1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”

71 581 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản Giai Đoạn 1986 Đến Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển
Tác giả Bùi Quang Sắc
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Đặng Thị Lan
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Ngoại Thương
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 636 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy hai nước đitheo hai chế độ khác nhau Nhật Bản dựa trên chế độ quân chủ lập hiến –Việt Nam đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, mặc dù có những ảnh hưởng củavấn đề chính trị mà quan hệ th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

-

-KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN

GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

Giáo viên hướng dẫn: THẠC SĨ ĐẶNG THỊ LAN

Sinh viên thực hiện: BÙI QUANG SẮC

Hà Nội - 2003

Trang 2

L I NÓI ỜI NÓI ĐẦU ĐẦU 3 U

CH ƯƠNG I NG I 5

I KHÁI QUÁT V NH T B N Ề NHẬT BẢN ẬT BẢN ẢN 5

II L CH S PH T TRI N V T M QUAN TR NG C A VI C M R NG QUAN H ỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ Ử PHÁT TRIỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ÁT TRIỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ À TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ẦU ỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ Ở RỘNG QUAN HỆ ỘNG QUAN HỆ ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ TH ƯƠNG I NG M I VI T NAM - NH T B N ẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ẬT BẢN ẢN 14

CH ƯƠNG I NG II 20

I NH NG NHÂN T KHÁCH QUAN VÀ CH QUAN THÚC Ố KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT Ủ QUAN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT Y QUAN H TH Ệ THƯƠNG MẠI VIỆT ƯƠNG MẠI VIỆT NG M I VI T ẠI VIỆT Ệ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – NH T B N ẬT BẢN ẢN 20

ii TÌNH HÌNH XU T NH P KH U C A VI T NAM VÀ NH T B N ẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN ẬT BẢN ẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT Ủ QUAN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT Ệ THƯƠNG MẠI VIỆT ẬT BẢN ẢN 22

Nh p kh u ập khẩu ẩu 24

T l so v i n m tr ỷ lệ so với năm trước (%) ệ so với năm trước (%) ới năm trước (%) ăm trước (%) ưới năm trước (%) c (%) 24

Cán cân m u d ch ập khẩu ịch 24

STT 45

Lo i khác ại khác 46

STT 47

Tên h ng àng 47

III ÁNH GIÁ TH C TR NG C A M I QUAN H TH Đ ỰC TRẠNG CỦA MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI ẠI VIỆT Ủ QUAN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT Ố KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT Ệ THƯƠNG MẠI VIỆT ƯƠNG MẠI VIỆT NG M I ẠI VIỆT .49

CH ƯƠNG I NG III 55

I TRI N V NG C A TRAO ỂN VỌNG CỦA TRAO ĐỔI MẬU DỊCH ỌNG CỦA TRAO ĐỔI MẬU DỊCH Ủ QUAN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT ĐỔI MẬU DỊCH I M U D CH ẬT BẢN ỊCH 55

II C C GI I PH P CH Y U TH C ÁT TRIỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ẢN ÁT TRIỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ẾU THÚC ĐẨY MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN ÚC ĐẨY MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN ĐẨY MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN Y M I QUAN H VI T NAM - NH T B N ỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ẬT BẢN ẢN 63

K T LU N ẾU THÚC ĐẨY MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN ẬT BẢN 70

DANH M C T I LI U THAM KH O ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO À TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ẢN 72

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Nhật Bản là một quốc gia nằm trong khu vực Châu á Thái BìnhDương, hai nước có những điểm tương đồng, đều là những nước nôngnghiệp trồng lúa, nhân sinh quan và thế giới quan có nhiều ảnh hưởng củađạo phật và nho giáo Đều có dân số khá đông sống trên một diện tích hẹp.Giữa Việt Nam và Nhật Bản đã có lịch sử buôn bán lâu đời Tuy hai nước đitheo hai chế độ khác nhau (Nhật Bản dựa trên chế độ quân chủ lập hiến –Việt Nam đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa), mặc dù có những ảnh hưởng củavấn đề chính trị mà quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản đã cólúc phải tiến hành một cách không chính thức nhưng vẫn duy trì và có xuhướng phát triển Đặc biệt, ngày nay khi những cản trở về chính trị khôngcòn nữa thì quan hệ thương mại giữa hai nước càng có cơ hội phát triển hơnbao giờ hết

Với truyền thống dân tộc cùng với sự nhạy cảm trước xu thế của thờiđại trong những thập kỷ qua, là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiênnhiên này đã khẳng định vị trí của mình trước thế giới Nhật Bản đã trởthành một quốc gia với nền công nghiệp và kinh tế phát triển, có những giaiđoạn sự tăng trưởng kinh tế vượt mức tương đối Từ năm 1999 đến nay NhậtBản tiếp tục giữ vị trí là nước có tiềm năng lớn thứ 2 trên thế giới về kinh tế

và tài chính

Quan hệ thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam đã đạt được nhiềuthành tựu và có nhiều hứa hẹn phát triển trội đối với cả hai phía Đẩy mạnhquan hệ với Nhật Bản, Việt Nam có cơ hội tăng thêm vốn công nghệ và kinhnghiệm quản lý, đồng thời Nhật Bản có thể tăng khối lượng hàng nông, lâm ,thủy sản và hàng nguyên liệu mua từ Việt Nam Tiềm năng phát triển kinh tếcủa cả hai nước là rất lớn Vì vậy mà việc nghiên cứu quan hệ thương mại

Trang 4

Việt - Nhật để đề ra những biện pháp thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hainước là vấn đề rất quan trọng và cần thiết trong xây dựng cũng như thựchiện các chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam.

Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất của Việt Nam Trước một đối tác có

vị trí và tiềm lực kinh và có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tếkhông những nước ta mà cả các nước trên thế giới, các hoạt động đối ngoạiViệt Nam - Nhật Bản hết sức có ý nghĩa Quan hệ giữa Nhật Bản và ViệtNam đã - đang và sẽ tiếp tục được củng cố với quan tâm ở mức cao nhất đểphục vụ cho công cuộc xây dựng và đổi mới của đất nước ta

Là một sinh viên khoa “Kinh Tế Ngoại Thương” của trường Đại HọcNgoại Thương nhận thức được tầm quan trọng của Nhật Bản đối với nềnngoại thương của các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng

Sau một thời gian tìm hiểu em quyết định chọn đề tài “Quan Hệ Thương

Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay” cho khoá luận tốt

nghiệp của mình Là một sinh viên chưa có kinh nghiệm thực tế, trình độ lýluận chưa sâu nên khoá luận không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em rấtmong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và bạn bè để em hoàn thànhtốt khóa luận này

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Thạc sĩ ĐặngThị Lan cùng với các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế Ngoại thương trườngĐại Học Ngoại Thưong

Hà nội, tháng 5 năm 2003

Bùi Quang Sắc

Trang 5

Nhật Bản bao gồm 4 đảo lớn: Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku(xếp theo thứ tự đảo lớn nhất đến đảo bé nhất - nhiều dãy đảo và khoảng

3900 đảo nhỏ

b Khí hậu

Các đảo Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hoà và ở cực Đông Bắccủa khí hậu gió mùa chạy từ Nhật Bản qua bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc,Đông Nam á đến tận Ân Độ Khí hậu nói chung ôn hoà mặc dù rất khácnhau giữa các miền chủ yếu do dòng khí hậu lục địa thổi từ phía tây bắc chi

Trang 6

phối khí hậu mùa đông và các dòng khí lưu đại dương thổi từ phía đôngnam chi phối khí hậu mùa hè.

