1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM

50 226 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Triển Khai Nghiệp Vụ Tái Bảo Hiểm Kỹ Thuật Tại Công Ty Tái Bảo Hiểm Quốc Gia Việt Nam
Tác giả Triệu Thị Bảo Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 76,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy hoà nhịp với sự phát triểnchung của ngành bảo hiểm Việt Nam, VINARE đã được phép thành lập và hoạtđộng nhằm kinh doanh nhận tái bảo hiểm tại thị trường trong nước và quốc tế,nâng

Trang 1

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬTTẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM (VINARE).

I VÀI NÉT VỀ CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM (VINARE).

1 LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM (VINARE).

Trong cơ chế mới, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh bảo hiểm phục vụcho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội là một đòi hỏi thiết thực, xuất phát từ yêucầu đảm bảo cho nền kinh tế thị trường được phát triển ổn định, góp phần huyđộng và khai thác mọi tiềm năng trong nước, đặc biệt thu hút nguồn vốn đầu tưnước ngoài phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đáp ứngyêu cầu cấp bách trên, ngày 18/12/1993 chính phủ ban hành nghị định 100/CP vềkinh doanh bảo hiểm, sự đánh dấu bước ngoặt mới cho sự hình thành và pháttriển của thị trường bảo hiểm Việt Nam, kết thúc 30 năm hoạt động độc quyềncủa tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) Hàng loạt công ty bảo hiểm mới

ra đời như:: Bảo Long, Bảo Minh, PJICO, PVIC, , cùng với các nghiệp vụ bảohiểm ngày càng phong phú, đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cả vềchất lượng lẫn số lượng của thị trường Có thể nói, ngành bảo hiểm Việt Namđang thực sự trở thành tấm lá chắn vững chắc cho sự phát triển và ổn định kinh tế

- xã hội, thực hiện tốt chức năng duy trì khả năng tài chính của doanh nghiệp, gópphần ổn định đời sống của tầng lớp nhân dân trên cơ sở bồi thường đầy đủ, kịpthời cho các tổ chức và cá nhân khi gặp rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra

Ngoài ra, cũng do nhu cầu của nền kinh tế thị trường, nhu cầu của ngànhbảo hiểm Việt Nam thì một công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp ra đời là một tấtyếu khách quan Thực hiện nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của chính phủ vàquyết định số 920TC/QĐ/TCCB ngày 27/09/1994 của bộ tài chính, công ty táibảo hiểm quốc gia Việt Nam được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từngày 01/01/1995

Trang 2

Theo đó, VINARE là một pháp nhân, hạch toán độc lập, tự chủ về tàichính, được mở tài khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng và thực hiện mọi nghĩa

vụ theo qui định của nhà nước Ngày 01/01/1995 công ty đã chính thức đi vàohoạt động với số vốn pháp định là 40 tỷ đồng Như vậy hoà nhịp với sự phát triểnchung của ngành bảo hiểm Việt Nam, VINARE đã được phép thành lập và hoạtđộng nhằm kinh doanh nhận tái bảo hiểm tại thị trường trong nước và quốc tế,nâng phần dịch vụ giữ lại thị trường trong nước, góp phần vào sự phát triển chungcủa thị trường Việt Nam Thực tế 8 năm qua đã chứng minh sự ra đời của công ty

là kịp thời và hiệu quả

2 NHIỆM VỤ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU CỦA CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM.

2.1 Vai trò.

Từ ngày thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, VINARE đang ngàycàng phát triển, bước đầu thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và ngày càng khẳngđịnh vai trò của mình đối với thị trường bảo hiểm trong nước

VINARE là đầu mối điều tiết dịch vụ bảo hiểm cho thị trường trong nước:

Điều tiết dịch vụ nhằm nâng phần giữ lại cho thị trường trong nước và hạnchế chuyển phí tái bảo hiểm bằng ngoại tệ ra thị trường nước ngoài là một chủtrương, nhiệm vụ chính của công ty

Thông qua việc nhận tái bảo hiểm bắt buộc theo qui định của nhà nước và trên cơ

sở phí nhận tái bảo hiểm ngoài phần bắt buộc của công ty bảo hiểm gốc, sau khigiữ lại dịch vụ theo khả năng tài chính của mình, phần còn lại VINARE đã ưutiên chuyển nhượng tối đa dịch vụ cho thị trường trong nước Các doanh nghiệpbảo hiểm gốc cũng đã thấy rõ lợi ích của việc nhận nhượng dịch vụ qua VINARE

và nhận thức đầy đủ hơn đến tính hiệu quả và lợi ích kinh doanh của tái bảo hiểm

Trang 3

Công ty có thể tham mưu, tư vấn giúp đỡ các doanh nghiệp bảo hiểm

về kỹ thuật bảo hiểm, tái bảo hiểm như: khai thác bảo hiểm, giải quyết bồi thường,

Công ty đã cố gắng thực hiện chức năng nhiệm vụ của một công ty tái bảohiểm chuyên nghiệp, đó là cung cấp các điều kiện, điều khoản, biểu phí bảo hiểmcho doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng bảo hiểm, môi giới bảo hiểm Khi có

sự tổn thất, công ty coi đó như là của chính mình và kết hợp chặt chẽ với cácdoanh nghiệp bảo hiểm để xử lý Nhờ đó, một mặt công ty góp phần nâng caohiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp bảo hiểm, mặt khác công ty cũng bảo

vệ được quyền lợi của khách hàng bảo hiểm

Công ty là đầu mối cung cấp thông tin bảo hiểm, tái bảo hiểm cho thị trường trong nước và quốc tế:

