TÓM TẮT Nội dung nghiên cứu của luận văn này đề cập đến lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị trong các công ty niêm yết trên thị
Trang 1-
HOÀNG HẢI YẾN
LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN NHẰM THỰC HIỆN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số ngành: 60340301
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 7 năm 2016
Trang 2-
HOÀNG HẢI YẾN
LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN NHẰM THỰC HIỆN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 3Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS VÕ VĂN NHỊ
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP.HCM
ngày 24 tháng 09 năm 2016 Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Phan Đình Nguyên Chủ tịch
2 TS Dương Thị Mai Hà Trâm Phản biện 1
3 PGS.TS Vương Đức Hoàng Quân Phản biện 2
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn
Trang 4TP HCM, ngày 15 tháng 07 năm 2016
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : HOÀNG HẢI YẾN Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh : 15/10/1986 Nơi sinh: Quảng Bình Chuyên ngành : Kế toán MSHV: 1341850084
I- Tên đề tài: “Lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh
lợi nhuận trong các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam”
II- Nhiệm vụ và nội dung
1 Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm lý luận về chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận Tổng kết các mô hình lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm
về các yếu tố liên quan đến lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
2 Phân tích thực trạng điều chỉnh lợi nhuận của các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam; nhận diện các yếu tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán;
3 Phân tích, đánh giá, luận giải thông qua xây dựng một mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu tố khi lựa chọn chính sách kế toán để thực hiện hành
vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
4 Từ kết quả nghiên cứu, tác giả cung cấp thêm một góc nhìn cụ thể trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
5 Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng điều chỉnh lợi nhuận, nâng cao chất lượng thông tin trên các Báo cáo tài chỉnh của các công ty niêm yết
III- Ngày giao nhiệm vụ : 20/08/2015
IV- Ngày hoàn thành nhiệm
V- Cán bộ hướng dẫn : PGS TS VÕ VĂN NHỊ
PGS.TS VÕ VĂN NHỊ
Trang 5LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đề tài “Lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi
điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này ở bất cứ đâu Các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2016
Học viên thực hiện Luận văn
Hoàng Hải Yến
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
PGS.TS Võ Văn Nhị – thầy trực tiếp và nhiệt tình hướng dẫn trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này Hội đồng khoa học – Viện đào tạo sau đại học trường Đại học Công nghệ TP HCM đã nhận xét và góp ý quý báu để luận văn hoàn chỉnh hơn Ban giám hiệu đã tạo môi trường học tập tốt nhất, quý thầy cô nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và truyền đạt các kiến thức quý báu đến học viên Các anh chị học viên lớp cao học Kế toán nhiệt tình hỗ trợ, góp ý giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành Luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2016
Học viên thực hiện Luận văn
Hoàng Hải Yến
Trang 7TÓM TẮT
Nội dung nghiên cứu của luận văn này đề cập đến lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Dựa trên quan điểm của lý thuyết người đại diện, lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết kế toán thực chứng, tác giả tìm ra động cơ của các nhà quản trị trong việc lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và nước ngoài tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu, vận dụng kết hợp mô hình ước lượng OLS; thu thập, xử lý dữ liệu ban đầu trên Báo cáo tài chính đã kiểm toán của 94 công ty niêm yết trong giai đoạn 2013-2015 bằng Excel, sử dụng phần mềm STATA để phân tích mối tương quan giữa lựa chọn các chính sách kế toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị Kết quả hồi quy cho thấy mô hình phù hợp với số liệu thực tế, các biến lựa chọn có ý nghĩa thống kê Các chính sách kế toán được nhà quản trị quan tâm lựa chọn nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty niêm yết gồm có (1) Lựa chọn phương pháp trích khấu hao TSCĐ; (2) Lựa chọn chính sách ghi nhận các khoản dự phòng Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng, hành vi điều chỉnh lợi nhuận còn chịu sự tác động bởi khả năng sinh lời(ROA) và chất lượng kiểm toán của các công ty kiểm toán
Từ khóa: Chính sách kế toán, điều chỉnh lợi nhuận
Trang 8
ABSTRACT
The thesis’s research content refers to the accounting policies selection that administrator perform the actions to adjust profit of companies who listed on the Vietnam’ stock market Based on the representation Agency Theory, Asymmetric Information Theory, and Positive Accounting Theory, author find out the motives
of administrators in selecting the accounting policies to earning management
The author have proposed the research scheme since reviewing of domestic and international studies, by applying the integrated estimated OLS model; Collecting, processing the initial data in audited financial statements that came from
94 listed companies from 2013 to 2015 by using Excel, STATA software to analyse the relationship between the selecting of accounting policies and the actions of administrors’ adjusted profit
The regression results show that the model fit the actual data, the selected variables have statistical significant The accounting policies that were selected by administrators to perform the actions of earning management in the listed companies, including: (1) Selecting of Fixed assets depreciation exiled method; (2) Selecting of recognition policy of reserves Furthermore, this research investigated that behavior of this profit adjustment was affected by return on asset(ROA) and audit quality of audit firms
Keywords: Accounting Policies ies, , Earning Management
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ x
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Đặt vấn đề nghiên cứu 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1.Mục tiêu tổng quát 2
2.2.Mục tiêu cụ thể 3
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1.Đối tượng nghiên cứu 3
3.2.Phạm vi nghiên cứu 4
4.Phương pháp nghiên cứu 4
5.Những đóng góp của Luận văn 5
6.Kết cấu của Luận văn 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6
1.1.Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài 6
1.2.Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 10
1.3.Nhận xét và đưa ra khe hổng 11
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 13
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14
2.1.Chính sách kế toán 14
2.1.1.Chính sách kế toán ghi nhận doanh thu 15
2.1.2.Chính sách kế toán về ghi nhận và đánh giá chi phí khấu hao TSCĐ 16
2.1.3.Chính sách kế toán liên quan đến xác định giá vốn của hàng xuất kho 17
Trang 102.1.4.Chính sách kế toán về ghi nhận chi phí trả trước 19
2.1.5.Chính sách kế toán về trích lập chi phí dự phòng 20
2.1.6.Chính sách kế toán về ghi nhận chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp 21
2.2.Điều chỉnh lợi nhuận và mối quan hệ giữa chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận 22
2.2.1.Điều chỉnh lợi nhuận: 22
2.2.1.1.Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận 22
2.2.1.2.Mục đích và động cơ của điều chỉnh lợi nhuận 23
2.2.1.3.Phương thức thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận 25
2.2.1.4.Cơ sở của việc điều chỉnh lợi nhuận 28
2.2.1.5.Nhận diện điều chỉnh lợi nhuận 29
2.2.2.Mối quan hệ giữa lựa chọn chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận 31
2.3.Các lý thuyết liên quan 32
2.3.1.Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 32
2.3.2.Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymetric information Theory) 32
2.3.3.Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory) 32
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 34
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1.Quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 35
3.1.1.Quy trình nghiên cứu 35
3.1.2.Phương pháp nghiên cứu: 37
3.2.Dữ liệu nghiên cứu 37
