1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC CHUẨN BỊ HÀNG HOÁ CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

12 330 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng về việc chuẩn bị hàng hóa cho thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 26,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2- Giai đoạn hai: Đây là giai đoạn mở rộng công tác CPH: từ 6/5/1996 đến 6/1998, thực hiện theo NĐ 28/CP của Chính phủ quy định một cách hệ thống từ mục tiêu, yêu cầu, đối tợng, của CP

Trang 1

thực trạng về việc chuẩn bị hàng hoá cho thị trờng chứng khoán ở Việt nam

Từ những phân tích và tính tất yếu phải hình thành TTCK ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy TTCK ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần thiết hơn bao giờ hết Để chuẩn bị cho ra đời một TTCK hoàn chỉnh, đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực tạo mọi điều kiện ban đầu Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về điều kiện tiền đề để thành lập TTCK ở Việt Nam nhng nhìn chung thống nhất ở những

điểm sau: ổn định kinh tế-chính trị-xã hội; kiểm soát đợc lạm phát; chuẩn bị

đầy đủ hàng hoá khả mại cho TTCK, đội ngũ nhân viên, khung pháp lý, cơ sở hạ tầng thông tin Có thể nói hàng hóa chứng khoán là yếu tố quan trọng hàng

đầu, nó quyết định cơ chế hoạt động và các chủ thể tham gia TTCK

Để hiểu thêm về hàng hoá trên TTCk, chúng ta đi sâu xem xét thực trạng hàng hoá chứng khoán ở VIệt Nam trong thời gian gần đây

I-/ thực trạng tiến trình cổ phần hoá ở Việt Nam.

TTCK có rất nhiều loại hàng hoá nh: cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, thơng phiếu, hối phiếu, công trái Trong đó cổ phiếu và trái phiếu là 2 hàng hoá chính Trong phần này, bài viết sẽ tiếp cận về thực trạng cổ phiếu Có nhiều giải pháp tạo ra cổ phiếu trên thị trờng, tạo điều kiện thành lập các công ty cổ phần t nhân Nhng hiện nay giải pháp quan trọng nhất đợc Đảng

và Nhà nớc ta coi trọng là cổ phần hoá (CPH) các doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN)

Chủ trơng về CPH một bộ phận các DNNN đợc đặt ra từ cuối những năm

80 và chính thức đi vào thực hiện năm 1992 (Sau Đại hội Đảng VII) Trong 10 năm thực hiện CPH, DNNN đã đạt đợc một số kết quả nhất định, nhng vân tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là tốc độ CPH

1-/ Thực trạng CPH:

Tiến trình CPH đợc chia làm 3 giai đoạn:

1.1- Giai đoạn thí điểm.

Từ tháng 6/1992 đến tháng 5/1996: Qua 4 năm thực hiện thí điểm, cả nớc chỉ CPH đợc 5 DNNN (3 doanh nghiệp trung ơng và 2 doanh nghiệp địa phơng) theo QĐ 202/CT của chủ tịch HĐBT, và chỉ thị 84/TTG của thủ tớng CP Tuy nhiên, diện cổ phần còn rất hẹp, quy mô doanh nghiệp CPH còn nhỏ Trong số 5

Trang 2

doanh nghiệp trên, lớn nhất là công ty Cơ điện lạnh TP HCM chuyển vào ngày 1/10/1993 với 16 tỷ đồng

1.2- Giai đoạn hai:

Đây là giai đoạn mở rộng công tác CPH: từ 6/5/1996 đến 6/1998, thực hiện theo NĐ 28/CP của Chính phủ quy định một cách hệ thống từ mục tiêu, yêu cầu, đối tợng, của CPH đến phơng thức tiến hành, nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp, chế độ u đãi đối với doanh nghiệp và lao động trong các doanh nghiệp thực hiện CPH