Nhằm mục đích trao đổi thông tin và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữathị trường bảo hiểm trong nước và quốc tế, từ năm 1997 công ty đã cho xuất bảnhàng năm 04 số thông tin bằng tiếng Việt và 02 số thông tin bằng tiếng Anh vềthị trường bảo hiểm trong nước và quốc tế cung cấp cho các doanh nghiệp bảohiểm, khách hàng bảo hiểm và các tổ chức bảo hiểm quốc tế tham khảo trong quátrình hoạt động kinh doanh của mình Mặc dù còn nhiều hạn chế về nội dungcũng như chất lượng nhưng bản tin của công ty đã có tác dụng thiết thực và đượccác doanh nghiệp bảo hiểm, khách hàng bảo hiểm cũng như các tổ chức bảo hiểmquốc tế đánh giá cao

Công ty là đầu mối cho việc đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ ngành bảo hiểm:

Công ty đã cố gắng hợp tác với các tổ chức bảo hiểm trong nước và quốc tếnhư: (Bảo Việt, Bảo Minh, Munich Re, Willis Corroon Aerospace, W.O.E P&IClub, ) tổ chức nhiều lớp học, hội thảo chuyên ngành phục vụ cho cán bộ toàn

Trang 4

lượt cán bộ Việc tổ chức học tập nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộngành bảo hiểm Việt Nam được các doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng hếtsức hoan nghênh và đánh giá cao.

Với những vai trò quan trọng như trên VINARE có nhiệm vụ cơ bản sau :

- Kinh doanh tái bảo hiểm nhằm điều tiết hoạt động kinh doanh của thịtrường, tăng phần phí giữ lại trong nước, giảm phí ngoại tệ chuyển ra nước ngoài

- Hỗ trợ giúp đỡ thị trường trong nước phát triển, đặc biệt là các doanhnghiệp mới thành lập

2.2 Chức năng và quyền hạn.

Là doanh nghiệp tái bảo hiểm chuyên nghiệp duy nhất trong nước, công ty

có chức năng cơ bản sau:

* Nhận và nhượng các dịch vụ tái bảo hiểm của thị trường bảo hiểm ViệtNam và nước ngoài

* Nhận làm đại lý, môi giới về các hoạt động bảo hiểm, tái bảo hiểm

* Tổ chức tiếp nhận và cung cấp thông tin về thị trường bảo hiểm, tái bảohiểm trên thế giới cho các doanh nghiệp trong nước

* Được phép đầu tư vốn theo qui định của nhà nước

* Thông tin tuyên truyền, mở rộng và phát triển kinh doanh bảo hiểm

* Tăng cường các cơ hội tuyển dụng và đào tạo cán bộ bảo hiểm cho cácdoanh nghiệp trong nước

* Được phép vay vốn bằng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ của các ngân hàng

và huy động vốn của các tổ chức kinh tế khác theo qui định của nhà nước khi cầnthiết để phục vụ hoạt động kinh doanh

Trang 5

* Khởi kiện các tranh chấp trong quan hệ với khách hàng trước cơ quan toà

án kinh tế

2.3 Cơ cấu tổ chức.

Bộ máy tổ chức của công ty khá đơn giản, và hiệu quả, ta có thể thấy điềunày qua sơ đồ sau:

Sơ đồ2: Cơ cấu tổ chức của Vinare.

3 TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA CÔNG TY VINARE TỪ KHI THÀNH LẬP CHO TỚI NAY.

3.1 Năng lực nhận tái bảo hiểm.

Hiện nay công ty đang thực hiện việc nhận tái bảo hiểm qua 2 hình thức đólà: Tái bảo hiểm bắt buộc, Tái bảo hiểm tự nguyện từ các công ty trong nước vànhận tái bảo hiểm từ nước ngoài

thuật dầukhí

Phòng nhânthọ

Trang 6

Đối với nhận tái bảo hiểm từ nước ngoài: Do hiện nay công ty còn nhiềuhạn chế như vốn ít, uy tín chưa cao trên thị trường quốc tế nên hình thức này chưa

có tỷ trọng lớn trong tổng thể năng lực nhận tái Tuy nhiên, công ty xác định nhậntái từ thị trường nước ngoài là mục tiêu chiến lược của công ty

Đối với nhận tái trong nước thì ngoài 20% tái bảo hiểm bắt buộc theo quiđịnh của nhà nước, công ty khuyến khích việc tái bảo hiểm tự nguyện Qua nhữngnăm đầu hoạt động thì có thể nói tỷ lệ bắt buộc và tự nguyện là cân bằng nhau.Điều này được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1: Phí nhận tái bảo hiểm trong nước.

Đơn vị: Nghìn USD.

tăng trưởng (%)

3.2 Nhượng tái bảo hiểm.

Với số vốn ít ỏi của mình, trong những năm đầu hoạt động gần nhưVINARE phải nhượng tái phần lớn các đơn bảo hiểm đã nhận được nhằm đảmbảo an toàn cho chính mình, và đây cũng là công cụ để Vinare thực hiện nhiệm

vụ điều tiết thị trường Nếu làm tốt công tác này, không những đảm bảo ổn địnhkinh doanh cho chính mình, công ty còn góp phần đảm bảo an toàn cho kháchhàng Vì vậy công ty luôn chú ý tìm kiếm những nhà tái bảo hiểm có uy tín trên

Trang 7

thế giới để nhượng tái bảo hiểm Ngoài những công ty bảo hiểm ở trong nước,công ty chủ yếu nhượng tái cho Munich Re (đây là công ty luôn được xếp danhsách 10 tập đoàn bảo hiểm lớn nhất trên thế giới nên độ tin cậy gần như tuyệtđối).

