1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định giá trị doanh nghiệp điện lực Hà Tĩnh phục vụ tiến trình cổ phần hoá công ty điện lực 1

115 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định giá trị doanh nghiệp điện lực Hà Tĩnh phục vụ tiến trình cổ phần hoá công ty điện lực 1 Xác định giá trị doanh nghiệp điện lực Hà Tĩnh phục vụ tiến trình cổ phần hoá công ty điện lực 1 Xác định giá trị doanh nghiệp điện lực Hà Tĩnh phục vụ tiến trình cổ phần hoá công ty điện lực 1 luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGÀNH: KINH TẾ NĂNG LƯỢNG

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN LỰC HÀ TĨNH PHỤC VỤ TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1 (EVN) VÀ CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1 9

1.1 Thực trạng về hoạt động EVN 9

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của EVN 9

1.1.2 Kết quả hoạt động SXKD của EVN 14

1.2 Thực trạng về hoạt động SXKD của Công ty Điện lực 1 17

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Điện lực 1 17

1.2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Điện lực 1 20 1.3 Đánh giá về hoạt động của EVN và Công ty Điện lực 1 29

1.3.1 Đánh giá về hoạt động của EVN 29

1.3.2 Đánh giá về hoạt động của Công ty Điện lực 1 31

Tóm tắt chương 1: 33

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 35

2.1 Cơ sở lý thuyết cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN) 35 2.1.1 Sự cần thiết phải CPH DNNN, nguyên tắc và mục tiêu 35

2.1.2 Chủ trương của Đảng trong tiến trình thực hiện cổ phần 37

2.1.3 Những căn cứ pháp lý 39

2.1.4 Các hình thức CPH ở Việt Nam 40

2.1.5 Quy trình CPH DNNN ở Việt Nam 41

2.1.6 Những thành tựu đã đạt được của quá trình CPH ở nước ta 43

2.1.7 Những vấn đề còn tồn tại 44

2.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp xác định GTDN 47

2.2.1 Giá trị doanh nghiệp và các căn cứ xác định GTDN 47

2.2.2 Các yếu tố tác động lên GTDN 49

2.2.3 Tầm quan trọng của việc xác định đúng GTDN 51

2.2.4 Xử lý tài chính trước khi xác định GTDN 52

2.2.5 Phương pháp xác định GTDN theo tài sản 63

2.2.6 Tổ chức xác định GTDN 69

Tóm tắt chương 2: 72

CHƯƠNG III: XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP ĐIỆN LỰC TRỰC THUỘC CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1- ĐIỆN LỰC HÀ TĨNH 73

3.1 Vấn đề cổ phần hoá và xác định GTDN đối với Công ty Điện lực 1 73

3.1.1 Vấn đề cổ phần hoá Công ty Điện lực 1 73

3.1.2 Vấn đề xác định GTDN đối với Công ty Điện lực 1 74

Trang 3

3.1.3 Công tác tổ chức xác định GTDN 76

3.2 Vấn đề xác định GTDN tại Đơn vị trực thuộc 76

3.2.1 Công tác chuẩn bị 77

3.2.2 Xác định GTDN 77

3.3 Xác định GTDN tại Điện lực Hà Tĩnh 77

3.3.1 Vài nét tổng quan về Điện lực Hà Tĩnh 77

3.3.2 Tổ chức thực hiện xác định GTDN 82

3.3.3 Những căn cứ để xác định GTDN 83

3.3.4 Nguyên tắc định giá 84

3.3.5 Thực hiện xác định GTDN Điện lực Hà Tĩnh 84

3.3.6 Kết quả xác định GTDN 92

3.3.7 Nhận xét 96

Tóm tắt chương 3 98

KẾT LUẬN 99

KIẾN NGHỊ 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 103

Trang 4

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Biểu 1.1: Đường dây các loại do Công ty Điện lực 1 quản lý

Biểu 1.2: Trạm biến áp các loại do Công ty Điện lực 1 quản lý

Biểu 1.3: Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu SXKD giai đoạn 2002- 2004

Biểu 1.4: Bảng tổng hợp lợi nhuận sản xuất điện giai đoạn 2000- 2005 Biểu 1.5 Tổng hợp tình hình ĐTXD các công trình giai đoạn 2001- 2004 Biểu 3.1: Kết quả SXKD giai đoạn 2003- 2005

Biểu 3.2: Kết quả xác định GTDN tại ngày 30/9/2006

Biểu 3.3: Các khoản công nợ phải thu, phải trả chưa được đối chiếu xác

nhận tại thời điểm 30/9/2006

Trang 6

Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, đổi mới doanh nghiệp chỉ mang tính hình thức: đổi mới về tổ chức, giá cả, lao động, tiền lương, mở rộng kinh tế đối ngoại…; quyết định thành lập, sát nhập, chia tách, giải thể DNNN Tuy nhiên do được hình thành và hoạt động quá lâu trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, coi trọng số lượng hơn chất lượng và hiệu quả kinh

tế cho nên DNNN còn nhiều mặt hạn chế: cơ cấu chưa hợp lý, quy mô nhỏ và rất nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu, công tác quản lý còn yếu kém, chưa thật

sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh Ngoài ra, còn được Nhà nước bao cấp cả đầu vào và đầu ra nhưng kết quả sản xuất kinh doanh (SXKD) chưa tương xứng với nguồn lực đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước; sức cạnh tranh thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động vừa thừa, vừa thiếu còn diễn ra phổ biến

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, không cho phép sự tồn tại của những yếu kém nói trên trong các DNNN Đối mặt với những thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới, phát triển, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế, việc đổi mới DNNN phải mang tính chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả để đứng vững và phát triển, đó là chuyển đổi DNNN sang các loại hình doanh nghiệp đa sở hữu: khoán, cho thuê, bán DNNN…, trong đó trọng tâm là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN)

Trang 7

CPH DNNN thực chất là chuyển các DNNN với một chủ sở hữa (Nhà nước) sang hình thức công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu (các cổ đông) nhằm cơ cấu lại khu vực DNNN một cách hiệu quả Không nằm ngoài những yêu cầu từ thực tế, ngành điện cũng cần đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị trực thuộc, tăng sức cạnh tranh, chống độc quyền, đa dạng hoá hình thức đầu tư và kinh doanh, phát triển thị trường điện

Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) là một tập đoàn trong đó bao gồm một số công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), một số công ty 100% vốn Nhà nước quản lý và một số công ty cổ phần Công ty Điện lực 1 là một đơn

vị thành viên trực thuộc EVN, thuộc diện cổ phần hoá trong tiến trình được Chính phủ giao cho Bộ Công nghiệp Để cổ phần hoá được Công ty Điện lực

1 thì các đơn vị trực thuộc Công ty phải tiến hành tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp, trong đó có Điện lực Hà Tĩnh Với tư cách là một người làm cán bộ quản lý, được giao nhiệm vụ tham gia vào quá trình xác định giá trị doanh nghiệp của Điện lực Hà Tĩnh Với sự giúp đỡ, hướng dẫn của PGS- TS Nguyễn Minh Duệ, sự đồng ý của Trung tâm Sau Đại học và Khoa Kinh tế & Quản lý thuộc Đại học Bách Khoa Hà Nội, tôi đã nghiên cứu đề tài “Xác định GTDN Điện lực Hà Tĩnh phục vụ tiến trình cổ phần hoá Công ty Điện lực 1” nhằm đáp ứng một phần vào công tác cổ phần hoá Công ty Điện lực 1

2 Mục đích của đề tài

- Hệ thống hoá cơ sở lý thuyết cơ bản của CPH DNNN và xác định GTDN, áp dụng đối với ngành điện;

- Tìm hiểu công tác CPH và xác định giá GTDN tại Công ty Điện lực 1;

- Vận dụng cơ sở lý thuyết để tiến hành xác định GTDN tại Điện lực

Hà Tĩnh;

Trang 8

- Nêu ra được một số ý kiến đề xuất, kiến nghị với cơ quan thẩm quyền

về công tác cổ phần hoá tại Công ty Điện lực 1 và việc xác định GTDN tại Điện lực Hà Tĩnh

3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu của đề tài

Cổ phần hoá doanh nghiệp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh chuyển đổi sang cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc

tế của Việt Nam, phù hợp với xu hướng chung của kinh tế thế giới

Đề tài “Xác định GTDN Điện lực Hà Tĩnh phục vụ tiến trình cổ phần hoá Công ty Điện lực 1” được đưa ra nhằm nghiên cứu một số nội dung cơ bản của công tác CPH DNNN, trong đó chỉ đi sâu phân tích đánh giá việc xác định GTDN tại một đơn vị trực thuộc Công ty Điện lực 1, cụ thể là Điện lực