Trong 2 năm thực hiện, tốc độ CPH tăng lên rõ rệt Cả nớc có 27 doanh nghiệp hoàn thành CPH, gấp hơn 5 lần so với giai đoạn trớc Đến tháng 6/1998 cả nớc có 32 DNNN hoàn thành CPH và đi vào hoạt động theo luật công ty Tiến trình CPH không chỉ đợc mở rộng theo số lợng doanh nghiệp mà còn mở rộng cả về phạm vi địa lí: 3 bộ, 9 tỉnh, thành phố Trong thời kì này quy mô doanh nghiệp CPH đã lớn hơn: có doanh nghiệp có số vốn lên tới trên 120 tỷ đồng; có

5 doanh nghiệp có vốn lớn hơn 10 tỷ đồng

Trong số 27 DNNN đợc CPH có 1 doanh nghiệp Nhà nớc không nắm giữ

cổ phần (Công ty Đầu t sản xuất và thơng mại Hà nội) Số còn lại Nhà nớc nắm

ít nhất 10% và cao nhất là 50% vốn cổ phần

Ngoài Nhà nớc nắm phần lớn số cổ phần còn một bộ phận khác cũng nắm giữ không ít là: ngời lao động, t bản ( 42%-42,86%) Số cổ phần còn lại do những cổ đông ngoài xí nghiệp nắm giữ, t bản chiếm từ 19%-20% Điều này chứng tỏ hiệu quả huy động vốn trong dân của công tác CPH là đáng kể

Để hỗ trợ và giám sát công tác CPH, trong thời gian này các cấp, các ngành đã tăng cờng bổ sung đội ngũ cán bộ vào ban chỉ đạo CPH, kiện toàn và thành lập các ban chỉ đạo CPH ở địa phơng trong quá trình thực hiện CPH 31/61 địa phơng đã thành lập ban chỉ đạo CPH, các địa phơng còn lại do ban đổi mới doanh nghiệp kiểm nghiệm hoặc giao cho một số chuyên viên giúp việc Về phía các bộ, ngành, các tổng công ty đã có 16 đơn vị thành lập ban chỉ đạo CPH DNNN Mặc dù vậy, việc thành lập các ban chỉ đạo diễn ra còn rất chậm và cha

có kế hoạch triển khai cụ thể

Tiến hành song song với việc thành lập ban chỉ đạo, một số Bộ, ngành và

địa phơng đã chú trọng đến công tác tuyên truyền, hớng dẫn, giải thích cho các cán bộ và ngời lao động hiểu về chủ trơng CPH của Đảng và Nhà nớc Thực tế tiến trình CPH đã cho thấy công tác tuyên truyền rất quan trọng Song bên cạnh

Trang 3

đó vẫn còn một số Bộ, ngành cha quan tâm đến công tác tuyên truyền chủ trơng này cho các cán bộ và ngời lao động Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm tốc độ của tiến trình CPH

1.3- Giai đoạn 3:

Trong giai đoạn này, rút kinh nghiệm từ thực tiễn thực hiện trong các giai

đoạn trớc, Chính phủ ban hành NĐ 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 về việc CPH DNNN thay thế cho NĐ 28 CP trớc đây Trong NĐ này, những vấn đề về pháp lý, thủ tục triển khai CPH, đối tợng áp dụng, phân công trách nhiệm về cơ bản đã đợc tháo gỡ Bên cạnh đó NĐ cũng mở rộng thêm đối tợng và hình thức CPH, phơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá thị trờng, bảo đảm quyền lợi cho ngời lao động và có những chính sách u đãi hơn cho các doanh nghiệp CPH

Ngoài việc ban hành các văn bản quy định rõ hơn về công tác CPH, thủ t-ớng Chính phủ đã ra quyết định thành lập ban chỉ đạo mới quản lý DNNN, giúp cho các cấp, các ngành và các doanh nghiệp CPH trong công tác đổi mới quản

lý và thực hiện CPH Thêm vào đó, nhứng văn bản hớng dẫn về nghiệp vụ đã

đ-ợc ban hành trong các hội nghị tổng kết công tác CPH để từ đó đánh giá thực trạng, rút kinh nghiệm và đa ra giải pháp thúc đẩy tiến trình CPH