3.3.Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 39
3.3.1.Giả thuyết nghiên cứu 39
3.3.2.Mô hình nghiên cứu 41
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 45
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 46
4.1.Kết quả nghiên cứu định tính 46
Trang 114.1.1.Thực trạng về hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty cổ phần niêm yết
trên sàn chứng khoán Việt Nam 46
4.1.1.1.Tổng quan về thực trạng điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2013 46
4.1.1.2.Tổng quan về thực trạng điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2014 49
4.1.1.3.Tổng quan về thực trạng điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2015 53
4.1.2.Nhận diện về hành vi lựa chọn chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 55
4.1.2.1.Biểu hiện về hành vi lựa chọn chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 55
4.1.2.2 Nguyên nhân lựa chọn chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận57 4.2.Kết quả nghiên cứu định lượng 57
4.2.1.Thống kê mô tả các biến 57
4.2.2.Phân tích tương quan 59
4.2.3.Kết quả hồi quy 60
4.3.Một số bàn luận 67
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 69
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
5.1.Kết luận: 70
5.2.Kiến nghị 70
5.3.Hạn chế của đề tài và hướng giải quyết 72
5.3.1.Hạn chế của đề tài 72
5.3.2.Hướng giải quyết 73
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 12DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BCĐKT Bảng cân đối kế toán
2 BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
3 BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
4 BCTC Báo cáo tài chính
7 DNNY Doanh nghiệp niêm yết
8 FIFO First in First out (nhập trước xuất trước)
9 GVHB Giá vốn hàng bán
10 HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
11 HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
13 LIFO Last in first out (nhập sau xuất trước)
14 LNST Lợi nhuận sau thuế
15 NDA Non Dicretionary Accruals(Biến kế toán dồn tích kh)
16 OLS Ordinary Least Square
17 ROA Return on total Assets
19 TNDN Thu nhập doanh nghiệp
20 TSCĐ Tài sản cố định
Trang 13
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Mô tả các biến 42
Bảng 4.1: Trình bày thống kê mô tả các biến 58
Bảng 4.2 : Ma trận hệ số tương quan giữa các biến thuộc mô hình 59
Bảng 4.3 : Kết quả hồi quy theo mô hình hồi quy Pooled – OLS 61
Bảng 4.4 : Kết quả hồi quy theo mô hình hồi quy FEM 62
Bảng 4.5 : Kết quả hồi quy theo mô hình hồi quy REM 64
Bảng 4.6.Bảng kiểm định Hausman 65
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy theo Pooled OLS, FEM, REM của mô hình 66
Trang 14DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Thống kê DN điều chỉnh LNST sau kiểm toán của DNNY năm 2013 47
Hình 3.2 Thống kê các doanh nghiệp có thay đổi từ lãi sang lỗ 48
Hình 3.3: LNST trước và sau kiểm toán của một số DN chênh lệch tăng đáng chú ý năm 2013 49
Hình 3.4.Top DNNY tăng lãi và thoát lỗ sau kiểm toán 2014 50
Hình 3.5.Top DNNY giảm lãi và tăng lỗ sau kiểm toán 2014 52
Hình 3.6.Tổng số doanh nghiệp sai lệch lợi nhuận sau kiểm toán qua các năm 54
Hình 3.7 Top 20 DN có LNST cổ đông công ty mẹ biến động liên tục sau kiểm toán qua nhiều năm 55
Sơ đồ 3.1: Các bước trong quy trình nghiên cứu 35
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Điều chỉnh lợi nhuận luôn là chủ đề nóng và nhận được nhiều tranh luận trong thời gian gần đây, liên quan đến vấn đề này đã có nhiều mô hình lý thuyết và thực nghiệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới Theo Joshua Ronen, Varda Yaari (2008) [31] tùy thuộc vào động cơ và mục tiêu công bố thông tin để các nhà quản trị điều chỉnh thu nhập theo ý muốn chủ quan của mình Theo Scott, William R.(1997)[38]điều chỉnh lợi nhuận phản ảnh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty Cần lưu ý rằng, việc lựa chọn phương pháp kế toán áp dụng để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận luôn nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán Theo số liệu thống kê của Vietstock từ năm 2012 đến 6 tháng năm 2015 cho thấy mỗi năm tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết có điều chỉnh sau kiểm toán đều trên mức 70%, còn 6 tháng đầu năm 2015 tỷ lệ này cũng chiếm quá bán 52%[6] Điều này là một cảnh báo rất lớn về chất lượng báo cáo tài chính và độ minh
bạch về số liệu kế toán do doanh nghiệp tự lập
Đối với vấn đề này, một kiểm toán viên cho biết nếu một doanh nghiệp thường xuyên để chênh lệch số liệu lãi lỗ qua các năm thì có 2 nguyên nhân chủ yếu, thứ nhất là do kế toán yếu hoặc thứ hai là do doanh nghiệp cố tình làm như vậy Vấn đề nằm ở chổ dù là nguyên nhân nào thì chênh lệch lãi lỗ sau soát xét thực
sự rất nguy hiểm Nếu kiểm toán không phát hiện được các vấn đề ở trong đó thì sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các đối tượng có liên quan đến doanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, nhà cung cấp hay các nhà đầu tư tiềm năng
Trong câu chuyện của tập đoàn Đại Dương(OGC) và nhóm doanh nghiệp dầu khí như PVX, PVL, PXL từ lãi trăm tỷ đột nhiên quay sang lỗ ngàn tỷ, Kiểm toán đưa ra hàng loạt ý kiến ngoại trừ, cổ đông vẫn loanh quanh với câu hỏi bi quan đâu là con số thực thể hiện đúng tình cảnh của doanh nghiệp hiện tại? Nhà đầu tư hoang mang khi lợi nhuận nhảy múa lên xuống hàng trăm tỷ đồng khi qua tay kiểm toán, điển hình là màn phù phép trên báo cáo tài chính tự lập của các doanh nghiệp
Trang 16như OGC từ lỗ hơn 2,000 tỷ đồng thành lãi 400 tỷ đồng Câu hỏi lớn đặt ra là vì đâu các doanh nghiệp niêm yết có thể vẽ ra được như vậy? Theo kết quả từ các báo cáo kiểm toán, nguyên nhân chủ yếu là do lựa chọn linh hoạt chính sách kế toán trong khuôn khổ chuẩn mực cho phép của các doanh nghiệp niêm yết Những số liệu kiểm toán thường phải điều chỉnh là các khoản mục liên quan đến lựa chọn chính sách kế toán như trích lập dự phòng, khấu hao Tài sản cố định, phân bổ chi phí trả trước, hàng tồn kho và lựa chọn thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí không đúng niên độ Điều này dẫn đến các báo cáo tài chính sai lệch sau kiểm toán phải điều chỉnh hàng loạt yếu tố, từ giá vốn, chi phí quản lý đến các khoản dự phòng
Trong một nghiên cứu thực nghiệm trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội của Ths Phạm Thị Bích Vân[3] , kết quả cho hay việc lựa chọn chính sách kế toán trong việc ghi nhận doanh thu, phương pháp khấu hao TSCĐ hay thay đổi phương pháp tính giá xuất kho của hàng tồn kho có tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của các nhà quản trị Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đánh giá hết mức độ ảnh hưởng của các chính sách kế toán lên hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Nắm bắt tình hình thực tiễn, kế thừa kết quả nghiên cứu từ mô hình thực nghiệm của Phạm Thị Bích Vân(2012)[11] và các nghiên cứu ngoài nước, tác giả nghiên cứu, áp dụng và phát triển đề tài “Lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam” làm đề tài Luận văn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán của các nhà quản trị trong các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam nhằm cung cấp thêm cho các nhà đầu tư một góc nhìn cụ thể hơn trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết cũng như đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hạn chế tình trạng điều chỉnh lợi nhuận và nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính
Trang 172.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm lý luận về chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận Tổng kết các mô hình lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của lựa chọn chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Phân tích thực trạng điều chỉnh lợi nhuận của các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam; nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán;
Phân tích, đánh giá, luận giải thông qua xây dựng một mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu tố khi lựa chọn chính sách kế toán để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra quan điểm và đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nâng cao chất lượng thông tin công bố trên Báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa thông qua các câu hỏi nghiên cứu được trình bày như sau:
1) Những công ty niêm yết nào có hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán?
