1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịchvà rủi ro đạo đức

33 362 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức
Trường học Đại Học Ngoại Thương
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 134,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối Thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức nơi các chứngkhoán được mua bán theo những nguyên tắc

Trang 1

Lý luận chung về thị trường chứng khoán,

thông tin không cân xứng, lựa chọn đối

Thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức nơi các chứngkhoán được mua bán theo những nguyên tắc nhất định (theo LongmanDictionary of Business English, 1985 – nguyên văn: ”Securities market is anorganized market where securities are bought and sold under fixed rules”)

Theo giáo trình “Thị trường chứng khoán” của trường đại học NgoạiThương, 1998, thị trường chứng khoán được định nghĩa là “một thị trường mà ởnơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đíchkiếm lời”

Nghị định 48/CP ngày 11/7/1998 quy định: “Thị trường giao dịch tậptrung là địa điểm hoặc hệ thống thông tin, tại đó các chứng khoán được mua,bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán”

Khái niệm thị trường chứng khoán là một khái niệm có tính lịch sử nêntrong thực tế, thuật ngữ thị trường chứng khoán thường có cách hiểu sát thựchơn và có thể có rất nhiều nội dung mới

Trang 2

1.2 Chức năng, cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán.

1.2.1 Chức năng.

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ry phát hành, số tiền nhànrỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mởrộng sản xuất xã hội Bằng cáh hỗ trợ các hoạt đọng đàu tư củ công ty, thịtrường chứng khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển củanền kinh tế quốc dân Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và chínhquyền địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng vàđầu tư phát triển hạ tằng kinh tế, phục vụ các nhu cầu vhung của xã hội

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tưlành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thịtrường rất khác nhau về thời hạn, tính chất và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư

có thể lựa chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thíchcủa mình Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăngmức tiết kiệm quốc gia

Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi cácchứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họmuốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứngkhoán đối với nhà đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốnđầu tư Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và hiệu quả thì càng

có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thịtrường

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Trang 3

Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phảnánh một cách tổng hợp và kịp thời, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt độngcủa các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra mộtmôi trường cạnh tranh lành mạnh nhằng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kíchthích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.

Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.

Các dấu hiệu của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nềnkinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấyđầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng khoángiảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, thị trường chứngkhoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọnggiúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trườngchứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ranguồn thu bù đắp ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng cóthể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoánnhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế

1.2.2 Cơ cấu của thị trường chứng khoán

Có nhiều căn cứ phân loại thị trường chứng khoán nhưng phổ biến vàquan trọng nhất là căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, theo đó thị trườngchứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp

Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hànhthông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành do đó đây là nơiduy nhất đem lại vốn đầu tư cho tổ chức phát hành Việc mua bán trên thịtrường sơ cấp thường diễn ra giữa các ngân hàng, công ty phát hành, và các tập

Trang 4

đoàn tài chính lớn… giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức pháthành ấn định và thường được in ngay trên chứng khoán Như vậy, có thể thấyrằng, thị trường sơ cấp đóng vai trò chứng khoán hoá các nguồn vốn cần huyđộng đồng thời chu chuyển vốn từ nơi thừa vốn tới nơi cần vốn và chuyển nóthành vốn dài hạn

Thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hànhtrên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp đóng vai trò đảm bảo tính thanhkhoản cho các chứng khoán đã phát hành và có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bánchứng khoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứkhông phải nhà phát hành Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào nhữngngười phát hành chứng khoán mà vận chuyển giữa những người đầu tư chứngkhoán trên thị trường Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thịtrường chứng khoán, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp

Thứ hai, giao dịch trên thị trường thứ cấp thể hiện nguyên tắc cạnh tranh

tự do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do quan hệ cung cầu quyết định

Thứ ba, thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư

có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường này

Ngoài cách phân loại trên, có thể phân loại thị trường chứng khoán theotính chất tập trung của thị trường, theo đó thị trường chứng khoán bao gồm Sởgiao dịch chứng khoán (thị trường tập trung) và thị trường OTC (thị trường phitập trung) Tại sở giao dịch, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, cáclệnh được chuyển đến sàn giao dịch và tham gia vào quá trình khớp lệnh đểhình thành giá giao dịch Trên thị trường OTC, các giao dịch (cả sơ cấp và thứcấp) được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán khắp