Nhờ có những giải pháp trên, trong thời gian từ tháng 7/1998 đến tháng 5/1999, cả nớc đã CPH đợc 136 DNNN Riêng tháng 6/1998, CPH đợc 86 doanh nghiệp, gấp 3 lần 2 giai đoạn trớc đây Trong 5 tháng đầu năm 1999, theo số liệu của ban đổi mói Trung ơng, toàn quốc đã CPH đợc 50 DNNN, đa tổng số DNNN đã thực hiện CPH lên tới 170

Trong thời gian tới thủ tớng Chính phủ sẽ phê duyệt 434 DNNN thực hiện CPH trong năm 1999 và có thể sẽ tăng lên 504 doanh nghiệp do các Bộ, ngành

bổ sung thêm Trong số đó, theo các chuyên gia nhận xét tại Hà nội, TP HCM, Hải Phòng, Tuyên Quang, Nam Định sẽ là những đơn vị thực hiện CPH đầu tiện

và chắc chắn Ngợc lại, đối với khối các doanh nghiệp thuộc tổng công ty 91 thì việc thực hiện có khó khăn hơn do quy trình xác định giá trị doanh nghiệp còn

r-ờm rà và không chủ động Trong khi đó, số lợng doanh nghiệp thuộc tổng công

ty 91 là đáng kể Do vậy, nếu các đơn vị thuộc tổng công ty 91 thực hiện nhanh tiến độ CPH thì sẽ góp phần không nhỏ thúc đẩy tiến trình CPH trong cả nớc

2-/ Những khó khăn và nguyên nhân trong quá trình CPH.

Trang 4

Phải khẳng định rằng, trong những năm thực hiện, tiến trình CPH các DNNN đã đạt đợc một số thành tựu đáng kể Một trong số những thành tựu đó là

đẩy mạnh quá trình sản xuất kinh doanh trong DNNN và bớc đầu tạo ra 1 loại hàng hoá cho TTCK Để đạt đợc những kết quả đó không thể không kể đến những thuận lợi của tiến trình CPH

Thứ nhất, CPH các DNNN đợc coi là một chủ trơng lớn của Đảng và

Nhà nớc, là vấn đề thu hút sự quan tâm lớn nhất của Chính phủ, các cấp, các ngành và đông đảo các tầng lớp nhân dân trong những năm qua Đây là thuận lợi lớn nhất và cũng là điều kiện tiên quyết để có thể CPH thành công

Thứ hai, trong việc thực hiện CPH Việt Nam là nớc đi sau so với khu vực

và Thế giới,vì vậy chúng ta có điều kiện để tiếp thu những kinh nghiệm và bài học rút ra từ những thành công cũng nh thất bại của các nớc đã CPH

Thứ ba, thực tiễn và hoạt động của các DNNN từ những năm 1992 đến

nay đều làm tăng kết quả kinh doanh, tăng lao động và tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nớc (NSNN)

Bên cạnh những thuận lợi to lớn đã nêu trên, tiến trình CPH cồn tồn tại những mặt khó khăn nhất định trong công tác thực hiện Biểu hiện rõ nhất là trong thời gian qua tiến trình CPH đã diễn ra quá chậm so với tiến trình đã đề ra Trên thực tế, mặc dù đã qua 9 năm triển khai chủ trơng CPH (1990-1999), nhng cả nớc mới CPH đợc 168 DNNN Những văn bản Pháp luật về CPH đã đợc ban hành từ năm 1992 nhng đến hết năm 1996 mới tiến hành đợc 11 DNNN, mục tiêu 2 năm 97-98 là 150 DNNN, nhng đến hết năm 1997 mới CPH đợc thêm 4 doanh nghiệp, 6 tháng đầu năm 1998 là 14 doanh nghiệp Nh vậy thì con số 168/5756 DNNN so với mục tiêu chúng ta đặt ra: 20% DN CPH trớc năm 2000 quả là còn rất ít ỏi Vậy do đâu mà tiến trình CPH ở Việt Nam lại chậm trễ đến vậy?