Hà Tĩnh để phục vụ tiến trình CPH Công ty Điện lực 1

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Thực trạng về hoạt động SXKD của Tổng Công ty Điện lực

Trong khuôn khổ của đề tài, bài luận văn có thể chưa đáp ứng được tất

cả các yêu cầu đặt ra trong quá trình xác định GTDN phục vụ tiến trình CPH tại Công ty Điện lực 1 và vẫn còn một số hạn chế nhất định, tôi xin tiếp thu các ý kiến đóng góp để bài luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 9

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã được sự hướng dẫn và giúp

đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và các đồng chí lãnh đạo Điện lực Hà Tĩnh Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS TS Nguyễn Minh Duệ và các đồng chí lãnh đạo Điện lực Hà Tĩnh đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Phạm Thị Trang

Trang 10

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA TỔNG CÔNG

TY ĐIỆN LỰC 1 (EVN) VÀ CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1

1.1 Thực trạng về hoạt động EVN

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của EVN

Kỹ nghệ điện xuất hiện ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, bắt đầu từ một số xưởng phát điện hoạt động độc lập, cung cấp dòng một chiều Thời bấy giờ, điện chiếu sáng được ưu tiên trước điện

động lực Cho đến năm 1954, tổng công suất nguồn điện toàn quốc mới đạt khoảng 100MW (Chợ Quán 35MW, Yên Phụ 22MW, Cửa Cấm 6,3MW, Vinh 3,5MW, Thượng Lý 10MW, Nam Định 8 MW và Cọc 5- 15,5MW…), và một lưới điện manh mún, cấp điện áp truyền tải cao nhất là 30,5kV

Từ năm 1954, sau ngày tiếp quản, điện được sử dụng rộng rãi hơn và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước Thời kỳ 1961- 1965, ở miền Bắc công suất đặt tăng bình quân 20% hàng năm Cùng với một số nhà máy điện được xây dựng dưới sự giúp đỡ của các nước XHCN, mạng lưới điện 35kV, rồi 110kV đã được xây dựng, nối liền các nhà máy điện non trẻ của Việt Nam Thời kỳ 10 năm (1955- 1965), ở miền Bắc mức tăng công suất đặt trung bình là 15% Trong giai đoạng (1966- 1975) do chiến tranh phá hoại ác liệt nên mức tăng công suất trung bình chỉ đạt 2,6%/năm

Giai đoạn 1975- 1994, hệ thống điện được phát triển mạnh với việc đưa vào vận hành một số nhà máy lớn với công nghệ tiên tiến như Nhiệt điện Phả Lại (440MW), Thuỷ điện Trị An (420)MW và đặc biệt là Thuỷ điện Hoà Bình (1920)… và đồng bộ với các nguồn phát điện, hệ thống lưới điện được phát triển rộng khắp cả nước trên cơ sở đường trục là lưới điện 220kV

Trang 11

Năm 1994, việc đưa vào vận hành Hệ thống truyền tải 500kV đã đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử phát triển Hệ thống điện Việt Nam Từ đây, Việt Nam đã có một hệ thống điện thống nhất trong toàn quốc, làm tiền đề cho một loạt các công trình mới với công nghệ hiện đại được đưa vào vận hành sau này

Năm 1995, thực hiện chủ trương cải cách cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ đổi mới, trên cơ sở quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) ra đời, với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh điện trong phạm vi toàn quốc Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước chuyển biến sâu sắc về tổ chức quản lý, nâng cao tính chủ động trong sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề cho sự phát triển ngành điện Việt Nam mạnh mẽ, năng động

Hiện nay, EVN bao gồm 56 đơn vị thành viên, trong đó có 8 đơn vị hạch toán độc lập, 15 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 6 đơn vị sự nghiệp, 13 Ban quản lý dự án (QLDA), 05 công ty TNHH một thành viên và 08 công ty cổ phần do EVN nắm giữ cổ phần chi phối

Với mô hình tổ chức như hiện tại của EVN, ngày 22/6/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 147/2006/QĐ- TTg, phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam Theo đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó:

- Tập đoàn Điện lực Việt Nam, đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp

đa sở hữu, trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Điện lực Việt Nam và các đơn vị thành viên; có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hóa cao; kinh doanh đa ngành, trong đó sản xuất và kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng, cơ khí điện lực là ngành kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu triển khai,

Trang 12

đào tạo; làm nòng cốt để ngành công nghiệp điện lực Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả

- Mối quan hệ giữa Công ty mẹ trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam với chủ sở hữu nhà nước và các công ty con, công ty liên kết được thực hiện theo pháp luật và quy định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ

- Chính phủ quản lý và tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ

sở hữu nhà nước đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam

- Công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam là công ty nhà nước, có chức năng trực tiếp sản xuất, kinh doanh và đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác, giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, tài sản được Nhà nước giao quản lý, công nghệ, thương hiệu và thị trường

a) Cơ cấu tổ chức của Công ty mẹ- Tập đoàn Điện lực Việt Nam gồm:

­ Công ty Thuỷ điện Hoà Bình;

­ Công ty Thuỷ điện Yaly;

­ Công ty Thuỷ điện Trị An;

­ Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia;

­ Trung tâm Thông tin điện lực;

­ Các Ban Quản lý dự án nguồn điện;

­ Ban Quản lý dự án Trung tâm Điều hành và Thông tin viễn thông ngành điện lực;

­ Công ty Mua bán điện (thành lập mới)

b) Các công ty do Tập đoàn Điện lực Việt Nam nắm giữ 100% vốn điều lệ:

- Các công ty TNHH một thành viên:

+ Công ty TNHH một thành viên Nhiệt điện Cần Thơ;

+ Công ty TNHH một thành viên Nhiệt điện Phú Mỹ;

Trang 13

+ Công ty TNHH một thành viên Nhiệt điện Thủ Đức;

+ Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương;

+ Công ty TNHH một thành viên Điện lực Ninh Bình;

+ Công ty TNHH một thành viên Điện lực Đà Nẵng

- Các công ty chuyển thành công ty TNHH một thành viên năm 2006- 2007: + Công ty Điện lực thành phố Hà Nội;

+ Công ty Điện lực thành phố Hồ Chí Minh;

+ Công ty Điện lực Đồng Nai;

+ Công ty Điện lực Hải Phòng;

+ Công ty Thông tin Viễn thông điện lực

- Các công ty TNHH một thành viên thành lập mới:

+ Công ty Truyền tải điện quốc gia (trên cơ sở tổ chức lại 4 Công ty Truyền tải điện 1, 2, 3 và 4);

+ Công ty Tài chính điện lực

c) Các công ty do Tập đoàn Điện lực Việt Nam nắm giữ trên 50% vốn điều lệ:

- Các công ty cổ phần:

+ Công ty cổ phần Thuỷ điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh;

+ Công ty cổ phần Thuỷ điện Thác Bà;

+ Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải phòng;

+ Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh;

+ Công ty cổ phần Chế tạo thiết bị điện;

+ Công ty cổ phần Cơ khí điện lực;

+ Công ty cổ phần Cơ điện miền Trung;

+ Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại;

+ Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hoà

- Các công ty cổ phần hoá vào các năm 2006 - 2007:

+ Công ty Thuỷ điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi;

Trang 14

+ Công ty Thuỷ điện Thác Mơ;

+ Công ty Nhiệt điện Uông Bí;

+ Công ty Nhiệt điện Ninh Bình;

+ Công ty Nhiệt điện Bà Rịa;

+ Trung tâm Công nghệ thông tin;

+ Công ty Cơ điện Thủ Đức;

+ Công ty Tư vấn xây dựng điện 1;

+ Công ty Tư vấn xây dựng điện 2;

+ Công ty Tư vấn xây dựng điện 3;

+ Công ty Tư vấn xây dựng điện 4;

+ Công ty cổ phần Dịch vụ sửa chữa nhiệt điện miền Bắc;

+ Công ty cổ phần Dịch vụ sửa chữa nhiệt điện miền Nam

d) Các công ty liên kết của Tập đoàn Điện lực Việt Nam:

- Công ty cổ phần Phát triển điện Việt Nam;

­ Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển điện Sê San 3A;

­ Công ty TNHH IQLinks;

­ Ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình;

­ Công ty cổ phần Thủy điện miền Trung;

­ Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển điện Việt - Lào

Trang 15

e) Các đơn vị sự nghiệp:

­ Viện Năng lượng;

­ Trường Đại học Điện lực;

­ Trường Cao đẳng Điện lực thành phố Hồ Chí Minh;

­ Trường Cao đẳng Điện lực miền Trung;