Trang 5

quốc gia và được nối với nhau bằng mạng máy tính Giá cả hình thành theophương thức thoả thuận

1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán

Nguyên tắc cạnh tranh

Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan

hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công

ty Trên thị trường sơ cấp, các tổ chức phát hành cạnh tranh nhau để bán chứngkhoán của mình cho nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứngkhoán theo các mục tiêu của riêng mình Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tưcũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất và giá cảđược hình thành theo phương thức đấu giá

Nguyên tắc công bằng

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham giathị trường Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuânthủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chi sẻ thông tin và trongviệc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó

Nguyên tắc công khai

Chứng khoán là loại hàng hoá có tính trừu tượng, người đầu tư không thểkiểm tra trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hoá thông thường màphải dựa trên cơ sở các thông tin có liên quan Vì vậy thị trường chứng khoánphải được xây dựng trên cơ sở hệ thông công bố thông tin tốt Theo luật định,các bên tham gia phát hành chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trungthực và kịp thời những thông tin có liên quan tới tổ chức phát hành, tới đợt pháthành Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu cũng như theocác chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các phương tiên thông tin đạichúng, sở gia dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan khác

Nguyên tắc trung gian

Trang 6

Theo nguyên tắc này, trên thị trường chứng khoán, các giao dịch đượcthực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thịtrường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của tổ chức phát hành

mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua cácnghiệp vụ môi giới, kinh doanh các công ty chứng khoán mua bán chứng khoángiúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau thông qua việc thựchiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình

1.3 Các thành phần tham gia trên thị trường chứng khoán

Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chiathành ba nhóm chính: tổ chức phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức khác có liênquan

1.3.1 Tổ chức phát hành

Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thịtrường chứng khoán Tổ chức phát hành bao gồm Chính phủ và chính quyền địaphương (phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương), các công ty(phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty) và các tổ chức tài chính khác đóngvai trò cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán

1.3.2 Nhà đầu tư

Nhà đầu tư là những người thực sự mua bán chứng khoán trên thị trườngchứng khoán Nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc tổ chức

Trang 7

Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham giamua bán chứng khoán với mục đích kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, trong đầu tư thìlợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngượclại Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu

tư phù hợp với khả năng cũng như mức độc chấp nhận rủi ro của mình

Các nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tư, thườngxuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các tổ chức nàythường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm đểnghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư Một số nhà đầu tưchuyên nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là các công ty đầu tư, cáccông ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác Đầu tưthông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hoá danh mụcđầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiên bởi các chuyên gia giàu kinhnghiệp và có chuyên môn cao

Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính.Các công ty tài chính được phép kinh doanh chứng khoán, có thể sử dụng vốn

củ mình để đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi

Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng

có thể trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho chínhmình

1.3.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán

Công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứngkhoán, có thể đảm nhận môt hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảolãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư, và tư vấn đầu tư

Để có thể thực hiện mỗi nghiệp vụ, các công ty chứng khoán phải đảmbảo được một số vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền

Trang 8

Các ngân hàng thương mại

Tại một số nước, các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có đểtăng và đa dạng hoá lợi nhuận thông qua đầu tư chứng khoán Tuy nhiên cácngân hàng chỉ được đầu tư vào chứng khoán trong những giới hạn nhất định đểbảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán Một số nước chophép ngân hàng thương mại thành lập công ty con độc lập để kinh doanh chứngkhoán và thực hiên nghiệp vụ bảo lãnh phát hành

Ngoài ba thành phần trên đây, thị trường chứng khoán còn có sự tham giakhông thể thiếu của các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán như: các

cơ quan quản lý nhà nước, sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà kinhdoanh chứng khoán, tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán…

2 Thông tin không cân xứng.

Thông tin không cân xứng và những bằng chứng lý thuyết cũng như thựcnghiệm về vấn đề này hiện nay đóng vai trò là công cụ cơ bản của mọi nhà kinh

tế học tài chính trong nền kinh tế hiện đại Thông tin không cân xứng là mộthiện tượng có ý nghĩa quan trọng đối với một số vấn đề của kinh tế học và tàichính từ kinh tế học vĩ mô và vi mô (như vấn đề các công cụ nợ của doanhnghiệp, các chứng chỉ đầu tư và cổ tức, mức đan sâu, rộng và lâu dài của cácchu kỳ kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế dài hạn) đến các vấn đề liên quan đếnkinh tế quốc tế và nguồn gốc của các cuộc khủng hoảng tài chính Để tạo cơ sởcho những phân tích tiếp theo của luận văn, trong phần này tôi xin trình bày mộtcách chi tiết học thuyết Thông tin không cân xứng và các khái niệm có liênquan