Có rất nhiều nguyên do nhng tựu trung lại có 6 khó khăn cơ bản sau:

2.1- Về mặt nhận thức, t tởng còn nhiều hạn chế, các cấp các ngành

quản lý, các doanh nghiệp và bản thân ngời lao động trong doanh còn có tâm lý e ngại CPH

Về phía các cấp lãnh đạo tâm lý e ngại này còn thể hiện ở chỗ các địa

ph-ơng, cơ sở cha sốt sắng làm hết công việc đợc giao, cha chú ý đúng mức đến việc thành lập và đôn đốc các ban CPH Nguyên do của những e ngại này xuất phát từ lợi ích cục bộ, cản trở tiến trình CPH Họ sợ rằng sau khi CPH họ mất

Trang 5

quyền quản lý và lợi ích Đây là kiểu t duy “chậm tiến” và thiển cận Nếu cứ tồn tại những t duy kiểu này sẽ không đạt đợc mục tiêu nh đã định

Về phía doanh nghiệp, ban giám đốc doanh nghiệp đang quen với chế độ

cũ nên ngại bớc vào môi trờng cạnh tranh nhiều rủi ro, e sợ sự giám sát chặt chẽ,

đồng thời CPH đòi hỏi giám đốc phải có trình độ và trách nhiệm

Về phía ngời lao động, họ cha nắm đợc lợi ích và mục tiêu của CPH nên tồn tại phổ biến tâm lý e sợ Mặt khác, những biện pháp khuyến khích CPH thông qua việc phát hành cổ phiếu u đãi cha xuất phát từ việc giải quyết lợi ích cho ngời lao động Ngời lao động luôn luôn lo sợ bớc vào cơ chế cạnh tranh, xoá bỏ sự bảo trợ của Nhà nớc, nghĩa là rủi ro sẽ cao hơn đối với cả doanh nghiệp lẫn ngời lao động

2.2- Thủ tục và bớc đi của tiến trình CPH còn rờm rà và qua nhiều

khâu, nhiêu tầng nấc, nhất là việc xử lý những vấn đề tài chính doanh nghiệp

Đây là một trong những vớng mắc mà hầu hết các doanh nghiệp gặp phải khi tiến hành CPH Quy trình CPH theo công văn 3395/VPCP-ĐMDN ngày 29/8/1998 tuy chỉ đề ra 4 bớc song trong mỗi bớc lại có nhiều công đoạn khác Chính do những chậm trễ trong công đoạn khiến thời gian CPH trung bình là 27 tháng, chậm nhất lên tới 79 tháng Thêm vào đó, thủ tục CPH vẫn còn nhiều v-ớng mắc là khâu xét giá trị doanh nghiệp Mặc dù NĐ mới 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 đã đơn giản hoá nhiều nhng để xác định giá trị thực tế cho ngời mua và ngời bán cổ phần chấp nhận không phải vấn đề đơn giản

2.3- Công tác chỉ đạo của Nhà nớc còn chậm chạp và lúng túng.

Do chủ trơng CPH là một vấn đề mới nên Chính phủ cha có đủ những văn bản Pháp luật đủ tầm cỡ mà chỉ thực hiện theo những văn bản dới luật Vì vậy, những ách tắc, ngừng trệ trong tiến trình CPH là không thể tránh khỏi Đơn cử trờng hợp một công ty cổ phần và hoạt động thì khuôn khổ pháp luật của nó chỉ

là NĐ 44 CP (trớc đây là 28CP) còn luật công ty, luật DNNN lại cha đợc hoàn chỉnh

Thiếu những văn bản đủ mạnh về pháp lý nhng công tác chỉ đạo CPH vẫn thiếu thống nhất và ăn khớp Thực trạng này xuất phát từ nguyên do công tác này mới đợc tái thiết lập, một phần do bộ máy tài chính các ban cha đợc tổ chức

độc lập, chuyên trách mà đa phần vẫn là kiêm nghiệm Do vậy, hiệu quả thấp là

đơng nhiên

Trang 6

2.4- Mức độ khuyến khích cha đủ sức hấp dẫn các doanh nghiệp

CPH.

