xuất là 31.876,97 ha; đất rừng phòng hộ là 15.194 ha; đất rừng đặc dụng 7.500 ha và 1.674,53 ha rừng ngoài quy hoạch2

Từ năm 1992 đến nay, nhờ có chủ trương và chính sách xã hội hoá nghề rừng, giao đất giao rừng, thực hiện chương trình 327( năm 1992), chương trình

Trang 12

https://nongnghiep.vn/cao-bang-can-phai-kien-tri-trong-rung-san-5 triệu ha rừng( năm 1998), PAM https://nongnghiep.vn/cao-bang-can-phai-kien-tri-trong-rung-san-5322 ( 1997-2002), Kế hoạch bảo vệ phát triển rừng năm 2010-2020, nên tài nguyên rừng đang dần được phục hồi, độ che phủ rừng đạt 41,29% năm 2019( tăng 23,9 % so với năm 2002) lập lại thế cân bằng sinh thái (Viện khoa học Lâm nghiệp, 2020) Cùng với sự tăng lên của diện tích rừng, nhiều mô hình rừng trồng được triển khai vào sản xuất, trong

đó có nhiều mô hình thành công nhưng cũng không ít mô hình thất bại

Từ thực tế trên, nghiên cứu hiệu quả của các mô hình rừng trồng, đề xuất

và nhân rộng mô hình thành công cùng với các giải pháp nâng cao hiệu quả là một nhu cầu cấp bách của sản xuất, nhằm giảm sức ép về lâm sản lên rừng tự nhiên Góp phần giải quyết nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội, môi trường

Từ yêu cầu của thực tế sản xuất, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số loại hình sử dụng đất trồng rừng sản xuất tại huyện Hòa

An, tỉnh Cao Bằng”

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng rừng trồng rừng sản xuất tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng

- Đánh giá được hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của một số loại hình

sử dụng đất chính như: rừng trồng Thông, Keo, Sa mộc

- Đề xuất được các giải pháp nhằm phát triển và nhân rộng các loại hình lựa chọn

3 Ý nghĩa của đề tài

- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả sử dụng đất Lâm nghiệp nói chung và đất trồng rừng sản xuất nói riêng tại huyện Hòa an Tỉnh cao Bằng

- Các giải pháp đề xuất giúp các bên liên quan, tham khảo, áp dụng trong quản lý sử dụng đất lâm nghiệp theo hướng bền vững, phù hợp với điều kiện của địa phương

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số vấn đề lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Hiệu quả

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại

Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra là kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (Vũ Trọng Nghĩa, 2016)

1.1.1.2 Sử dụng đất

Sử dụng đất (Land use) là mục đích tác động vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn Trên thực tế có nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau trong đó có các kiểu sử dụng đất chủ yếu như cây trồng hàng năm, lâu năm, trồng rừng, đồng cỏ,… Ngoài ra còn có sử dụng đất đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng đất chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là hiện tại nhưng cũng có thể trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế xã hội,

cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học công nghệ thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất nông lâm nghiệp thường gắn với các cây trồng cụ thể (Đỗ Đình Sâm, Ngô

Đình Quế, Vũ Tấn Phương, 2005)

Trang 14

1.1.1.3 Hiệu quả sử dụng đất

Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người – đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên khác và môi trường Các nội dung sử dụng đất có hiệu quả được thể hiện ở các mặt sau:

- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất

- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất

- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất

- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung thâm canh

Việc sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố liên quan Vì vậy, việc xác định bản chất khái niệm hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống nghĩa

là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001)

- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài

- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích của cả cộng đồng

- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác

- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành

Riêng đối với ngành lâm nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là khối lượng lâm sản khai thác được để ổn định kinh tế xã hội của đất nước

Trang 15

Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất lâm nghiệp với các ngành khác của nền kinh

tế quốc dân, cũng nhý cần gắn sản xuất trong nýớc với thị trýờng quốc tế

Sử dụng đất lâm nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh mà còn là mong muốn của người dân – những người trực tiếp tham gia sản xuất

Hiện nay, các nhà khoa học cho rằng: vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xă hội và hiệu quả môi trường

1.1.1.4 Đánh giá đất đai

Đánh giá đất đai là quá trình xác định tiềm năng của đất cho một hay nhiều mục đích sử dụng được lựa chọn Phân loại đất (Land classification) đôi khi được hiểu đồng nghĩa với đánh giá đất đai nhưng có tính chuyên sâu hơn, chủ yếu là phân loại đất đai thành các nhóm Cũng có thể hiểu đánh giá đất đai là một bộ phận của phân loại đất đai trong đó cơ sở phân loại là xác định mức độ thích hợp của việc sử dụng đất (Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương, 2005)

Trang 16

ràng trong SDĐ đai, nhưng nó chỉ ra được một sự SDĐ xác định thấp hơn loại hình sử dụng đất (Lê Quang Trí, Phạm Thanh Vũ, 2006)

1.1.1.6 Đất

Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ của lục địa mà bên dưới nó

là đá và khoáng vật sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra sản phẩm của cây trồng Đất là lớp phủ thổ nhưỡng, là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh và thạch quyển, khí quyển, thuỷ quyển và sinh quyển Sự tác động qua lại của 4 quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Docutraiep coi đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố là: đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật và thời gian Đất được xem như một thể sống, nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển Con người, trong quá trình sử dụng đất có tác động rất to lớn, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đất Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đất là một tư liệu sản xuất vô cùng quý giá, cơ bản và không thể thay thế được Đối với môi trường, đất được coi như một “hệ đệm”, như một “phễu lọc” luôn luôn làm sạch môi trường với tất cả các chất thải thông qua hoạt động sống của sinh vật nói chung và con người nói riêng Tóm lại, đất là một vật thể tự nhiên mà từ nó đã cung cấp các sản phẩm thực vật để nuôi sống động vật và con người Sự phát triển của loài người gắn liền với sự phát triển của đất (Nguyễn Ngọc Nông và

cs, 2014)

1.1.2 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng đất

Ngày nay, mọi hoạt động sản xuất của con người đều hướng đến mục tiêu

là kinh tế Tuy nhiên, để sản xuất đạt được hiệu quả thì nhất thiết không chỉ đạt mục tiêu về kinh tế mà đồng thời phải tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống xã hội và môi trường của con người

Những kết quả đó có thể là:

Trang 17

- Cải thiện điều kiện sống và làm việc của con người, nâng cao thu nhập;

- Nâng cao đời sống tinh thần cho người dân;

- Cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra một sự phát triển bền vững trong sử dụng đất

Bên cạnh đó, cần chú ý kết hợp hiệu quả lâu dài với hiệu quả trung gian

và hiệu quả trước mắt Mọi giải pháp kinh tế - xã hội đều phải chú ý kết hợp giữa lợi ích lâu dài, lấy lợi ích lâu dài làm trọng tâm, đồng thời không xem nhẹ lợi ích trước mắt

Căn cứ vào những mục tiêu có thể đạt được người ta chia hiệu quả thành

3 loại:

1.1.2.1 Hiệu quả kinh tế

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau

Theo Samuel – Nordhuas “Hiệu quả là không lãng phí”

Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman)

“hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sách mức độ tiết kiệm chi phí trong 1 đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội”

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau, Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;

- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết

hệ thống;

- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người

Trang 18

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần

so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế

sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội

1.1.2.2 Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội

và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất

Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu cầu sống khác nhau Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hóa của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn

Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn

vị diện tích đất nông nghiệp

1.1.2.3 Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này

có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay

có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường

Trang 19

không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo

vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)

đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài; trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau (Lê Anh Thắng, 2011) Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của hoạt động sản xuất, quản lý của con người thì hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm hiệu quả hóa học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường

Trong lâm nghiệp, có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nhưng chưa có tài liệu hay nghiên cứu nào đưa ra khung chuẩn các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường sử dụng đất lâm nghiệp nói chung cũng như đất rừng trồng sản xuất nói riêng V́ vậy, đề tài đã đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá có khả năng thực hiện được

1.1.3 Một số cơ chế chính sách có liên quan đến sử dụng đất lâm nghiệp

Luật bảo vệ và phát triển rừng, công bố theo pháp lệnh số 58/L-CT-HĐNN ngày 19/8/1991 của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước CHXHCN Việt Nam Hiện nay Quốc Hội đã thông qua Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 Luật quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, Trong đó, có quy định nguyên tắc phát triển, sử dụng rừng sản xuất…

Nghị định 01/1995/NĐ-CP ngày 04/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về giao khoán đất và sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp

Trang 20

và thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước Nghị định có đưa ra các loại đất được giao khoán trong đất lâm nghiệp có đất rừng trồng sản xuất

Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước các cấp về rừng và đất Lâm nghiệp Quyết định này nhằm quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp có thẩm quyền đối với rừng và đất lâm nghiệp, góp phần ngăn chặn những hành vi hủy hoại tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp, tạo điều kiện để mọi

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng

Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất lâm nghiệp trong đó có rừng sản xuất

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật này quy định về quản lý, bảo

vệ, phát triển, sử dụng rừng (sau đây gọi chung là bảo vệ và phát triển rừng); quyền và nghĩa vụ của chủ rừng

Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất)

Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng Quy chế này quy định

về việc tổ chức quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp

Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về Một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007

- 2015 Quyết định đưa ra mục tiêu phát triển rừng sản xuất đến năm 2015 là trồng 2 triệu ha rừng sản xuất, bình quân mỗi năm trồng 250 nghìn ha (bao gồm

cả diện tích trồng lại rừng sau khai thác); Giải quyết việc làm, tăng thu nhập

Trang 21

nhằm ổn định đời sống cho đồng bào miền núi; Thúc đẩy hình thành thị trường nghề rừng phát triển ổn định lâu dài

Thông tư 05/2008/TT-BNN ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn lập Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;

Quyết định số 57/2011/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng 2011-2020

Luật đất đai năm 2013 quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) ban hành ngày 20/10/2016 quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, kinh doanh, chế biến và thương mại lâm sản

Luật Lâm nghiệp ban hành ngày 15/11/2017quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản

Nghị định 156/2018/NĐ-CPquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, bao gồm: Tiêu chí xác định rừng, phân loại rừng và Quy chế quản lý rừng; Giao rừng, cho thuê rừng sản xuất, chuyển loại rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng; Phòng cháy và chữa cháy rừng; Đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng và điều chỉnh, miễn, giảm mức chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng; Chính sách đầu tư bảo vệ và phát triển rừng; Nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, sử dụng tài chính của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng

Nghị định 83/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật lâm nghiệp

Trang 22

Một số Quy định, Nghị quyết liên quan đến trồng rừng, bảo vệ rừng tại Cao Bằng và huyện Hòa An có thể kể đến như sau:

Quyết định 1237/QĐ-UBND năm 2008 ban hành Quy định chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng mới rừng sản xuất do Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành

Quyết định số 512/2014/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025

Nghị quyết số 33/2015/NQ-HĐND về việc thông qua quy hoạch bảo vệ

và phát triển rừng tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2013 – 2020 của HĐND tỉnh Cao Bằng Quyết định 2601/QĐ-UBND năm 2017 về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng

Nghị quyết số 62/NQ-CP ngày 17 tháng 05 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) tỉnh Cao Bằng

Nghị quyết 24/NQ-HĐND năm 2018 thông qua Danh mục dự án, công trình đăng ký nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đến năm 2019

Nghị quyết 07/NQ-HĐND năm 2019sửa đổi, bổ sung danh mục các công trình,

dự án cần thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Nghị quyết 20/2019/NQ-HĐND ngày 12 tháng 07 năm 2019về chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Quyết định 2244/QĐ-UBND năm 2019 về giao chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2020 ở Cao Bằng

Trang 23

Quyết định2556 /QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2020 huyện Hòa An, Cao Bằng

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng

1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên – khí hậu, thời tiết

Cũng như các loại cây trồng khác cây keo tai tượng, thông, sa mộc cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi khí hậu thời tiết

Đối với cây Keo cần chọn nơi trồng có vĩ độ 10-22o Bắc, độ cao dưới 500m so với mực nước biển, dốc dưới 25o Nhiệt độ bình quân 21-27oC, tối cao tuyệt đối 42,1oC, tối thấp tuyệt đối -0,8oC Lượng mưa 1400-2400 mm, lượng bốc hơi 540-1200 mm Số tháng mưa trên 100mm là 5-6 tháng tập trung trong mùa Hè Đất dày trên 50-60cm, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, chua

pHKCl từ 3,5-5,0 Mùn từ trung bình đến giàu, trên 2% ở tầng mặt Trảng cỏ cây bụi, không hoặc có cây gỗ rải rác, nứa tép, lồ ô,…, nương rẫy bỏ hoá, rừng thứ sinh nghèo kiệt Không trồng nơi dốc trên 25o, có gió lùa mạnh, đất sét nặng bí, đất trơ sỏi đá, chai cứng, lầy úng, kiềm mặn vì vậy trên thực tế nhiều nơi trên địa bàn nghiên cứu không thích hợp cho việc trồng Keo Tai tượng