Ở hầu hết các miền Nhật Bản đều có 4 mùa rõ rệt Mùa hè ấm và ẩmbắt đầu từ khoảng giữa tháng 7 Trước đó là mùa mưa kéo dài khoảng mộttháng, trừ đảo Hokkaido đảo lớn phía cực bắc hầu như không có mưa

c Địa hình

Địa hình phức tạp của Nhật Bản khác hẳn với khí hậu ôn hoà của nó.Các đảo Nhật Bản là một phần các dãy núi dài chạy từ Đông Nam á đến tậnAlaska Điều này tạo cho nước Nhật một bờ biển dài nhiều núi đá với nhiềuhải cảng nhỏ nhưng tuyệt vời Nó cũng tạo ra rất nhiều vùng núi có thunglũng, các con sông chảy xiết và các hồ nước trong Theo điều tra của việnđịa lý thuộc bộ xây dựng của Nhật Bản năm 1972, núi chiếm khoảng 71%tổng diện tích Nhật Bản Hơn 532 ngọn núi trong số này cao hơn 200 m sovới mực nước biển trong đó Phú Sĩ là cao nhất tới 3776 m

2 Hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị Nhật Bản dựa trên quân chủ lập hiến, đứng đầu làNhật Hoàng Thế nhưng thực tế Nhật Hoàng không có quyền lực gì vớichính phủ, người chỉ tham gia những hoạt động của nhà nước trong khuônkhổ luật pháp quy định

a Lập pháp

Nền chính trị Nhật Bản dựa theo chế độ các Nghị viện Nghị viện là

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là tổ chưc lập pháp duy nhất ở NhậtBản

Trang 7

Nghị viện bao gồm: Hạ nghị viện (512 ghế ), Thượng nghị viện (252ghế) Hạ nghị viện có quyền đưa ra quyết định tín nhiệm hay không tínnhiệm nội các, đây là quyền lực quan trọng nhất của Hạ nghị viện Trong khi

đó Thượng nghị viện không có quền như vậy

b Hành pháp

Quyền hành pháp được giao cho nội các Chính phủ Nội các Chínhphủ bao gồm Thủ tướng Chính phủ và không quá 20 Bộ trưởng chịu tráchnhiệm tập thể trước nghị viện Thủ tướng là người được Nghị viện bổ nhiệm

và phải là thành viên nghị viện Thủ tướng có quyền bổ nhiệm hay bãi miễnquyền của các Bộ trưởng Tất cả các Bộ trưởng phải là dân sự và phần lớntrong số bộ phải là nghị viện Nếu Hạ nghị viện thông qua quyết định bất tínnhiệm chính phủ thì Nội các phải từ chức trong vòng 10 ngày trừ khi Hạnghị viện giải tán

c Toà án

Ngành toà án hoàn toàn độc lập với các cơ quan hành pháp và lậppháp, bao gồm toà án tối cao, 8 toà án cấp cao, 1 toà án khu vực ở mỗi tỉnh(trừ Hokaido có 4 toà án khu vực) và nhiều toà án cơ sở Ngoài ra còn rấtnhiều toà án gia đình để xét xử các vụ tranh chấp trong gia đình

3 Chính sách đối ngoại

Lập trường trong chính sách đối ngoại cơ bản của Nhật Bản là đónggóp cho hoà bình và thịnh vượng của thế giới, đồng thời bảo đảm nền anninh và hạnh phúc của mình với phương châm kiên định là một thành viêncủa thế giới tự do và là một nước trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương,Nhật Bản có mối quan hệ gắn bó về địa lý, kinh tế, lịch sử, văn hoá Những

Trang 8

năm qua, quan hệ của Nhật Bản với các nước xung quanh trở nên gần gũi và

mở rộng hơn, ngày càng có nhiều công ty của Nhật Bản đặt văn phòng và cơ

sở tại các nươc trong khu vực, tăng cường các nước trong khu vực

4 Những thành tựu của nền kinh tế Nhật Bản hiện nay.

Trước năm 1990, Nhật là nước đông dân với tỷ lệ tăng dân số là 4%/năm.Tuổi thọ trung bình của người Nhật ngày càng tăng và do vậy tỷ lệngười già ngày càng cao

Dân cư tập trung 90% tại các thành phố lớn và đồng bằng ven biển, cóhơn 10 thành phố dân số hơn 1 triệu Quá trình đô thị hoá tạo ra các đô thịkhổng lồ như dải đô thị kéo dài từ Tokyo đến Fukuoka gồm 30 triệu dân

Từ những năm 50 trở đi, mức sống của người dân Nhật Bản tăng lênnhanh chóng Với dân số 125 triệu người, khoảng 75% trong số hơn 40 triệugia đình ở Nhật thì 30,5 triệu gia đình có xe hơi riêng (1999) GDP của Nhậtnăm 2001 là 2972,5 tỷ USD, du lịch ra nước ngoài của người dân Nhật Bảntrở thành biểu tượng của mức sống cao

a Những chính sách dẫn đến sự tăng trưởng kỳ diệu của nền kinh tế Nhật Bản.

Phục hồi nền kinh tế thông qua việc đầu tư vào các ngành then chốt.Người ta cho rằng nguyên nhân thành công trong việc phục hồi kinh tế củaNhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai là việc Chính phủ Nhật Bản ưutiên đầu tư cho ngành năng lượng, đặc biệt là ngành than Nhật Bản không

có dầu mỏ lại bị chiến tranh tàn phá nên các ngành công nghiệp thiếu ngoại

tệ để nhập vật tư nguyên liệu Vì thế việc bảo đảm cho các ngành khôi phụcsản xuất dựa vào khai thác than trong nước là điều không thể thiếu được.Công việc này được tiến hành một cách thuận lợi nhờ có sự trợ giúp của

Trang 9

Chính phủ về tiền vốn Có thể đây chính là động lực cho sự khôi phục cácngành công nghiệp chế tạo khác.

b Nhập công nghệ từ nước ngoài.

Sau chiến tranh, điều không thể thiếu đối với sự phát triển của ngànhcông nghiệp ở Nhật Bản chính là việc tích cực nhập khẩu kỹ thuật, côngnghệ đặc biệt trong lĩnh vực luyện kim ô tô, máy tính, các nước tiên tiếncũng tích cực cung cấp kỹ thuật cho Nhật Giới công nghiệp Nhật Bản bằng

kỹ thuật công nghiệp nhập từ các công ty Âu Mỹ đã sản xuất và bán hàngloạt sản phẩm công nghiệp ra thị trường Nhật Bản, rồi phát triển đến giaiđoạn xuất khẩu những sản phẩm dư thừa ra thị trường nước ngoài

c Chính sách phát triển các ngành công nghiệp

Chính phủ Nhật Bản tiến hành bảo hộ các ngành công nghiệp thôngqua thuế nhập khẩu cao, hạn chế số lượng nhập khẩu, quy về đầu tư, đồngthời cũng chọn những ngành cần phải ưu tiên đầu tư phát triển mạnh mangtính chiến lược trợ giúp một số vốn, hỗ trợ các ngành công nghiệp phát triển.Mặt khác, khi thấy một số ngành công nghiệp nào đó đã qua thời kỳ cựcthịnh thì Chính phủ sẽ trợ cấp tiền thúc đẩy việc loại bỏ thiết bị cũ và tiến tớichuyển đổi ngành nghề Tiêu biểu cho cách làm thứ nhất là công nghiệp máytính, còn cách thứ hai là ngành công nghiệp dệt Cả hai ngành này đều lànhững thực tế thành công đáng tham khảo trong việc nuôi dưỡng, phát triển

cơ cấu ngành dưới sự chỉ đạo sát sao của chính phủ

d Nét đặc trưng của kinh tế Nhật Bản từ những năm 80 đến những năm

90 sự tăng trưởng cao khác thường của nền kinh tế và tiếp đó là sự suy thoáikéo dài do sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng

Trang 10

Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra các biện pháp kích thích tăng trưởngbằng cách hạ lãi suất, coi đó là phương pháp để thoát ra khỏi cuộc khủngkhoảng kinh tế kéo dài Ngoài ra còn thông qua các dự án đầu tư cho cácngành công nghiệp khổng lồ để kích thích nhu cầu vào việc thu lợi nhuậncho toàn bộ nền công nghiệp Nhưng điều người ta trông đợi không phải lànhững biện pháp thời đó mà là làm cho nền kinh tế Nhật Bản trở nên sốngđộng bằng việc nới lỏng các quy chế Mục đích của việc nới lỏng quy chếnày là thông qua việc thay đổi các luật lệ của nền kinh tế Nhật Bản để thực

sự tạo ra một cơ cấu mới của nền kinh tế đó

Việc diễn ra cạnh tranh gay gắt ở trong nước có sự nới lỏng quy chế

có vẻ là một diễn tập cho một cuộc cạnh tranh với nước ngoài, thúc đẩy cáchãng phát triển năng lực của chính mình

Hướng đi của nền công nghiệp Nhật Bản từ sau năm 1990 kinh tếNhật Bản có sự thay đổi về cơ cấu Đến năm 1980 kinh tế Nhật Bản đã hoàntoàn đạt tới sự lý tưởng của một xã hội công nghiệp, kết quả là đồng yên đãlên giá, các ngành công nghiệp không có khả năng cạnh tranh tương đối đãquyết định ngừng hoạt động và chuyển sang khu vực đang phát triển ở Châu

á Họ nhận rằng trung tâm công nghiệp không còn ở Nhật nữa mà là khu vựcChâu á

e Những thành tựu của nền kinh tế Nhật Bản.