Có thể nói, các DNNN theo luật DNNN và các văn bản pháp quy khác có những u đãi nhất định mà các loại hình doanh nghiệp khác (Công ty t nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp t nhân ) không có, chẳng hạn về vốn, kĩ thuật Chính vì vậy, khi chuyển sang loại hình công ty cổ phần, các DNNN sẽ mất đi những quyền lợi trớc mắt nên tâm lý phổ biến là họ không muốn CPH Sự u đãi

rõ nhất đối với các DNNN đợc thể hiện trong mối quan hệ giữa DNNN với Ngân hàng Nhà nớc Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm chậm tiến trình CPH

2.5- Mức độ khuyến khích đối với ngời lao động trong doanh nghiệp

cha thực sự hấp dẫn.

Chế độ u đãi đối với ngời lao động khi thực hiện CPH vẫn đợc coi là vấn

đề “nóng” nhất từ trớc đến nay Vậy mà chúng ta vẫn cha thực sự quan tâm Chính điều này đã dẫn đến sự không nhiệt tình ủng hộ CPH từ phía ngời lao

động

Một lo ngại lớn nhất của ngời lao động là sau khi CPH sẽ có một lợng lao

động bị d ra Mặc dù NĐ 44 đã chỉ ra rằng, sau 12 tháng kể từ ngày CPH doanh nghiệp có thể d ra một lợng lao động nhất định nhng trên thực tế con số này có thể lên tới 1/3 thậm chí 1//2 tổng số lợng lao động trong doanh nghiệp Chính vì thế mà việc ngời lao động không thiết tha mấy với CPH cũng là điều dễ hiểu

2.6- Việt Nam cha có TTCK.

Một trong những vấn đề không thể bỏ qua khi nói đến những khó khăn, v-ớng mắc của quá trình CPH là Việt Nam cha có TTCK Nh vậy, một mặt các doanh nghiệp sẽ thiếu một công cụ huy động vốn hữu hiệu, mặt khác, khi mua

cổ phiếu ngời lao động không có khả năng bán lại cổ phiếu đó khi cần tiền, nghĩa là cổ phiếu có tính lỏng kém và rủi ro cao hơn Vì thế, bản thân ngời lao

động trong doanh nghiệp cũng nh nhân dân (nếu doanh nghiệp muốn huy động vốn nhàn rỗi trong toàn xã hội) sẽ không chú ý đến CPH

Trên đây là những vấn đề cơ bản về thực trạng cũng nh những khó khăn trong tiến trình thực hiện CPH Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng, cổ phiếu của công ty trên TTCK không chỉ đợc tạo ra thông qua CPH các DNNN mà nó còn có thể đợc tạo ra từ những công ty cổ phần t nhân Tuy nhiên, thành phần này trong nền kinh tế VIệt Nam chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ nên giải pháp chủ yếu để phát triển hàng hoá trên TTCK Việt Nam trong tơng lai là CPH các DNNN

Trang 7

II-/ trái phiếu:

Trái phiếu là một trong 2 hàng hoá chính đợc giao dịch trên TTCK, là một hàng hoá quan trọng không kém gì cổ phiếu Trên TTCK có rất nhiều loại cổ phiếu ( nh đã trình bày ở phần cơ sở lý luận) Tuy nhiên ở Việt Nam trái phiếu gồm 2 loại chủ yếu: Trái phiếu công ty và tría phiếu Chính phủ (tín phiếu và trái phiếu trung, dài hạn)

Trớc tiên, chúng ta xem xét về thực trạng trái phiếu công ty

1-/ Trái phiếu công ty:

Từ phần cơ sở lý luận chúng ta có thể thấy trái phiếu công ty cũng là một loại d nợ chủ yếu của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đợc trực tiếp gọi vốn từ công chúng mà không thông qua trung gian là các NHTM