2.1 Khái niệm về thông tin không cân xứng.

Trong mọi nền kinh tế, các giao dịch về tài chính đều hướng đến mục tiêucuối cùng là chuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến những dự án đầu tư hiệu quả nhấtvới chi phí thấp nhất có thể Nền sản xuất hàng hoá và dịch vụ của xã hội liên

Trang 9

tục phát triển làm gia tăng không ngừng giá trị thặng dư Chịu tác động bởi chiphí cơ hội của việc giữ tiền, những chủ nhân của phần giá trị thặng dư đó luôntìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt nhất Diễn ra đồng thời với quá trình đó là sự huyđộng vốn của các chủ thể kinh tế, những người muốn thành lập hoặc mở rộnghoạt động sản xuất kinh doanh Sự gặp nhau của hai luồng nhu cầu trên tạo nêncác giao dịch về tài chính và tổng hợp tất cả các giao dịch tài chính đó hìnhthành thị trường tài chính của một quốc gia

Tuy nhiên sẽ là không đơn giản để các giao dịch về tài chính đạt đến mụctiêu cuối cùng trên đây Nguyên nhân là do sự tương hợp về yêu cầu giữa ngườicho vay và người đi vay không phải bao giờ cũng đạt được

Từ phía người cho vay, với vai trò là người sở hữu vốn, yêu cầu đảm bảo

an toàn cho đồng vốn luôn được đặt lên trước tiên Họ yêu cầu người vay vốnđưa ra những bằng chứng cho thấy tính an toàn của đồng vốn và điều đó phảiđược thể hiện thực tế thông qua việc hoàn trả vốn khi thời hạn vay kết thúc Yêucầu chung thứ hai của người cho vay là thu được lãi suất kỳ vọng vào đúng thờiđiểm cam kết Vì những người cho vay chấp nhận cho vay là để chống lại chiphí cơ hội của việc giữ tiền mà biểu hiện ra chính là lãi suất huy động vốn (i)của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, nên lãi suất kỳ vọng không thểthấp hơn i Ngoài hai yêu cầu trên, trong những tình huống cụ thể người cho vaycòn có những yêu cầu khác về hình thức trả lãi, cung cấp thông tin, … nhưngtựu chung lại đó cũng chỉ là các yêu cầu phái sinh nhằm đảm bảo hai yêu cầutrên đây

Đối với người đi vay, tìm được nguồn vốn đủ lớn về quy mô, đủ dài vềthời hạn với lãi suất và các ràng buộc hợp lý là những yêu cầu cơ bản và quantrọng nhất Việc xác định như thế nào là “đủ” và “hợp lý” tương ứng phụ thuộcvào dự định sử dụng vốn và thoả thuận của hai bên trên cơ sở các điều kiện chovay áp dụng phổ biến trong nền kinh tế Như vậy, người đi vay phải một mặtthoả mãn được các yêu cầu của người cho vay và mặt khác phải đáp ứng được

Trang 10

các yêu cầu đi vay của chính mình Vì vậy, khả năng một giao dịch tài chínhđược thực hiện phụ thuộc chủ yếu vào người đi vay

Tuy nhiên trong các giao dịch tài chính luôn xuất hiện một mâu thuẫn cơbản và cố hữu, một mâu thuẫn tạo nên cơ sở tồn tại của các điều kiện cho vaytrong các tổ chức tài chính, đó là sự không cân xứng về thông tin giữa ngườicho vay và người đi vay Người cho vay đóng vai trò cung cấp vốn trong giaodịch tài chính và thường không có sự khác biệt lớn về đồng vốn giữa nhữngngười cho vay (sự khác biệt chủ yếu nằm ở thời hạn cho vay và các ràng buộcliên quan) Nói cách khác, những thông tin về phía đối tác của mình mà người

đi vay có được là tương đối đồng nhất Người đi vay có thể huy động từ mộttrong những người cung cấp vốn mà không cần quan tâm nhiều đến bên cho vay

vì chỉ cần vay được vốn là họ đã đạt được gần như hoàn toàn mục đích của mộtgiao dịch tài chính