3.3 Thu nhập phí và kết quả kinh doanh.

Tổng số phí khai thác được của công ty vẫn tăng hàng năm và ở mức khácao, cụ thể trong các năm ở bảng 2 Với năng lực của mình, công ty đã giữ lại phítái bảo hiểm cho mình ở mức khoảng 30% tổng số phí khai thác được

* Lợi nhuận trước thuế năm 2001 là 14,461 tỷ đồng

* Lợi nhuận trước thuế năm 2002 là 15,521 tỷ đồng

* Lợi nhuận trước thuế dự kiến năm 2003 là 20 tỷ đồng

3.4 Hoạt động đầu tư tài chính.

Từ năm 1995 đến nay, hoạt động đầu tư của công ty đã dược triển khai trêndiện rộng trong tất cả các lĩnh vực: Mua công trái, tín phiếu, kinh doanh bất độngsản, cho vay, góp vốn cổ phần, gửi tiền tại ngân hàng và các tổ chức tín dụng.Tổng thu nhập từ hoạt động đầu tư trong giai đoạn 1995 - 2003 ước đạt trên 55 tỷđồng Kết quả kinh doanh của Vinare được thể hiện ở bảng 2

Bảng 2: Tổng hợp kết quả kinh doanh của Vinare giai đoạn 1998 - 2002

Đơn vị: Triệu VND

Tổng giá trị tài sản 152.895 199.541 237.765 268.127 313.659 356.560 Tổng số phí khai thác 204.447 239.855 240.133 263.140 417.893 530.885 Tổng số phí giữ laị 60.541 62.485 56.835 73.407 75.094 86.373 Các khoản dự phòng

kỹ thuật

44.226 65.564 86.705 116.861 135.598 167.842 Lợi nhuận trước thuế 9.199 11.065 11.704 12.411 14.461 15.521

(Nguồn: Annual Report 1997 - 2002)

Trang 8

Với những thành tích hoạt động kinh doanh nhận, nhượng tái bảo hiểm,điều tiết hỗ trợ thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển, ngay sau 5 năm hoạtđộng, công ty đã vinh dự được nhà nước tặng thưởng huân chương lao độnghạng III, minh chứng vai trò và nhiệm vụ của công ty hiện nay và trong thời giantới là rất cần thiết.

II THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM KỸ THUẬT.

1 THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1994.

Trong chiến tranh, ở Miền Bắc nước ta chỉ có một công ty bảo hiểm trongkhi ở Miền Nam thị trường bảo hiểm lại rất sôi động với khoảng 50 công ty bảohiểm mà hầu hết thuộc sở hữu tư nhân Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giảiphóng, theo qui định của chính phủ thì tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (BảoViệt) là tổ chức bảo hiểm duy nhất được phép hoạt động tại Việt Nam Trongđiều kiện đó, ngành bảo hiểm Việt Nam thực sự không có thành tựu nào đáng kể

Năm 1986, nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sangkinh tế thị trường và các yếu tố của nền kinh tế hàng hoá đã thực sự xuất hiệnvào năm 1989, đó cũng là mốc đánh dấu cho sự phát triển kinh tế nói chung vàcủa ngành bảo hiểm nói riêng Nền kinh tế Việt Nam tăng nhanh, nhiều cơ sở hạtầng được xây dựng, đầu tư nước ngoài ngày càng tăng và tất yếu phải có bảohiểm nhằm đảm bảo an toàn cho nguồn vốn này, tạo môi trường đầu tư an toàn,thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài Bảo hiểm kỹ thuật đã thật sự phát triểndựa vào cơ hội này Đơn bảo hiểm đầu tiên được cấp là bảo hiểm cho đơn bảohiểm lắp đặt (EAR) cho trạm thu phát vệ tinh mặt đất Láng Trung của Bảo Việtvào năm 1988 Kể từ đó đến nay bảo hiểm kỹ thuật Việt Nam đã không ngừngphát triển với nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau, góp phần không nhỏ vào sự

ổn định kinh doanh cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Trong những năm đầu, bảo hiểm kỹ thuật đã có tốc độ phát triển rất cao.Nếu năm 1988 tổng phí là 131.000 USD thì đến năm 1993 tổng phí thu đượckhoảng 2.429.000 USD, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng

Trang 9

78,5% Với tốc độ tăng trưởng như vậy nghiêp vụ này luôn được đánh giá caotrong việc tăng lợi nhuận của Bảo Việt và được thể hiện như bảng 3.

Bảng 3 Tốc độ tăng phí bảo hiểm kỹ thuật của Bảo Việt

(Nguồn: Annual Report of Engineering & Energy Dept)

2 THỜI KỲ SAU NĂM 1994.

Bắt đầu từ năm 1994 thế độc quyền của Bảo Việt đã bị phá vỡ với việc rađời của nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của chính phủ là một loạt nhữngcông ty bảo hiểm khác ra đời, trong đó có cả công ty tái bảo hiểm quốc gia ViệtNam (VinaRe) Vào lúc này thị trường bảo hiểm Việt Nam rất sôi động, đặc biệtcùng với tốc độ tăng nhanh và mạnh của vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là

sự phát triển hết sức nhanh chóng của bảo hiểm Việt Nam mà trong số nhữngnghiệp vụ được coi là phát triển nhanh nhất là bảo hiểm kỹ thuật

Trang 10

Bảng 4: Tốc độ tăng phí bảo hiểm kỹ thuật thời kỳ 1995 - 1998.

(Nguồn: Annual Report of Engineering & Energy Dept)

Trong giai đoạn này bảo hiểm kỹ thuật đã phát triển một cách nhanh chóng Nếunhư năm 1988 phí chỉ có 131.000 USD thì đến năm 1998 đã là hơn 12.800.000USD Điều này càng khẳng định hơn nhận định ở trên về sự phát triển của nghiệp vụtrong những năm đổi mới

III TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG

TY VINARE.

