Giai đoạn trước năm 1990: Giai đoạn chưa hình thành thị trường TPCP Ở thời kỳ này, nhu cầu chi tiêu cho cuộc kháng chiến là rất lớn, trong khinguồn thu của ngân sách Nhà Nước còn hạn hẹp
Trang 1Thực trạng thị trường trái phiếu Chính Phủ ở Việt Nam2.1 Khái quát quá trình phát triển thị trường trái phiếu Chính Phủ ở Việt Nam
Lịch sử phát hành và sự hình thành phát triển thị trường trái phiếu ChínhPhủ ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn sau:
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1990: Giai đoạn chưa hình thành thị trường TPCP
Ở thời kỳ này, nhu cầu chi tiêu cho cuộc kháng chiến là rất lớn, trong khinguồn thu của ngân sách Nhà Nước còn hạn hẹp do chính sách giảm thuế củachính quyền cách mạng, vì vậy việc huy động vốn qua hình thức TPCP đã có ýnghĩa rất lớn, tuy nhiên, nó còn nhiều hạn chế do nguồn lực tài chính trong dâncòn nhỏ, dựa trên lòng yêu nước là chính, có loại công trái không hoàn cả gốclẫn lãi mà người dân vẫn mua, có thể thấy rằng giai đoạn này việc phát hànhcông trái không dựa trên quan hệ kinh tế mà là trên quan hệ chính trị, nhằm mụcđích phục vụ cho chiến tranh là chính Như vậy, ở giai đoạn này chưa tồn tạikhái niệm thị trường trái phiếu Chính Phủ
2.1.2 Giai đoạn 1990 - nay: Giai đoạn bắt đầu hình thành và phát triển thị trường trái phiếu Chính Phủ
Trong giai đoạn 1990 đến nay, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mớitoàn diện nền kinh tế - xã hội theo các nghị quyết của đại hội đảng lần thứ VII,VIII và IX Nền kinh tế trong giai đoạn này đã liên tục tăng trưởng và đạt đượcnhững thành tựu quan trọng Nhiệp độ tăng GDP bình quan hàng năm giai đoạn
1991 – 1995 đạt 8,2%, giai đoạn 1996 – 2000 đạt 7,0% và giai đoạn 2001 –
2004 đạt xấp xỉ 7.3% Để thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh
tế xã hội, Đảng và Nhà nước đã đưa ra những chủ trương, chính sách lớn trong
Trang 2lĩnh vực tài chính, tiền tệ nói chung và công tác huy động vốn nói riêng đó là:Xây dựng chính sách tài chính quốc gia và thực hiện cải cách cơ bản nền tàichính Nhà nước theo hướng thúc đẩy khai thác nguồn lực trong nước, xây dựng
và phát triển thị trường tài chính, từng bước hình thành thị trường chứng khoán,thu hút các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển Công tác huy độngvốn của Chính Phủ trong giai đoạn 1991 – 2004 chủ yếu được thực hiện thôngqua hoạt động phát hành trái phiếu Chính Phủ qua kho bạc Nhà nước, gần đâynhất là quỹ Hỗ trợ phát triển và thu hút nguồn vốn vay nợ, viện trợ nước ngoài
Có thể chia thời kỳ này thành 2 giai đoạn nổi bật như sau:
2.1.2.1 Giai đoạn 1990 – 1999
Từ năm 1990, hệ thống ngân hàng hoạt động theo 2 pháp lệnh: pháp lệnhngân hàng Nhà nước và pháp lệnh ngân hàng thương mại và các tổ chức tíndụng Đồng thời, hệ thống kho bạc Nhà nước đã được thành lập theo quyết định
số 07/HĐBT ngày 1/4/1990 của chủ tịch hội đồng bộ trưởng( nay là thủ tướngChính Phủ) dựa trên cơ sở chuyển giao nhiệm vụ quản lý quỹ thuộc ngân sáchNhà nước từ ngân hàng Nhà nước Việt Nam sang cho Bộ Tài Chính Ngay từkhi được thành lập cho đến nay, hệ thống kho bạc Nhà nước đã tổ chức thựchiện công tác huy động vốn cho ngân sách Nhà nước và cho đầu tư phát triểnbằng trái phiếu Chính Phủ