Mọi chuyện hoàn toàn khác đối với người cho vay Họ có quyền lựa chọnmột trong số những người hỏi vay, lúc này họ có cả quyền sử dụng và định đoạt

đối vơi đồng vốn, nghĩa là họ có quyền sở hữu đầy đủ Nhưng ngay sau khi giao

dịch tài chính diễn ra, quyền sở hữu đó bị chia đôi, quyền sử dụng vốn đã đượcchuyển sang phía người vay vốn! Nếu không có vật thế chấp hoặc bảo lãnh củamột tổ chức tài chính mạnh, người cho vay chỉ còn sự thừa nhận về mặt pháp lýđối với khoản tiền đó, họ không cầm giữ và cũng không sử dụng nó Điều nàyđồng nghĩa với việc rủi ro thu hồi vốn tăng lên và mức độ rủi ro phụ thuộc hoàntoàn vào người vay vốn

Do vậy, những gì người cho vay phải làm để hạn chế rủi ro là phải thuthập và phân tích các thông tin liên quan đến người vay vốn Họ cần biết người

đi vay sử dụng đồng vốn như thế nào, mức độ rủi ro cao hay thấp, sức mạnh tàichính, mức độ tin tưởng, nguy cơ dẫn đến việc sử dụng vốn không đúng camkết của người vay, … Tuy nhiên những thông tin như thế đến với người cho vay

Trang 11

thường không đầy đủ hoặc thiếu chính xác dẫn đến những lựa chọn của ngườicho vay có thể là một “lựa chọn đối nghịch”

Tóm lại, trong các giao dịch tài chính thường có sự chênh lệch về thôngtin giữa các bên tham gia, đó chính là hiện tượng thông tin không cân xứng

Cho đến nay, qua nhiều nghiên cứu, các nhà kinh tế học có nhiều cáchđịnh nghĩa khác nhau về thông tin không cân xứng:

Theo nhà kinh tế học Markusk K.Brunnermeier, Đại học Boston: “Thông

tin không cân xứng là hiện tượng người đi vay có thông tin tốt hơn người cho vay” 1

Theo hai nhà kinh tế học Udo Schmidt Mohr (University des Saarlandes)

và J.Miguel Villas-Boas (University of California at Berkeley) trong cuốn

“Assymetric Information and the Market Structure of the Banking Industry”(tạm dịch: Thông tin không cân xứng và cấu trúc thị trường của ngành ngân

hàng): Thông tin không cân xứng là tình trạng trong đó người mua và người

bán có thông tin khác nhau về cùng một giao dịch

Theo nhà kinh tế học Fredic S.Miskin Đại học Columbia, Hoa Kỳ:

“Thông tin không cân xứng là sự không ngang bằng về một thông tin mà mỗi

bên tham gia vào một giao dịch biết được” 2

Có thể định nghĩa khái niệm thông tin không cân xứng theo nhiều cáchkhác nhau Tuy nhiên mọi trường hợp không cân xứng về thông tin đều có bađặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, có sự khác biệt về thông tin giữa các bên tham gia giao dịch Thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa hai bên

Thứ ba, trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn

1 “Asset pricing under Assymetric Information: Bubbles, Crashes, Technical Analysis and Herding”, NXB Đại học Boston, 1999, trang 27, dòng 18.

2 “Kinh tế học về tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính”, NXB Khoa học Kỹ thuật, 1999, trang 907.

Trang 12

Mỗi thị trường đều đạt đến một trạng thái cân bằng sau sự tương tác qualại giữa người mua và người bán dưới sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật.Trên cơ sở sự cân bằng đó, các quan hệ kinh tế được phân tích chi tiết hơn Tuynhiên, vị trí cân bằng trên các thị trường có thông tin không cân xứng có nhiềuthay đổi Để phân tích chi tiết hơn sự tác động của thông tin không cân xứngđến hoạt động của thị trường, ta cần nghiên cứu cách đạt đến cân bằng thịtrường và các yếu tố quyết định đến sự cân bằng đó

Trên mỗi thị trường, đặc điểm của sự không cân xứng về thông tin và tínhchất tác động đến cân bằng thị trường không giống nhau Vai trò của thông tintrên thị trường càng cao thì vấn đề thông tin không cân xứng trên các thị trường