1 CÔNG TÁC NHẬN VÀ NHƯỢNG TÁI BẢO HIỂM

Trang 11

Đối với VinaRe, là một công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp duy nhất ởViệt Nam nên có những thuận lợi nhất định trong công tác nhận tái và nhượng táicủa công ty Thuận lợi đầu tiên đó là các công ty được các công ty bảo hiểm gốctái 20% theo qui định của nhà nước trước khi tái phần còn lại cho các công tykhác, bởi vậy việc thu xếp hợp đồng được thực hiện bằng thương lượng trực tiếp.Hiện nay các công ty bảo hiểm được phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuậtthì hầu hết các công ty đều thu xếp một hợp đồng cố định với Vinare ngay từ khitriển khai nghiệp vụ Như vậy, ngay từ khi công ty bảo hiểm gốc triển khainghiệp vụ thì các cán bộ của Vinare đã chủ động gặp gỡ công ty bảo hiểm gốc để

ký kết hợp đồng

Hiện nay tái bảo hiểm kỹ thuật tại Vinare đang triển khai 2 hình thức là :

Tái theo hợp đồng (Treaty) và tái theo hình thức tạm thời (Facultative) Để có thểhiểu hết được kỹ thuật tái của Vinare trong nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật ta đixem xét từng cách thực hiện tái theo 2 hình thức trên

1.1 Tái bảo hiểm theo hình thức hợp đồng (Treaty).

đi phần tái cho Vinare theo qui định Thông thường, các điều khoản, điều kiệntrong hợp đồng của công ty bảo hiểm gốc với Vinare được định sẵn theo đơn củaMunich Re hoặc Swiss Re Đây là 2 công ty lớn trên thế giới và đã hoạt độngtrên thị trường châu Á từ lâu, sở dĩ cả 2 loại đơn của 2 công ty đều được chấpnhận là vì:

Trang 12

* Các điều khoản, điều kiện của 2 loại đơn này gần như là tương tự nhau,chỉ khác rất ít.

* Cả 2 công ty đều chấp nhận đơn của nhau (nếu một công trình nào đó

mà cấp theo đơn của Munich Re nhưng tái theo hợp đồng cho Swiss Re thì công

ty Swiss vẫn chấp nhận và ngược lại)

Tình hình nhận tái bảo hiểm của nghiệp vụ kỹ thuật trong năm 2003 củaVinare từ các công ty gốc cụ thể như sau:

1 Bảo Việt:

- Hợp đồng của Bảo Việt và Vinare trong năm 2003 chỉ có tái bảo hiểmtheo bắt buộc

20% hợp đồng bắt buộc với mức hoa hồng tái bảo hiểm 26%

Hoa hồng theo lãi 18% (tính theo năm tài chính và chuyển trừ lỗ đến hết)

- Phí tái bảo hiểm cho Vinare ước đạt 418.399 USD

- Tổn thất đã bồi thường: chưa có

- Tổn thất chưa giải quyết: Vinare chưa nhận được thông báo nào về cáctổn thất năm 2003 đến thời điểm này

Trên cơ sở thống kê sơ bộ từ năm 1997 đến nay, hợp đồng tái bảo hiểm kỹthuật của Bảo Việt và Vinare đều có lãi, tỷ lệ tổn thất trung bình trong 7 nămkhoảng 43% Hướng của Vinare là đến năm 2004 vẫn duy trì hợp đồng với BảoViệt và tăng cường quan hệ để có thể tăng tỷ lệ nhận tái tự nguyện của Vinare

2 Bảo Minh.

Trang 13

Từ năm 2003, Vinare nhận được từ Bảo Minh 20% bắt buộc (Không duytrì được hợp đồng nhận tái 20% trong phần giữ lại của Bảo Minh như vài nămtrước đây), hoa hồng theo lãi là 15% và chuyển trừ lỗ đến hết.

- Phí tái bảo hiểm cho Vinare ước đạt: 328.018 USD

- Tổn thất đã bồi thường: 427.000 USD

- Tổn thất chưa giải quyết: Vinare chưa nhận được thông báo nào về cáctổn thất năm 2003 đến thời điểm này

Trên cơ sở thống kê sơ bộ từ năm 1997 đến nay, hợp đồng tái bảo hiểm kỹthuật của Bảo Minh và Vinare đều có lãi, tỷ lệ tổn thất trung bình trong 7 nămhơn 10% (chưa có số liệu thống kê đầy đủ của các tổn thất đối với dự án đường

Hồ Chí Minh)

Hướng trong năm 2004 tới, Vinare sẽ cố gắng thuyết phục Bảo Minh tiếptục duy trì việc tái bảo hiểm cho Vinare như năm 2003

3 PJICO.

- Hợp đồng của Vinare với PJICO bao gồm:

20% bắt buộc với mức hoa hồng tái bảo hiểm theo qui định và hoa hồngtheo lãi 15% (tính theo năm nghiệp vụ và chuyển trừ lỗ đến hết)

30% hợp đồng 1st Surplus, tương ứng với hạn mức trách nhiệm là3.600.000USD và hoa hồng là 30%

100% hợp đồng 2nd Surplus, tương ứng với hạn mức trách nhiệm là12.000.000USD và hoa hồng là 30%

- Phí tái bảo hiểm cho Vinare của các hợp đồng trên ước: 327.482USDtrong đó:

Phần phí nhận hợp đồng 20% bắt buộc là 198.719USD

Phần phí nhận hợp đồng 1st Surplus là 81.630USD

Phần phí nhận hợp đồng 2st Surplus là 47.133USD

Trang 14

Nhìn chung, từ năm 1997 đến nay, cả ba hợp đồng trên đều có lãi, trừ năm

1998 Tỉ lệ tổn thất trung bình hơn 21% ở mức cho phép tiếp tục duy trì việctham gia nhận tái của Vinare

Hướng tới năm 2004 Vinare sẽ cố gắng thuyết phục PJICO tiếp tục duy trì

cơ cấu hợp đồng năm 2004 như năm 2003 vì thị phần của PJICO trong nghiệp vụ

kỹ thuật chiếm tỉ trọng khá cao trong thị trường

4 UIC.

Năm 2003, ngoài 20% tái bảo hiểm bắt buộc UIC tái tự nguyện thêm choVinare 7% với mức hoa hồng áp dụng chung là 27%, giảm 1% so với năm 2002

và không tính hoa hồng theo lãi

- Phí tái bảo hiểm cho Vinare ước 36.049USD

- Phần thực hiện hợp đồng như sau:

Phần phí nhận hợp đồng 20% bắt buộc là 26.703USD

Phần phí nhận hợp đồng là 7% tự nguyện là: 9.346 USD

- Tổn thất đã bồi thường: chưa có

- Tổn thất chưa giải quyết: Vinare chưa nhận được thông báo nào về tổnthất năm 2003 đến thời điểm này

Nhìn chung, từ năm 1998 đến nay, hợp đồng tái bảo hiểm giữa UIC vàVinare đều có lãi Tỷ lệ tổn thất trung bình là 27% Tuy nhiên, trong hai năm gầnđây, lượng phí phát sinh từ hợp đồng này giảm đáng kể trên 70%

Hướng Vinare trong năm 2004 tới sẽ tiếp tục thương lượng với UIC đểduy trì tỷ lệ tái tự nguyện 7% như năm 2003

5 PTI.

Từ năm 1999 đến nay, Vinare hầu như chỉ nhận được 20% hợp đồng bắtbuộc với PTI với mức hoa hồng tái bảo hiểm theo qui định và hoa hồng theo lãi

Trang 15

là 15% (tính theo năm nghiệp vụ và chuyển trừ lỗ đến hết) Phí tái bảo hiểm choVinare từ PTI như sau:

- Phí tái Vinare ước 410.748USD

- Tổn thất đã bồi thường 3.708USD

- Tổn thất chưa giải quyết: Vinare chưa nhận được thông báo nào về cáctổn thất năm 2003 đến thời điểm này

Nhìn chung, doanh thu phí của PTI tương đối lớn và khá ổn định giữa cácnăm vì dịch vụ của PTI hầu hết là các đơn bảo hiểm thiết bị điện tử tái tục hàngnăm Tỷ lệ tổn thất trung bình trong 6 năm kể từ năm 1998 tương đối thấp gần6%

Hướng tới năm 2004 tới, Vinare sẽ cố gắng mở rộng quan hệ trên cơ sởtrao đổi dịch vụ tái bảo hiểm tạm thời qua lại giữa hai công ty để nâng cao phần

tỷ lệ tham gia của Vinare trong các dịch vụ mà PTI khai thác được

6 PVI.

Nhìn chung, các dịch vụ bảo hiểm kỹ thuật của PVI đều có liên quan đếndầu khí và có mức độ rủi ro khá cao nên phần tỷ lệ chấp nhận vào hợp đồng táibảo hiểm giữa PVI và Vinare nhiều khi không đến 20% tái bảo hiểm bắt buộc do

bị chi phối bởi hạn mức trách nhiệm của hợp đồng Phần lớn các dịch vụ kỹ thuậtnày đều tái cho Vinare trên cơ sở tạm thời Mặc dù trong thời gian gần đây, PVI

đã mở rộng phạm vi hoạt động của họ ra ngoài ngành dầu khí và đã giành đượcmột số dịch vụ nhưng với điều khoản, điều kiện mức phí khá cạnh tranh Cụ thểphí tái bảo hiểm cho Vinare từ PVI như sau:

- Phí tái cho Vinare ước 160.558 USD

- Tổn thất đã bồi thường: chưa có

Trang 16

- Tổn thất chưa giải quyết: Vinare chưa nhận được thông báo nào về các tổthất năm 2003 đến thời điểm này.

Nhìn chung, từ năm 1997 đến nay, cả ba hợp đồng trên đều có lãi, trừ năm

1999 với tỷ lệ tổn thất gần 21,5 tỷ lệ tổn thất trung bình trong 7 năm từ 1997khoảng 18%

Hướng tới năm 2004, Vinare duy trì sự hợp tác trên cơ sở hỗ trợ nhận táibảo hiểm tạm thời như đã thực hiện trong thời gian qua.

7 Đối với Bảo Long, BIDV-QBE, A-AGF, VIA, SVI và IAI.

Các công ty trên chiếm tỷ trọng doanh thu phí nghiệp vụ kỹ thuật khônglớn nên trong năm 2004 tới ta vẫn duy trì hợp đồng như năm 2003 và tăng cườngquan hệ để nhận các dịch vụ trên cơ sở tạm thời Tuy nhiên, đối với VIA trongthời gian qua tỷ lệ bảo hiểm của một số công trình là khá thấp Có lẽ tỷ lệ phí đó

có nguồn gốc từ thị trường Nhật vì đại đa số các dịch vụ của VIA đều là các côngtrình/ dự án có vốn đầu tư của Nhật

8 Nhận từ công ty nước ngoài (KRIC).

Trong các năm từ 1998 đến nay Vinare đã tham gia nhận hợp đồng từ công

ty nước ngoài Cụ thể năm 2003, Vinare tham gia 0,6% của hợp đồng 1st Surplus

và 2nd Surplus (12 tháng từ 01/04) với mức trách nhiệm tối đa tương ứng củaVinare trong mỗi hợp đồng là 150.000USD Doanh thu phí của hợp đồng nàytrong năm 2003 khoảng 32.899 USD (1 quí) Tỷ lệ tổn thất trung bình từ năm

1998 đến nay là 25,55% Kết quả trên là tương đối tốt

- Với việc nhận các hợp đồng của nước ngoài, để tăng cường khả năngcũng như quan hệ với các thị trường quốc tế, trong năm 2004 Vinare chủ trươngcho nhận các dịch vụ tạm thời từ các thị trường lân cận đối với các dịch vụ kỹthuật như sau:

Trang 17

50% mức giữ lại của Vinare đối với các dịch vụ tạm thời từ các thịtrường: Asean,Trung quốc, Hàn quốc.

Đối với các dịch vụ hợp đồng cố định thì sẽ tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể

b Cách nhượng tái bảo hiểm hợp đồng Treaty.