Có thể thấy rằng, việc thành lập hệ thống kho bạc Nhà nước, công tácquản lý, điều hành quỹ ngân sách Nhà nước và huy động vốn cho đầu tư pháttriển đã có bước phát triển quan trọng Và để từng bước xây dựng các văn bảnquy phạm pháp luật trong lĩnh vực huy động vốn ho bạc Nhà nước đã soạn thảo
và trình Chính Phủ, Bộ Tài Chính ban hành các nghị định số 72/CP ngày26/7/1994 về chứng khoán và thị trường chứng khoán và các quyết định, thông
tư hướng dẫn, và bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triểnthị trường chứng khoán nói chung Thị trường TPCP nói riêng và quan trọng
Trang 3hơn cả là việc đổi mới nhận thức và quan điểm đối với công tác huy động vốnphục vụ mục đích chỉ tiêu cùng đầu tư phát triển của Chính Phủ
Năm 1991, kho bạc Nhà nước tổ chức thí điểm phát hành tín phiếu khobạc kỳ hạn 3 tháng tại thành phố Hải Phòng, mở đầu cho việc tổ chức công táchuy động vốn trong thời kỳ mới Từ năm 1992, nguồn vốn phát hành trái phiếuChính Phủ đã góp phần tích cực trong việc chấm dứt phát hành tiền để bù đắpthiếu hụt ngân sách Nhà nước Đặc biệt là từ khi có nghị định 72/CP năm 1994
đã bước đầu cho thấy sự thay đổi trong cách tư duy của Chính Phủ trong chiếnlược tạo nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ đầu tư phát triển.Trong giai đoạnnày bằng những hình thức phát hành mới, công tác huy động vốn của Chính Phủ
đa có những tiến bộ vượt bậc Điều này đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện mặc dùchưa thật sự rõ nét thị trường TPCP ở Việt Nam
2.1.2.2 Giai đoạn 2000 – 2004
Nhằm hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy thị trường TPCP phát triển.Chính Phủ đã liên tục ban hành những nghị định thay thế cho nghị định 72/CPbằng nghị định số 01/2000/NĐ-CP, ngày 13/01/2000 và mới đây nhất là nghịđịnh số 141/2003/NĐ-CP, ngày 20/11/2003 của Chính Phủ ban hành về quy chếphát hành trái phiếu Chính Phủ; nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 đượcthay thế bằng nghị định số 144/2003/NĐ-CP 28/11/2003 về chứng khoán và thịtrường chứng khoán Thị trường TPCP đã thực sự được xác lập bắt đầu từ tháng7/2000 khi trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ra đời, đánh dấumột sự kiện quan trọng trong dời sống kinh tế - xã hội, nó tạo ra những yêu cầu,thách thức, cũng như cơ hội mới cho công tác huy động vốn, đặc biệt là nhu cầuhàng hóa để kích thích hoạt động mua bán, trao đổi và luân chuyển vốn trên thịtrường, Từ đây, trái phiếu Chính Phủ được phát hành theo những phương thứcmới là đấu thầu qua trung tâm giao dịch chứng khoán và bảo lãnh phát hành.Theo đó, các loại TPCP trung và dài hạn đã đủ tiêu chuẩn niêm yết và giao dịch
Trang 4trên thị trường chứng khoán Như v ậy sự hình thành và phát triển thị trườngTPCP qua các giai đoạn, đặc biệt là từ khi hệ thống kho bạc Nhà nước ra đờiđến nay, đã giải quyết một số vấn đề sau:
Tạo nguồn tài chính quan trọng, đáp ứng nhu cầu đầu tư của ChínhPhủ phục vụ công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước
Phát hành TPCP đã trở thành giải pháp có hiệu quả trong việc kiềmchế lạm phát và chấm dứt phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhànước
Thị trường TPCP phát triển đã góp phần thúc đẩy sự phát triển củathị trường chứng khoán