Công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới Trong các ngành công nghiệphiện đại, Nhật hầu như có mặt ở tất cả các lĩnh vực mà điều kiện thiên nhiênkhông ưu đãi, Nhật có sản lượng công nghiệp đứng thứ ba trên thế giới sau

Mỹ và Liên xô cũ Trong ngành luyện kim Nhật đứng đầu về sản xuất thép,thứ nhì về sản lượng nhôm, đồng kẽm Nhật cũng đứng thứ nhì thế giới vềcác ngành hoá dầu và cao su tổng hợp, thứ ba về xi măng Công nghiệp cơkhí là ngành quan trọng nhất trong nền kinh tế Nhật Bản Sản phẩm của

Trang 11

ngành này rất đa dạng, quan trọng hơn là cả mặt hàng tàu biển, ô tô và thiết

bị điện tử Một lĩnh vực mũi nhọn khác của nền công nghiệp Nhật Bản làcông nghiệp xây dựng các công trình công cộng (chiếm 20% tổng sản phẩmquốc dân)

Bên cạnh các ngành công nghiệp hiện đại, các ngành truyền thống vẫnđược duy trì và phát triển như công nghiệp dệt, sợi bông tơ tằm Nhật Bản cóngành nông nghiệp thâm canh, có hiệu quả cao tuy chưa đáp ứng được nhucầu trong nước

Trong một thời gian dài, Nhật đã duy trì được vị trí của mình như nềnkinh tế lớn thứ hai trên thế giới Theo báo cáo các tài khoản quốc gia năm

1992 của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và những thống kêcủa Cục kế hoạch kinh tế, tổng sản phẩm quốc dân của Nhật năm 2001 là2972,5 tỷ USD, đứng thứ hai sau Mỹ (5400tỷ USD) Tổng sản phẩm quốcdân tính theo đầu người của Nhật Bản đứng thứ ba trong số 24 nước thànhviên OECD năm 1988 và1989, nhưng năm 1990 tụt xuống vị trí thứ 7 Tuynhiên Nhật Bản vẫn tiếp tục có tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu ngườicao nhất trong số các nước thuộc nhóm bảy nước công nghiệp phát triển(G7) từ năm 1986 Về tài sản thuần ở nước ngoài, Nhật Bản đứng thứ nhấtvào năm 1985 Nhật Bản đã bị Đức vượt qua vào cuối năm 1990, song đãgiành được vị trí của mình vào cuối năm 1991 với 383 tỷ USD

5 Văn hoá - giáo dục

Trang 12

khoảng 155.000 tín đồ bao gồm cả những người cư trú tạm thời trên đấtnước.

Đạo gốc của Nhật Bản là Thần đạo, có nguồn gốc từ thuyết vật linhthiêng của người Nhật cổ Thần đạo phát triển thành tôn giáo của cộng đồngvới những miếu thờ gia thần và các vị thần hộ mệnh của địa phương Người

ta cũng thờ các vị anh hùng và thủ lĩnh xuất chúng của cộng đồng qua nhiềuthế hệ và thờ cúng hương hồn tổ tiên

b Giáo dục

Hệ thống giáo dục được phân thành 5 giai đoạn: vườn trẻ (từ 1 đến 3năm), tiểu học (6 năm), trung học bậc thấp (3 năm) và trung học bậc cao (3năm), đại học (thông thường là 4 năm) Còn có các trường cao đẳng với cáckhoá học 2 hoặc 3 năm Ngoài ra còn nhiều trường học mở các khoá nângcao sau đại học

Giáo dục phổ cập miễn phí cho các em từ 6-15 tuổi Tuy vậy tuyệt đại

đa số học sinh học hết trường trung học bậc thấp đều tiếp tục học lên vàtrong thực tế các trường trung học bậc cao hiện đã trở thành bộ phận cơ bảncủa hệ thống giáo dục trẻ em

1 Nhật Bản trong tương lai

50 năm sau chiến tranh thế giới thứ II xã hội Nhật Bản đã hoàn toàntăng trưởng cao về kinh tế, trong nước có mạng lưới vận chuyển hiện đại,nhiều phụ nữ tham gia công tác xã hội, số gia đình ít con ngày càng tăng,xây dựng nhiều khu nhà ở nông thôn, tiến hành đô thị hoá và đời sống ănuống cũng đã được quốc tế hoá Thu nhập tăng, tạo điều kiện cho hoạt độnggiải trí thêm đa dạng, đặc biệt trào lưu du lịch ra nước ngoài đã thâm nhập

Trang 13

vào cuộc sống của người Nhật Bản Nói một cách ngắn gọn, kinh tế phongphú kéo theo nhiều sự thay đổi trong lối sống và đời sống văn hóa.

Bước vào thế kỷ 21, Nhật Bản sẽ xây dựng một xã hội và một quốcgia như thế nào? Cơ quan chính phủ cũng như Hội đồng kinh tế Nhật Bản đãphác thảo ra hai hướng phát triển: xây dựng một xã hội mới phát triển vềkinh tế và áp dụng kỹ thuật thông tin đã phát triển ở mức cao để xây dựngmột xã hội hoàn toàn mới, khác khẳn với xã hội hiện đại, chưa từng có tronglịch sử nhân loại Xây dựng được xã hội mới phát triển kinh tế bằng côngnghiệp hiện đại, trong đó chủ yếu các công ty lớn góp phần đưa Nhật Bảntiến lên Ngược lại, ngày càng có nhiều công ty nhỏ nắm giữ kỹ thuật tiêntiến, có khả năng đổi mới trên nhiều phương diện ra đời, những công ty nàylàm chuyển hướng cơ cấu công nghiệp của Nhật Bản Loại công ty nhỏ nắm

kỹ thuật tiên tiến và tập thể các công ty có sức mạnh phá vỡ khuôn khổ cũ,

mở cửa ra ngành nghề mới nhờ kỹ thuật phát triển hàng hoá, khai thác thịtrường, tạo dựng một phương thức kinh doanh mới sử dụng mạng máy tính

Sau thời kỳ kinh tế ổn định thập kỷ 80, Nhật Bản đã khôi phục và lạitiếp tục phát triển vào những năm 90 Nguồn động lực cho sự đi lên đó chính

là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực mới có sử dụng kỹ thuật thông tin.Nhóm công ty nhỏ nắm kỹ thuật tiên tiến sáng tạo ra công ty mới, hàng hoádịch vụ mới, cơ cấu theo kiểu mạng giúp cho mọi ý kiến có thể truyền đạtnhanh chóng chứ không có cơ cấu kim tự tháp khổng lồ Kết quả ngành côngnghiệp Nhật Bản có thể sản xuất các loại hàng hoá, dịch vụ có chất lượngcao, chi phí thấp, phục hồi khả năng cạnh tranh quốc tế

Hiện nay, “chế độ phát triển các công ty nhỏ nắm kỹ thuật tiên tiến”

đã được thiết lập để thực hiện tốt việc huy động vốn giúp các công ty vừa vànhỏ có thể triển khai công việc, đồng thời đang nghiên cứu theo hướng nớilỏng hàng loạt qui chế đang kìm hãm hoạt động tự do trên mọi mặt của xã

Trang 14

hội Nhật Bản Nới lỏng qui chế, hình thành nên một xã hội mới trong thời kỳtiếp theo của Nhật Bản.