Mặc dù có lợi thế nh vậy nhng trên thị trờng nợ Việt Nam phần lớn trái phiếu có tính chất ngắn hạn, việc phát hành trái phiếu công ty vẫn ở mức dè chừng, cha đều đặn, với phơng thức tự phát hành là chủ yếu Lợng trái phiếu lu hành trên thị trờng còn rất ít ỏi Loại trái phiếu DNNN chỉ mới do 2 nhà máy xi măng Hoàng Thạch và Anh Sơn phát hành với hơn 63 tỷ đồng Các loại trái phiếu mà những NHTM đã phát hành chủ yếu có kỳ hạn ngắn ( từ 1-3 năm) với tổng số vốn khoảng 10 tỷ đồng tính đến năm 1997 Đó chỉ là những con số tổng hợp, nếu xét theo từng năm, các Ngân hàng thơng mại quốc doanh (NHTMQD) chỉ phát hành kỳ phiếu vào những lúc thời vụ, nên tính chất thờng xuyên của việc phát hành cũng rất hạn chế Tơng tự nh trái phiếu, các hối phiếu và thơng phiếu cha đợc quan tâm sử dụng giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp với Ngân hàng Bên cạnh những tồn tại về thời hạn và giá trị, các trái phiếu phần lớn mới chỉ đợc phát hành ở phạm vi trong nớc

Trên thị trờng mới chỉ có trái phiếu của công ty Cơ điện lạnh Việt Nam

đang trong giai đoạn thí điểm phát hành ra nớc ngoài với tổng giá trị 5 triệu USD vào tháng 6/1996, lãi suất 4,5%, kỳ hạn 2 năm Tuy nhiên, đây là loại trái phiếu phát hành riêng ra nớc ngoài mà không phải là loại phát hành ra công chúng Do

đó, trên thị trờng loại trái phiếu đợc định giá bằng ngoại tệ còn rất ít

Nh vậy, quang cảnh của việc mua bán trao đổi trái phiếu công ty trên thị trờng vốn Việt Nam còn khá ảm đảm Nếu tiếp tục duy trì tình trạng này mà không có những giải pháp khắc phục, trên TTCK Việt Nam sẽ thiếu một loại hàng hoá quan trọng và các doanh nghiệp sẽ mất đi một công cụ huy động vốn hiệu quả

Trang 8

2-/ Trái phiếu Chính phủ-NHTM.

Trong khi tiến trình CPH đang diễn ra rất chậm chạp và thị trờng các trái phiếu công ty rất ảm thì thị trờng mua bán trái phiếu Chính phủ lại rất sôi động Trong thời gian tới, nếu thành lập TTCK, hàng hoá chủ yếu đợc giao dịch ở Việt Nam sẽ là các loại trái phiếu Chính phủ

Từ đầu năm 1999 đến nay, công cụ huy động vốn trung và dài hạn rất phổ biến tên thị trờng vốn dới dạng công trái với quy mô lớn hơn Trái phiếu nào còn thời hạn đều có thể đợc mua bán trên thị trờng nếu các trái chủ có nhu cầu

Trớc tiên, phỉa nói đến trái phiếu do Kho bạc Nhà nớc (KBNN) trực tiếp phát hành với kỳ hạn 2 năm, lãi suất 13%/năm, trái phiếu sẽ đợc thanh toán một lần khi đáo hạn Từ đầu năm 1999 đến 12/5/1999, KBNN đã phát hành 3.096 tỷ

đồng trái phiếu Tiếp đó, từ 19/5 đến 15/7/1999, KBNN đã phát hành công trái quốc gia với thời hạn 5 năm, lãi suất 10%/năm và tối đa đến 50%/5 năm Kết quả tổng số trái phiếu phát hành đợt này là 4.491,6 tỷ đồng (dự kiến là 4000 tỷ

đồng) trong đó Ngân hàng và các tổ chức Bảo hiểm đã mua 2.550 tỷ đồng

Sau đợt phát hành này, trên thị trờng đã xuất hiện nhu cầu mua bán công trái Nắm bắt đợc nhu cầu đó, NHTM cổ phần và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ trong một thời gian ngắn đã chứng khoán hơn 10 tỷ đồng công trái