Trước đây nếu có một hợp đồng nào của Vinare nhận được đều tái cho tất

cả các công ty mà đã có hợp đồng nhận tái lại của Vinare Tuy nhiên, cách làm đó

tỏ ra không được hợp lý trong điều kiện hiện nay của thị trường Việt Nam và củaVinare vì :

Trong những năm đầu thành lập, các công ty nhà nước đã giúp Vinare rấtnhiều trong việc nhận phần tái đi, trong việc đào tạo, Bởi vậy cách phân chianhư cũ là giới hạn phần trách nhiệm giữ lại là 4 triệu USD, như vậy phần tái ranước ngoài sẽ còn lại rất ít và có thể là không có, và điều này đã cản trở mối quan

hệ hợp tác của Vinare với các công ty nước ngoài

Nếu Vinare nhận được một hợp đồng thì phải chia cho tất cả các công ty

Vì vậy nên khi nhận được một hợp đồng không lớn lắm (đây là hợp đồng chủ yếucủa bảo hiểm kỹ thuật Việt nam) thì các công ty nhận được rất ít

Chính vì thế mà hiện nay công ty đang áp dụng phân chia nhượng tái bằngcách chia công ty nhận dịch vụ nhượng tái trong nước thành 2 nhóm:

Nhóm 1: Bao gồm các công ty Bảo Việt, Bảo Long, PTT, QBE.

Nhóm 2: Bao gồm các công ty Bảo Minh, PJCO, PVIC, UIC, A- AGF.

Nếu như có hợp đồng của nhóm 1 khai thác được thì các thành viên củanhóm 2 đều nhận được phần % của hợp đồng này theo tỷ lệ ký kết trong hợp đồngTreaty (Trừ công ty A - AGF - không ký nhận tái từ Vinare) và ngược lại nếu một

Trang 18

hợp đồng của nhóm 2 nhận được thì các thành viên của nhóm 1 đều nhận được(trừ QBE).

Những công ty trong cùng một nhóm này có các mối liên hệ với nhau nhưđóng góp cổ đông hay góp vốn liên doanh nên thông thường các công ty này đồngbảo hiểm hoặc đã tái tạm thời cho nhau Vì vậy các công ty này không nhận dịch

vụ của nhau thông qua Vinare

Bảng 5: Cấu trúc hợp đồng nhượng tái bảo hiểm năm 2003

Tokyo: 5%

(Nguồn: Annual Report of Egineering & Energy Dept )

1 Hợp đồng nhượng tái bảo hiểm cho thị trường trong nước

Đây là hợp đồng ưu tiên đối với các công ty bảo hiểm trong nước Số phítái cho hợp đồng này chiếm khoảng 50% trong tổng số phí tái của Vinare trongnăm nghiệp vụ 2003

Trong các năm qua hợp đồng này đã được các công ty bảo hiểm trongnước đánh giá cao vì tính đa dạng và số đông của các rủi ro Trên thực tế, có một

Trang 19

số công ty đang nhận được số phí tái từ Vinare còn lớn hơn số phí họ tái choVinare.

Ước phí tái bảo hiểm 2003: 319.000USD

Ước phí tái cho SVI: 196.000USD

Tổng phí tái từ năm 1997 - 2003: 2.700.000USD với tỷ lệ tổn thất trung bình 11,32%

2 Hợp đồng nhượng tái bảo hiểm cho thị trường nước ngoài (2 nd Surplus)

Hợp đồng này được chia cho thị trường quốc tế với Munich Re là leading(65% của 100%) Hoa hồng nhượng tái bảo hiểm là 35%, hao hồng theo lãi là27,5% (tính theo năm nghiệp vụ)

Ước cả năm 800.000 USD

Tổng phí tái từ năm 1997- 2003: 4.632.432USD; tỷ lệ tổn thất trung bình 22,36%

3 Hợp đồng 3 rd Surplus:

Hợp đồng này cũng được thu xếp cho thị trường bảo hiểm quốc tế Công tyđứng đầu nhận tái bảo hiểm là Swiss Re tham gia với tỷ lệ là 70%, Munich Re20%, KRIC 5% và TOKYO M&F 5% với hoa hồng tái bảo hiểm là 32,5% Đây

là hợp đồng Vinare thu xếp thêm để bảo vệ cho các dịch vụ có số tiền bảo hiểmcao vượt quá mức trách nhiệm của hợp đồng 2 nd Surplus Vì vậy phí tái bảo hiểmcho hợp đồng này không lớn, ước năm 2003 chỉ khoảng 55.000 USD

4 Hợp đồng XL (Excess of Loss) bảo vệ MGL (mức giữ lại) của Vinare

Hợp đồng XL được thu xếp thông qua môi giới Benfield với người đứngđầu nhận tái bảo hiểm là Swiss Re 100% Chi tiết cụ thể như sau:

Trang 20

40.000 USD đến 900.000USD cho từng rủi ro (per risk) và cho thảm họa(per event)

Phí đặt cọc tối thiểu: 60.800 USD

Tỷ lệ phí điều chỉnh: 8% trên GNPI (Gross Net Premium Income)

Số lần tái lập trách nhiệm hợp đồng: 3

Cho đến thời điểm này, chưa có tổn thất nào rơi vào trách nhiệm của hợpđồng này Lý do là đặc trưng của nghiệp vụ kỹ thuật có MGL rất cao (300.000USD/dịch vụ cho những rủi ro tốt nhất) song rủi ro tổn thất toàn bộ công trình cóxác suất rất nhỏ và hiếm khi xảy ra Chính vì thế trong năm 2003 mặc dù có nhiềutổn thất phải bồi thường song trách nhiệm cao nhất mà Vinare phải thanh toán là60.800USD

1.2 Tái bảo hiểm theo hình thức tự nguyện (Facultative).

Tái bảo hiểm theo hình thức tự nguyện là rất linh động trong hoạt độngkinh doanh, nó không được thực hiện theo các bước nhất định mà đôi khi nó cóthể làm một cách linh hoạt để đạt hiệu quả cao nhất, bởi vậy trong phần nàychúng ta không xét riêng qui trình nhận tái và nhượng tái mà sẽ xem xét cả quitrình thực hiện của nghiệp vụ