­ Trường Đào tạo nghề điện

Như vậy, Tập đoàn Điện lực Việt Nam là một doanh nghiệp Nhà nước,

có trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) hiện nay, có nhiệm vụ làm nòng cốt trong quá trình phát triển của ngành công nghiệp điện lực Việt Nam Đây là một yêu cầu cấp thiết nhằm đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của EVN và lộ trình này đã bước đầu đạt được những cơ sở vững chắc từ thực tiễn sau những nỗ lực đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các đơn vị trực thuộc của EVN trong thời gian gần đây, dù trước mắt vẫn sẽ còn nhiều khó khăn

1.1.2 Kết quả hoạt động SXKD của EVN

Đến cuối năm 2004, tổng công suất đặt của toàn quốc là 11.340MW, tăng trên 100 lần so với năm 1954 Về sản lượng điện tăng gần gấp 900 lần so với năm 1954 Hệ thống lưới điện truyền tải và phân phối đã trải rộng khắp mọi miền Tổ quốc

Về chỉ tiêu điện năng tính trên đầu người, thì năm 1965 đạt 30 kWh/người- năm; năm 1975 đạt 56,2 kWh/người- năm; năm 1985 đạt 84kWh/người- năm; nếu năm 1995 điện bình quân một người là 198 kWh/người- năm, thì đến năm 2005 đã đạt trên 500kWh/người- năm

Theo báo cáo kiểm điểm thực hiện nhiệm vụ năm 2005 và triển khai kế hoạch năm 2006 của EVN, trong giai đoạn 5 năm 2001- 2005, EVN đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật như sau:

Trang 16

- EVN đã tập trung đầu tư phát triển nguồn và lưới điện để đảm bảo đủ điện cho nền kinh tế và đời sống xã hội, hoàn thành sớm trước thời hạn 1 năm 21 ngày chỉ tiêu điện sản xuất và thương phẩm của kế hoạch 5 năm 2001- 2005 Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2001-

2005 đạt 15%, cao hơn 4 % so với mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2001- 2005

đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Tốc độ tăng trưỏng điện năng cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế trên hai lần

- Theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn 2001- 2010 của Đảng, EVN đã xây dựng các khu công nghiệp điện lực lớn Đến cuối năm 2005 đã hoàn thành trung tâm điện lực Phú Mỹ với tổng công suất 3.880MW, đã khởi công và ngăn sông nhà máy thuỷ điện Sơn La đúng

kế hoạch và dự kiến đưa vào vận hành tổ máy đầu tiên từ năm 2010, sớm hơn

2 năm so với chỉ tiêu đặt ra của Quốc hội

- EVN đã tích cực đầu tư xây dựng điện về nông thôn, vùng sâu, vùng

xa Tính đến nay, số huyện có điện đã đạt được tỷ lệ 100%, có 95,3% xã và 89,7 số hộ nông thôn được sử dụng điện lưới quốc gia Tỷ lệ dân có điện cao hơn nhiều nước trong khu vực có cùng điều kiện kinh tế hoặc cao hơn nước

ta

- Trong 5 năm qua, EVN đã đạt khối lượng đầu tư trên 92.100 tỷ đồng

để đầu tư và đưa vào vận hành 6 nhà máy điện lớn với tổng công suất 3.330MW, hàng trăm công trình đường dây, trạm biến áp cấp điện áp 110- 500kV và lưới điện phân phối đảm bảo cung cấp điện tới mọi miền đất nước Đồng thời đã khởi công 23 dự án nguồn điện có tổng công suất hơn 7.500MW với tổng vốn mức đầu tư hơn 100.000 tỷ đồng để chuẩn bị cho giai đoạn 2006- 2010

- EVN đã hoàn thành kế hoạch sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp theo

kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Trong thời gian qua, EVN

Trang 17

đã hoàn thành cổ phần hoá xong 17 đơn vị, trong đó có nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn- Sông Hinh, Nhiệt điện Phả Lại, thuỷ điện Thác Bà và Điện lực tỉnh Khánh Hoà bao gồm 4.344 cổ đông tham gia, được xem là các đơn vị điển hình, đại diện cho khâu phát và khâu phân phối điện Đồng thời đã chuyển được 2 điện lực và 2 nhà máy điện sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH nhà nước 1 thành viên Hoàn thành đề án xây dựng Tập đoàn Điện lực trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

- Trong 5 năm 2001- 2005, EVN đã vượt qua khó khăn, liên tục sản xuất kinh doanh có lãi với tổng lợi nhuận thu được trong giai đoạn này là 9.350 tỷ đồng, thu nộp ngân sách nhà nước đầy đủ, kịp thời và đạt 12.800 tỷ đồng

- Lĩnh vực cơ khí điện lực đã có bước đột phá về công nghệ chế tạo Từ năm 2003 đã chế tạo thành công máy biến áp 220/110kV- 125MVA, trong năm 2005 đã chế tạo máy biến áp 220kV công suất 250MVA và tự sửa chữa máy biến áp 500kV đầu tiên cho nhà máy thuỷ điện Yaly Đồng thời đã chế tạo xong thiết bị cơ khí thuỷ công cho nhà máy thuỷ điện Quảng Trị, đang chế tạo thiết bị cơ khí thuỷ công cho nhà máy thuỷ điện Bản Vẽ Chế tạo hàng nghìn tấn cột thép, dây dẫn phục vụ cho đường dây 500kV Phú Mỹ- Thường Tín và hàng trăm công trình đường dây và trạm khác

- Sự lớn mạnh vượt bậc của công tác tư vấn và quản lý dự án Từ chỗ trước đây phải thuê tư vấn nước ngoài đến nay đã tự thiết kế chế tạo và quản

lý toàn bộ dự án đường dây 500kV mạch hai; từ chỗ chỉ là tư vấn phụ trong thiết kế các dự án nguồn điện trước đây, nay đã trở thành tư vấn chính cho hơn 30 dự án nguồn điện lớn, trong đó có dự án thuỷ điện Sơn La lớn nhất Đông Nam Á

- EVN đã đào tạo được nguồn nhân lực tốt, phục vụ cho các hoạt động của EVN hiện nay và thời gian tới Đã đào tạo bồi dưỡng cho 50.000 lượt

Trang 18

CBCNV theo các loại hình đào tạo bồi dưỡng thường xuyên, nâng cao và chuyên sâu về quản lý kinh tế, kỹ thuật v.v…, trong đó có gần 2.300 người tại nước ngoài và hàng trăm học viên tham gia chương trình đào tạo thạc sỹ, tiến

sỹ các chuyên ngành khác nhau Đẩy mạnh chương trình đào tạo một số ngành nghề lĩnh vực mới như: thị trường điện, chứng khoán, công nghệ thông tin, viễn thông, điện nguyên tử v.v…Đã nâng cấp hai trường từ trung học lên cao đẳng và nâng cấp trường Cao đẳng Điện lực hiện nay lên Đại học

1.2 Thực trạng về hoạt động SXKD của Công ty Điện lực 1

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Điện lực 1

Công ty Điện lực trước đây nay là Công ty Điện lực l được thành lập

từ ngày 6/10/1969 trên cơ sở tiền thân là Cục Điện lực thuộc Bộ Điện và Than Công ty được thành lập giữa công kháng chiến chống mĩ cứu nước ở miền Nam vừa trải qua cuộc tổng tiến công nổi dậy, ở miền Bắc cuộc chiến tranh phá hoại của giặc mĩ đang ở thời kỳ gay go ác liệt nhất Các cơ sở vật chất của Công ty đều là các mục tiêu oanh tạc hàng đầu của không lực Hoa

Kỳ Thời kỳ ban đầu nguồn điện chỉ có 181MW công suất đặt như Nhà máy điện Yên Phụ, Nam Định, Cửa Cấm, Thượng Lý, Cọc 5 Hòn Gai, sau này là Nhà máy điện Vinh, Thái Nguyên, Việt Trì, Lao Cai, Hàm Rồng, đường dây các loại có 4644km và 1781 TBA các loại Lưới điện chỉ có cấp điện áp 110kV nỗi giữa các nhà máy điện và các TBA 110kV Hà Đông- Đông Anh-

An Lạc- Trình Xuyên và Mông Dương Nhiều khu vực lưới điện chuyên tải chủ yếu là đường dây 35kV đẳng cấp 1, trang thiết bị kể cả nguồn và lưới điện đều thuộc thế hệ cũ và lạc hậu, trình độ tự động hoá thấp chủ yếu là vận hành thủ công Điện năng chủ yếu dành cho các phụ tải công nghiệp, nông nghiệp và quốc phòng, điện sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất thấp