Tính từ đầu năm đến 3/9/1999 NHNN đã tổ chức đợc 30 phiên đấu thầu trái phiếu với 150 lợt thành viên, nâng tổng lợng đăng ký dự thầu lên gần 5000

tỷ đồng Kết quả, khối lợng trúng thầu đợc phát hành là 1.950 tỷ đồng, lãi suất trúng thầu là 9,1% cho đến 9,85%/năm Dự kiến đến hết năm 1999 sẽ tổ chức thêm 15-16 đợt đấu thầu trái phiếu, nâng khối lợng trái phiếu dự kiến từ 3.500

đến 4.000 tỷ đồng

Để đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho nền kinh tế, ngay từ đầu 1999, các NHTM đã chủ động phát hành trái phiếu có thời hạn lớn hơn 1 năm với lãi suất khá hấp dẫn Ngân hàng Đầu t & phát triển (NHĐT&PT) chỉ trong hơn 1 tháng

từ 17/4/1999 đã phát hành đợc 1.900 tỷ đồng trái phiếu có kỳ hạn từ 2 đến 5 năm Trong đó kì hạn 2 năm chiếm 80% và lãi suất trả trớc 12,5%/năm Trong khi đó, cùng kỳ năm 1998, Ngân hàng chỉ phát hành đợc hơn 1000 tỷ đồng kỳ hạn 1-5 năm với lãi suất 13,236%/năm đến 16,2%/năm

Đặc biệt, công ty Tài chính Quốc tế ILC qua Ngân hàng Công thơng VIệt Nam chỉ trong 2 giờ làm việc ngày 10/8/1999 đã phát hành đợc 10 tỷ đồng trái phiếu, thời hạn 2 năm, 6 tháng trả lãi một lần với lãi suất 12% Xét tổng cộng

Trang 9

các loại: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Ngân hàng và công trái Quốc gia có trên 13.500 tỷ đồng đã đợc phát hành trong năm 1999 Trong số đó, gần 4000 tỷ

đồng trái phiếu kỳ hạn 2 năm, lãi suất 12-13%/năm do KBNN phát hành năm

1998, đến đầu năm 2000 mới hết hạn thanh toán đối với 1000 tỷ đồng của trái phiếu NHĐT&PT và 1000 tỷ đồng các loại trái phiếu khác

Nh vậy, đến cuối năm 1999 và đầu năm 2000, tổng số có khoảng trên 19.000 tỷ đồng các loại trái phiếu, công trái còn thời hạn thanh toán Lợng trái phiếu này sẽ là điều kiện cần thiết để đa vào giao dich khi trung tâm giao dich chứng khoán (TTGDCK) đi vào hoạt động Mặc dù việc phát hành trái phiếu Chính phủ trong năm qua vợt mức dự định nhng vẫn còn tồn tại một số bất cập:

*Một là, phơng thức phát hành cha phù hợp dẫn đến hạn chế khả năng

huy động vốn Hiện nay, có 2 phơng thức phát hành chính Đối với tín phiếu kho bạc phát hành bằng cách đấu thầu thông qua NHNN Trong khi đó trái phiếu kho bạc chủ yếu đợc bán lẻ qua hệ thống phân phối kho bạc Chính điều này đã tạo ra sự khác nhau trong việc quy định đối tợng mua trái phiếu Trớc kia QĐ 839/TC-QĐ/KBNN ngày 29/8/1996 quy định chỉ các cá nhân đợc mua trái phiếu Đến nay QĐ 122/TC-QĐ/KBNN ngày 1/2/1997, công ty mua đã đợc mở rộng đến các tổ chức, cơ quan đoàn thể và các doanh nghiệp trừ những doanh nghiệp kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài Hệ quả tất yếu của quyết định này là các công ty làm ăn kém hiệu quả sẽ dồn vốn mua trái phiếu Chính phủ Vì thế, Chính phủ sẽ không huy động đợc đủ nguồn vốn cần thiết