Đối với những đơn được cấp không phải theo đơn của Munich Re haySwiss Re đều phải tái theo hình thức Facultative, thông thường những loại đơnnày sẽ có những điều kiện, điều khoản riêng biệt Các công ty bảo hiểm gốc gửibản đề nghị tái bảo hiểm cho Vinare (Reinsurance place), các yếu tố có thể đượcxem xét là:

* Đối với công ty nhượng

Khi công ty nhận được bản chào tái (hay bản đề nghị tái) thì công ty phảixem xét các khía cạnh như: phải biết rõ khả năng tài chính của công, uy tín của

Trang 21

đội ngũ cán bộ nhân viên của công ty có đảm bảo hay không và từ đó có thể đánhgiá chất lượng của dịch vụ được nhượng Tuy nhiên, đối với Vinare thì nhận táichủ yếu cho các công ty bảo hiểm trong nước, và chỉ có khoảng 10 công ty cóquan hệ tái bảo hiểm cho Vinare nói chung và đối với phòng tái bảo hiểm kỹthuật dầu khí nói riêng.

* Đối với bản thân dịch vụ thì công ty xem xét đến các yếu tố như:

Số tiền bảo hiểm

Vị trí của công trình (có gần sông, biển hay không, vùng có chịu lũ lụtthường xuyên không)

Đặc trưng của công trình: công trình thuộc lĩnh vực nào (hoá chất hay điện)

Nhà thầu chính và các nhà thầu phụ, các đơn vị thi công nào, có đảm bảo

uy tín hay không

Điều kiện, điều khoản của các đơn bảo hiểm, các quy định loại trừ hoặc

mở rộng, tỷ lệ phí áp dụng

Tỷ lệ hoa hồng đề nghị (nếu là phần tái bảo hiểm tự nguyện)

Mức giữ lại của công ty bảo hiểm gốc

Các nhân viên của phòng tái bảo hiểm kỹ thuật sẽ dựa vào các căn cứ đó đểđánh giá rủi ro và đánh giá tổn thất tối đa có thể xảy ra (PML - PossibleMaximum Loss) sau đó xem xét đến việc có nhận tái cho công trình này haykhông

Trong thời gian khoảng hai ngày Vinare phải nhanh chóng liên lạc với cáccông ty có quan hệ với Vinare đề nghị nhận tái Tỉ lệ chào tái như thế nào là tuỳthuộc vào nhận định của các cán bộ phòng tái về công ty này Vinare phải gửi cho

Trang 22

các công ty bản Facisimile Message trong đó trình bày với công ty đó toàn bộ tàiliệu về công trình, sau đó công ty sẽ nhận được một bản confirm của công ty nhậndịch vụ của Vinare để xác nhận về việc có nhận bản Reinsurance place và đối tác

sẽ chấp nhận những gì, bao nhiêu

Đối với các công ty trong nước thông thường Vinare gọi điện liên hệ trướcvới các công ty đó, nếu chấp nhận công ty Vinare sẽ gửi bản chào tái và các thôngtin cần thiết để các công ty này xem xét và sau đó Vinare sẽ gửi bản R/I(Reinsurance) Slip chính thức

Khi đã chào tái xong, Vinare sẽ xác nhận chấp nhận dịch vụ, công tynhượng sẽ phải gửi cho Vinare 2 bản chào tái (R/I Slip) giống nhau Sau khi kiểmtra bản chào tái, nếu không có gì để thảo luận nữa thì công ty sẽ ký vào bản chàotái và gửi lại cho công ty nhượng một bản Bản chào tái này có giá trị như hợpđồng tái bảo hiểm

Việc đề phòng hạn chế tổn thất không chỉ thuộc trách nhiệm người đượcbảo hiểm và công ty bảo hiểm gốc Người nhận tái cũng cần phải chú trọng côngtác đề phòng hạn chế tổn thất Hai khía cạnh khiến cho người nhận tái bảo hiểm

kỹ thuật phải quan tâm đến công tác đề phòng hạn chế tổn thất là:

- Để có biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất hữu hiệu phải đánh giá đượcnhững tiềm năng rủi ro có thể xảy ra Đây là một trong những công việc khó khănnhất trong bảo hiểm kỹ thuật đòi hỏi phải có những chuyên gia có trình độ vàkinh nghiệm Và đây là một trong những lý do công ty bảo hiểm gốc cần tới

Trang 23

người nhận tái Người nhận tái trong nhiều trường hợp phải trực tiếp cùng ngườibảo hiểm đánh giá rủi ro và tư vấn cho người bảo hiểm, người được bảo hiểmcác biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất.

- Kết quả nghiệp vụ tái bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào kết quả của nghiệp

vụ bảo hiểm gốc Người nhận tái và người bảo hiểm cùng chia sẻ rủi ro Như vậyviệc đề phòng hạn chế tổn thất liên quan trực tiếp đến người nhận tái, đặc biệt lànhững dịch vụ mà phần tham gia của người nhận tái lớn

Ở Việt Nam, các công ty bảo hiểm hầu hết mới ra đời nên khả năng thựchiện việc đề phòng hạn chế tổn thất cho các công trình còn rất hạn chế, các công

ty này mới chỉ dừng lại ở việc khai thác dịch vụ còn công việc đề phòng hạn chếtổn thất chủ yếu do các công ty nhận tái đảm nhận

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đề phòng hạn chế tổn thấttrong nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật, Vinare đã rất chú trọng tới công tác này.Công tác đề phòng hạn chế tổn thất được thực hiện dưới các hình thức:

Tư vấn hỗ trợ các công ty bảo hiểm gốc trong việc tăng cường công tác đềphòng hạn chế tổn thất cho các công trình được bảo hiểm

Đối với dịch vụ mà Vinare tham gia nhận tương đối lớn hoặc các dịch vụ

mà công ty là người đứng đầu nhận tái, các cán bộ của công ty phối hợp với cáccán bộ nghiệp vụ của công ty bảo hiểm gốc đến tận công trình để khảo sát đánhgiá rủi ro, từ đó đề xuất các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất mà người đượcbảo hiểm và các công ty bảo hiểm gốc phải thực hiện Chi phí cho những côngviệc như vậy là do Vinare tài trợ