Cây Sa Mộc có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau Tuy nhiên, để đạt năng suất cao nên trồng nơi còn tính chất đất rừng, đất có tầng dầy, nhiều mùn thoát nước Nên chọn nơi địa hình có độ dốc dưới 200 , độ cao trên 600m so với mặt nước biển, điều kiên tự nhiên ở huyện Hòa An nói riêng và Cao Bằng nói chung thích hợp cho cây sa mộc phát triển

Thông mã vĩ là cây ưa sáng, lúc nhỏ (dưới 3 tuổi) có thể chịu bóng râm nhẹ, tán thưa thường xanh Sinh trưởng tốt ở nơi đất sâu và thoát nước, độ pH

= 4,5-5,5, có thể mọc được ở đất đồi núi có thực bì sim mua, tế guột ở đất kiềm, mỏng lớp ở độ cao dưới 300-400m Sống được trên đất đồi núi trọc feralit nghèo xấu, khô hạn tầng mặt mỏng, có đá lẫn, chua nhiều, nhưng cây thấp, mọc chậm và yếu hơn Không chịu được đất úng, bí, kiềm, mặn, vôi Điều kiện tự nhiên phù hợp với điều kiện sinh trưởng, phát triển của cây Thông

Trang 24

Bên cạnh những thuân lợi thì có những khó khăn sau: Địa hình trồng rừng sản xuất nhìn chung là xa xôi, độ dốc cao khó cho việc chăm sóc, bảo vệ

Thời tiết là một trở ngại lớn, mùa khô thì hay gây cháy rừng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây rừng Việc phòng chống cháy rừng cũng ảnh hưởng đến doanh thu của rừng trồng

1.1 4.2 Điều kiện về vốn

Do vốn đầu tư sản xuất trồng rừng sản xuất khá cao nên để đẩy nhanh việc tăng diện tích trồng rừng sản xuất còn gặp nhiều khó khăn Nguồn vốn trồng rừng phần lớn do Nhà nước hỗ trợ và vốn vay của các hộ gia đình Vốn trồng rừng sản xuất được xác định trên cơ sở các thành phần cây giống và phân bón

là chủ yếu v́ công lao động đối với các hộ trồng rừng sản xuất cơ bản là lao động trong gia đình Hiện nay, theo các chýõng trình hỗ trợ của huyện thì cơ bản cây giống được nhà nước hỗ trợ cho người dân trồng rừng sản xuất với diện tích hỗ trợ là trung bình 500 ha/năm

Tuy nhiên, việc cung cấp giống chất lượng, giống tốt nhưng còn hơi đắt,

do vậy người dân vẫn còn trồng rừng với nguồn giống trôi nổi không rõ nguồn gốc, ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất của rừng trồng Thị trường tiêu thụ lớn, nhưng người dân thiếu thông tin thị trường, khi bán vẫn phải qua khâu trung gian Do vậy, người dân khi bán vẫn còn bị ép giá chưa đúng với giá cả của thị trường Nguồn vốn của người dân còn rất hạn hẹp, do vậy việc đầu tư vào trồng rừng còn nhiều hạn chế

1.1.4.3 Khoa học kỹ thuật

Khó khăn là nhận thức của một số người dân c ̣n rất hạn chế, việc áp dụng

kỹ thuật trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng trồng c̣n chưa đúng kỹ thuật, dẫn đến năng suất chưa cao

- Chưa chủ động về giống, thiếu giống có chất lượng cao

- Chưa áp dụng trồng rừng thâm canh và ban thâm canh chủ yếu trồng rừng quảng canh

Trang 25

- Chưa chủ động trong nuôi dưỡng và phòng trừ sâu bệnh hại

1.1.4.4 Chính sách

Các chính sách chủ yếu có ảnh hưởng đến phát triển trồng RSX của huyện Hoà An có thể phân chia thành 4 nhóm sau đây; Các chính sách về quản lý rừng: Các chính sách về đất đai; Chính sách về thuế, đầu tư, tín dụng; Chính sách về khai thác, vận chuyển lâm sản và thị trường:

* Đánh giá chung ảnh hưởng của các chính sách trên liên quan tới việc phát triển trồng rừng sản xuất:

và tạo thêm công ăn việc làm

Tạo ra khung pháp lý cho việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng sản xuất, quy định về giao rừng, chuyển nhượng quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng (Luật Bảo

vệ và Phát triển rừng 2004; Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên,…)

Quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, tập thể, cá nhân, hộ gia đình tham gia phát triển rừng sản xuất, có chính sách khuyến khích người dân tham gia hoạt động phát triển rừng trong việc tạo điều kiện để thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,… Do vậy, tạo điều kiện thuận lợicho việc quản lý, giao khoán rừng cũng như phát triển rừng sản xuất (QĐ 178/QĐ-TTg;

QĐ 661/98/QĐ-TTg phần chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm đối với rừng trồng sản xuất,…)

Trang 26

Có các chính sách ưu đãi về thuế, hỗ trợ người dân vùng khó khăn về chế biến, tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ vốn trồng, khoanh nuôi, quản lý bảo vệ rừng hỗ trợ các đối tượng là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tập thể tham gia hoạt động phát triển rừng (Nghị định 01/CP, Luật khuyến khích đầu tư trong nước 1994 (sửa đổi), Nghị định 163/CP, Nghị quyết Quốc hội 2003 về miễn giá thuế sử dụng đất nông nghiệp,…) Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong việc khuyến khích ngýời dân và các thành phần kinh tế tham gia hoạt động phát triển rừng trồng sản xuất

Quy định rõ về khai thác và tiêu thụ sản phẩm gỗ rừng sản xuất, trong đó cho phép rừng tự nhiên có thể sử dụng làm rừng sản xuất đã mở ra hướng phát triển mới cho các đơn vị phát triển rừng trong việc mở rộng diện tích rừng, mở rộng phương án sản xuất kinh doanh (Chỉ thị 19/04/TTg ngày 01/6/2004 về một

số giải pháp phát triển ngành chế biến gỗ và xuất khẩu sản phẩm gỗ, QĐ 02/1999/BNN/PTLN; QĐ 04/2004/BNN/LN (sửa đổi) ngày 02/02/2004 và QĐ 40/2005/BNN (sửa đổi) ngày 07/7/2005 về ban hành Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác, QĐ 136/CP, )