Từ những năm 1969 đến 1972 chiến tranh tàn phá ác liệt phá hỏng tới 70% là hơi, 61% số tuốc bin, 22% tổ máy phát điện, hàng chục trạm biến áp,

Trang 19

hàng trăm cây số đường dây truyền tải bị phá huỷ Tổng công suất bị phá hỏng trong chiến tranh lên đến 44,5MW chiếm khoảng 25% công suất điện miền Bắc

Sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, Công ty Điện lực 1 có nhiệm

vụ nặng nề là vừa phải khắc phục hậu quả chiến tranh khôi phục sản xuất, vừa phải sản sẻ những cán bộ lãnh đạo, công nhân có trình độ tay nghề cao, san sẻ vật tư thiết bị, tiền vốn để tiếp quản các cơ sở vật chất của ngành điện lực trên nửa phần đất nước vừa được giải phóng và tham gia trong việc thành lập Công ty Điện lực 2 ở miền Nam và Công ty Điện lực 3 ở miền Trung Trong thời gian ngắn Công ty Điện lực 1 đã khôi phục các nhà máy điện, trạm biến

áp, đường dây truyền tải để đưa công suất nguồn đạt 451MW, điện năng đạt tới 1.264kWh

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc nhiệm kỳ IV và V, sau

10 năm khôi phục và phát triển, đến năm 1985 Công ty Điện lực 2 đã hoàn thành được mạng lưới điện truyền tải điện cấp điện áp 220kV nối liền các nút quan trọng giữa Hoà Bình- Hà Đông- Chèm- Đông Anh- Phả Lại- Hải phòng- Thanh Hoá- Vinh, đưa nhà máy điện Phả Lại có tổng công suất 440MW vào hoạt động, là nhà máy nhiệt điện hiện đại và lớn nhất trong khu vực Công suất toàn Công ty đạt 860MW, sản lượng đạt 3 tỷ kWh, chiếm 50% sản lượng điện toàn quốc

Từ khi mới thành lập Công ty Điện lực 1 có 17 đơn vị thành viên, quá trình phát triển có lúc lên tới 46 đơn vị, trong thời kỳ đổi mới Công ty Điện lực 1 giảm xuống còn 36 đơn vị Để tồn tại và phát triển Công ty Điện lực 1 không ngừng cải tiến, chuyên môn hoá, hợp lý hoá, sắp xếp lại lao động dư thừa, tổ chức lại sản xuất chuyển sang cơ chế hạch toán, tự chủ, xoá bỏ bao cấp

Trang 20

Thời kỳ 1985- 1995 Công ty Điện lực 1 có nhiều chuyển biến đang kế, hàng năm đều hoàn thành các chỉ tiêu của Bộ chủ quản giao, tỷ lệ tăng trưởng nguồn, lưới điện, khách hàng cũng như các chủ tiêu kinh tế, kỹ thuật đều tăng cao hơn trước với tốc độ từ 10- 20% Sự tăng trưởng này đã đảm bảo cho chất lượng quản lý của Công ty ngày càng ổn định và vững chắc Thời kỳ này Công ty Điện lực 1 thể hiện rõ vai trò chủ chốt trong ngành điện

Tháng 12/1988 việc đưa tổ máy số 1 thuỷ điện Hoà Bình có công suất 240MW vào vận hành và liên tiếp những năm sau đó các tổ máy liên tục vào vận hành, đến tháng 4/1994 tất cả 8 tổ máy vào vận hành tăng thêm 1920MW cho hệ thống, nâng tổng công suất cho Công ty Điện lực 1 lên gần 3.000MW

So với năm 1985 nguồn điện tăng hơn 3,5 lần Đồng bộ với nguồn điện, năm

1990 lưới điện truyền tải 220kV ở miền Bắc đã vươn tới thành phố Đà Nẵng, cấp điện cho các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Thành phố

Đà Nẵng Sự kiện này đã chấm dứt thời kỳ thiếu điện của miền Trung kể từ khi giải phóng, Công ty Điện lực 1 đã tiết kiệm chi phí một cách tối đa, chịu một phần thiệt thòi về lợi nhuận bán điện cho Công ty Điện lực 3 với giá chỉ thấp bằng một phần ba giá bán điện thông thường Lượng điện bán giá thấp hàng năm lên đến gần 1 tỷ kWh

Thực hiện Nghị quyết lần thứ 22 của Ban chấp hàng Trung ương khoá

VI, Công ty Điện lực 1 đã đưa vào vận hành các đường dây và trạm biến áp 110kV khu vực Thái Nguyên- Bắc Cạn- Cao Bằng- Tuyên Quang- Hà Giang- Cẩm Phả- Tiên Yên- Móng Cái- Mộc Châu- Sơn La- Lai Châu- Lạng Sơn… Lưới điện quốc gia đã được phủ kín các tỉnh miền Bắc Năm 1992 cơ bản các huyện trong các tỉnh miền Bắc đã có điện lưới quốc gia, đem ánh sáng của Đảng tới các đồng bào dân tộc ít người, nơi xa xôi hẻo lánh

Để giải quyết tình trạng thiếu điện và điều hoà nguồn điện trong cả nước, Công ty Điện lực 1 đã dành tâm sức cho việc hoàn thành nhiệm vụ kế

Trang 21

hoạch được giao, đồng thời tham gia xây dựng đường dây và trạm biến áp 500kV Ngày 27/5/1994 đã đóng điện công trình đường dây truyền tải điện 500kV Bắc Nam dài 1.487km, hợp nhất hệ thống điện toàn quốc, khắc phục tình trạng thừa, thiếu điện giữa các miền điện từ thuỷ điện Hoà Bình qua TBA dung lượng 900MVA đáp ứng 80% nhu cầu công suất cho Công ty Điện lực 3

và 50% công suất cho Công ty Điện lực 2

Từ 10/1994 khi thành lập Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN), do thay đổi về cơ cấu tổ chức quản lý, các nhà máy điện lớn và Điện lực Hà Nội, Điện lực Hải Phòng tách khỏi Công ty Điện lực 1 trực thuộc EVN, từ đó đến nay Công ty Điện lực 1 chủ yếu làm nhiệm vụ kinh doanh bán điện trên địa bàn 26 tỉnh miền Bắc, một phần sản xuất điện từ các nhà máy thủy điện nhỏ

và điện diesen ở một số tỉnh miền núi

1.2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Điện lực 1

Do hậu quả của nền kinh tế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp nên kết cấu lưới điện nhiều nơi bất hợp lý, trật tự và công bằng xã hội trong cung ứng và sử dụng điện ở một số khu vực, thành phố lớn bị vị phạm nghiêm trọng, tổn thất điện năng của Công ty Điện lực 1 và một số thành phố lớn như

Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định rất cao Công ty đã đặt nhiệm vụ giảm tổn thất điện năng, lập lại kỷ cương trật tự xã hội về sử dụng điện lên hàng đầu

Mở đầu chiến dịch giảm tổn thất điện năng tại 3 thành phố lớn như

Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định rất cao Công ty thành lập “Đoàn công tác đặc biệt “ gồm các cán bộ có trình độ và kinh nghiệm trong công tác kinh doanh

để giúp các đơn vị củng cố lại công tác kinh doanh điện năng

Tại Hải Phòng sau hơn 3 tháng làm việc khẩn trương, đương đầu với những tiêu cực xã hội, kết quả tổn thất điện năng giảm từ 47% (năm 1991) xuống còn 20%, làm lợi do tăng doanh thu từ 40- 50 tỷ đồng/năm Theo đà đó

Trang 22

hàng năm tổn thất đều giảm và đến năm 1998 khi bàn giao Điện lực Hải Phòng về EVN tổn thất chỉ còn 8%

Tại thành phố Nam Định cũng áp dụng kinh nghiệm chỉ đạo từ Hải Phòng đã giảm tổn thất điện năng từ 33% (năm 1991) xuống còn 7% (năm 2001), giá trị làm lợi do tăng doanh thu trung bình hàng năm là 15- 20 tỷ đồng

Từ kết quả, kinh nghiệm giảm tổn thất điện năng tại các thành phố lớn, Công ty Điện lực 1 nhân rộng ra các tỉnh, thành phố khác Nhờ vậy tổn thất toàn Công ty giảm đáng kể Năm 1991 tổn thất toàn Công ty là 27% đến năm 2003 còn 7,86%, giá trị làm lợi từ tăng doanh thu hàng năm từ 150- 250

tỷ đồng Giá trị làm lợi do không phải đầu tư nguồn điện từ 200- 300 tỷ đồng

Mặt khác do việc phát triển phụ tải tăng nhanh trong giai đoạn 2000-

2002, đặc biệt là các phụ tải công nghiệp tại một số khu công nghiệp tập trung của các tỉnh phía Bắc Để giải quyết sự mất cân đối giữa cung và cầu, Công ty Điện lực 1 đã đi đầu trong Tổng công ty về công tác chống quá tải các trạm biến áp 110kV và các trạm biến áp trung gian 35kV Nhiều trạm biến áp 110kV như Quỳnh Lưu (Nghệ An), Phúc Yên (Vĩnh Phúc), Từ Sơn (Bắc Ninh) có dung lượng từ 25- 40MVA chỉ thi công trong thời gian kỷ lục là hơn