2) Việc lựa chọn chính sách kế toán có tác động như thế nào đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán?
3) Các giải pháp nào cần thực hiện nhằm hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 18Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là 94 công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam là Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
1) Phương pháp liệt kê, phân tích, diễn dịch nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận
2) Phương pháp tổng hợp, kế thừa lý luận kế thừa kết quả nghiên cứu từ các mô hình trên thế giới về tác động của lựa chọn chính sách kế toán đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, qua đó vận dụng để kiểm định thực tế tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
3) Phương pháp thống kê nhằm điều tra, thu thập số liệu trên Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam qua các chỉ tiêu liên quan
4) Phương pháp toán kinh tế: Luận văn ứng dụng phương pháp toán kinh
tế để nhận diện và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố khi lựa chọn chính sách kế toán đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
5) Phương pháp mô hình hóa và phương pháp qui nạp: trên cơ sở phân tích, đánh giá, luận văn mô hình hóa mối quan hệ giữa các biến, sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ giữa lựa chọn chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
6) Phương pháp nghiên cứu ứng dụng: dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn ứng dụng mô hình nghiên cứu để nhận diện có hay không hành vi điều chỉnh lợi
Trang 19nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán tại các công ty niêm yết, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính
5 Những đóng góp của Luận văn
Luận văn có những đóng góp mới cụ thể như sau:
1) Thứ nhất, luận văn đã tập hợp đầy đủ và có hệ thống những lý luận căn bản nhất về chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận; Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các mô hình lý thuyết trên thế giới liên quan đến lựa chọn chính sách kế toán và điều chỉnh lợi nhuận
2) Thứ hai, thông qua việc thống kê, tổng hợp các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính của gần 100 công ty niêm yết qua các năm 2013, 2014 và 2015 Luận văn
đã cung cấp thông tin về tình hình tài chính của các công ty này giúp các đối tượng
có nhu cầu sử dụng thông tin có nguồn dữ liệu để so sánh, đánh giá phục vụ nhu cầu của mình
3) Thứ ba, thông qua mô hình kinh tế lượng, kết quả thực nghiệm cho thấy các nhà quản trị đã sử dụng một số chính sách kế toán để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Cụ thể, nhà quản trị có lựa chọn trong việc áp dụng phương pháp trích khấu hao tài sản cố định và ghi nhận các khoản dự phòng nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo mong muốn
4) Thứ tư, luận văn đã đề xuất các kiến nghị phù hợp với thực tiễn cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính của công ty niêm yết như: các nhà đầu tư, kiểm toán viên hay cơ quan quản lý nhà nước
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 5 chương
Chương 1 Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2 Cơ sở lý thuyết
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5 Kết luận và kiến nghị
Trang 20CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài
Quá trình nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp được một số công trình nghiên cứu trên thế giới làm nền tảng lý luận cho đề tài như sau:
(1) Healy(1985)[29] đã nghiên cứu trên 94 công ty ở US trong giai đoạn 1930-1980 để nghiên cứu Theo cách tiếp cận của Healy, phần không thể điều chỉnh chính là trung bình tổng biến dồn tích của các năm trước
NDA it =
∑ 𝑻𝑨𝒊𝒕 𝑨𝒊𝒕−𝟏 𝒕
𝒏
DA it = TA it /A it-1 – NDA it
Chú thích:
n: số năm trong kỳ ước tính
t: năm sự kiện (năm nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận)
i: công ty i cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận
Theo mô hình của Healy, khi không có hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, DA bằng 0 và TA chính là NDA NDA chính là giá trị trung bình của
TA Hay nói cách khác, NDA không thay đổi từ năm này sang năm khác
(2) DeAgelo(1986)[23] Kế thừa từ mô hình của Healy, Mô hình DeAngelo so sánh tổng biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t với TA thời kỳ t-1 và chênh lệch giữa hai thời kỳ này chính là các biến kế toán được điều chỉnh (DA) Mô hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng số biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t-1 hay nói cách khác NDA không đổi qua hai năm, do đó sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và thời kỳ t-1 được giả định là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán
Trang 21Cụ thể: Phần không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện:
TAit
Ait−1
Trong đó: β1, β2: ước tính qua OLS trong kỳ ước tính
Như vậy sau khi xác định phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh NDA, các nhà nghiên cứu sẽ xác định biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA và tuỳ thuộc vào kết quả tính toán các nhà nghiên cứu có thể đưa ra kết luận:
Nếu DAt > 0: Điều chỉnh tăng lợi nhuận
DAt <0: Điều chỉnh giảm lợi nhuận
DAt =0 : Không điều chỉnh lợi nhuận
(4) Theo Jones(1991)[32], tiếp tục khắc phục các hạn chế của các mô hình trước, Jones xác định biến kế toán dồn tích không tự định(NDA) theo phương trình sau:
NDAt / At-1 = α 1 /At-1 + α 2 ΔREVt /At-1 + α 3 PPEt /At-1
Chú thích:
NDAit: Biến dồn tích không điều chỉnh được năm t
Trang 22At-1: Tổng tài sản cuối năm t -1
∆REVt: Biến động doanh thu thuần kỳ t so với doanh thu thuần kỳ t-1 PPEt : Nguyên giá tài sản cố định hữu hình năm t
t: kỳ nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận Trong đó, α1;α2; α3 là các tham số ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) của các hệ số a1; a2; a3 trong mô hình:
TAt / At-1 = a1/ At-1 + a2ΔREVt / At-1 + a3 PPEt /At-1 + εt
Phần dư ε trong mô hình trên đại diện cho biến chưa nhận diện được, bao gồm
cả biến dồn tích có thể điều chỉnh được (TAt)
Sau khi ước lượng biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA), từ phương trình:
TAt = DAt+ NDAt Suy ra, DAt = TAt - NDAt
Để giảm thiểu rủi ro do phương sai không thuần nhất, Jones chia 2 vế của phương trình trên cho At-1( tài sản cuối năm t-1) Từ đó xác định được biến kế toán dồn tích có thể thay đổi được DAt