Triển khai phương án chủ động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đối với các lâm trường quốc doanh chuyển từ cơ cấu bao cấp sang tự hạch toán sản xuất kinh doanh, thực hiện triển khai cổ phần hóa Công ty Lâm nghiệp,… có tác dụng rất lớn trong việc phát huy năng lực của các đơn vị kinh doanh rừng, chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, mở rộng các hoạt động trồng và chăm sóc rừng, nhờ vậy mà diện tích rừng trồng của nước ta liên tục tăng trong những năm qua (QĐ 187/CP, Nghị quyết 28/TW của Bộ Chính trị,…)

Đã xem xét tới các yếu tố bất lợi trong sản xuất để có biện pháp ưu đãi về vay vốn, thu thuế, đầu tư cơ sở hạ tầng,…(Luật khuyến khích đầu tư trong nước

1994 (sửa đổi), Nghị định 106/2004/CP, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993 và QĐ 199/2001/TTg ngày 28/12/2001 về đối tượng miễn thuế sử

dụng đất nông nghiệp, )

Trang 27

Các Quyết định 136/98/CP sửa đổi một số quy định về thủ tục xuất khẩu

gỗ, lâm sản, Quyết định 661/98/CP phần về chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm đối với rừng trồng sản xuất, các Quyết định 02/1999/BNN/PTLN, 04/2004/BNN/LN, Thông tư số: 35/2011/TT-BNN thay thế Quyết định 40/2005/BNN ngày 07/7 /2005 về việc hướng dẫn thực hiện khai thác gỗ, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ, đã cho phép chủ rừng có quyền tự quyết định thời điểm, phương thức khai thác, tự do lưu thông sản phẩm gỗ rừng trồng sản xuất Như vậy, vấn đề khai thác, lưu thông, tiêu thụ và thị trường gỗ rừng trồng sản xuất đã thông thoáng hơn trước rất nhiều

Các Quyết định 19/99/TTg, Quyết định 80/02/TTg khuyến khích sử dụng

gỗ, xuất khẩu gỗ rừng trồng, khuyến khích doanh nghiệp ký hợp đồng tiêu thụ lâm sản với người sản xuất để chế biến tiêu thụ lâm sản hàng hoá, hộ gia đình được sử dụng giá trị sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn, liên doanh, liên kết chế biến, kinh doanh, xuất khẩu lâm sản,… Các quyết định này cũng khuyến khích chế biến, xuất khẩu sản phẩm đã qua chế biến,… từ đây đã mở đường cho việc xuất khẩu các sản phẩm đồ gỗ đã qua chế biến ở nước ta ra thị trường thế giới, kích thích trồng rừng sản xuất và chế biến,…Lần đầu tiên đã có chính sách tạo điều kiện liên kết cho dòng nguyên liệu từ trồng rừng đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm vốn đã bị chia cắt, kìm hãm phát triển trồng RSX cả thời gian

rất dài trước đây

+ Hạn chế:

Tuy nhiên không phải tất cả mục tiêu phát triển, bảo vệ và quản lý rừng bền vững đều đạt được thành tựu như kế hoạch Một số chương trình và dự án quốc gia đã và đang được triển khai kém và chậm Ví dụ, Việt Nam vẫn chưa ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và thủ tục quản lý rừng bền vững Các cơ quan triển khai thiếu hụt về nhân lực cũng như kiến thức chuyên môn để triển khai các chính sách Các chính sách sở hữu và sử dụng đất lâm nghiệp chưa đầy đủ

Trang 28

Việc triển khai cũng bị hạn chế do việc thực thi luật trong ngành được cho

là còn yếu; các văn bản luật và quy định không được tuân thủ nghiêm ngặt; các chế tài chưa đủ sức răn đe Việc giám sát của nhà nước còn mang tính chiếu lệ

và thủ tục, tạo cơ hội cho tham nhũng Ngoài ra, vai trò của các bên liên quan tại địa phương thường bị coi nhẹ

Trong thời gian tới Việt Nam cần kiểm soát việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích sử dụng khác, nâng cao nhận thức xã hội về đầu tư lâm nghiệp, và phân bổ rừng cho thuê tới các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Các

cơ chế, chính sách và luật phát cần được hoàn thiện chẳng hạn như sửa đổi và

bổ sung Luật Lâm nghiệp song song với các luật khác như Hiến pháp và Luật Đất đai Hệ thống quản lý từ trung ương đến địa phương cần được đổi mới, tập trung và việc tăng cường vai trò, trách nhiệm và điều kiện làm việc cho đội ngũ kiểm lâm xã Các cơ chế, chính sách của tỉnh chưa thông thoáng, hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược; sự phối hợp giữa các ban, sở, ngành với các địa phương trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chưa thực sự đồng bộ, nhịp nhàng, cản trở tới sự phát triển của tỉnh.Việc quản lý, bảo vệ rừng của chính quyền địa phương vẫn còn yếu kém Trong khi đó thì việc nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn, đặc biệt là pháp luật về tài nguyên rừng lại chưa được chú trọng.3.4.5 Thị trường

Thị trường gỗ rừng trồng sản xuất ở huyện Hoà An về cơ bản có thể chia

ra thành các loại sau đây:

- Thị trường gỗ nguyên liệu xây dựng cơ bản

- Thị trường gỗ nguyên liệu giấy, dăm, dán lạng

- Thị trường gỗ dân dụng

Ngoài thị trường gỗ, còn có thị trường về lâm sản ngoài gỗ với các loại mặt hàng bao gồm: Trám quả, nhựa Thông mã vĩ, hoa Hồi, vỏ Quế và thân trúc sào,…

Trang 29

Tuy nhiên, thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất ở huyện Hoà An bị chi phối thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất là các cõ sở chế biến lâm sản lớn trong và ngoài tỉnh cũng nhý các cõ sở chế biến nhỏ sản xuất đồ dân dụng, Diện tích rừng trồng sản xuất phát triển đã kéo theo sự hình thành khá nhiều các cơ sở chế biến lâm sản quy mô nhỏ xuất hiện ở thị trấn và cả trong các xã Các cơ sở chế biến lâm sản này đã góp phần giải quyết đầu ra cho trồng RSX, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân địa phương