Sự vận động của xã hội Nhật Bản đến nay đã tạo điều kiện thuận lợi

để chuyển hướng cơ cấu công nghiệp trong thế kỷ 21 Một trong số nhữngngành nghề mới là sản xuất hàng hoá mới, dịch vụ mới đem lại cuộc sốngthảnh thơi, mạng lưới vận tải hiện đại, đời sống ăn uống chuyển hướng quốc

tế hoá, xu hướng giải trí, tất cả những nhân tố này đã thúc đẩy phương phápngành nghề mới, tạo ta nhu cầu mới Có nhu cầu, sẽ có cơ hội sản sinh ra vàphát triển đa dạng hoá ngành nghề mới

Việc xây dựng một Nhật Bản mới dựa vào hệ thống thông tin sẽ thực

sự xảy ra vào thế kỷ 21 Sự thay đổi trong 50 năm sau chiến tranh thế giớithứ II sau khúc dạo đầu hướng tới một xã hội mới tiếp theo của Nhật Bản.Nền kinh tế công nghiệp và xã hội Nhật Bản đang thay đổi

II L CH S PH T TRI N V T M QUAN TR NG C A VI C ỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ Ử PHÁT TRIỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ÁT TRIỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỂN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ À TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ẦU ỌNG CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ

M R NG QUAN H TH Ở RỘNG QUAN HỆ ỘNG QUAN HỆ ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ƯƠNG I NG M I VI T NAM - NH T B N ẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN ỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ ẬT BẢN ẢN

1 Lịch sử phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản

Lịch sử quan hệ thương mại Việt – Nhật bắt đầu từ khá sớm Vào thế

kỷ 16 và nửa đầu thế kỷ 17 trong số 543 giấp phép mà chính quyềnTokugawa cấp cho thuyền Nhật Bản đi buôn bán với các nước có 331 giấyphép đến Đông Nam Á trong đó riêng đến Việt Nam có 130 giấy phép Kếtquả là ở Việt Nam đã hình thành địa điểm buôn bán lớn của người Nhật nhưHội An ở đàng trong và Phố Hiến ở đàng ngoài Ở Hội An vào đầu thế kỷ

XV đến thế kỷ XVII, thời đó cũng có khu phố của người Nhật với khoảng

1000 người sống ở đó Hiện nay ở Hội An vẫn còn dấu tích bằng chứng chothấy sự có mặt của người Nhật ở Việt Nam là chiếc cầu “Nihon Bashi” vàkhu phố cổ mang kiến trúc của người Nhật Thời gian này Nhật xuất sangViệt Nam vàng, bạc, tiền đồng, gươm đao, mành xếp, quạt xếp… Còn Nhật

Trang 15

lại lấy tơ tằm, san hô, da hươu, ngà voi từ Việt Nam về Tuy nhiên hoạt độngbuôn bán trong thời kỳ này còn hết sức nhỏ bé, chủ yếu là do các thươngnhân Nhật Bản chủ động tiến hành Quá trình này chấm dứt vào năm 1636 vìchính quyền Nhật không cấp cho xuất dương và những người Nhật đi khỏinước không được hồi hương.

Từ cuối thế kỷ XVII, do chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu suyvong, chiến tranh và nội chiến liên miên nên quan hệ giao lưu giữa hai nước

bị ngừng trệ Sau khi thực dân pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam, quan hệViệt - Nhật không còn là mối quan hệ giữa hai quốc gia độc lập mà thực chất

là quan hệ giữa Nhật Bản với Pháp cai trị ở Việt Nam Dĩ nhiên quan hệgiữa hai nước vẫn được duy trì nhưng nội dung và tính chất đã biến đổi

Đầu thế kỷ XX, khi Nhật Bản trở thành cường quốc và chiến thắngNga trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905) ảnh hưởng của Nhật gia tăngmạnh mẽ đối với các quốc gia nhược tiểu ở Châu á Phong trào Đông du doPhan Bội Châu đề xướng bắt đầu Số học sinh du học sinh viên Việt Namlên đến 200 người (1908) trong đó 4 người được chính phủ Nhật đài thọhoàn toàn, nhưng về sau do muốn duy trì quan hệ tốt với Pháp Chính phủNhật đã trục xuất các du học sinh yêu nước Việt Nam Quan hệ buôn bángiữa Nhật Bản và Đông Dương thuộc pháp tăng lên trong những năm 1930 -

1942 Nếu năm 1930 tỷ lệ buôn bán của Nhật với Đông Dương chỉ chiếmkhoảng 1,3% thì đến năm 1942 đã tăng vượt lên 13,5%

Từ năm 1943 trở đi hoạt động thương mại Việt Nam - Nhật Bản giảmhẳn Nguyên nhân do tình hình chính trị thế giới lúc đó đang có biến độngmạnh mẽ, thế lực phát xít đang yếu dần và tan rã Thêm vào đó tháng 8 năm

1945 cuộc cách mạng đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật thành công,chính quyền thuộc về tay nhân dân Việt Nam, Phát xít Nhật đã đầu hàng vàrời khỏi Việt Nam Sự ra đi này đồng nghĩa với sự chấm dứt thời kỳ hoàng

Trang 16

kim của quan hệ thương mại Việt - Nhật kiểu thuộc địa Mặc dù phát xítNhật bị bại trận, nhưng các nhà tư bản lớn không dễ gì rời bỏ một thị trườngrất tiềm năng cho sự phát triển của nền kinh tế Nhật và có lợi cho họ Vì vậyquan hệ thương mại Việt – Nhật giai đoạn này đã có lúc không bình đẳng,nhưng vẫn thể hiện nhu cầu buôn bán của hai nước.

Trong giai đoạn 1945 -1975: quan hệ Việt Nam và Nhật Bản rất phứctạp và tế nhị do hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam bị chia làm hai miền theo haichế độ chính trị khác nhau Miền bắc hoàn toàn giải phóng, miền nam đangchịu sự thống trị của Mỹ kéo dài tới 30-4-1975 Thời kỳ này quan Việt -Nhật luôn tuân thủ một cách nghiêm ngặt với chính sách của Mỹ, thiết lậpquan hệ với chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam, không quan hệ với chínhphủ cộng hoà ở miền Bắc Nhưng trên thực tế Nhật Bản vẫn duy trì mốiquan hệ không chính thức về mặt kinh tế với miền Bắc Việt Nam Năm

1955 “Hội mậu dịch Nhật - Việt” tổ chức thương mại phi chính phủ củaNhật ra đời nhằm xúc tiến mậu dịch với Việt Nam dân chủ cộng hoà Điềunày thể hiện sự chủ động của Nhật trong quan hệ buôn bán với Việt Nam.Đây là một bước tiến quan trọng của phía Nhật trong việc thúc đẩy quan hệthương mại Việt – Nhật phát triển theo chiều hướng tích cực Do hoàn cảnhlịch sử trong những năm này quan hệ buôn bán của Nhật với hai nửa riêngbiệt của Việt Nam nhưng vẫn diễn ra đều đặn cho dù rất nhiều khó khăn nảysinh Tuy kim ngạch buôn bán giữa hai chiều còn nhỏ bé nhưng thể hiện sự

cố gắng của các tổ chức kinh tế trong giai đoạn này Trong vòng 20 nămtổng giá trị xuất nhập khẩu Việt – Nhật đạt 112,1 tỷ Yên trong đó nhập khẩuđạt 52 tỷ, xuất khẩu đạt 60,1 tỷ Việt Nam xuất siêu sang Nhật là 8,1 tỷ Yên,tốc độ tăng trưởng nói chung là chậm và thất thường Ngày 21 tháng 9 năm

1973 Nhật Bản thiết lập mối quan hệ chính trị với Việt Nam một cách chínhthức, đây là một bước tiến không thể thiếu được nhằm tiến tới thiết lập quan

Trang 17

hệ kinh tế chính thức với Việt Nam Và từ đó quan hệ thương mại Việt Nhậtđược công khai hoá Quan hệ thương mại Việt - Nhật đã bước sang một giaiđoạn đầy triển vọng với sự giúp đỡ của hai chính phủ Chính vì vậy kimngạch buôn bán Việt - Nhật năm 1974 tăng vọt lên bằng 454,3% so với năm

1973, năm 1975 tăng 185,7% so với năm 1974 “nguồn thống kê của Bộ TàiChính Nhật”

Giai đoạn 1976-1985, Việt Nam bước vào thời kỳ khắc phục hậu quảchiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội Quan hệ chính trị của cả hai nước

đã được cải thiện tạo đà cho quan hệ thương mại phát triển, quan hệ thươngmại Việt - Nhật giai đoạn này tuy gặp thuận lợi hơn nhưng lại phải gánh váctrọng trách nặng nề phục vụ sự phát triển kinh tế của Việt Nam, nên giá trịbuôn bán giai đoạn này phát triển không nhiều song không còn lý do gì ngăncản hai nước tiến tới thiết lập quan hệ hợp tác kinh tế với nhau một việc mà

Trang 18

hấp dẫn đối với Nhật Bản Nước Việt Nam có hơn 70 triệu dân là một thịtrường lớn và có tiềm năng đối với các sản phẩm của Nhật Nhiều tài nguyêncủa Việt Nam chưa được khai thác hoặc đã được khai thác nhưng còn trữlượng rất lớn đang được chờ khai thác.