* Hai là, lãi suất trái phiếu Chính phủ (TPCP) cha thực sự đóng vai trò là

lãi suất chuẩn đối với các lãi suất khác Tức là, lãi suất trái phiếu KBNN bán trực tiếp có xu hớng thoát li sự điều hành lãi suất chung của NHNN Trên thực

tế, điều đó đợc thể hiện bằng việc xây dựng lãi suất của trái phiếu Chính phủ

t-ơng đt-ơng với lãi suất cho vay của các NHTM Do vậy, dẫn đến tình trạng tăng cầu giả tạo về trái phiếu Chính phủ bởi tâm lý muốn hởng lãi suất cao, rủi ro thấp Nh vậy, đứng trên bình diện quản lý vĩ mô, trái phiếu Chính phủ không thực hiện đợc chức năng điều tiết quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế

* Ba là, việc thanh toán lãi suất cho các trái chủ không linh hoạt, mềm

dẻo và những thủ tục phiền hà khi sang tên làm trái phiếu Chính phủ mất đi tính thanh khoản và không hấp dẫn với nhà đầu t Trên thực tế, nhiều ngời có nhu cầu chuyển nhợng trái phiếu trớc kì hạn phải chấp nhận không đợc hởng lãi trong thời gian nắm giữ, kèm theo đó là những thủ tục phiền hà Chính những bất cập này tất yếu dẫn đến hình thành “chợ đen” cho các loại trái phiếu cha đáo

Trang 10

hạn Việc này sẽ có tác động không nhỏ cho tiến trình thành lập TTCK ở Việt Nam

Trên đây là một số bất cập nổi bật của thị trờng trái phiếu Chính phủ, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu tình hình giá cả trái phiếu trong thời gian qua Trên thực tế, lợng trái phiếu Chính phủ phát hành ra thị trờng là điều kiện cần thiết để giao dich khi TTCK đi vào hoạt động Trong trờng hợp TTCK đã hình thành thì vấn đề tiếp theo là giá cả của hàng hoá trên TTCK, tỷ lệ chiết khấu của các loại trái phiếu, công trái Điều này tuỳ thuộc vào lãi suất ghi trên mỗi loại trái phiếu, công trái và mối quan hệ với sự biến động của những công cụ huy động vốn khác trong cùng thời kỳ

Bắt đầu từ 1/6/1999, NHNN Việt Nam đã quy định mức lãi suất trần cho vay tối đa bằng VNĐ là 1,15%/tháng áp dụng cho mọi kì hạn, kèm theo là việc quy định lãi suất cho vay tái cấp vốn 0,85%/tháng thay cho nhiều mức trần lãi suất nh trớc đây Việc điều chỉnh này tác động trực tiếp đến lãi suất huy động vốn của các loại trái phiếu kể cả trái phiếu KBNN và trái phiếu NHTM Tính từ ngày 1/7/1997 đến trung tuần tháng 9/1999 NHNN Việt Nam đã điều chỉnh 6 lần lãi suất cho vay Riêng năm 1999 có 4 lần: 1/2/1999, 1/6/1999, 1/8/1999, 4/9/1999

Diễn biến các mức trần lãi suất cho vay và lãi suất cho vay tái cấp vốn ở Việt Nam trong hai năm gần đây

Đơn vị tính: %

Thời điểm thực hiện

Mức trần lãi suất

cho vay các loại

1/7/97 21/1/98 1/2/99 1/6/99 1/8/99 4/9/99

Các loại trái phiếu, công trái có thể giao dịch tại trung tâm

Giao dịch Chứng khoán đến cuối năm 1999

Loại trái phiếu, công trái Thời hạn

(năm)

Lãi suất (%/năm)

Số lợng (tỷ

đồng)

1 Trái phiếu Kho bạc Nhà nớc

2 Trái phiếu Ngân hàng Đầu t và

Ngày đăng: 07/11/2013, 01:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w