Khó khăn:Thị trường gỗ rừng trồng đã được hình thành và phát triển trong nhiều năm, tuy nhiên mới chỉ bó hẹp trong sản xuất ván ghép thanh, ván OKAL, ván MDF, nguyên liệu dăm, giấy, Các loại sản phẩm tinh chế đơn điệu do công nghệ chế biến còn đơn giản, chủ yếu là đồ mộc gia dụng như bàn, ghế, giường, tủ, phục vụ sinh hoạt gia đình, bàn ghế học sinh, Vùng nguyên liệu đang trong quá trình hình thành và chưa ổn định, giá cả thị trường bấp bênh Thị trường LSNG kém phát triển do quy mô còn hẹp, chủng loại chưa nhiều, chủ yếu vẫn là nhựa Thông, hoa Hồi, vỏ Quế, thân trúc sào, thường được các

tư thương thu mua tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh lân cận cũng như xuất khẩu sang Trung Quốc theo cửa khẩu tiểu ngạch và luôn gặp khó khăn vì bị tư thương

ép giá Thị trường lâm sản ngoài gỗ nhìn chung cũng bình ổn, không sôi động

do quy mô sản xuất là không lớn, toàn bộ được bán dưới dạng nguyên liệu thô hoặc qua sơ chế đơn giản…

1.2 Tổng quan nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất

1.2.1 Tình nghiên cứu trên thế giới

1.2.1.1 Nghiên cứu về đánh giá đất đai

* Đánh giá đất đai của FAO

Muốn sản xuất khối lượng lương thực lớn cho nhân loại, Liên Hợp Quốc cần phải quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất một cách hợp lý nhất Để thực hiện được mục tiêu đó Liên Hợp Quốc đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác đánh giá đất đai Ngay từ những năm 1970, các nhà khoa học đất của

Trang 30

nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu nhằm xây dựng một phương pháp đánh giá đất đai có tính khoa học cao, đồng thời khắc phục được tình trạng không thống nhất về phương pháp Đến năm 1972, tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO) đã phác thảo đề cương đánh giá đất đai

và công bố năm 1973 Hai năm sau tại hội nghị về đánh giá đất đai ở Rome, dự thảo đó được các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này biên soạn, bổ sung và công bố tài liệu chính thức đầu tiên về phương pháp đánh giá đất đai năm 1976 Tài liệu này được coi như cẩm nang cho nhiều nước trên thế giới nghiên cứu vận dụng, thử nghiệm và được coi là phương tiện tốt nhất để đánh giá đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp

Bên cạnh những tài liệu tổng quát của FAO về đánh giá đất đai, một số hướng dẫn cụ thể khác về đánh giá đất đai cho từng đối tượng chuyên biệt cũng được FAO ấn hành như:

- Đánh giá đất cho nền nông nghiệp nhờ mưa

- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới (Land Evaluation for Rainfed Agriculture, 1985)

- Đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh (Land Evaluation for Extensive Grazing, 1989)

- Đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (Land Evaluation for Devenlopment, 1990)

- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng đất (Land Eveluation and Farming System Anaylyis for Land Use Planning, 1990)

Như vậy, theo FAO mục tiêu chính của việc đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích nghi của các dạng đất đai khác nhau đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt đã lựa chọn

Nguyên tắc đánh giá đất đai của FAO là đánh giá đất đai phải gắn với loại hình sử dụng đất xác định, có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được với đầu tư

Trang 31

cần thiết Đánh giá đất liên quan chặt chẽ tới các yếu tố môi trường tự nhiên của đất và các điều kiện kinh tế, xã hội

Tiến trình tổng quát trong đánh giá đất của FAO gồm các bước sau:

- Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất phù hợp với chính sách, mục tiêu phát triển, điều kiện về sinh thái tự nhiên, tập quán sử dụng đất và các hạn chế sử dụng đất đặc biệt của khu vực nghiên cứu

- Xác định yêu cầu sử dụng đất của mỗi loại hình sử dụng đất đã được lựa chọn

- Khoanh định và mô tả được các đơn vị bản đồ đất đai dựa trên kết quả điều tra tài nguyên đất (khí hậu, dạng đất, loại đất, thực vật…) Mỗi một LMU trong số các LMU có số lượng các đặc tính như độ dốc, lượng mưa, phẫu diện đất, thoát nước, thảm thực vật,… khác với các LMU kề bên

- Mô tả tính chất và chất lượng của các đơn vị đất đai, những yếu tố có tác động trực tiếp đến khả năng thực hiện các loại sử dụng đất được lựa chọn

- So sánh giữa yêu cầu sử dụng đất của mỗi LUT với chất lượng đất đai của từng đơn vị đất đai đối với mỗi loại hình sử dụng đất gồm khả năng thích hợp trong điều kiện hiện tại và khả năng thích hợp trong tương lai

- Phân tích những tác động môi trường có thể xảy ra các vấn đề kinh tế -

xã hội trong quá trình thực hiện các loại sử dụng đất được đánh giá Qua đó đưa

ra phân loại cuối cùng của khả năng thích hợp đất đai

Tuỳ theo mục tiêu, quá trình đánh giá phân hạng đất có thể tiến hành theo phương pháp hai bước hoặc phương pháp song song

- Phương pháp 2 bước: gồm có đánh giá đất tự nhiên và phân tích kinh tế

- xã hội

- Phương pháp song song: Các bước đánh giá đất tự nhiên cùng đồng thời với phân tích kinh tế - xã hội Phương pháp này thường được đề nghị để đánh giá đất chi tiết và bán chi tiết

Trang 32

Trên thực tế hai phương pháp này khác nhau không rõ ràng nên khi áp dụng cần lựa chọn phương pháp thích hợp, tuỳ thuộc và điều kiện cụ thể

- Phân hạng định tính: Kết quả được trình bày trong phạm vi tính chất mà không có sự đánh giá riêng biệt ở đầu vào và đầu ra

- Phân hạng định lượng: Kết quả được trình bày bằng số, Nếu kết quả chỉ

đề cập đến số lượng đầu tư chi phí ở đầu vào và khối lượng sản xuất ở đầu ra thì đó là phân hạng định lượng thông thường, còn nếu kết quả đề cấp tới chi phí, giá thành ở đầu vào và giá cả, lợi nhuận ở đầu ra thì đó là phân hạng thích hợp kinh tế

Trong đánh giá đất đai thì cần sử dụng cả hai phương pháp phân hạng thích hợp trên

Theo FAO, phân hạng thích hợp đất đai đựơc phân chia thành 4 cấp: Bậc (order) Lớp (class) Lớp phụ (subclass) Đơn vị đất (unit)