2 tháng đã đóng điện đưa vào khai thác Các trạm này trước đây thường phải thi công trong thời gian 10- 15 tháng mới xong

Mạng lưới điện nông thôn nhiều nơi được xây dựng từ những năm 1960- 1980 Các hệ thống điện này đều thuộc quyền quản lý của chính quyền các xã Trình độ quản lý kỹ thuật còn yếu kém, không được đào tạo nên dẫn đến tình trạng giá bán điện đến từng hộ nông dân hầu hết các xã đều từ 900- 1500đ/kWh Công ty Điện lực 1 dưới sự chỉ đạo của EVN đã thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Quốc hội, đồng loạt tổ chức lực lượng tiếp nhận lưới điện trung áp nông thôn đến trên cả 26 tỉnh Công tác tiếp nhận có nhiều

Trang 23

khó khăn phức tạp nhưng Công ty Điện lực 1 đã áp dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ sáng tạo đồng thời tổ chức nhiều phong trào thi đua trong nội bộ Công ty nên chỉ trong 2 năm 2000- 2001 đã tiếp nhận được:

 3.236 xã đạt 93.2% kế hoạch cả 3 năm do EVN đề ra (Tổng số có 3.472 xã có lưới điện trung áp nông thôn cần tiếp nhận)

 Chiều dài đường dây: 6.526km

Công ty Điện lực 1 là một đơn vị dẫn đầu các đơn vị trong EVN trong công tác đưa điện về các vùng sâu, vùng xa, vùng dân cư kinh tế nghèo, vùng dân tộc ít người Đến nay 100% số huyện có điện, 240/242 huyện có điện lưới quốc gia đạt tỷ lệ 99%, so với năm 1995 chỉ có 199 huyện có điện chiếm tỷ lệ 88% và 91% số xã của 26 tỉnh gồm 4.704/5.143 xã có điện lưới quốc gia, so với năm 1995 chỉ có 3.758 xã có điện chiếm tỷ lệ 69%

Kể từ đó đến nay, qua nhiều giai đoạn, thời kỳ đổi mới các cơ chế quản lý hiện tại Công ty Điện lực 1 chỉ còn quản lý 42 đơn vị trực thuộc với

25 Điện lực tỉnh khu vực phía Bắc có diện tích rộng 140.237 km2 với số dân

cư là 30.297.047 người, trong đó không bao gồm thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Điện lực Ninh Bình, Điện lực Hải Dương mới tách ra trực thuộc EVN

Trang 24

a) Về sản xuất kinh doanh điện:

Tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh và đầu tư của Công ty như sau:

- Nguồn vốn kinh doanh: 5.157 tỷ đồng

- Nguyên giá tài sản: 10.787 tỷ đồng, giá trị còn lại: 5.629 tỷ đồng

- Doanh thu hàng năm: khoảng 7000- 7500 tỷ đồng

- Nguồn vốn khấu hao cơ bản được trích mỗi năm khoảng: 900 tỷ đồng

- Khấu hao ĐTXD hàng năm: khoảng 1.600- 1800 tỷ đồng, trong đó vay nước ngoài khoảng 450 tỷ đồng

“Nguồn: Công ty Điện lực 1”

Biểu 1.2: Đường dây các loại do Công ty Điện lực 1 quản lý

TT Cấp điện áp (kV) Trạm biến áp /máy

biến áp

Dung lượng (kVA)

Trang 25

2 35/22- 10- 6 270/455 1.341.860

3 35-22-10-6/0,4-0,2 20.932/32.712 4.042.933

“Nguồn: Công ty Điện lực 1”

Kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm của Công ty Điện lực 1 đều đạt

và vượt mức so với kế hoạch, doanh thu trung bình đạt khoảng từ 7.000 đến 7.500 tỷ đồng Trong đó sản xuất điện đạt khoảng 50 triệu kWh, điện thương phẩm bán ra xấp xỉ 11 tỷ kWh đạt và vượt mức kế hoạch, tỷ lệ tổn thất đạt và giảm so với kế hoạch được giao

Biểu 1.3: Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu SXKD giai đoạn 2002- 2004

Chỉ tiêu Thực hiện năm 2002 Thực hiện năm 2003 Thực hiện năm 2004

“Nguồn: Công ty Điện lực 1”

Hoạt động sản xuất kinh doanh điện của Công ty Điện lực 1 từ những năm 2000 cho đến nay đều đạt kết quả tốt Lợi nhuận sản xuất kinh doanh điện đạt 139 tỷ năm 2000 cho đến năm 2003 tăng lên 238 tỷ đồng Cũng do thực hiện tốt chương trình chống quá tải các trạm 110kV, đưa nhanh các trạm khách hàng công nghiệp như: Thép Châu Khê, các khu công nghiệp tại Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương…vào sản xuất, nên Công ty đã tăng

Trang 26

được thương phẩm, tăng giá bán điện bình quân so với kế hoạch các năm đều tăng so với kế hoạch Tổng Công ty giao trung bình khoảng 13 đ/kWh

Công ty Điện lực 1 đã có biện pháp tháo gỡ kịp thời, đã tìm được hướng đi đúng trong sản xuất- kinh doanh và trong lĩnh vực đầu từ xây dựng

để hoàn thiện và tăng cường hiệu quả công tác quản lý, tăng cường hiệu quả đồng vốn Tất cả những khó khăn, thuận lợi đều đã được đem ra xem xét phân tích rất cặn kẽ trong các kỳ họp của Hội đồng Giám đốc, từ đó đã đi đến thống nhất sự lựa chọn và có các quyết sách quan trọng, thông qua Nghị quyết các kỳ họp Hội đồng

Với sự quan tâm và sự chỉ đạo sâu sát kịp thời của lãnh đạo Công ty, với sự nỗ lực phấn đấu của từng CBCNV toàn Công ty đã hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2000- 2005 với những thành tích sau:

Biểu 1.4: Bảng tổng hợp lợi nhuận sản xuất điện giai đoạn 2000- 2005

“Nguồn: Công ty Điện lực 1”

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản những năm gần đây đều ở mức trung bình khoảng 1.500 tỷ đồng, trong đó vốn vay nước ngoài xấp xỉ 100 tỷ đồng, cho trung bình khoảng 1.600 công trình trong đó bao gồm cả lưới điện 110kV, chống quá tải lưới điện trung áp, đưa điện về nông thôn, các công trình chống quá tải lưới điện trung áp nông thôn và nhiều công trình khác

Trong công tác đầu tư xây dựng, ngoài nhiệm vụ sản xuất kinh doanh bán điện là nhiệm vụ chính trị, trọng tâm Xong bên cạnh đó để thực hiện công tác này Công ty Điện lực 1 còn phải tập trung các nguồn vốn vào việc đầu tư, nâng cấp cải tạo, sửa chữa lưới điện để nâng cao chất lượng lưới điện, đảm bảo chất lượng điện để bán đến các hộ phụ tải Ngoài nguồn vốn hỗ trợ

Trang 27

của Tổng Công ty về nguồn vốn để đưa điện về vùng sâu, vùng xa, khu vực đầu tư chỉ mang tính công ích, tính xã hội không kinh doanh có lãi, Công ty Điện lực 1 cũng phải dành một phần vốn đáng kể để ĐTXD lưới điện hạ thế,

tổ chức việc bán điện tại các khu vực này Nguồn vốn này chỉ có thể thực hiện khi Công ty hạch toán tập trung, cân đối lỗ lãi tại các Điện lực tỉnh khu vực khác nhau mới có thể giải quyết đạt yêu cầu

Biểu 1.5: Tổng hợp tình hình ĐTXD các công trình giai đoạn 2001- 2004

Đơn vị: triệu đồng

Loại công trình Thực hiện năm 2002 Thực hiện năm 2003 Thực hiện năm 2004

Số công trình

Vốn kế hoạch

Số công trình

Vốn kế hoạch

Số công trình

Vốn kế hoạch

“Nguồn: Công ty Điện lực 1”