DAt / At-1 = TAt / At-1 - a1/ At-1 - a2ΔREVt / At-1- a3 PPEt / At-1
Với mô hình này, Jones(1991) đưa vào phương trình hồi quy chỉ có hai biến
là REV và PPE Jones cho rằng giá trị REV thể hiện sự biến động doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, nó phản ánh tình hình và môi trường hoạt động kinh doanh và là khoản mục mang tính khách quan không bị nhà quản lý lợi dụng
để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ Còn giá trị PPE thể hiện nguồn lực nội tại của đơn vị trong việc tạo ra doanh thu, đồng thời khoản mục chi phí khấu hao là một khoản chi phí dồn tích không tự ý lớn ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận trong kỳ Tuy nhiên, khi chọn REV làm biến nghiên cứu thì có thể doanh thu thuần cũng bị tác động thông qua các khoản doanh thu bị ghi nhận không đúng niên độ và các khoản
Trang 23này có thể là doanh thu khống của doanh nghiệp Và đây chính là hạn chế cần khắc phục của mô hình Jones(1991)
(5) Xuất phát từ hạn chế kể trên, nhóm tác giả Dechow, Sloan và Sweeney (1995)[25] đã cải tiến mô hình Jones(1991) bằng cách đưa thêm biến Phải thu khách hàng để hạn chế ảnh hưởng của các khoản doanh thu Mô hình Jones sau cải tiến được viết lại
NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (ΔREVt - ΔRECt )/ At-1 + β2 PPEt / At-1
Trong đó, ΔRECt là sự thay đổi trong tài khoản phải thu khách hàng
(6) Kothari, Leone and Wasley(2005)[33] tiếp tục phát triển mô hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan and Sweeney (1995),Kothari, Leone and Wasley (2005) đã bổ sung thêm biến về kết quả hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản (ROA) vào mô hình gốc của Jones (1991) nhằm xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa biến kế toán dồn tích và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005) đề xuất như sau:
NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (REVt - RECt) / At-1 +β2 PPEt / At-1 + β3
ROAt-Trong đó: ROAt-1 là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của năm t-1
(7) Aziatul[40] và các cộng sự (2015) đã sử dụng mô hình dồn tích của dồn tích Kothari (2005) Nghiên cứu với một mẫu gồm 1166 quan sát của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia từ năm 2010-2012 Nghiên cứu này phân tích các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia như: Z-Score (khủng hoảng tài chính), FCF (dòng tiền tự do), LEV (đòn bẩy tài chính), ROA (khả năng sinh lời) và Size (quy mô doanh nghiệp) Và kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có biến FCF và ROA là có tác động cùng chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp vì các nhà quản lý sẽ tham gia thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi công ty có tình hình tài chính lành mạnh và có lợi nhuận cao, các yếu tố còn lại như Z-Score, LEV và SIZE không có ý nghĩa trong việc điều chỉnh lợi nhuận
Trang 24(8) Archambault (2003)[41] trong nghiên cứu của mình, tác giả đã phân định chất lượng các công ty kiểm toán thành 2 nhóm, nhóm công ty kiểm toán Big 4 và nhóm còn lại là các công ty kiểm toán không phải Big 4 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chất lượng kiểm toán có tác động thuận chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước
(1).Huỳnh Thị Vân (2012)[14] tiến hành nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong phạm vi là 43 công ty cổ phần năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2008-2010 Kết quả nghiên cứu đi đến kết luận có 71% tổ chức niêm yết điều chỉnh tăng lợi nhuận, 29% tổ chức niêm yết điều chỉnh giảm lợi nhuận trên sàn HOSE Với cùng phương pháp nghiên cứu, kết quả đánh giá gần tương tự cho sàn HNX với 73% tổ chức niêm yết trên sàn HNX điều chỉnh tăng lợi nhuận, 27% tổ chức niêm yết trên sàn HNX điều chỉnh giảm lợi nhuận
(2) Phạm Thị Bích Vân(2012)[11] trong nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 60 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán HNX tiến hành năm 2010, dựa trên nền tảng lý thuyết của mô hình Jones cải tiến (1995), nghiên cứu đã đi đến kết luận mô hình Jones thực sự không phù hợp để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn HNX Với những lập luận và chứng cứ cụ thể, Phạm Thị Bích Vân đã đề xuất mô hình ứng dụng cho nghiên cứu Sử dụng công cụ SPSS phiên bản 16.0, kết quả hồi quy cho thấy mức độ phù hợp và có ý nghĩa của các biến tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận gồm (1) Biến chi phí khấu hao; (2) Chi phí dự phòng; (3) Giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp
(3) Bùi Thị Mai Hoài, Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015)[2] trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập nhằm làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong các công ty niêm yết trên thị chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008- 2012, với dữ liệu thu thập liên quan đến 211 công ty, tác giả đã xây dựng mô hình ước lượng kết hợp với phần mềm thống kê stata để phân tích, kiểm định và đi đến kết luận có 4 biến ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập với mục đích làm giảm thuế TNDN phải nộp bao gồm (1) Hưởng chính sách ưu đãi
Trang 25thuế; (2)Ghi nhận doanh thu chưa thực hiện, doanh thu theo tiến độ; (3)Ghi nhận số lượng các khoản dự phòng và (4)Ghi nhận chi phí thuế TNDN hoãn lại
Tuy nhiên, việc nhận diện và xem xét mức độ điều chỉnh lợi nhuận theo các nhà nghiên cứu có thể thực hiện thông qua 2 cách Một là, xem xét sự lựa chọn chính sách kế toán và hai là tính toán biến NDA Tổng quan các nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng đã có các nghiên cứu xem xét sự lựa chọn của từng chính sách kế toán tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận như Bartov (1993)[34] đề cập đến chính sách ghi nhận doanh thu; Neill, Pourciau, và Schaefer (1995)[36] hoặc Bishop
và Eccher (2000)[22] xem xét tác động khi lựa chọn phương pháp trích khấu hao hay Hughes, Schwartz, và Fellingham (1988)[30] hoặc Neill, Pourciau, và Schaefer (1995)[36] nghiên cứu tác động khi lựa chọn phương pháp tính giá xuất hàng tồn kho Tuy nhiên, theo ý kiến chủ quan của tác giả, các nghiên cứu này còn rời rạc cho từng lựa chọn chính sách kế toán Việc nghiên cứu và tổng hợp ảnh hưởng của các lựa chọn chính sách kế toán lên hành vi điều chỉnh lợi nhuận là cần thiết nhằm cung cấp thông tin tổng hợp và đầy đủ