2.2.Thực trạng thị trường trái phiếu Chính Phủ ở Việt Nam
2.2.1 Thị trường phát hành TPCP
2.2.1.1 Khung pháp lý điều chỉnh
Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 về phát hành TPCP, tráiphiếu được Chính Phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương được banhành thay thế Nghị định 01/2000 trước đây cũng tạo cơ chế khuyến khích pháthành huy động vốn qua trái phiếu
Thông tư 21/2004/BTC ngày 24/03/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫnviệc đấu thầu TPCP, trái phiếu được Chính Phủ bảo lãnh và trái phiếu Chínhquyền địa phương qua thị trường chứng khoán giao dịch tập trung
Quyết định 46/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài Chính ngày 6/8/2006 ban hànhQuy chế phát hành TPCP theo lô lớn
Quyết định 2276/QĐ-BTC về việc tập trung đấu thầu TPCP tại Trung tâmGiao dịch Chứng khoán Hà Nội kể từ ngày 20/6/2006 Giao dịch TPCP sẽ đượcthực hiện tại các TTGDCK Kể từ ngày 20/6/2006, toàn bộ hoạt động đấu thầuTPCP qua TTGDCK sẽ được thực hiện tại TTGDCK Hà Nội và sau đó đượcniêm yết và giao dịch trên TTGDCK Hà Nội
Trang 52.2.1.2 Thành viên tham gia
- Các thành viên đấu thầu: Trước khi ban hành quyết định2276/2006/QĐ-BTC, TTGDCK Hà Nội có 36 thành viên đấu thầu và sau khiban hành quyết định 2276/2006/QĐ-BTC, tính đến 14/4/2008, TTGDCK HàNội đã có 73 thành viên đấu thầu
- Các thành viên bảo lãnh: Tính đến 30/9/2007 có 34 thành viên bảo lãnhphát hành TPCP, trong đó có 16 thành viên là các ngân hàng thương mại
Số trái phiếu trúng thầu được niêm yết và giao dịch tại sở giao dịch chứngkhoán TP.HCM; tiền lãi trái phiếu được thanh toán định kỳ 1 năm/1 lần
TPCP do Kho bạc Nhà nước (KBNN) phát hành: Từ năm 30/6/2006, KBNN đã thực hiện 91 đợt đấu thầu TPCP qua SGCK TP.HCM vớitổng khối lượng gọi thầu là 19.800 tỷ đồng Kết quả có 74 đợt thành công vớikhối lượng TPCP trúng thầu là 10.578,7 tỷ đồng, đạt 53,43% so với khối lượnggọi thầu
2000-TPCP do Quỹ Hỗ trợ phát triển (HTPT) nay là Ngân hàng Phát triểnViệt Nam phát hành: Từ năm 2002 - 30/6/2006, Quỹ HTPT đã thực hiện 60 đợt
Trang 6đấu thầu TPCP qua TTGCK TP.HCM với tổng khối lượng gọi thầu là 9.100 tỷđồng Kết quả chỉ có 18 đợt thành công với khối lượng TPCP trúng thầu là1.199 tỷ đồng, đạt 13,18% so với khối lượng gọi thầu.
Từ 01/7/2006 SGDCK TP.HCM không tổ chức đấu thầu TPCP, nhiệm
vụ này được thực hiện thống nhất tại TTGDCK Hà Nội
+ Đấu thầu trái phiếu Chính Phủ qua TTGDCK Hà Nội:
Trong năm 2007, đơn vị thực hiện phát hành qua TTGDCK Hà Nộinhiều nhất là kho bạc Nhà nước với 31 phiên đấu thầu, tiếp đến là Ngân hàngphát triển Việt Nam với 7 phiên và quỹ đầu tư và phát triển đô thị Tp.HCM với
6 phiên Trong năm 2007, không có phiên đấu thầu nào Trái phiếu thủ đô củaUBND Tp Hà Nội( năm 2006 có 1 phiên )
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp về cơ cấu phát hành từ năm 2006 – 2007
Số phiên KL gọi
thầu
KL trúng thầu
Trang 7Bảng 2.2: Thống kê trái phiếu niêm yết (Tại thời điểm 31/12/2006 -31/12/2007)
Tên tổ chức
phát hành
Tổng số loại TP
KL niêm yết
(nghìn trái phiếu )
Giá trị niêm yết
(nghìnđồng )
Tổng số loại TP
KL niêm yết
(nghìn trái phiếu )
Giá trị niêm yết
(triệuđồng )
Trang 8( Nguồn: Báo cáo thường niên 2007- TTGDCK Hà Nội ).