Với mô hình tổ chức như hiện tại ngoài các đơn vị phụ trợ như: Xí nghiệp xây lắp điện, Trung tâm tư vấn, Xí nghiệp sản xuất thủy tinh cách điện, Xí nghiệp cơ điện vật tư… 25 Điện lực chủ yếu tập trung vào việc sản xuất, đầu tư xây dựng để kinh doanh bán điện và hạch toán phụ thuộc với

Trang 28

Công ty Điện lực 1 Việc tổ chức như hiện nay đã liên kết, hỗ trợ có hệ thống được cả về nguồn điện và lưới điện giữa các Điện lực tỉnh cũng như về nguồn vốn và hạch toán

Trong những năm 2002- 2003 trong số 25 Điện lực tỉnh theo tính toán

kế hoạch chỉ có 12 Điện lực là hạch toán trong sản xuất kinh doanh điện có lãi (Chiếm 50%), các Điện lực khu vực các tỉnh đồng bằng, thành phố, khu vực tập trung công nghiệp, mật độ dân cư tập trung cao, khu vực sản xuất kinh doanh phát triển như Thanh Hoá, Hải Dương, Nam Định, Phú Thọ, Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên….thì sản xuất kinh doanh bán điện sẽ có lãi nhiều Mười ba Điện lực tỉnh kinh tế còn có nhiều khó khăn, công nghiệp phát triển chậm, các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa như: Nam Định, Bắc Giang, Thái Bình, Yên Bái, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Hà Tĩnh những khu vực này phụ tải phát triển chậm, đời sống dân sinh, văn hoá chính trị phát triển chưa mạnh nên việc sản xuất kinh doanh không có lại Công ty phải bù lỗ Do có việc quản lý hạch toán chung toàn Công ty Điện lực 1 nên sản xuất vẫn ổn định, đời sống CBCNV đảm bảo do có sự điều tiết lỗ lãi giữa các vùng trong Công ty để cân bằng, hỗ trợ giá bán điện Chính vì vậy điều hoà được các nguồn vốn để đầu

tư lưới điện và mở rộng sản xuất, đảm bảo công ăn việc làm và đảm bảo sản xuất phục vụ tốt nhiệm vụ cung cấp điện đầy đủ, phục vụ chính trị, đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Đối với nguồn điện, hệ thống điện liên thông giữa các tỉnh giúp điều hoà và cấp nguồn điện ổn định, hỗ trợ lẫn nhau khi có sự cố trong tổ chức giải quyết sự cố lưới điện truyền tải 110kV, Công ty đã nhiều lần huy động lực lượng nhiều đơn vị trực thuộc và thời gian giải quyết sự cố nhanh, đảm bảo cấp điện trở lại cho khách hàng được tốt Một số tỉnh còn có sự hỗ trợ nguồn điện từ lưới điện trung áp 35kV, 22kV tại các khu vực giáp gianh, khu vực

Trang 29

hẻo lánh, để giải quyết tốt việc cấp điện khi sự cố, đặc biệt là khu vực các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa như Điện lực Hà Giang- Điện lực Cao Bằng, Điện lực Lao Cai- Điện lực Cao Bằng có hiệu quả khi huy động hỗ trợ giải quyết khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt…

b) Về tình hình sản xuất khác:

Ngoài việc sản xuất kinh doanh điện, Công ty Điện lực 1 còn có một số đơn vị phụ trợ trực thuộc, tham gia sản xuất khác bao gồm một số lĩnh vực như:

- Xây lắp điện, sản lượng đạt khoảng 60 tỷ đồng

- Tư vấn xây dựng điện, sản lượng đạt khoảng 7 tỷ đồng

- Sản xuất sứ thuỷ tinh cách điện

- Sản xuất hòm công tơ, dây cáp điện

- Vật liệu cách điện

- Khách sạn Điện lực

- Vận chuyển hàng hoá có trọng tải lớn…

- Các nhà nghỉ điều dưỡng tại Sầm Sơn- Thanh Hoá, Sa pa- Lào Cai, Cửa Lò- Nghệ An, Tam Đảo- Vĩnh Phúc, Thạch Hải- Hà Tĩnh do Công ty Điện lực 1 trực tiếp quản lý, hoặc uỷ quyền cho một số Điện lực quản lý, hiện tại vẫn mang tính bao cấp, chỉ danh chủ yếu cho việc điều dưỡng của CBCNV trong Công ty nghỉ theo chế độ

Tồn tại, bất cập chủ yếu trong lĩnh vực này là:

- Việc sản xuất khác của các đơn vị phụ trợ với qui mô nhỏ bé, bao cấp

- Bộ máy quản lý cồng kềnh, chưa phù hợp, nhạy bén, năng động với thị trường luôn biến động

- Hiệu quả kinh doanh thấp, chi phí lớn nên thu nhập bình quân cho người lao động thấp

Trang 30

- Vốn đầu tư dàn trải qua nhiều năm, nhiều giai đoạn không tập trung đúng các mục tiêu nên hiệu quả kinh doanh không cao

- Đôi khi còn hạch toán lẫn lộn giữa SXKD điện và các sản xuất khác chưa phân định rõ được trách nhiệm và quyền hạn của mình để chủ động trong sản xuất

Các đơn vị phụ trợ này hiện tại đạng hạch toán phụ thuộc, báo sổ, vẫn còn mang nặng tính bao cấp, nên chưa chủ động trong kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình, chưa có tính chủ động sáng tạo và có thể đủ sức cạnh tranh với các đơn vị khác ngoài thị trường Một số đơn vị đang trong tiến trình thực hiện cổ phần hoá như Xí nghiệp vật liệu cách điện, Xí nghiệp cơ điện vật tư,

Xí nghiệp giao nhận vận chuyển, Phân xưởng sử thuỷ tinh Thái Bình…Ngoài

ra Công ty Điện lực 1 cũng đang triển khai từng bước đẩy mạnh thực hiện nhiều dự án sản xuất khác ngoài kinh doanh như: đầu tư xây dựng các nhà máy thuỷ điện, du lịch sinh thái, lắp ráp công tơ điện tử, sản xuất sứ thuỷ tinh cách điện… để phát triển và đi lên

1.3 Đánh giá về hoạt động của EVN và Công ty Điện lực 1

1.3.1 Đánh giá về hoạt động của EVN

Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của phụ tải luôn luôn lớn hơn tốc độ tăng trưởng của đầu tư phát triển nguồn điện Tốc

độ tăng trưởng phụ tải giai đoạn 2001-2005 là 14,7%/năm Dự báo tốc độ tăng trưởng sẽ ở mức 16-17%/năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 Vào các năm 2006-2008 sẽ xuất hiện nguy cơ thiếu điện trên diện rộng ở nước ta Mức

độ thiếu hụt lượng điện này phụ thuộc rất lớn vào nguồn huy động vốn để đầu

tư xây dựng các dự án điện trong 5 năm tới Theo cân đối tài chính dài hạn, giai đoạn 2005-2010, EVN cần phải huy động cho đầu tư với tổng số vốn lên tới 231.050 tỷ đồng, trong đó đầu tư thuần là 202.559 tỷ đồng Đây là số vốn lớn mà trước mắt, EVN khó có thể đáp ứng nếu không có sự góp sức và chỉ

Trang 31

đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan và không có giải pháp hữu hiệu

để huy động vốn

Theo đánh giá chung, mô hình hiện tại của EVN có mặt tích cực là cơ chế chỉ huy điều hành tập trung Cơ chế này tạo điều kiện thuận lợi trong việc khai thác, điều hành kinh tế hệ thống điện, điều tiết thuỷ điện- nhiệt điện, mùa khô- mùa mưa; thuận tiện cho việc quản lý kỹ thuật; phối hợp tốt về khai thác, vận hành và đầu tư Cơ chế tập trung khấu hao cũng giúp EVN xây dựng được một hệ thống các nhà máy điện đa dạng về loại hình (trong đó có những nhà máy điện lớn), phát triển một mạng lưới truyền tải đồng bộ Cơ chế này cũng giúp ngành điện có điều kiện thuận lợi thực hiện các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao về công tác chính sách xã hội, nhất là công tác điện nông thôn, duy trì hoạt động của các đơn vị phân phối điện tại các tỉnh miền núi, góp phần phát triển kinh tế đất nước một cách toàn diện và ổn định tình hình chính trị- xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế trong hiện tại: trình độ công nghệ còn lạc hậu so với mức trung bình của thế giới (một số nhà máy vẫn sử dụng thiết bị cũ, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật thấp, gây ô nhiễm môi trường; cung cấp điện chưa ổn định trong một số thời điểm, chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng, vẫn còn khả năng thiếu điện); năng suất lao động thấp; hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao và chưa ổn định (tỷ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu của EVN chỉ đạt 2,9% trong năm 2005) Nguyên nhân dẫn tới những hạn chế này là mặt trái của cơ chế quản lý cũ, thực hiện hạch toán hai cấp nên không phát huy hết tính độc lập, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên, chỉ đạo điều hành bằng mệnh lệnh hành chính, chưa gắn chặt với hiệu quả sản xuất kinh doanh