Việt Nam còn nhiều sản phẩm để phát triển công nghiệp khai mỏ,công nghiệp, ngư nghiệp và một số nghành trọng điểm Việt Nam cũng làmột nơi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Nhật do còn nhiều tài nguyên thiênnhiên, trong đó có các mỏ dầu đang khai thác, nền nông nghiệp và côngnghiệp của Việt Nam còn nhiều khả năng phát triển trong tương lai

3 Tầm quan trọng của việc đẩy mạnh mối quan hệ thương mại với Nhật Bản nhìn từ góc độ Việt Nam

Việt Nam là một nước nghèo trong khu vực và trên thế giới, đang thựchiện chính sách mở cửa nền kinh tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhữngchiến lược phát triển công nghiệp và hạ tầng cơ sở lớn là những nhiệm vụkinh tế nặng nề mà Việt Nam giải quyết

Khác với các nước công nghiệp đi trước - NIC Đông Nam á và cácnước ASEAN, sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Namdiễn ra trong bối cảnh quốc tế vừa thuận lợi và không thuận lợi Chiến tranhlạnh chấm dứt trên phạm vi toàn cầu, hoà bình được tái lập ở Đông Nam á

và quá trình hội nhập ở vùng này cũng như quan hệ được cải thiện ở TrungQuốc và các nước Châu á - Thái Bình Dương, trong đó có Nhật Bản đã tạo

ra môi trường quốc tế và khu vực thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hoá,hiện đại hoá của Việt Nam

Là nước đi sau trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, ViệtNam có lợi thế là có thể học tập kinh nghiệm của các nước đi trước và đặcbiệt là của Nhật Bản

Trang 20

CHƯƠNG II QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN GIAI

Chính vì vậy là một quốc gia thuộc khu vực Châu á Thái Bình Dương,Việt Nam cũng đã và đang chịu ảnh hưởng của sự phát triển rất nhanh trongkhu vực, đã làm cho quan hệ của Việt Nam với các nước nói chung và vớiNhật Bản nói riêng càng trở lên tốt đẹp hơn Đặc biệt là sau khi Mỹ xoá bỏcấm vận đối với Việt Nam (3/2/1994) nhờ đó mà mọi cản trở trong thươngmại Việt – Nhật hầu như được khai thông Và việc Việt Nam được gia nhậpchính thức công nhận là thành viên của ASEAN (ngày 28/7/1995) cũng làmột yếu tố quan trọng làm khai thông những bế tắc trong quan hệ Việt –

Trang 21

Nhật trước đây bởi vị trí và vai trò của ASEAN rất quan trọng đối với NhậtBản.

2 Những yếu tố chủ quan

Về phía Việt Nam:

Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn lạc hậu vẫn bị cô lập và bao vây

về kinh tế Giai đoạn này tình hình quốc tế đã có những thay đổi, nhân tốnày đòi hỏi Việt Nam phải có sự chuyển hướng chiến lược thiết lập nền hoàbình ổn định khu vực Mở hướng quan hệ kinh tế với các nước Đông Nam

Á, Châu Á Thái Bình Dương thực hiện phương châm “Việt Nam muốn làmbạn với tất cả các nước vì hoà bình, độc lập và hợp tác phát triển”

Để thực hiện đường lối đó, chính phủ Việt Nam đã ban hành chínhsách cải tổ cơ cấu và mở cửa kinh tế vào năm 1986 Việt Nam bắt đầu thựchiện sự chuyển hướng của mình với ba nội dung chính:

(1) Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa

(2) Từ bỏ mô hình công nghiệp hoá cũ, chuyển hướng cơ cấu ngành và điềuchỉnh cơ cấu đầu tư Ưu tiên trọng tâm cho ngành sản xuất lương thựcthực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu

(3) Mở cửa nền kinh tế đa phương hoá quan hệ thương mại và đầu tư, đadạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại, tự do hoá thương mại

Việt Nam chuyển hướng phát triển kinh tế nhằm thu hút vốn kỹ thuậttiên tiến của các nước nhằm thoát ra khỏi tình trạng cô lập và lạc hậu Vớichính sách đổi mới đó tháng 12 năm 1987 Việt Nam đã ban hành luật đầu tư.Sau đó cùng với chính sách tự do hoá thương mại và đẩy mạnh xuất khẩu bộmặt nền kinh tế Việt Nam được thay đổi cũng nhờ luật đầu tư nước ngoài

Trang 22

Về phía Nhật Bản

Nhật Bản bước vào thập kỷ 90 đã tích cực điều chỉnh các chính sáchđối ngoại của mình nhằm tăng cường ảnh hưởng kinh tế và chính trị củamình trên trường quốc tế Có thể nói trọng tâm chính sách đối ngoại củaNhật hiện nay là Châu á Thái Bình Dương và coi Đông Nam á có vị trí đặcbiệt Hơn nữa Nhật Bản lại có mối quan tâm lâu dài, tầm nhìn xa rộng trongquan hệ với Việt Nam, nước đông dân thứ hai ở Nam á nơi có nguồn tàinguyên thiên nhiên và lao động dồi dào, đồng thời là một thị trường đầy hứahẹn cho việc tiêu thụ các sản phẩm của Nhật Việt Nam còn là nơi hấp dẫn

về đầu tư khu vực trong tương lai, Nhật Bản cũng coi Việt Nam là một nhân

tố quan trọng đối với hoà bình và ổn định trong khu vực Đông Nam á NhậtBản càng trở nên quan trọng hơn và có vai trò to lớn trong nền ngoại thươngViệt Nam nhất là sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa

và Đông Âu Sau sự kiện này Nhật Bản đã trở thành bạn hàng lớn nhất củaViệt Nam

ii TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ NHẬT

BẢN

Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản đã phôi phai kể từ sau 1975,người Nhật muốn thông qua các quan hệ thương mại để tác động đến lậptrường của Việt Nam về các vấn đề an ninh, chính trị trong khu vực Kể từsau 1989 Nhật Bản đã đẩy mạnh các quan hệ buôn bán với Việt Nam lênmột nấc thang mới Nét nổi bật trong quan hệ thương mại Việt Nam – NhậtBản là sự tăng nhanh chóng các quan hệ buôn bán mậu dịch Điều này đượcthể hiện rất rõ ở kim ngạch buôn bán hai nước ngày một tăng

1 Sự tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam và Nhật Bản

Trang 23

Từ năm 1986 đến nay, ngay sau khi Việt Nam thực hiện chính sáchđổi mới nền kinh tế chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường và thực hiệnchính sách mở cửa, đây là bước ngoặt lớn của Việt Nam trong quá trình pháttriển kinh tế cả đối nội cũng như đối ngoại Quan hệ thương mại giữa ViệtNam - Nhật Bản cũng bước vào một giai đoạn mới với sự tăng lên vữngchắc về khối lượng buôn bán và sự quan tâm ngày càng cao của các nhà kinhdoanh và các công ty Nhật Bản đối với thị trường Việt Nam Do vậy năm

1988 là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu dầu thô mà lại xuất sang Nhật

Tiếp đến tháng 10/1990 lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ giữa hainước có chiều hướng tốt đẹp bằng chuyến thăm của Ngoại trưởng kiêm Phóthủ tướng Nguyễn Cơ Thạch đã sang thăm Nhật Bản Chuyến thăm NhậtBản lần này của Ngoại trưởng Việt Nam đã mở ra một thời kỳ mới trongquan hệ Việt – Nhật Đến tháng 6/1991 Ngoại trưởng Makayama sang thămnước ta Những bước tiến này của chính phủ hai nước là động lực thúc đẩyquan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước phát triển và có những bước chuyểnbiến rõ rệt cả về thương mại lẫn đầu tư

Quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam á cũng được cải thiện

từ khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia Từ năm 1992 có nhiều cuộcviếng thăm lẫn nhau ở cấp chính phủ giữa Việt Nam và các nước ASEAN.Ngày 22/7/1992 Việt Nam đã ký hiệp ước Bali mở đầu cho quá trình hộinhập của Việt Nam vào khu vực Đông Nam á và trở thành quan sát viên củaASEAN Khu vực và thế giới ngày càng ủng hộ quan hệ thương mại Việt –Nhật Các nước ASEAN giờ đây là những người bạn của Việt Nam, nhân tốnày tạo tiền đề cho Nhật Bản mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam

Tháng 11/1992 chính phủ Nhật Bản đã quyết định viện trợ trở lại choViệt Nam kết thúc 14 năm gián đoạn (1978-1992) Tiếp sau là viện trợODA, chính phủ Nhật tuyên bố huỷ bỏ qui chế “hạn chế xuất khẩu một số