đó càng rõ rệt và thu hút nhiều sự quan tâm của những người tham gia Thôngtin không cân xứng xuất hiện phổ biến trên các thị trường tài chính, đặc biệt làthị trường tín dụng và bảo hiểm Trong phần dưới đây, tôi xin trình bày sự cânbằng trên các thị trường bảo hiểm xuất hiện thông tin không cân xứng dựa trênmột nghiên cứu về thị trường bảo hiểm thu hoạch nông sản của Mỹ do hai nhà

kinh tế học Shiva S.Makki và Agapi Somwaru thuộc Vụ Kinh tế học Thị

trường và Thương mại, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ thực

hiện tháng 4, 2001 Việc lựa chọn thị trường bảo hiểm là xuất phát từ nhiềunguyên nhân: thứ nhất, bảo hiểm là lĩnh vực mà thông tin đóng vai trò đặc biệtquan trọng và thể hiện rõ ràng nhất những đặc điểm của thông tin không cânxứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức; thứ hai, rủi ro đạo đức trên thịtrường này thường xuyên xảy ra vì sau khi được bảo hiểm, người được bảohiểm có ít nỗ lực hơn trong việc bảo vệ đối tượng bảo hiểm; thứ ba, đã có nhiềunghiên cứu được thực hiện trên nhiều loại thị trường bảo hiểm nên các mô phântích đều đã được khẳng định tính đúng đắn Dựa trên các phân tích đó, việc vậndụng nghiên cứu trên thị trường này sang các lĩnh vực khác có nhiều điểmtương đồng và do đó sẽ đóng góp rất lớn trong những phần tiếp theo của luậnvăn

Trang 13

2.2 Cân bằng thị trường trong trường hợp không cân xứng về thông tin

Trên các thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng,hiện tượng thông tin không cân xứng luôn đi kèm và có mối quan hệ mật thiếtvới vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Trên thị trường bảo hiểm, lựachọn đối nghịch phát sinh do các công ty bảo hiểm không thể phân loại mộtcách triệt để mức độ rủi ro của những người tham gia bảo hiểm Sau khi muabảo hiểm, người được bảo hiểm không có động lực để hạn chế rủi ro Những rủi

ro như vậy gọi là rủi ro đạo đức và người chịu rủi ro này không ai khác chính làcông ty bảo hiểm Nghiên cứu sắp trình bày dưới đây giả thiết rằng các cá nhântham gia bảo hiểm không có khả năng phân phối rủi ro

Những nghiên cứu trên thị trường bảo hiểm thân thể và xe hơi của một sốnhà kinh tế học trên thế giới đã đi đến đến kết luận rằng lựa chọn đối nghịchkhiến những người có rủi ro thấp không muốn tham gia bảo hiểm đồng thời tạo

ra hiện tượng chuyển thu nhập từ những người có mức rủi ro thấp sang nhữngngười có mức rủi ro cao

Để xác định cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin không cânxứng trên thị trường bảo hiểm, trước tiên cần xem xét quá trình đạt đến cânbằng trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo bằng cách sử dụng lý thuyết cung-cầuthị trường

Giả sử một cá nhân X muốn mua một hợp đồng bảo hiểm để ổn định thu

nhập trước các rủi ro Để đơn giản ta giả thiết có hai khả năng xảy ra: có tổn

thất và không có tổn thất Giả sử tiếp rằng X muốn tối đa hoá thu nhập Nếu

không có hợp đồng bảo hiểm, anh ta sẽ có tổng thu nhập kỳ vọng là:

Trong đó:

m: thu nhập

Trang 14

Giả sử tiếp rằng thu nhập từ các hợp đồng bảo hiểm của công ty bảo hiểmphụ thuộc vào các biến ngẫu nhiên Do vậy, khi bán được hợp đồng bảo hiểm,công ty xẽ thu được (1 - p)a và phải trả p(i - a) khi tổn thất xảy ra Lợi nhuậncủa công ty là:

Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận của công ty bằng 0 nên:

Mỗi hợp đồng bảo hiểm được đặc trưng bởi mức phí bảo hiểm a và mứcbồi thường i Do đó, phương trình (4) thể hiện tất cả các hợp đồng bảo hiểm củacông ty Tại một xác suất xảy ra rủi ro nhất định p, công ty sẽ định giá a và i saocho phương trình (4) được thoả mãn

Tức là: (1 - p)a -p(i - a) = 0

Phương trình (2) và phương trình (4) thể hiện đường cầu và cung bảohiểm Sự tương tác giữa cung và cầu bảo hiểm được thể hiện trên trục m10m2,

Trang 15

trong đó m1 và m2 thể hiện thu nhập trong hai trường hợp tương ứng: không có

tổn thất và có tổn thất.