Với mô hình tổ chức như hiện tại của EVN, mặc dù đang trong tiến trình đổi mới doanh nghiệp xong EVN vẫn thực hiện theo cơ chế cũ, mang

Trang 32

nặng hình thức và tính bao cấp vẫn còn cao, cơ chế duyệt và giao kế hoạch quá lỗi thời và lạc hậu, không phát huy được sức mạnh, tính chủ động trong lao động sáng tạo cho các đơn vị thành viên Vẫn mang nặng tính “xin cho” trong việc giao kế hoạch để thực hiện EVN còn ôm đồm quá nhiều việc, quản

lý thủ tục hành chính rườm rà, mà thực tế không thực hiện được Ngay cả việc chỉ tập trung giải quyết đảm bảo đủ nguồn điện và truyền tải để cung cấp cho

cả nước đã đủ để EVN phải phấn đấu thực hiện, không tập trung đủ trí lực để thực hiện các công việc khác nữa Nếu có thực hiện thì theo hướng dàn trải, mỗi công việc thực hiện được một phần, không tập trung giải quyết dứt điểm được theo kế hoạch đề ra Ví dụ như: hiện nay EVN đang tập trung một số chiến lược lớn như hình thành thị trường điện cạnh tranh, ĐTXD viễn thông công cộng, tiến tới xây dựng thêm ngành tài chính…Trong khi đó các công việc cụ thể thì lại chưa thực hiện tốt được, kế hoạch EVN giao cho các Công

ty Điện lực trực thuộc chưa công bằng, phần lớn phân chia theo kiểu bình quân, không kích thích thúc đẩy sản xuất, không kích thích được thế mạnh của các đơn vị Khi các Công ty Điện lực muốn thực hiện một dự án nào đó

mà tiến độ yêu cầu cần cấp bách giải quyết thì EVN chưa đáp ứng được yêu cầu

1.3.2 Đánh giá về hoạt động của Công ty Điện lực 1

Công ty Điện lực 1 hiện đang quản lý 25 Điện lực các tỉnh phía Bắc (trừ Hà nội, Hải phòng, Ninh bình, Hải dương) và 12 đơn vị phụ trợ với diện tích 140.237 km2, dân số trên 30 triệu người Nguồn thu kinh doanh chủ yếu

là việc bán điện từ các Điện lực cho các phụ tải, các đơn vị phụ trợ khác chỉ tham gia làm một số nhiệm vụ phục vụ cho công tác củng cố lưới điện nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bán điện của Công ty Giá trị thu được của các đơn vị phụ trợ chủ yếu dựa vào các nhiệm vụ của Công ty giao, việc sản xuất kinh doanh khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong doanh thu của các đơn vị

Trang 33

Tuy nhiên do cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh từ Tổng Công ty xuống các đơn vị vẫn là cơ chế kế hoạch hoá tập trung theo kiểu bao cấp nên Công ty Điện lực 1 phải duy trì nhiệm vụ điều hành chung mọi hoạt động của các đơn vị trực thuộc nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ kế hoạch được cấp trên giao Các Điện lực và các đơn vị phụ trợ khác thực hiện theo kế hoạch được Công ty Điện lực 1 duyệt và giao hàng quỹ, năm, ngoài ra các đơn vị phụ trợ còn có kế hoạch khai thác riêng của mình Ngoài những ưu điểm về tổ chức hoạt động kinh doanh như việc tập trung được sức mạnh vật chất, sức mạnh

về nguồn vốn, về lao động, hỗ trợ, bù đắp lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, về nguồn và lưới điện, vị trí của các Điện lực tỉnh là đầu mối quan trọng của Công ty Điện lực 1 tại địa phương để Công ty Điện lực 1 khai thác lợi thế, phát huy sức mạnh tiềm ẩn của từng địa phương, từng khu vực, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển sản xuất đa ngành nghề của minh…

Do việc tổ chức sản xuất như hiện nay vẫn còn mang tính bao cấp, chưa phát huy được sức mạnh của từng đơn vị, cá nhân trong toàn Công ty, các đơn

vị chưa chủ động, năng động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Việc hạch toán của các Điện lực còn thiếu tính độc lập tự chủ trong từng chi tiết, chưa đầy đủ nên chưa nâng cao được ý thức trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, Điện lực kinh doanh lỗ nhưng vẫn đảm bảo đủ lương cho CBCNV, Điện lực có lãi thu nhập chỉ cao hơn Điện lực lỗ chút ít nên không thúc đẩy được sản xuất

Do hạch toán tập trung nên Công ty Điện lực 1 vẫn còn mang nặng chức năng bao cấp, hỗ trợ, chỉ đạo nhiều công việc mang tính sự vụ, mặc dù

đã phân cấp nhiều cho các đơn vị Công ty Điện lực 1 chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý để giao quyền cho các đơn vị chủ động trong sản xuất kinh doanh kể

cả việc tự vay vốn để ĐTXD trong sản xuất kinh doanh đảm bảo có lãi với cơ chế các đơn vị tự vay và tự chịu trách nhiệm Trong thời gian vừa qua Công

Trang 34

ty Điện lực 1 đã thực hiện quyết định phân cấp uỷ quyền quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư, nhưng nếu so với các qui định pháp luật hiện hành (Luật xây dựng, Luật Doanh nghiệp…) thì còn nhiều điều bất cập: Công ty Điện lực 1 quản lý nguồn vốn khấu hao cơ bản, nguồn vốn vay nhưng quyết định đầu tư lại là các Điện lực trực thuộc (phê duyệt BCNCKT), vì vậy nảy sinh nhiều vấn đề trong công tác ĐTXD

Thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Điện lực 1 như trên cho thấy: mặc dù kinh doanh có lãi nhưng vẫn kém hiệu quả do công nghệ lạc hậu; bộ máy quản lý cồng kềnh chưa phù hợp, chưa có kinh nghiệm

và còn nặng tính bao cấp Vì vậy để khắc phục những tồn tại kể trên cần thiết phải cổ phần hoá Công ty Điện lực 1, từ đó đề ra cơ chế quản lý phù hợp, tự chịu trách nhiệm, chủ động trong sản xuất nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường

Tóm tắt chương 1:

Trong chương này, tác giả nêu lên thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của EVN và của Công ty Điện lực 1, phân tích và đánh giá những kết quả SXKD đã đạt được cũng như là những vấn đề còn tồn tại chưa được giải quyết được trong mô hình hoạt động của EVN và Công ty Điện lực 1 Từ đó cần thiết phải đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp theo hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp Công ty Điện lực 1

Tổng Công ty Điện lực Việt Nam là một tập đoàn kinh tế lớn của nhà nước nhưng hiện nay vẫn hoạt theo cơ chế quản lý cũ, thực hiện hạch toán hai cấp nên không phát huy được hết tính độc lập, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên, chỉ đạo điều hành bằng mệnh lệnh hành chính, chưa gắn chặt với hiệu quả sản xuất kinh doanh Công

ty Điện lực 1 là một đơn vị thành viên của EVN, hạch toán độc lập đủ tư cách pháp nhân Mọi nhiệm vụ chính trị và sản xuất kinh doanh điện phải thực

Trang 35

hiện theo đúng chỉ đạo và kế hoạch được giao của EVN Do việc giao kế hoạch của EVN vẫn mang tính bao cấp chưa đáp ứng và phù hợp với tình hình hiện tại của đất nước để thúc đẩy sản xuất của các Công ty Điện lực phát triển nhanh mạnh Điều này sẽ hạn chế, kìm hãm sự phát triển của Công

ty Điện lực 1 cũng như các đơn vị trực thuộc EVN, không phát huy tính chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh và kết quả lợi nhuận trong sản xuất được phân chia theo kiểu bình quân chủ nghĩa, không kích thích được việc phát huy các thế mạnh đặc thù của từng đơn vị thành viên