Trang 24

mặt hàng kỹ thuật cao, hàng chiến lược sang các nước XHCN trong đó cóViệt Nam” Từ đây Việt Nam sẽ được nhập những máy móc, các thiết bịhiện đại từ Nhật để phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam Nhìn chung những năm gần đây từ (1986-2002) kim ngạch buôn bángiữa hai nước tiếp tục tăng trưởng khá ổn định về cả xuất khẩu và nhập khẩu(xem bảng 1)

Bảng 1: Giá trị xuất nhập khẩu Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn 1986 đến

Tổng kimngạch xuấtnhập khẩu

Tỷ lệ so với năm trước (%)

Cán cân mậu dịch

Trang 25

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á [4] [12]

Số liệu bảng 1 cho thấy xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trườngNhật Bản đều được duy trì khá đều đặn, riêng năm 1998 do khủng hoảngkinh tế Châu á kim ngạch giảm chỉ còn 97% so với năm 1997 và xuất khẩusang Nhật bản hai năm liền vừa qua có xu hướng giảm Trong đó năm 1992

là năm quan trọng không chỉ vì nó là một bước ngoặt trong quan hệ mà còn

vì nó là năm đánh dấu đầu tiên Việt Nam trở thành một trong mười nướcnhận ODA song phương lớn nhất của Nhật Bản với số tiền 291,14 triệuUSD Ngoài những lý do về khó khăn kinh tế của cả hai phía thì khả năngtiếp cận và xâm nhập thị trường của các doanh nghiệp rất kém, cách thứcbán và giới thiệu hàng hoá làm cho người Nhật khó tiếp cận, giao hàngchậm, không đủ số lượng, hàng mẫu và hàng bán không giống nhau, hạn chếtrong việc sử dụng ngôn ngữ để giao dịch Cơ cấu xuất nhập khẩu của ViệtNam và Nhật Bản năm 2002 cũng không có nhiều thay đổi so với năm trước

đó Mặt hàng chính Việt Nam xuất sang Nhật Bản vẫn là: hải sản, dệt may,dầu thô, dây điện và dây cáp điện Nhóm hàng này chiếm gần 60% giá trịxuất khẩu chung vào thị trường này Nét mới của năm 2002 trong xuất khẩusang Nhật Bản là một số mặt hàng Việt Nam có rất nhiều khả năng như hạttiêu, đường, đã bắt đầu có mặt trên thị trường Nhật Bản Dù khối lượng mặthàng này còn khá nhỏ bé, song nếu có được chỗ đứng ổn định và tăngtrưởng khá thì đây sẽ là một tín hiệu tốt đẹp cho xuất khẩu của Việt Nam

Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản năm 1996tăng 136%, cán cân thương mại Việt – Nhật năm 1996 vẫn nghiêng về phíaViệt Nam và năm 1996 Việt Nam đã xuất siêu sang Nhật Bản với trị giá 9,5

tỷ Yên, chiếm 27,8% kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Nhật năm 1996 Bắtđầu từ năm 1988 tỷ lệ này càng giảm dần tốc độ tăng của kim ngạch nhập

Trang 26

khẩu luôn cao hơn kim ngạch xuất khẩu Nguyên nhân là do bắt đầu từ thờigian này Việt Nam bắt đầu trú trọng vào nhập máy móc thiết bị hiện đại đểphục vụ công cuộc hiện đại hoá đất nước.

Nhật Bản là một trong những bạn hàng lớn của Việt Nam trong nhiềunăm Từ vị trí thứ tư Nhật Bản vươn lên đứng thứ hai vào năm 1985 saukhối SEV với kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mất đi thị trườngtruyền thống, Singapore và Nhật Bản đã vượt hàng thứ nhất và thứ hai Tớinăm 1994 Nhật Bản đẩy Singapore lùi lại phía sau và ngoi lên đứng đầutrong số các nước có quan hệ thương mại với Việt Nam Năm 1990 tổng kimngạch buôn bán hai chiều đạt 809 triệu USD Các năm sau đều tăng liên tục,cho đến năm 2002 (8 tháng đầu năm) tổng kim ngạch buôn bán hai chiều đãđạt 3.759 triệu USD (xem bảng 1)

Nhịp độ tăng trưởng của quan hệ thương mại Việt – Nhật còn thể hiện

ở tỷ trọng của kim ngạch xuất nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu chiếm trongtổng kim ngạch ngoại thương Việt Nam Tổng kim ngạch xuất nhập khẩuViệt Nam - Nhật Bản tăng nhanh, từ năm 1991 đến nay cho thấy kim ngạchxuất nhập khẩu năm sau luôn cao hơn năm trước trừ năm (1996-1998) kimngạch xuất nhập khẩu có giảm xuống từ 3160 triệu USD (1996) xuống còn

2950 triệu USD (1998) Nguyên nhân do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệnăm 1997 ở khu vực Đông Nam Á làm ảnh hưởng phần nào tới quan hệ hợptác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản Nhưng từ năm 1999 đến năm 2002 kinngạch xuất nhập khẩu lại tăng dần theo từng năm thấp nhất là 3262 triệuUSD (1999) và cao nhất là 4871 triệu USD (2000) Năm 2002 so với năm

1986 tăng 18 lần (từ 4971 triệu USD năm 2002 so với 272,1 triệu USD năm1986) Cán cân thương mại giữa hai nước chủ yếu là xuất siêu với khốilượng khá lớn, như năm 1996 xuất siêu 880 triệu USD, trong khi đó cán cânthương mại Việt Nam nói chung hầu hết là nhập siêu (xem bảng 2)

Trang 27

Do yêu cầu phát triển kinh tế, Việt Nam luôn nhập siêu trong cán cânthương mại nói chung Tuy nhiên trong quan hệ thương mại Việt – Nhậtluôn ở con số dương (xuất siêu) chỉ có năm 2002 và hai tháng 2003 ở con số

âm (nhập siêu) (xem bảng 2) Đây là tín hiệu tốt đẹp cho xuất khẩu của ViệtNam, và giúp ta nhận thức được tầm quan trọng của Nhật Bản đối với nềnngoại thương của Việt Nam, Nhật Bản nổi lên là bạn hàng lớn nhất của ViệtNam

Bảng 2: So sánh cán cân mậu dịch giữa Việt Nam - Nhật Bản và của Việt

Nam nói chung từ năm 1991 đến nay

Đơn vị tính: Triệu USD Năm

Việt Nam – Nhật Bản Việt Nam nói chung

Cán cânmậu dịch

Trang 28

Nguồn: Bộ Thương Mại - Vụ Châu á - Thái Bình Dương 2003 [19]

Rõ ràng tỷ trọng hàng xuất khẩu tăng lên nhanh chóng so với tổngkim ngạch hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản và từ năm 1991 chotới nay thị trường Nhật Bản đã chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị hàng xuất khẩucủa Việt Nam Tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu của Việt Namsang Nhật Bản không ngừng tăng lên nhưng giá trị hàng xuất khẩu từ NhậtBản vào Việt Nam lại diễn ra với nhịp độ khác (xem bảng 3)

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản còn rất thấp trongtổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam mang về, tỷ trọng lại tăng giảmthất thường Một câu hỏi đặt ra là phải chăng thị trường Nhật Bản không đápứng được nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam nên trong quan hệ thương mạisong phương giữa Việt Nam và Nhật Bản thì Việt Nam lại xuất siêu sangNhật Bản

Bảng 3: Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản trong

tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam

n v tính: Tri u USD Đơn vị tính: Triệu USD ịch ệ so với năm trước (%)

Năm

KNXK Việt – Nhật

Tổng KNXK Việt Nam

Tỷ trọng (%)

KNNK Việt – Nhật

Tổng KNNK Việt Nam

Tỷ trọng (%)

Trang 29

Nguồn: Bộ Thương Mại – Vụ Châu á - Thái Bình Dương-năm 2003 [19]

Cơ cấu nhập khẩu của ta từ Nhật Bản trong năm 2002 vẫn là nhữngmặt hàng truyền thống được ưa chuộng như: máy móc, thiết bị, linh kiệnđiện tử và máy vi tính, sắt thép các loại, ô tô và xe máy dạng CKD, SKD.Nhóm mặt hàng chủ yếu này chiếm khoảng 55% giá trị hàng nhập khẩu.Nhìn chung buôn bán thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản năm 2002không có gì đột biến Việt Nam vẫn coi Nhật Bản là thị trường truyền thốngđầy tiềm năng và khá ổn định Tuy nhiên thực tế những năm gần đây và năm