Thứ hai, môi trường pháp lý chi phối hoạt động của các công ty niêm yết trên thế giới và Việt Nam khá chênh nhau Việc nhận diện và xem xét tác động của từng lựa chọn trong môi trường Việt Nam là cần thiết để đánh giá ý nghĩa và mức độ phù hợp của từng lựa chọn
Trang 26Thứ ba, thời gian qua, trong nước cũng đã có một vài nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, như Huỳnh Thị Vân (2012)[14] kết quả của nghiên cứu mới chỉ dừng lại
ở chổ phát hiện được doanh nghiệp có hành vi điều chỉnh lợi nhuận chứ chưa đánh giá cũng như phân tích được ý nghĩa của từng nhân tố tác động lên điều chỉnh lợi nhuận như thế nào Phạm Thị Bích Vân(2012)[11] Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố cụ thể khi lựa chọn chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận, tuy nhiên việc nhóm gộp chỉ tiêu giá vốn hàng bán với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp để đánh giá tác động theo tác giả là chưa rỏ ràng Thời gian nghiên cứu chỉ xét trong 1 năm và quan sát 60 công ty trên sàn HNX nên chưa thể tổng quát được tình hình điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc gia Hay Bùi Thị Mai Hoài, Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015)[2] nghiên cứu cũng chỉ đề cập đến lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận các khoản dự phòng
Trang 27TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 giới thiệu tổng quan các nghiên cứu trước Thông qua việc theo dõi những vấn đề tài chính được dư luận và các bên liên quan quan tâm trong thời gian gần đây, các nghiên cứu sơ bộ và lý thuyết cùng ngành, tác giả đã tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài nhằm mục đích tổng quát các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm xem xét tính phù hợp với thực tiễn Việt Nam và nhận ra các khe hổng từ các nghiên cứu trước từ đó xây dựng hướng nghiên cứu phù hợp và phát triển thành công Luận văn
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, tác giả rút ra bằng chứng thực nghiệm của từng lựa chọn nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Từ đó, tác giả có cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo
Trang 28CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29[9]: “Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót” thì chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính Khái niệm này không có gì khác biệt so với chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 8 Theo đó khi lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng chuẩn mực
kế toán Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau (1)Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng; (2)Đáng tin cậy, khi trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng; Trình bày khách quan, không thiên vị; Tuân thủ nguyên tắc thận trọng; Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu Trong trường hợp không có chuẩn mực kế toán hướng dẫn riêng, khi xây dựng các phương pháp kế toán cụ thể, doanh nghiệp cần xem xét: Những yêu cầu và hướng dẫn của các chuẩn mực kế toán đề cập đến những vấn đề tương tự và có liên quan; Những khái niệm, tiêu chuẩn, điều kiện xác định và ghi nhận đối với các tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí được quy định trong chuẩn mực chung[9]
Theo chuẩn mực kế toán số 1 [9] Doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán nhất quán đối với các giao dịch, sự kiện tương tự trừ khi có chuẩn mực kế toán khác yêu cầu hoặc cho phép phân loại các giao dịch, sự kiện tương tự thành nhóm nhỏ và áp dụng chính sách kế toán khác nhau cho các nhóm này Trường hợp này, một chính sách kế toán phù hợp sẽ được lựa chọn và áp dụng nhất quán đối với mỗi nhóm Doanh nghiệp chỉ được thay đổi chính sách kế toán khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật hoặc của chuẩn mực kế toán và chế
Trang 29độ kế toán; hoặc sự thay đổi sẽ dẫn đến báo cáo tài chính cung cấp thông tin tin cậy, thích hợp hơn về ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện đối với tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp
Như vậy, lựa chọn chính sách kế toán là việc chọn lựa có cân nhắc các nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực
kế toán mà doanh nghiệp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị Giới hạn trong phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ xem xét đến các chính sách kế toán dưới đây:
- Chính sách kế toán ghi nhận doanh thu
- Chính sách kế toán về ghi nhận và đánh giá chi phí khấu hao Tài sản cố định
- Chính sách kế toán liên quan đến xác định giá vốn của hàng xuất kho
- Chính sách kế toán về ghi nhận chi phí trả trước
- Chính sách kế toán về trích lập chi phí dự phòng
- Chính sách kế toán về ghi nhận chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
2.1.1 Chính sách kế toán ghi nhận doanh thu
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của giao dịch trong từng kỳ được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành Phần công việc hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp tùy thuộc vào bản chất của dịch vụ:
+ Đánh giá phần công việc hoàn thành
+ So sánh tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành
+ Tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ
Phần công việc hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán định
kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng
Trang 30Một trong ba phương pháp xác định phần công việc hoàn thành để ghi nhận doanh thu trong kỳ phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị Các nhà quản trị có thể ghi nhận tăng doanh thu trong kỳ so với thực tế bằng cách đánh giá phần công việc hoàn thành, tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với khối lượng công việc phải hoàn thành hoặc tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ tăng lên Hoặc ngược lại có thể ghi nhận doanh thu giảm đi Việc xác định mức doanh thu ghi nhận trong kỳ sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán trong kỳ, từ đó có thể làm cho lợi nhuận kế toán tăng lên hoặc giảm đi
2.1.2 Chính sách kế toán về ghi nhận và đánh giá chi phí khấu hao TSCĐ
Đối với khấu hao TSCĐ hữu hình: Theo chuẩn mực kế toán số 3[9] giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác Có 3 phương pháp khấu hao TSCĐ bao gồm:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần
+ Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong 3 phương pháp trên để tính và trích khấu hao TSCĐ Tùy thuộc vào đặc điểm của TSCĐ, hoạt động sản xuất kinh doanh và mục đích của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp Bởi lẽ việc trích khấu hao TSCĐ sẽ được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Do đó, lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Cụ thể như doanh nghiệp áp dụng phương
Trang 31pháp khấu hao theo số dư giảm dần sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong những năm đầu, hoặc áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng sẽ làm cho phần khấu hao được ghi nhận vào chi phí liền đều qua các năm sử dụng,…
Đối với khấu hao TSCĐ vô hình: Theo chuẩn mực kế toán số 4[1] , giá trị phải khấu hao của TSCĐ vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó Thời gian tính khấu hao của TSCĐ vô hình tối đa là 20 năm Việc tính khấu hao được bắt đầu từ khi đưa TSCĐ
vô hình vào sử dụng Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình có thể vượt quá
20 năm khi có những bằng chứng tin cậy Việc trích khấu hao TSCĐ vô hình được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Do vậy, lựa chọn phương pháp khấu hao và ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ sẽ ảnh hưởng đến giá trị khấu hao cần trích lập từ đó ảnh hưởng đến chi phí trong kỳ báo cáo
Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản, nếu trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình, doanh nghiệp xét thấy có thể thay đổi cách thức ước tính về lợi ích kinh tế trong tương lai mà doanh nghiệp dự tính thu được Do đó, có thể thay đổi phương pháp khấu hao Ví dụ: Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần phù hợp hơn phương pháp khấu hao đường thẳng Ngoài ra, nếu thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản khác biệt lớn so với các ước tính trước đó thì thời gian khấu hao phải được thay đổi tương ứng Ví dụ: Thời gian sử dụng hữu ích có thể tăng lên do đầu tư thêm chi phí làm tăng năng lực của tài sản so với năng lực hoạt động được đánh giá ban đầu
Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn thay đổi phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, việc lựa chọn này nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí ghi nhận trong kỳ để xác định lợi nhuận kỳ báo cáo
2.1.3 Chính sách kế toán liên quan đến xác định giá vốn của hàng xuất kho
Theo chuẩn mực kế toán số 02[1] có 4 phương pháp xác định giá vốn của hàng xuất kho bao gồm: phương pháp nhập trước – xuất trước, phương pháp nhập
Trang 32sau – xuất trước, phương pháp thực tế đích danh, phương pháp bình quân gia quyền Với mỗi phương pháp mà đơn vị áp dụng sẽ cho ra trị giá hàng xuất kho khác nhau Tùy theo đặc điểm hàng tồn kho, mục đích của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp tính trị giá hàng xuất kho phù hợp Việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho sẽ liên quan trực tiếp đến giá vốn hàng bán ra, từ đó có thể làm gia tăng hoặc giảm chi phí ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Theo tác giả Phạm Thị Hiền Hảo[8] mỗi một phương pháp tính giá thì nó có đặc điểm riêng như sau:
- Phương pháp tính theo giá đích danh: Phản ánh chính xác giá trị HTK nhưng việc tính toán, ghi chép rất phức tạp
- Phương pháp bình quân gia quyền: không phản ánh sự biến động của giá trị vật tư, hàng hóa
- Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Giá trị HTK cuối kỳ phù hợp với giá trị hiện tại của HTK
- Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO): Giá trị HTK cuối kỳ là giá trị của vật tư, hàng hóa các lần nhập đầu
Đối với phương pháp thực tế đích danh, phương pháp này không thể sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận khi xuất kho Giả định mặt hàng H mua ba đợt với ba giá khác nhau, đơn vị giá của hàng hóa xuất bán là các đơn vị giá hàng hóa tồn kho thuộc những lần mua vào và doanh nghiệp dùng đơn giá của những lần mua đó để xác định giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ Theo đó kế toán chỉ có thể lựa chọn duy nhất giá gốc của hàng lúc mua vào để tính giá vốn hàng bán Do vậy, doanh nghiệp không thể lựa chọn các loại giá khác nhau nhằm mục đích điều chỉnh lợi nhuận Tuy nhiên với ba phương pháp còn lại, khi xem xét và đánh giá trong trường hợp giá cả đầu vào của vật tư hàng hóa trên thị trường có xu hướng biến động, cụ thể là biến động tăng, khi lựa chọn phương pháp FIFO, HTK trình bày trên BCĐKT có giá trị cao nhất do số lượng HTK tính theo giá của lần mua gần nhất, tức là phản ánh gần sát với giá thị trường Khi đó GVHB trình bày trên Báo cáo kết quả kinh doanh lại có giá trị thấp nhất do số lượng hàng bán tính theo giá mua ở trước đây
Trang 33Ngược lại, nếu áp dụng phương pháp LIFO, HTK trình bày trên BCĐKT có giá trị thấp nhất, nhưng GVHB trình bày trên Báo cáo kết quả kinh doanh lại có giá trị cao nhất trong 3 phương pháp GVHB và HTK cuối kỳ theo phương pháp bình quân có giá trị nằm giữa giá trị tương đương khi áp dụng phương pháp FIFO hay LIFO Giả
sử không xem xét ảnh hưởng của các nhân tố khác, trong điều kiện giá cả có xu hướng tăng việc lựa chọn phương pháp FIFO sẽ tạo ra một lợi nhuận kế toán lớn hơn so với phương pháp LIFO, nhưng dòng tiền ra về nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp LIFO lại thấp hơn phương pháp FIFO Ngược lại chọn phương pháp LIFO tuy tạo ra lợi nhuận kế toán thấp nhưng doanh nghiệp tiết kiệm một dòng tiền ra về nộp thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ngân sách Do vậy phương pháp LIFO thường được quan tâm khi lạm phát hay chỉ số giá của một mặt hàng nào đó tăng nhanh Đó cũng chính là lý do mà chuẩn mực kế toán HTK ở nhiều quốc gia không cho phép doanh nghiệp sử dụng phương pháp này
2.1.4 Chính sách kế toán về ghi nhận chi phí trả trước
Theo Thông tư 200[1], chi phí trả trước là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiều kỳ kế toán do đó cần kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí SXKD của các kỳ kế toán sau Bao gồm:
- Chi phí trả trước về thuê cơ sở hạ tầng, thuê hoạt động TSCĐ (quyền sử dụng đất, nhà xưởng, kho bãi, văn phòng làm việc, cửa hàng và TSCĐ khác) phục
vụ cho sản xuất, kinh doanh nhiều kỳ kế toán
- Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo, quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động được phân bổ tối đa không quá 3 năm;
- Chi phí mua bảo hiểm (bảo hiểm cháy, nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ phương tiện vận tải, bảo hiểm thân xe, bảo hiểm tài sản, ) và các loại lệ phí mà doanh nghiệp mua và trả một lần cho nhiều kỳ kế toán;
- Công cụ, dụng cụ, bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê liên quan đến hoạt động kinh doanh trong nhiều kỳ kế toán;
- Chi phí đi vay trả trước về lãi tiền vay hoặc lãi trái phiếu ngay khi phát hành;
Trang 34- Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần có giá trị lớn doanh nghiệp không thực hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, phân bổ tối đa không quá 3 năm;
- Số chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá trị còn lại của TSCĐ bán và thuê lại là thuê tài chính;
- Số chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá trị còn lại của TSCĐ bán và thuê lại là thuê hoạt động;
- Trường hợp hợp nhất kinh doanh không dẫn đến quan hệ công ty mẹ - công ty con có phát sinh lợi thế thương mại hoặc khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có phát sinh lợi thế kinh doanh;
- Các khoản chi phí trả trước khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh của nhiều
kỳ kế toán
Việc tính và phân bổ chi phí trả trước vào chi phí SXKD từng kỳ kế toán phải căn cứ vào tính chất, mức độ từng loại chi phí để lựa chọn phương pháp và tiêu thức hợp lý
Như vậy, mức phân bổ chi phí cho từng kỳ phụ thuộc vào số kỳ phân bổ dự kiến hay thời gian phân bổ và phương pháp phân bổ cũng như lựa chọn tiêu thức phân bổ, điều này đã tạo nên một “khoảng không tự do” trong quy định giúp các nhà quản trị có thể chủ động điều chỉnh tăng giảm chi phí của từng kỳ theo ý muốn chủ quan bằng cách xác định thời gian phân bổ ngắn hay dài trong khoảng thời gian cho phép hay lựa chọn tiêu thức, phương pháp phân bổ phù hợp
2.1.5 Chính sách kế toán về trích lập chi phí dự phòng
Theo quy định hiện hành (chuẩn mực kế toán số 18[9], thông tư số 89/2013/TT-BTC) tính đến thời điểm hiện nay hệ thống kế toán Việt Nam có nhiều khoản dự phòng nhằm đáp ứng các yêu cầu về mặt quản lý cũng như dự tính bù đắp các khoản tổn thất của doanh nghiệp, đó là các khoản dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính (ngắn hạn, dài hạn); dự phòng phải thu; dự phòng giảm giá Hàng
Trang 35tồn kho; dự phòng trợ cấp mất việc làm; dự phòng phải trả và quỹ dự phòng tài chính
Về mặt bản chất có thể chia các khoản dự phòng ra làm 03 nhóm như sau: Nhóm một: là nhóm dự phòng nhằm bù đắp tổn thất tài sản của doanh nghiệp, gồm có dự phòng giảm giá đầu tư tài chính (dài hạn và ngắn hạn); dự phòng
nợ phải thu khó đòi; dự phòng giảm giá hàng tồn kho;
Nhóm hai: là nhóm dự phòng về khả năng phát sinh nợ phải trả của doanh nghiệp, gồm có dự phòng trợ cấp mất việc làm và dự phòng phải trả (như dự phòng
về bảo hành sản phẩm, hàng hóa, tái cơ cấu doanh nghiệp, dự phòng cho các hợp đồng có rủi ro lớn,…);
Nhóm ba: dự phòng quỹ thuộc vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Hiện nay
có quỹ dự phòng tài chính Đây là dự phòng về khả năng tổn thất vốn chủ sở hữu do những nguyên nhân khách quan, việc trích lập là bao nhiêu thì tùy theo từng chủ sở hữu, nó không hề ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong Báo cáo tài chính
Như vậy, đối với nhóm dự phòng bù đắp tổn thất tài sản và nhóm dự phòng
nợ phải trả việc tính toán xác định mức dự phòng chỉ là các ước tính kế toán và nó mang nặng tính chủ quan của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến các thông tin mà
kế toán cung cấp thông qua các báo cáo tài chính[9]
2.1.6 Chính sách kế toán về ghi nhận chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp
Chi phí bán hàng theo Thông tư 200 là các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ, bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá (trừ hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển,
Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí quản lý chung của doanh nghiệp gồm các chi phí về lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, ); bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo
Trang 36hiểm thất nghiệp của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; khoản lập dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài (điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ ); chi phí bằng tiền khác (tiếp khách, hội nghị khách hàng )
Chế độ kế toán cũng cho phép DN được phép vận dụng các phương pháp kế toán thông qua lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí Nhà quản trị quyết định chuyển dịch về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) một số loại chi phí sẽ làm giảm (hoặc tăng) chi phí của niên độ hiện hành Xét trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, các loại chi phí
có thể chuyển dịch thời điểm ghi nhận bao gồm: chi phí bảo hiểm hỏa hoạn, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hành sản phẩm Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào niên độ phát sinh hoặc phân biệt cho một
số kỳ (dựa vào nguyên tắc phù hợp)
2.2 Điều chỉnh lợi nhuận và mối quan hệ giữa chính sách kế toán và điều
chỉnh lợi nhuận
2.2.1 Điều chỉnh lợi nhuận:
2.2.1.1 Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận
Điều chỉnh lợi nhuận là một phạm trù kinh tế học đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ nhiều thế kỷ trước Theo Scott(1997)[38], điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các chính sách
kế toán nhằm đạt được mục tiêu cá nhân hoặc tăng lên giá trị thị trường của công ty
Theo Schipper (1989)[37], điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân
Thông qua việc tổng hợp các khái niệm về điều chỉnh thu nhập trước đây, Ronen và Yaari (2008)[31] cũng trình bày một khái niệm tổng quát bao gồm tất cả các khía cạnh của điều chỉnh thu nhập như sau: “Điều chỉnh thu nhập là một tập hợp các quyết định quản lý dẫn đến việc không báo cáo hiện trạng trong ngắn hạn, tối đa hóa giá trị thu nhập theo dự tính của nhà quản lý Điều chỉnh thu nhập có thể: Có
Trang 37lợi, Có hại hoặc Trung tính Nếu có lợi là tín hiệu cho thấy giá trị ở dài hạn, có hại thì che dấu giá trị ngắn, dài hạn và trung tính sẽ phát hiện kết quả thực hiện đúng trong ngắn hạn.”