Vì vậy trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi Công ty Điện lực 1 cần phải đổi mới doanh nghiệp theo hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp để đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt, giá thành hạ trên cơ sở những cơ chế quản lý và mô hình tổ chức hợp lý, tạo những tiền đề để hoà nhập với khu vực

và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Trang 36

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA CỔ PHẦN HOÁ

DOANH NGHIỆP VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP

2.1 Cơ sở lý thuyết cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN) 2.1.1 Sự cần thiết phải CPH DNNN, nguyên tắc và mục tiêu

a) Sự cần thiết phải CPH DNNN

Mục tiêu của mọi doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là phải đạt hiệu quả kinh doanh Mục tiêu cao nhất và không thay đổi đó là phát triển trên cơ sở có lợi nhuận cao, bảo toàn và tăng vốn kinh doanh, mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và mọi người lao động trong doanh nghiệp (các nhà quản lý, người lao động trực tiếp) đồng thời đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, của xã hội Điều này cũng có nghĩa là khi doanh nghiệp không đạt được những mục tiêu cơ bản trên thì phải xem xét đánh giá lại và cần có những thay đổi cần thiết Trong nhiều trường hợp đó là một sự cải cách triệt để trong hoạt động kinh doanh để đảm bảo đạt được các mục tiêu đã định Không làm được như vậy sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ bị

đe doạ Trên thực tế do không nhận ra hay nhận ra nhưng không kịp cải cách, hoặc cải cách không đúng đã làm nhiều doanh nghiệp phá sản, bất kể đó là doanh nghiệp nhỏ hay các tập đoàn kinh tế lớn có phạm vi hoạt động toàn cầu, và cũng không loại trừ doanh nghiệp đó thuộc loại hình sở hữu nào Như vậy, vấn đề cải cách doanh nghiệp luôn được đặt ra và cải cách là cần thiết để đạt được mục tiêu đã định

Ở Việt Nam cải cách hay đổi mới DNNN là yêu cầu khách quan Do những áp lực cạnh tranh, vì sự tồn tại và phát triển, và vì sự cần thiết phải thực hiện sứ mệnh của các DNNN mà phải tiến hành đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp này Trong đó CPH là nội dung chính, là hướng cải cách chủ yếu

Trang 37

Cổ phần hoá DNNN thực chất là chuyển các DNNN với một chủ sở hữu (Nhà nước) sang hình thức công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu (các cổ đông) nhằm cơ cấu lại khu vực DNNN một cách hiệu quả

b) Nguyên tắc và mục tiêu của CPH DNNN

Cương lĩnh chính trị năm 1991 và các Nghị quyết của Đảng ta luôn khẳng định con đường đi lên của đất nước là xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam XHCN Do đó, từng thời kỳ, từng chính sách và từng bước phát triển đều phải quán triệt sâu sắc và hướng tới mục tiêu này Chúng ta đang tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, do đó trong xây dựng, thực hiện những chính sách, nhiệm vụ cụ thể phải nắm vững định hướng XHCN, nhất là trong sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá các DNNN Văn kiện đại hội lần thứ X của Đảng nên rõ những nguyên tắc đó là:

- Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’;

- Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân;

- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi liền với công bằng xã hội Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế

- Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều hành nền kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng

Những nguyên tắc nói trên phải được quán triệt trong quá trình sắp xếp, đổi mới và CPH DNNN, bởi lẽ cổ phần hoá không phải là tư nhân hoá Những cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường được vận dụng ở đây nhằm

Trang 38

bảo đảm sự hiện diện và sự phát triển các nguyên tắc định hướng XHCN nêu trên và thực hiện các mục tiêu cụ thể tiến trình CPH DNNN Đó là:

- Tăng thêm vốn xã hội vào sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy DNNN phát triển;

- Tăng quyền là chủ của người lao động trong doanh nghiệp với cả hai tư cách là người làm công ăn lương và người chủ thực sự có một phần tài sản trong doanh nghiệp;

- Đổi mới quản trị doanh nghiệp với sự tham gia của nhiều người, nhiều thành phần kinh tế (đa sở hữu) đóng góp vốn;

- Phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và vai trò làm chủ của công nhân, người lao động thông qua các tổ chức chính trị- xã hội trong doanh nghiệp;

2.1.2 Chủ trương của Đảng trong tiến trình thực hiện cổ phần

Để thực hiện thành công đường lối đổi mới nền kinh tế và chủ trương tổ chức sắp xếp lại DNNN trong đó có CPH DNNN, phù hợp với từng giai đoạn, qua khảo nghiệm thực tiễn Đảng ta đã từng đưa ra chủ trương cụ thể tại các thời kỳ như sau:

- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (11- 1986) đã đề ra chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN Ngày 10/5/1990 với Quyết định số 143/HĐBT Nhà nước đã chính thức ban hành chủ trương chuyển đổi một số DNNN sang công ty cổ phần Đây là một chủ trương có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình hình thành các loại hình DN mới, đó là Công ty cổ phần để khai thác các ưu điểm của công ty cổ phần đồng thời làm giảm bớt gánh nặng về tài chính cho đất nước

- Nghị quyết Hội nghị TW2 khoá VII ( 12-1991) đã nêu chủ trương chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành

Trang 39

lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp

- Nghị quyết Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII (11-1994) đã khẳng định để thu hút thêm các nguồn vốn tạo nên động lực ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có hiệu quả, cần thực hiện các hình thức CPH có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; trong đó sở hữu nhà nước chiếm cổ phần chi phối

- Nghị quyết Đại hội VIII (7-1996) đã một lần nữa khẳng định triển khai tích cực và vững chắc việc CPH DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả…

- Thông báo ý kiến của Bộ Chính trị khoá VIII số 63/TB/TW ( 4-1997): CPH phải xuất phát từ yêu cầu của phát triền doanh nghiệp nhằm huy động thêm vốn của cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để mở rộng ngành nghề, hiện đại hoá công nghệ, tạo thêm việc làm, phân công lại lao động, phát triển sản xuất, thêm khả năng cạnh tranh, tích luỹ cho doanh nghiệp đóng góp cho ngân sách và thu nhập cho người lao động…

- Nghị quyết Đại hội IX (4- 2001) khẳng định hoàn thành cơ bản việc CPH các DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, bán cổ phần cho người lao động, mở rộng việc bán cổ phần cho nhà đầu tư trong nước và ngoài nước

- Nghị quyết Hội nghị TW3 khoá IX (8- 2001): Mục tiêu CPH DNNN là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh nhằm tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN; nhằm phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng

Trang 40

cường giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, CPH DNNN không được biến thành tư nhân hoá DNNN

- Văn kiện Đại hội lần thư X của Đảng đề cao đẩy mạnh và mở rộng diện CPH DNNN, kể cả các Tổng Công ty Nhà nước và xác định DN cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất, kinh doanh và sở hữu

- Nghị định số 28/CP ngay 7/5/1996 của Chính phủ về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần

- Nghị định số 25/CP ngày 26/3/1997 của Chính phủ về sửa đổi một số điều của Nghị định số 28/CP

- Nghị định số 44/CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ về chuyển DNNN thành công ty cổ phần thay thế cho 2 Nghị định trên Cùng với nó là:

+ Thông tư 104/1998/TT- BTC ngày 18/7/1998 hướng dẫn21/8/1998 hướng dẫn về chính sách đối với người lao động khi chuyển DNNN thành Công ty cổ phần

Ngày đăng: 05/03/2021, 13:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Công ty Điện lực 1 (2005), Mục tiêu chiến lược phát triển kinh doanh của Công ty Điện lực 1 giai đoạn từ 2005- 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu chiến lược phát triển kinh doanh của Công ty Điện lực 1 giai đoạn từ 2005- 2010
Tác giả: Công ty Điện lực 1
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
[2] Điện lực Hà Tĩnh (2006), Hồ sơ xác định GTDN để cổ phần hoá, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ xác định GTDN để cổ phần hoá
Tác giả: Điện lực Hà Tĩnh
Năm: 2006
[3] Điện lực Hà Tĩnh (2006), Báo cáo tổng kết hoạt động SXKD 9 tháng đầu năm 2006, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động SXKD 9 tháng đầu năm 2006
Tác giả: Điện lực Hà Tĩnh
Nhà XB: Hà Tĩnh
Năm: 2006
[5] Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (2006), Báo cáo kiểm điểm thực hiện nhiệm vụ năm 2005 và triển khai kế hoạch năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm điểm thực hiện nhiệm vụ năm 2005 và triển khai kế hoạch năm 2006
Tác giả: Tổng Công ty Điện lực Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
[6] Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (2004), Tổng công ty Điện lực Việt Nam (Electricty of VietNam) 2004- 200, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng công ty Điện lực Việt Nam (Electricty of VietNam) 2004- 200
Tác giả: Tổng Công ty Điện lực Việt Nam
Năm: 2004
[7] Thủ tướng Chính phủ (2006), Nghị định số 187/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 187/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
[8] Thủ tướng Chính phủ (2006), Thông tư số 126/2004/TT- BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 126/2004/TT- BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
[9] Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 147/2006/QĐ- TTg ngày 22/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 147/2006/QĐ- TTg ngày 22/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w