Trong bậc thích hợp chia làm 2 cấp: Bậc thích hợp (suitability order) và bậc không thích hợp (not suitability order), Trong một số trường hợp có dùng thêm pha thích hợp có điều kiện (conditionally suitable)

Trong bậc thích hợp thường chia làm 3 lớp:

+ Thích hợp cao (S1)

+ Thích hợp trung bình (S2)

+ Kém thích hợp (S3)

Trong bậc không thích hợp được chia làm 2 lớp:

+ Không thích hợp hiện tại (N1)

+ Không thích hợp vĩnh viễn (N2)

Trong lớp phụ chia ra các đơn vị đất thích hợp

Như vậy, theo phương pháp đánh giá của FAO vừa có thể phân hạng đất đai ở mức độ khái quát vừa phân hạng được ở mức độ chi tiết cho một vùng cây chuyên canh (Lê Quang Trí, 2006)

* Đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ)

Trang 33

Ở Liên Xô cũ, đánh giá đất đai bắt đầu xuất hiện từ trước thế kỷ XIX, cho đến những năm 60 của thế kỷ này thì việc phân hạng và đánh giá đất đai mới được quan tâm và tiến hành trên cả nước theo phương pháp phân loại đất theo phát sinh

Cơ sở của phương pháp này là theo học thuyết phát sinh đất của nhà bác học Nga Docutraep (1846 - 1903) đưa ra năm 1883, bao gồm 3 bước:

- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất

Quan điểm đánh giá đất của Docutraep áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố đánh giá trên cơ sở thang điểm đã được xây dựng thống nhất Dựa trên quan điểm khoa học của ông, các học trò của ông đã bổ sung hoàn thiện dần phương pháp này và phương pháp đánh giá đất của ông đã được thừa nhận

và phổ biến rộng rãi ra các nước đặc biệt là những nước xã hội chủ nghĩa trong

đó có Việt Nam

Tuy nhiên phương pháp này c̣n có một số hạn chế như quá đề cao khả năng tự nhiên của đất hay không có khả năng dung hoà quy luật tối thiểu với phương pháp tổng hợp các yếu tố riêng biệt… Mặt khác phương pháp đánh giá đất đai cho điểm cụ thể chỉ đánh giá được đất đai hiện trạng mà không đánh giá được đất đai trong tương lai, tính linh động kém vì các chỉ tiêu đánh giá đất đai

ở các vùng cây trồng khác nhau là khác nhau do đó không thể chuyển đổi việc đánh giá đất đai giữa các vùng với nhau

1.2.1.2 Nghiên cứu về sử dụng đất nông lâm nghiệp

Trang 34

Từ những thế kỷ trước, khoa học về đất đã được các nước phát triển bắt đầu quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trên lĩnh vực này liên tục phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng Những thành tựu về phân loại đất

và xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả Mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh, đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn

(Conklin H, C, 1957) Gần đây, du canh vẫn còn được vận dụng trên các rừng Vân sam ở Bắc Âu (Cox K, và Atlinss, 1979; Ruddle K, và Manshard W,, 1981) Loại hình quảng canh và du canh trên toàn thế giới chiếm tới 45% diện tích đất nông nghiệp (FAO, 1980…) Du canh còn đang được xem xét như một góc nhìn để quản lý tài nguyên rừng, trong đó có đất đai được luân canh nhằm khai thác năng lượng và vốn dinh dưỡng của hệ thực vật - đất của hiện trường canh tác (Mc Grath, 1987) (Dẫn theo Nguyễn Văn Hùng, 2002) Tuy nhiên, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi sự phí phạm

về sức người, tài nguyên đất đai, nguyên nhân chính gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá xảy ra nghiêm trọng

Phương thức Taungya được ra đời sau phương thức du canh ở vùng nhiệt đới (Blanford H, R,, 1958) Đây là phương thức được Pankle U, đề xuất năm

1806, theo đó đã trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày vào rừng Tếch (Tectona grandis) chưa khép tán Sau này, hệ thống Taungya cải tiến dần và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả cả về kinh tế lẫn môi trường sinh thái trên thế giới (Nair P,K,R, 1987)

Mặt khác, nhu cầu lương thực của con người ngày càng gia tăng, theo dự đoán của FAO vào năm 2025 nhu cầu sẽ xấp xỉ 4,5 tỷ tấn (FAO, 1990), cùng với đó là nhiều vấn đề về môi trường cần phải giải quyết, Một trong những cơ

sở khoa học để giải quyết vấn đề này là đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử dụng bền vững, Đã có nhiều nghiên cứu thành công trong lĩnh vực này như: xác định được hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc

Trang 35

(SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững của Trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao - Philipin năm 1970, xây dựng được 4 mô hình tổng hợp về

kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc đó là mô hình SALT1, SALT2, SALT3, SALT4, Đây là những mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực - kỹ thuật canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi trên đất dốc (Dẫn theo Nguyễn Xuân Quát, 1996)

Ngoài ra, mỗi quốc gia còn nghiên cứu và đề xuất các mô hình thích ứng riêng như: ở Ấn Độ, phương thức sử dụng đất chủ yếu là mô hình trồng xen giữa các loài cây công nghiệp, lương thực, gỗ, tre nứa theo hệ thống nông lâm kết hợp được bố trí rất khoa học và chặt chẽ có xem xét đến điều kiện kinh tế - xã hội

cụ thể nơi gây trồng, Ở Inđônêxia, Công ty Lâm nghiệp nhà nước chọn đất và hướng dẫn người dân trồng cây nông - lâm nghiệp, sau hai năm nông dân sử dụng sản phẩm nông nghiệp và bàn giao lại rừng cho Công ty, mô hình làng lâm nghiệp “Ladang” rất được chú ý

Vương quốc Anh là một trong những quốc gia có diện tích rừng bao phủ nhỏ nhất châu Âu, trong nghiên cứu về đất đai của Bộ TN & MT (2012), tại Anh quyền tư hữu về đất đai được pháp luật thừa nhận Cùng với đó, luật pháp nước Anh cũng thừa nhận đất đai thuộc sở hữu của Nữ hoàng Anh (hình thức

sở hữu này chỉ mang tính tượng trưng, nặng về ý nghĩa chính trị, không có ý nghĩa về mặt kinh tế và pháp luật) Bên cạnh đó Nữ hoàng cũng có những diện tích đất thuộc quyền sở hữu của hoàng gia mà không phải là sở hữu của Nhà nước