Trong nước, khi nghiên cứu về hành động quản trị lợi nhuận của các nhà quản trị doanh nghiệp, PGS.TS Nguyễn Công Phương(2009)[7] đã đưa ra khái niệm điều chỉnh lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua các công cụ kế toán
Cũng trong kết quả các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận, các tác giả cho rằng điều chỉnh lợi nhuận là việc người quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố thông tin báo cáo tài chính và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo tài chính nhằm đánh lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng
mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán
Tóm lại, dù có những tên gọi khác nhau như điều chỉnh thu nhập, quản trị lợi nhuận hay điều chỉnh lợi nhuận chung quy lại bản chất cũng là việc làm “méo mó”
số liệu trên báo cáo tài chính Những đặc điểm chung trong các khái niệm điều chỉnh lợi nhuận theo Trần thị Tuyết Hoa (2013)[16] có thể trình bày lại như sau : (1) Điều chỉnh lợi nhuận là hành vi phụ thuộc vào quyết định có chủ ý của nhà quản trị; (2) Là sự can thiệp của nhà quản lý làm thay đổi các thông tin trên báo cáo tài chính; (3) Là sự công bố thông tin liên quan đến các thời điểm trình bày báo cáo
2.2.1.2 Mục đích và động cơ của điều chỉnh lợi nhuận
Mục đích của điều chỉnh lợi nhuận:
Với mỗi công ty trong những giai đoạn khác nhau sẽ có những mục đích khác nhau để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Theo nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012)[14] đã đưa ra kết quả hầu hết các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Viêt Nam thực hiện hành
vi điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu để
có thể bán cổ phiếu với giá cao nhằm thu hút đầu tư
Trang 38Trong nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Hoa(2013)[16], các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thực hiện hành vi điều chỉnh thu nhập nhằm làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
Trong nghiên cứu của Thái Thị Hằng(2014)[15], mục đích của việc điều chỉnh lợi nhuận là để thoát khỏi diện bị cảnh báo thua lỗ và đủ điều kiện tiếp tục niêm yết trên thị trường chứng khoán Cũng theo nghiên cứu này, tác giả đã nêu thêm các mục đích khác khiến nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận như tối thiểu chi phí thuế khi có sự thay đổi về thuế suất hoặc khi có những ưu đãi về thuế; khi lợi ích cá nhân về các khoản tiền thưởng, tiền phạt hay cơ hội thăng tiến của nhà quản lý; khi doanh nghiệp phải thực hiện ký kết các hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận
Tập hợp các nghiên cứu trên, tác giả cho rằng mục tiêu khi thực hiện hành
vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị doanh nghiệp bao gồm:
- Thu hút đầu tư
- Tối thiểu chi phí thuế phải nộp
- Thỏa điều kiện niêm yết hoặc phát hành thêm cổ phiếu
- Tối đa hóa lợi ích cá nhân trước chính sách thưởng, phạt hay cơ hội thăng tiến
- Thuận lợi trong thỏa thuận, ký kết hợp đồng có các điều khoản ràng buộc liên quan đến chỉ tiêu lợi nhuận
Động cơ điều chỉnh lợi nhuận:
Theo Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015)[2] tổng hợp nghiên cứu của Verbruggen, Christaens và Milis (2008) cho rằng có 5 động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp và nhà quản lý điều chỉnh lợi nhuận, bao gồm:
- Lợi ích mang lại từ cổ phiếu: Điều chỉnh lợi nhuận nhằm gia tăng các lợi ích mang lại từ cổ phiếu tăng giá, gia tăng giá trị thị trường của công ty niêm yết hoặc gia tăng thu nhập cho các nhà quản lý
- Che dấu thông tin: tạo dựng hình ảnh tốt cho doanh nghiệp, che dấu các điểm yếu hay các khoản thua lỗ là động cơ để các nhà quản trị điều chỉnh lợi
Trang 39nhuận của mình nhằm thu hút đầu tư Xét ở góc độ hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các nhà quản trị cũng có động cơ che dấu các khoản doanh thu, thu nhập lớn nhằm tối thiểu hóa các khoản thuế phải nộp cho nhà nước
- Tạo hình ảnh cho nhà quản lý: giữa chủ doanh nghiệp và nhà quản lý
có những khoảng hở nhất định, việc nhà quản lý muốn thể hiện năng lực điều hành nhằm đạt được lợi ích cá nhân đã tạo ra động cơ thúc đẩy các nhà quản lý sẵn sàng thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
- Các động cơ nội bộ: để đạt được hiệu quả quản lý giữa các cấp như mong đợi hay để đối phó với các cổ đông bên ngoài, nhà quản lý sẵn sàng thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong biên độ chuẩn mực kế toán cho phép
- Đối phó với các chính sách pháp luật: Để đối phó với chính sách thuế, các điều kiện niêm yết hay phát hành thêm chứng khoán, các doanh nghiệp sẽ sử dụng điều chỉnh thu nhập để thực hiện các mục tiêu này
Theo Nguyễn Công Phương (2005)[8], ở Việt Nam có thể phổ biến 3 động cơ sau:
- Thu hút nguồn tài trợ bên ngoài
- Chế độ lương, thưởng dành cho nhà quản trị
- Tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
2.2.1.3 Phương thức thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng được trình bày trên báo cáo tài chính (báo cáo xác định kết quả kinh doanh) Cũng như các chỉ tiêu khác, việc đo lường
và trình bày chỉ tiêu lợi nhuận phải tuân thủ theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Tuy nhiên, giữa các chuẩn mực và chế độ kế toán hay chính trong nội tại từng văn bản pháp lý hoặc là có những khoảng trống pháp lý hoặc được thiết kế linh hoạt mà dựa vào đó các nhà quản trị có thể thực hiện một báo cáo có lợi nhất nhằm thỏa mãn đúng mục tiêu điều chỉnh lợi nhuận của mình mà vẫn đảm bảo nguyên tắc tuân thủ pháp lý
Trang 40Theo các tác giả Bruns và Merchant (1990)[20], Ayres (1994)[19], Francis (2001)[26], việc điều chỉnh thu nhập được biết đến thông qua các các phương pháp sau:
(1) Dựa trên việc lựa chọn giữa các phương pháp ghi nhận, đánh giá các khoản mục trên báo cáo tài chính ví dụ như lựa chọn phương pháp tính giá xuất kho cho hàng tồn kho; lựa chọn phương pháp khấu hao; các tiêu chuẩn hoặc phương pháp ghi nhận doanh thu
(2) Quyết định thời điểm lựa chọn áp dụng các chuẩn mực mới hoặc chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế Khi các chuẩn mực mới ra đời thì thường có thời gian hiệu lực tuy nhiên các doanh nghiệp cũng có thể lựa chọn việc áp dụng các chuẩn mực này trước hoặc sau thời hạn quy định với các lý do đặc thù
(3) Sử dụng các tài khoản điều chỉnh như dự phòng, trích trước, thanh lý tài sản…
(4) Phân loại các khoản mục vào thu nhập thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc thu nhập khác để phân chia thành các thu nhập thường xuyên và thu nhập bất thường
(5) Thiết kế việc ghi nhận các giao dịch để đạt được các thông tin kế toán đã
dự tính trước
(6) Thay đổi thời gian ghi nhận doanh thu và chi phí thông qua thay đổi thời gian hữu dụng của các tài sản hoặc thông qua việc vốn hóa các chi phí nhằm tạo ra các khoản thu nhập ít biến động
(7) Sử dụng việc điều chỉnh các chi phí nghiên cứu và phát triển hoặc các chi phí bán hàng, quản lý
(8) Điều chỉnh mức độ minh bạch của các thông tin trình bày, ví dụ như thay vì phải giải trình chi tiết thành một khoản riêng trên Thuyết minh báo cáo tài chính thì nhập lại với các khoản mục khác để xóa đi mức độ ảnh hưởng riêng lẻ đến thông tin trên báo cáo tài chính