Phối hợp với công ty bảo hiểm gốc hoặc người tham gia bảo hiểm tổ chứccác cuộc hội thảo về bảo hiểm cho các công trình lớn Chi phí cho các biện pháp

đó chiếm tỷ trọng lớn trong mục khoản chi khác (80-85%)

Trang 24

Các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất mà Vinare thực hiện không chỉgóp phần giảm bớt tổn thất mà còn có tác dụng lớn trong việc tuyên truyền chocông ty, nâng cao uy tín của công ty góp phần thắt chặt mối quan hệ với các công

ty bảo hiểm gốc

3 CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG.

Bồi thường là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động bảo hiểmnhằm khôi phục lại tình trạng tài chính ban đầu của người được bảo hiểm trongtrường hợp xảy ra tổn thất Bồi thường là một tiêu chuẩn đánh giá chất lượng dịch

vụ cũng như uy tín của người bảo hiểm Trước khi bồi thường thì cần thiết phảithực hiện giám định nhằm bảo đảm việc bồi thường chính xác, thoả đáng

Trong nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật ở Vinare việc bồi thường được thựchiện theo qui định sau:

Công ty sẽ bồi thường cho người bảo hiểm theo phần trách nhiệm đã quiđịnh toàn bộ số tiền bồi thường mà công ty nhượng đã trả cho người được bảohiểm và tất cả các chi phí phát sinh trong giải quyết bồi thường, tất nhiên loại trừlương và các khoản trả theo lương cho công nhân viên và các chi phí quản lý nội

bộ Công ty có quyền nhận một phần các khoản bồi hoàn và các khoản có thể thuhồi được

Đối với hợp đồng cố định (Treaty).

Khoản bồi thường thuộc trách nhiệm của Vinare như quy định trên sẽđược ghi nợ vào bảng thanh toán, đồng thời ghi vào bảng kê bồi thường (LossBorderaux) và sẽ được thanh toán định kỳ theo quy định trong hợp đồng nhượngthường là theo quý

Trong trường hợp tổn thất vượt quá số tiền qui định trong hợp đồng tái bảohiểm (Cash- Loss Limit) thường quy định là 50.000USD công ty bảo hiểm gốc cóthể yêu cầu Vinare thanh toán ngay mà không cần đợi đến định kỳ Trong trườnghợp đó công ty nhượng phải:

Trang 25

- Thông báo ngay cho Vinare khi thiệt hại xảy ra Sau đó Vinare có thểcùng với công ty bảo hiểm giải quyết khiếu lại Thông thường Vinare cử một đạidiện tham gia vào việc này với chi phí riêng của công ty.

- Gửi thông báo tổn thất và biên bản giám định kèm theo nhằm chứng minhcho sự cần thiết phải thanh toán ngay

- Các thông tin, bảng kê phải thanh toán về các rủi ro của công ty bảo hiểmtheo như đã thoả thuận phải đến tay Vinare đầy đủ, đúng hạn

Đối với hợp đồng tạm thời (Faculative).

- Khi xảy ra tổn thất nhất thiết phải thông báo ngay cho Vinare bằng cáchnhanh nhất có thể Vinare sẽ trực tiếp tham gia giải quyết bồi thường trong các vụtổn thất lớn nhất

- Tài liệu phải có khi yêu cầu Vinare thanh toán bồi thường là thông báo tổn thất, biên bản giám định

Để đánh giá toàn diện công tác giải quyết bồi thường của Vinare nghiệp vụtái bảo hiểm kỹ thuật cần xem xét cụ thể tình hình hàng năm Số liệu thống kê tổnthất của Vinare nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật trong các năm như bảng 6

Bảng 6: Số liệu thống kê tổn thất nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật.

Ngày đăng: 07/11/2013, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phí nhận tái bảo hiểm trong nước. - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 1 Phí nhận tái bảo hiểm trong nước (Trang 6)
Bảng 2: Tổng hợp kết quả kinh doanh của Vinare giai đoạn 1998 - 2002 - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 2 Tổng hợp kết quả kinh doanh của Vinare giai đoạn 1998 - 2002 (Trang 7)
Bảng 3. Tốc độ tăng phí bảo hiểm kỹ thuật của Bảo Việt - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 3. Tốc độ tăng phí bảo hiểm kỹ thuật của Bảo Việt (Trang 9)
Bảng 4: Tốc độ tăng phí bảo hiểm kỹ thuật thời kỳ 1995 - 1998. - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 4 Tốc độ tăng phí bảo hiểm kỹ thuật thời kỳ 1995 - 1998 (Trang 10)
Bảng 5: Cấu trúc hợp đồng nhượng tái bảo hiểm năm 2003 - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 5 Cấu trúc hợp đồng nhượng tái bảo hiểm năm 2003 (Trang 18)
Bảng 6: Số liệu thống kê tổn thất nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật. - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 6 Số liệu thống kê tổn thất nghiệp vụ tái bảo hiểm kỹ thuật (Trang 25)
Bảng 7: Cơ cấu doanh thu phí nhận tái bảo hiểm kỹ thuật theo hình thức bắt - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 7 Cơ cấu doanh thu phí nhận tái bảo hiểm kỹ thuật theo hình thức bắt (Trang 28)
Bảng 11: Tình hình chuyển nhượng tái bảo hiểm kỹ thuật trong nước - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 11 Tình hình chuyển nhượng tái bảo hiểm kỹ thuật trong nước (Trang 38)
Bảng 12:  Tình hình chuyển nhượng tái bảo hiểm kỹ thuật ra nước ngoài - THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM KỸ THUẬT TẠI CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM
Bảng 12 Tình hình chuyển nhượng tái bảo hiểm kỹ thuật ra nước ngoài (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w