Theo Xuân Thịnh (2013), Thụy Điển được mệnh danh mà một đất nước của những cánh rừng với tổng diện tích đất rừng khoảng 28,4 triệu ha trên tổng diện tích 41,3 triệu ha chiếm 69% độ che phủ Sản phẩm ngành Lâm nghiệp Thụy Điển chiếm 2,2% trong tổng thu nhập quốc dân, 12,8% tổng giá trị xuất khẩu Về quyền sở hữu rừng và đất Lâm nghiệp: Đất đai tại Thụy Điển là sở hữu tư nhân có quyền thừa kế lâu dài, và đất Lâm nghiệp cũng như vậy Khu

Trang 36

vực tư nhân (chủ yếu là các hộ gia đình) sở hữu khoảng 50% tổng diện tích, nhà nýớc và các tổ chức khác sở hữu phần còn lại Quá trình xây dựng chính sách ở Thụy Điển tương tự như nhiều quốc gia dân chủ khác Tổng cục Lâm nghiệp là cơ quan chịu trách nhiệm chính về những vấn đề liên quan đến ngành Lâm nghiệp của Thụy Điển Việc lập kế hoạch quản lý rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, tỉa thưa, khai thác cuối cùng của các chủ rừng đều được tư vấn bởi cán bộ của Tổng cục ở cấp địa phương Cũng như nhiều nước khác giá trị sản phẩm mà ngành Lâm nghiệp đóng góp vào là GPD không lớn (khoảng trên 2%) Tuy nhiên, là một quốc gia phát triển, những giá trị môi trường mà ngành Lâm nghiệp mang lại được đặc biệt coi trọng, ở mỗi cấp quản lư những giá trị này luôn được theo dõi, tính toán và hoàn thiện các giải pháp từ kỹ thuật đến thể chế chính sách để không ngừng được nâng cao

Theo Tổng cục Quản lý đất đai (2011), tại Mỹ cho thấy quỹ đất công của

Mỹ gồm 245 triệu mẫu (tương đương khoảng 118 triệu ha), bao gồm đất xây dựng các công trình công cộng của quốc gia và trụ sở các cơ quan của Liên Bang, các khu bảo các khu bảo tồn quốc gia và đất hoang hóa Ngoài ra còn quản lý lòng đất đối với khoảng 700 triệu mẫu khác (tương đương khoảng 280 triệu ha) mà Nhà nước đã bán cho tư nhân sở hữu bề mặt sau này Về quản lý đất lâm nghiệp, nước Mỹ có khoảng 780 000 km2 đất công được quản lý như rừng và rừng cỏ quốc gia được biết đến như là Hệ thống Rừng Quốc gia, các vùng đất này được tổ chức thành 155 rừng quốc gia và 20 rừng cỏ quốc gia có

ở 44 tiểu bang và bao phủ khoảng 9% tổng diện tích đất tự nhiên của nước Mỹ Vai trò của Hệ thống Rừng Quốc gia nhằm bảo vệ và quản lý đất rừng theo hướng phát triển môi trường sinh thái cho cộng đồng tự nhiên và con người Trên thế giới, mặc dù sự phát triển sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau nhưng hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là nền tảng của

sự phát triển Những nghiên cứu liên quan đến sử dụng bền vững đất nông nghiệp đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Các nhà khoa học, các

Trang 37

Viện nghiên cứu đã và đang tập trung nghiên cứu về đất đai, về kỹ thuật canh tác, cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cũng như để giải quyết những xung đột trong sử dụng đất cho nông nghiệp, công nghiệp Để

sử dụng bền vững đất nông nghiệp cần phải đáp ứng được 3 tiêu chí là bền vững

về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường

Diện tích canh tác nông nghiệp của Việt Nam vào loại thấp nhất trong khu vực Asean (0,11ha/người) Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến sử dụng bền 4vững đất nông nghiệp của các Viện nghiên cứu như Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp, Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, các trường Đại học Ngoài việc phải thoả mãn các yêu cầu về tính bền vững mà thế giới đã công nhận thì nông nghiệp bền vững ở Việt nam còn phải kế thừa được kinh nghiệm của nền nông nghiệp truyền thống để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng

Vùng Trung du miền núi phía Bắc đã có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng các mô hình sử dụng đất bền vững như: mô hình sản xuất chè hữu cơ trên các vùng núi cao; mô hình sử dụng đất theo kiểu nông - lâm kết hợp ở khu vực có độ dốc > 250 (trên đỉnh đồi trồng rừng, tiếp đến trồng cây ăn quả ở chân đồi và trồng cây ngắn ngày); trồng cây ăn quả ở vùng có độ dốc từ 100 – 250;

mô hình chuyển đổi cây hàng năm trên đất nương rẫy và đất chuyên màu ở vùng thung lũng, đồng bằng; mô hình chuyển đổi đất lúa 1 vụ bỏ hóa vụ xuân sang trồng hoa ôn đới Các mô hình này đều cho hiệu quả kinh tế cao hơn và đảm bảo được tính bền vững trong sử dụng đất

1.2.2 Tình hình sử dụng đất lâm nghiệp ở Việt Nam

Đánh giá tiềm năng đất đai trong Lâm nghiệp mới được nghiên cứu những năm gần đây Từ năm 1991 đến 1995 đề tài cấp nhà nước: “Đánh giá tiềm năng sản xuất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa” của Đỗ Đình Sâm và cộng sự đã phân chia thành 4 nhóm đất khác nhau vì những đặc trưng

Trang 38

rất khác biệt giữa các nhóm đất; cụ thể là nhóm đất vùng đồi núi, nhóm đất cát ven biển và nhóm đất ngập mặn sú vẹt, nhóm đất chua phèn Các tác giả đã xác định các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá cho từng nhóm đất và xây dựng được bản

đồ tiềm năng sản xuất đất Lâm nghiệp cho 7 vùng kinh tế Lâm nghiệp trong cả nước tỷ lệ 1: 250.000 Kết quả trên ở mức độ vĩ mô có tính chất định hướng Còn các tác giả khác nữa như Hoàng Xuân Tý (1997), Ngô Đình Quế (1985), Nguyễn Xuân Quát (1986) cũng xác định các tiềm năng đất đai Việt Nam trong các nghiên cứu của mình

Đánh giá đất đai dựa trên cơ sở lập địa được nghiên cứu ở Việt Nam từ những năm cuối của thập niên 60 của thế kỷ trước Những người đầu tiên giới thiệu, hướng dẫn, xây dựng phương pháp hoặc quy trình lập địa là những chuyên gia người Đức: Lehmann, Thomasius, Loschau và Schwanecker, Đặc biệt Schwanecker đã cùng Viện Điều tra quy hoạch rừng xây dựng được hai công trình có ý nghĩa đó là “Quy trình điều tra lập địa cấp I” và “Phân vùng sinh trưởng ở nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa” (1974) Tuy nhiên, việc vận dụng quy trình trên còn nhiều hạn chế, chủ yếu chỉ mô tả điều kiện lập địa trong thiết kế trồng rừng