2002 vừa qua cho thấy Việt Nam rất khó tăng lượng hàng xuất khẩu Kimngạch buôn bán hai nước quá nhỏ bé, chỉ bằng khoảng 18% nếu so với khốilượng xuất nhập khẩu giữa Trung Quốc và Nhật Bản năm qua Lý do củatình hình này một mặt do tình hình kế toán Nhật Bản năm qua vẫn còn khá

ảm đạm, thu nhập và sức mua đều giảm, mặt khác hàng tiêu dùng chưa hấpdẫn và rất khó có thể cạnh tranh với hàng hoá Trung Quốc trên thị trườngNhật Bản Do vậy buôn bán hai nước chưa tương xứng với khả năng hiện cócủa cả hai phía Điều muốn nhấn mạnh ở đây là: hàng hoá của Việt Nam córất nhiều tiềm năng như: hoa quả, nông sản vẫn chưa thể thâm nhập vào thịtrường Nhật Bản Vì vậy, điều này đặt ra cho cả hai phía là cần phải cónhững giải pháp thực tế và hiệu quả hơn, nếu như mong muốn đẩy mạnhquan hệ hợp tác thương mại hai nước trong thời gian sắp tới, rõ ràng tiếp tụcphát triển mạnh mẽ hơn vào thị trường Nhật Bản là một định hướng chiến

Trang 30

lược đúng đắn, song để biến ý tưởng và cơ hội này trở thành hiện thực quả làmột thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện tại vàtrong thời gian tới.

2 Động thái tích cực và cơ cấu xuất nhập khẩu từng loại mặt hàng của Việt Nam - Nhật Bản

Năm 1992 là năm đầu tiên giá trị buôn bán giữa hai nước đạt trên một

tỷ USD Điều đáng nói ở đây là phần lớn khách thăm quan du lịch vào ViệtNam là các nhà kinh doanh, các nhà kinh tế của Nhật Bản nhằm thăm dò thịtrường Kết quả một số những dự án hoạt động kinh doanh đã được chuẩn bịnhư: Missubishi, Nisho, Aiwa Bank, Tomen… đã mở văn phòng đại diệnvới một số hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ tại Việt Nam

Tháng 2/1993 liên đoàn các tổ chức kinh tế Nhật Bản tới thăm ViệtNam Đến tháng 3/1993 Thủ tướng Võ Văn Kiệt chính thức sang thăm NhậtBản 4 ngày và bày tỏ mong muốn Nhật Bản tăng cường hợp tác hơn nữa vớiViệt Nam, đặc biệt ngày 3/2/1994 Mỹ chính thức tuyên bố huỷ bỏ lệnh cấmvận thương mại đối với Việt Nam Từ đây quan hệ thương mại Việt – Nhậtkhông còn gặp phải những trở ngại nữa

Ngày 29/2/1994 “Diễn đàn thúc đẩy và phát triển hơn nữa quan hệkinh doanh Việt Nam – Nhật Bản” đã được tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội

và Thành phố Hồ Chí Minh Diễn đàn này diễn ra rất sôi động và thu hútđông đảo doanh nghiệp hai nước tham gia Sự kiện này đánh dấu một mốcphát triển mới trong quan hệ Từ tháng 4/1994 chính phủ Nhật Bản mở thêmbảo hiểm thương mại ngắn hạn cho Việt Nam, hiệp định “Tránh đánh thuếhai lần” Cứ 6 tháng một lần phía Nhật xem xét và điều chỉnh lại chính sáchbảo hiểm thương mại Những bước tiến này từ phía Nhật nhằm đẩy mạnhbuôn bán với Việt Nam

Trang 31

Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là chuyến thăm của Thủ tướngMurayama-Nhật Bản Thủ tướng đầu tiên của Nhật Bản trong hai ngày 25 và

26 tháng 8 năm 1994 đã mở ra một trang sử mới trong quan hệ Việt – Nhật.Trong chuyến thăm Thủ tướng Nhật Bản tuyên bố sẽ ủng hộ tích cực chínhsách đổi mới của Việt Nam Nhật Bản còn cử giáo viên sang Việt Nam dạytiếng Nhật và viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 7.733.000.000 Yên

Bằng các chính sách và bước đi của mình, chính phủ Nhật Bản đãthực sự thúc đẩy tiến trình hợp tác với Việt Nam trên cả lĩnh vực thương mại

và đầu tư Cuối năm 1994 một phái đoàn thương mại Việt Nam do Thứtrưởng Bộ Thương mại Mai Văn Dâu dẫn đầu sang thăm Nhật Bản Tất cảnhững việc làm thiết thực này đã góp phần đẩy mạnh bước tiến trong quan

hệ thương mại Việt – Nhật thời kỳ này

Vốn ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam tăng nhanh năm 1992 là

370 triệu USD, 1993 là 476 triệu USD và đến cuối năm 1994 đã lên tới 600triệu USD Song song với tiến trình ODA đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vàoViệt Nam cũng tăng nhanh Năm 1989 Nhật Bản còn đứng cuối cùng trongdanh sách 10 nước có vốn đầu tư vào Việt Nam nhưng cho tới năm 1994 đãvượt lên đứng thứ 3 sau Đài Loan và Hồng Kông với 64 dự án, tổng số vốnxấp xỉ 600 triệu USD Nhưng đến ngày 30/6/1996 tổng số vốn đầu tư trựctiếp của Nhật Bản vào Việt Nam đã lên tới 2,1 tỷ USD Đầu tư của Nhật chủyếu tập trung vào các lĩnh vực:

(1) Sản xuất xi măng, sắt thép phục vụ cho xây dựng cơ sở hạ tầng

(2) Bất động sản

(3) Xây dựng các nhà máy cơ khí để lắp ráp ô tô và xe máy Lĩnh vực nàythu hút nhiều vốn đầu tư nhất của Nhật Bản tại Việt Nam Nhật đã xây dựngcác nhà máy sản xuất ô tô, xe máy lớn tại Việt Nam như Toyota, Honda,Daihatsu, Yamaha

Trang 32

Như vậy, ta có thể thấy rằng quan hệ thương mại Việt – Nhật từ cuốithập kỷ 80 tới nay không thuần tuý là hoạt động buôn bán mà là quan hệthương mại được đặt trong mối quan hệ với ODA và đầu tư trực tiếp Hailoại vốn này của Nhật là động lực thúc đẩy quan hệ buôn bán hai nước pháttriển Sự tăng lên của buôn bán kéo theo sự tăng trưởng thương mại Việt –Nhật.

Ngày 11/7/1995 Mỹ chính thức tuyên bố “Bình thường hoá quan hệvới Việt Nam” Sự kiện này đã thực sự mở ra cho Việt Nam quan hệ với tất

cả các nước trên thế giới Những bước tiến của Mỹ trong quan hệ với ViệtNam thực sự có ý nghĩa đối với quan hệ thương mại Việt – Nhật từ đókhông có một lý do khách quan nào ngăn cản mối quan hệ này phát triển vàchính phủ Nhật Bản cũng không phải điều chỉnh chính sách kinh tế của mìnhđối với Việt Nam

Ngày 28/7/1995 Việt Nam chính thức tham gia vào ASEAN Sự kiệnnày đã đặt Việt Nam vào vị thế mới trong quan hệ với Nhật Bản Tất cả mọi

ưu đãi buôn bán mà Nhật dành cho ASEAN thì Việt Nam cũng được hưởng

Hoàn cảnh quốc tế ngày càng thuận lợi đã tạo đà cho quan hệ thươngmại Việt – Nhật phát triển không ngừng Năm 1988 là năm đầu tiên ViệtNam xuất siêu sang Nhật Bản sau một thời gian dài nhập siêu Năm 1988Việt Nam xuất khẩu dầu thô sang Nhật Bản làm cho kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam tăng vọt và cán cân thương mại bắt đầu đổi chiều Điều đángchú ý là từ năm 1990 kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Nhật đã tăng vọt lêntrên 100 tỷ Yên nhưng đến năm 1996 đã lên tới 343,5 tỷ Yên Kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đã tăng nhanh và ổn định, yếu tố nàychứng tỏ thị trường Nhật Bản đã chấp nhận hàng hoá của Việt Nam và triểnvọng sẽ còn tăng hơn nữa

Trang 33

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản năm 1996 tăng136%, cán cân thương mại Việt – Nhật năm 1996 vẫn nghiêng về phía ViệtNam và năm 1996 Việt Nam đã xuất siêu sang Nhật Bản với trị giá 9,5 tỷYên, chiếm 27,8% kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Nhật năm 1996 Bắtđầu từ năm 1988 tỷ lệ này càng giảm dần tốc độ tăng của kim ngạch nhậpkhẩu luôn cao hơn kim ngạch xuất khẩu Nguyên nhân là do bắt đầu từ thờigian này Việt Nam bắt đầu trú trọng vào nhập máy móc thiết bị hiện đại đểphục vụ công cuộc hiện đại hoá đất nước.