2.2.1 Cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin đầy đủ.

Trên thị trường bảo hiểm cạnh tranh hoàn hảo, có hai kiểu cân bằng làcân bằng chung và cân bằng riêng Cân bằng chung xảy ra khi thị trường có mộtloại khách hàng đồng nhất về mức độ rủi ro, công ty bảo hiểm chỉ cần định giámột loại hợp đồng bảo hiểm Trong trường hợp cân bằng riêng, thị trường cónhiều nhóm khách hàng khác nhau về mức độ rủi ro Khi đó, công ty bảo hiểmbán các hợp đồng bảo hiểm ở các mức giá khác nhau cho từng đối tượng kháchhàng có độ rủi ro phù hợp Thị trường đạt đến cân bằng tại nhiều điểm ứng vớitừng loại khách hàng

Hình 1.1 biểu diễn điểm cân bằng chung của thị trường bảo hiểm cạnh

tranh hoàn hảo với một loại khách hàng đồng nhất và 1 tỷ lệ xác suất xảy ra

rủi ro, trong điều kiện thông tin đầy đủ Trục hoành m1 và trục tung m2 biểu

diễn thu nhập trong hai trường hợp tương ứng: không có tổn thất và có tổn thất.

Đường cong U thể hiện tập hợp các điểm kết hợp thu nhập của người mua bảo

Trang 16

hiểm trong hai trường hợp trên, phụ thuộc vào a, i và d, chính là đường cầu bảohiểm Đường thẳng OT biểu diễn các tập hợp điểm có kết hợp thu nhập bằngnhau dù tổn thất có xảy ra hay không Đường thẳng EF là đồ thị của phươngtrình (4) biểu diễn các kết hợp thu nhập của công ty bảo hiểm và chính là đường

cung bảo hiểm Độ dốc của đường EF được xác định bằng tỷ lệ

Thị trường đạt tới trạng thái cân bằng khi độ dốc của đường cầu U bằng

độ dốc của đường cung EF Giả X có điểm kết hợp thu nhập ban đầu tại E Tại

điểm này X sẽ có thu nhập m nếu tổn thất không xảy ra và m - d nếu tổn thất

xảy ra Để hạn chế rủi ro, X mua một hợp đồng bảo hiểm dọc theo đường EF.Trong số các hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tại điểm K tối đa hoá thu nhập kỳvọng của anh ta Hợp đồng tại K là một hợp đồng bảo hiểm toàn bộ rủi ro vàcân bằng thu nhập của X trong cả hai trường hợp có hay không có tổn thất Tạiđiểm cân bằng, hợp đồng được mua bán trong điều kiện cả hai bên đều biết rõ

về nhau Vì vậy K chính là điểm cân bằng trong điều kiện thông tin đầy đủ, lúcnày người bảo hiểm không có lãi ( = 0)

2.2.1.2 Cân bằng riêng

Hình 1.2 dưới đây biểu diễn điểm cân bằng của thị trường bảo hiểm cạnhtranh hoàn hảo, đầy đủ thông tin nhưng những người tham gia bảo hiểm có mứcrủi ro khác nhau Để đơn giản, ta giả sử chỉ có hai nhóm khách hàng: LR và HRvới xác suất xảy ra rủi ro tương ứng là pH và pL (pH > pL)

Ngày đăng: 07/11/2013, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cân bằng thị tr  ờng trong - Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịchvà rủi ro đạo đức
Hình 1.1 Cân bằng thị tr ờng trong (Trang 15)
Hình 1.2: Cân bằng thị tr  ờng trong - Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịchvà rủi ro đạo đức
Hình 1.2 Cân bằng thị tr ờng trong (Trang 17)
Hình 1.3: Cân bằng chung trong điều  kiện thông tin không cân xứng và - Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịchvà rủi ro đạo đức
Hình 1.3 Cân bằng chung trong điều kiện thông tin không cân xứng và (Trang 19)
Hình 1.4 biều diễn trường hợp cân bằng riêng trên thị trường bảo hiểm có thông tin không cân xứng - Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịchvà rủi ro đạo đức
Hình 1.4 biều diễn trường hợp cân bằng riêng trên thị trường bảo hiểm có thông tin không cân xứng (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w