Gần đây, Trectop (1978, 1985) và Đỗ Đình Sâm (1990) có đưa ra các bảng phân loại mới để áp dụng cho Việt Nam, có một số khác so với bảng phân loại lập địa ban đầu của trường phái Liên Xô (cũ), Trong đó, Đỗ Đình Sâm (1990)

có đề nghị xác định mức độ thoát nước và mức độ khô hạn, mùa khô là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để phân chia lập địa rừng ở Việt Nam, Mức

độ khô hạn được chia làm 3 cấp: Rất khô, khô, ẩm và ẩm thường xuyên dựa trên chế độ nhiệt ẩm, đai cao so với mặt biển, đặc điểm đất, địa hình

Từ năm 1991 đến 1995 đề tài cấp nhà nước: “Đánh giá tiềm năng sản xuất lâm nghiệp và hoàn thiện phương pháp điều tra lập địa” của Đỗ Đình Sâm và cộng sự đã xác định hệ thống tiêu chuẩn phân chia dạng lập địa Tác giả đề xuất

Trang 39

3 nhóm yếu tố tham gia phân chia lập địa: Nhóm yếu tố thổ nhưỡng, nhóm yếu

tố địa hình, nhóm yếu tố chế độ thoát nước và ngập nước

Hiện nay, chủ trương của Nhà nước ta là gia tăng hiệu quả sử dụng đất và bảo vệ rừng, định hướng phát triển kinh tế rừng đi theo hướng bền vững, giao đất giao rừng gắn với công tác bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế tối đa việc lợi dụng được giao đất lâm nghiệp để chặt phá, tự chuyển đổi rừng sai mục đích Trong những năm qua công tác trồng rừng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, nhiều địa phương đã áp dụng các mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ nhằm bảo đảm chất lượng cây giống, chủng loại cây phù hợp địa lý, khí hậu, có giá trị kinh tế cao Tại vùng Đông Bắc bộ một số địa phương đã triển khai mô hình trồng rừng được người dân và các tổ chức hưởng ứng Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm

2018 diện tích đất có rừng toàn quốc là 14.491.295 ha; trong đó: rừng tự nhiên 10.255.525 ha, rừng trồng 4.235.770 ha Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ toàn quốc là 13.785.642 ha;tỷ lệ che phủ là 41,65%

Theo Bộ NN&PTNT, tính đến tháng 12 năm 2016, diện tích rừng đã giao cho cộng đồng quản lý là trên 1,1 triệu ha, chiếm 7,8% diện tích rừng của cả nước; trong đó, diện tích rừng được giao cho cộng đồng dân tộc thiểu số là 805 nghìn ha, chiếm 71,4% Diện tích được cấp quyền sử dụng đất là 345 nghìn ha, chiếm 42,9% tổng diện tích giao cho cộng đồng dân tộc thiểu số Số cộng đồng dân tộc thiểu số được giao là 12 095 cộng đồng, gồm 4 739 thôn, buôn, 125 dòng họ và 5 679 nhóm hộ Tổng diện tích rừng đã giao cho hộ gia đình quản

lý là 2,9 triệu ha, chiếm 20,4% diện tích rừng cả nước; trong đó, diện tích giao cho các hộ gia đình dân tộc thiểu số là 936 nghìn ha, chiếm 32% Diện tích được cấp quyền sử dụng là 885 nghìn ha, chiếm 94,5%

1.2.3 Các kết quả nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất

Chế độ quản lý đất đai của nhà nước Việt Nam trước đây được đánh dấu bằng chính lịch sử phát triển của đất nước, từ triều đại nhà Hồ (thế kỷ thứ 15)

Trang 40

với các chính sách hạn điền, đinh điền và quân điền Thời kỳ Pháp thuộc các nhà khoa học Pháp đã thực hiện các công trình nghiên cứu đánh giá SDĐ trên quy mô rộng lớn, Giai đoạn năm 1955 - 1975, công tác điều tra, phân loại đất

đã được tổng hợp một cách có hệ thống trên phạm vi toàn miền Bắc và đã được thống nhất sau năm 1975 Việc phân loại đất đã đã được triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái Ngô Nhật Tiến (1986), Đỗ Đình Sâm (2001), Ngô Đình Quế (2009) Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu trong quản lý

và SDĐ lâu bền được Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên đề xuất trong tài liệu

“Đất đồi núi Việt Nam thoái hoá và phục hồi”, các tác giả đã nêu rõ tính bền vững trong SDĐ đồi núi gồm 3 phương diện: sự bền vững kinh tế, bền vững môi trường và sự chấp nhận xã hội trong đó 5 thuộc tính cần được xem xét là tính sản xuất hiệu quả, tính an toàn, tính bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp nhận Đồng thời tác giả đã đưa ra các biện pháp tổng hợp sử dụng hiệu quả đất đồi núi trên cơ sở sinh thái bền vững Tác giả tổng kết đưa ra hệ thống canh tác bền vững, hệ thống cây trồng SDĐ có hiệu quả, một số mô hình NLKH hợp điển hình ở các tỉnh Lạng Sơn, Hà Giang, Yên Bái,

Sử dụng đất nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với vùng nông thôn, nó tạo ra sản lượng nông sản như lương thực, thực phẩm liên quan trực tiếp tới thu nhập và đời sống của người nông dân (Nguyễn Văn Sánh, 2009; Nguyễn Kim Hồng, Nguyễn Thị Bé Ba, 2011) Bên cạnh đó, sử dụng đất nông nghiệp còn góp phần phát triển nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững (Đặng Kim Sơn, Trần Công Thắng, 2001) Những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì sử dụng đất nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch quan trọng tạo ra nhiều sản phẩm theo hướng hàng hoá nhằm tăng thu nhập của người nông dân (Đỗ Văn Nhạ, Trần Thanh Toàn, 2016) và phát triển nông nghiệp sinh thái (Vũ Thị Kim Cúc, 2014) Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng có hiệu quả cao được dựa trên cơ sở các kiểu sử dụng đất hiệu quả

cả về kinh tế, xã hội và môi trường (Nguyễn Khắc Việt Ba và cs., 2016)

Ngày đăng: 05/03/2021, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w