Nhật Bản là một trong những bạn hàng lớn của Việt Nam trong nhiềunăm Từ cị trí thứ tư Nhật Bản vươn lên đứng thứ hai vào năm 1985 sau khốiSEV với kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mất đi thị trường truyềnthống, Singapore và Nhật Bản đã vượt hàng thứ nhất và thứ hai Tới năm

1994 Nhật Bản đẩy Singapore lùi lại phía sau và ngoi lên đứng đầu trong sốcác nước có quan hệ thương mại với Việt Nam Năm 1990 tổng kim ngạchbuôn bán hai chiều đạt 809 triệu USD Các năm sau đều tăng liên tục, chođến năm 2002 (8 tháng đầu năm) tổng kim ngạch buôn bán hai chiều đã đạt3.759 triệu USD (xem bảng 1)

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản khá đơngiản nhất là những năm đầu của quan hệ thương mại, Việt Nam xuất khẩuchủ yếu là những sản phẩm tự nhiên hoặc chế biến đơn giản chủ yếu là 4mặt hàng: dầu thô, thuỷ sản, sắt (xem bảng 4)

Bảng 4: Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu củaViệt Nam sang Nhật Bản

Trang 34

1995 35,5 15,1 3,3 3,3

Nguồn: Thống kê của Bộ tài chính Nhật Bản [10]

Việt Nam vẫn coi Nhật Bản là thị trường truyền thống đầy tiềm năng

và khá ổn định Tuy nhiên thực tế những năm gần đây và năm 2002 vừa quacho thấy Việt Nam có khó khăn việc tăng lượng hàng xuất khẩu sang Nhậtbản Kim ngạch buôn bán giữa hai nước còn rất thấp chỉ bằng khoảng 18%nếu so với khối lượng hàng xuất nhập nhập giữa Trung Quốc và Nhật Bảnnăm qua Lý do chủ yếu của tình hình này là kinh tế Nhật những năm quavẫn còn khá ảm đạm, thu nhập và sức mua đều giảm (xem bảng 5 dưới đây)

Bảng 5: Cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản từ 1998 đến 2000

Đơn vị: Triệu USD

Triệu USD

Tỷ trọng (%)

Triệu USD

Tỷ trọng (%)

Triệu USD

Tỷ trọng (%)

Nguồn:Bộ Thương Mại – Vụ Châu á - Thái Bình Dương [19]

Qua việc phân tích này có thể thấy: Cơ cấu xuất khẩu có tiến bộ, nếunhư giai đoạn 1989-1996 ta xuất khẩu chủ yếu là tài nguyên, nguyên liệu thônhư: dầu thô, than đá, hải sản thì đến nay ta đã xuất khẩu được những mặthàng công nghiệp điều đó nói lên ta đã có đầu tư về máy móc, công nghệkhoa học kỹ thuật hiện đại nhiều hơn và có sự nâng cao về trình độ sản xuấtqua xuất khẩu được mặt hàng công nghiệp sang Nhật Bản như: hàng dệt

Trang 35

may, dây cáp điện, vi tính, giày dép, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm nhựa, xeđạp… Một số mặt hàng mới nhưng có hạn ngạch khá và đang tăng nhanhnhư dây cáp điện, đồ gỗ, hạt điều, đồ nhựa Trong những năm gần đây bamặt hàng có tỷ trọng xuất khẩu vào Nhật cao nhất là dệt may, dầu thô vàthuỷ sản, đặc biệt là hàng dệt may có xu hướng tăng Năm 2002 đã có 4 mặthàng xuất khẩu sang Nhật Bản với khối lượng lớn đạt từ 174 đến 555 triệuUSD Chính những yếu tố này giúp Việt Nam phần nào khẳng định được vịthế của mình trên trường quốc tế nói chung và thị trường Nhật Bản nóiriêng.

Tuy nhiên cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam còn đơn giản, trên 50% lànguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế có giá thành cao, chất lượng không đồngđều nên sức cạnh tranh bị hạn chế Nhưng những năm gần đây, kim ngạchbuôn bán hai chiều giữa hai nước luôn ở mức 4,7-4,8 tỷ USD/năm trong đóxuất khẩu khoảng 2,5 tỷ USD

Bảng 6: 20 mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật có kim ngạch lớn nhất

2001-2002

n v : Tri u USD Đơn vị tính: Triệu USD ịch ệ so với năm trước (%)

Ngày đăng: 07/11/2013, 02:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đức Anh Xúc tiến thương mại - TC thương mại. Số 3+4+5/2003 tr. 29 Khác
[2] Lê Văn Châu Chính sách kinh tế Nhật Bản,NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 1995 Khác
[3] Hoàng Đức (tổng hợp) Hướng mở cửa cho hàng Việt Nam sang Nhật. Báo thương mại thế giới. Thứ 7 ngày 12/4/2003. Tr 3 Khác
[4] TS Nguyễn Duy Dũng Năm 2000 - Quan hệ kinh tế Việt Nam- Nhật Bản tiếp tục phát triển ổn định – TC Thương mại số1 (43)2- 2003. Tr 71 Khác
[5] Yến Khanh Triển vọng thương mai thương giới và hướng phát triển thị trường của Việt Nam - 2002 -Sổ 5 (11-20) tháng 2-2000 tr. 29. TC thương mại Khác
[6] Hữu Ngọc dịch Chân dung văn hoá đất nước mặt trời mọc . NXB TG – 1993 Khác
[7] Nguyễn Ngọc Kinh tế Nhật phục hồi trong trạng thái bấp bênh. Tạp chí thông tin tài chính. Số 4 tháng 2/2003. Tr20 Khác
[8] Vũ Thị T'huý Ngà Kinh tế Nhật sẽ hồi phục. TC thông tin tài chính số 1+2 tháng 1/2003. tr. 54 Khác
[9] Vũ Phạm Quyết Thắng Kinh tế đối ngoại Việt Nam: Nội dung - giải pháp - hiệu quả - Nxb thống kê Hà Nội – 1994 Khác
[10] NT Khả năng xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam. Tạp chí Ngoại thương số từ 11/1 đến 20/1/2003. Tr.2 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Giá trị xuất nhập khẩu Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn 1986 đến - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 1 Giá trị xuất nhập khẩu Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn 1986 đến (Trang 24)
Bảng 2: So sánh cán cân mậu dịch giữa Việt Nam - Nhật Bản và của Việt - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 2 So sánh cán cân mậu dịch giữa Việt Nam - Nhật Bản và của Việt (Trang 27)
Bảng 3: Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản trong - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 3 Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản trong (Trang 28)
Bảng 5: Cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản từ 1998 đến 2000 - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 5 Cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản từ 1998 đến 2000 (Trang 34)
Bảng 6: 20 mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật có kim ngạch lớn nhất - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 6 20 mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật có kim ngạch lớn nhất (Trang 36)
Bảng 7: Giá xuất khẩu bình quân của một số mặt hàng chủ yếu từ 2000- - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 7 Giá xuất khẩu bình quân của một số mặt hàng chủ yếu từ 2000- (Trang 40)
Bảng 8: Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nhật Bản - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 8 Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nhật Bản (Trang 41)
Bảng 10: 10 mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Nhật có kim ngạch lớn nhất - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 10 10 mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Nhật có kim ngạch lớn nhất (Trang 44)
Bảng 11: 10 mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Nhật có kim ngạch lớn nhất - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 11 10 mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Nhật có kim ngạch lớn nhất (Trang 45)
Bảng 12: Dự kiến cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2003 - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 12 Dự kiến cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2003 (Trang 53)
Bảng 13: Các chỉ tiêu kinh tế lớn của Việt Nam qua các năm - Đề tài “Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn từ 1986 đến nay”
Bảng 13 Các chỉ tiêu kinh tế lớn của Việt Nam qua các năm (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w