( Nguồn: Báo cáo thường niên 2007- TTGDCK Hà Nội )
b- Tình hình bảo lãnh phát hành:
Song song với việc triển khai phương thức đấu thầu trái phiếu quaSGDCK Tp.HCM, Bộ Tài Chính thực hiện việc phát hành trái phiếu theophương thức bảo lãnh, với mục đích thông qua các tổ chức bảo lãnh là các công
ty CK, NHTM, công ty TC sẽ phân phối rộng rãi trái phiếu Chính Phủ đến cácnhà đầu tư Hiện nay đã có 20 đơn vị được công nhận là thành viên bảo lãnhphát hành trái phiếu Chính Phủ, gồm: 14 NHTM và 6 công ty CK, TPCP đượcphát hành dưới hình thức ghi sổ hoặc chứng chỉ, chứng chỉ trái phiếu không ghitên và in sẵn mệnh giá mục đích nhằm huy động nguồn vốn trung hạn và dài
Biểu đồ lãi suất và khối lượng trúng thầu Trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm
Khối lượng trúng thầu Lãi suất trúng thầu
Trang 9hạn cho NSNN Thông qua kênh phát hành này, Bộ Tài Chính đã tạo ra đượcmột khối lượng hàng hóa có chất lượng cao đáp ứng đủ các yêu cầu kỹ thuật đểđược niêm yết và giao dịch tại SGDCK Tp.HCM
TPCP do KBNN phát hành qua bảo lãnh từ năm 2000 đến tháng 9/2007
là 115 đợt với giá trị bảo lãnh phát hành là 33.927 tỷ đồng Riêng 9 tháng đầunăm 2007, TPCP được KBNN phát hành qua bảo lãnh là 17 đợt với tổng giá trị6.951 tỷ đồng
TPCP do Quỹ HTPT phát hành qua bảo lãnh từ năm 2002 đến 9/2007 là
218 đợt với tổng giá trị 49.859 tỷ đồng Riêng 9 tháng đầu năm 2007, số đợt bảolãnh phát hành là 34 đợt với tổng giá trị 23.895 tỷ đồng
Thông qua kênh bảo lãnh phát hành, kho bạc Nhà nước đã huy độngđược hàng nghìn tỷ đồng nguồn vốn dài hạn cho NSNN và cho đầu tư pháttriển TPCP phát hành qua TTGDCK đã góp phần bổ sung một lượng hàng hóalớn cho thị trường TPCP nói riêng và TTCK nói chung trong quá trình xây dựng
và mở rộng quy mô hoạt động Thị trường bảo lãnh phát hành ngày càng đượchoàn thiện và phát triển, trở thành điểm hẹn hấp dẫn giữa nhà phát hành tráiphiếu với nhà đầu tư, thông qua thị trường này kho bạc nhà nước có thể ướclượng được cung cầu vốn trên thị trường với độ tin cậy cao, bám sát được diễnbiến của lãi suất trên thị trường vốn từ đó tham mưu cho lãnh đạo Bộ Tài Chínhtrong việc lựa chọn phương án bảo lãnh phát hành, đảm bảo hài hòa lợi ích vàquyền lợi giữa chủ thể phát hành và các nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán.Thông qua việc công khai minh bạch thông tin liên quan đến phương thức bảolãnh phát hành, TPCP đã giúp các nhà đầu tư có được những thông tin cần thiết
về thời điểm phát hành, khối lượng phát hành và thời gian đáo hạn của TPCP để
từ đó các nhà đầu tư có kế hoạch sử dụng và phân bổ nguồn vốn đầu tư có hiệuquả hơn
Trang 10c- Tình hình bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước:
_ Trái phiếu bán lẻ kỳ hạn 2 năm: Qua kinh nghiệm của đợt phát hành
thí điểm trái phiếu kỳ hạn 3 năm (1994) không hiệu quả, năm 1995, Kho bạcNhà nước đã thay đổi bằng các phát hành trái phiếu chỉ với kỳ hạn 1 năm Tuynhiên, sau 2 năm phát hành loại trái phiếu này đã cho thấy nó không thể đápứng được yêu cầu về huy động vốn phục vụ cho đầu tư phát triển Do vậy, đểkhắc phục nhược điểm này, tháng 6/1999 cho đến nay Kho bạc Nhà nước đãchuyển hẳn sang tổ chức phát hành loại trái phiếu có thời hạn 2 năm có ghi tên
và không in trước mệnh giá, bán cho các đối tượng là người Việt Nam và ngườinước ngoài đang làm việc và sinh sống ở Việt Nam; Các tổ chức tín dụng hoạtđộng theo luật các tổ chức tín dụng; Các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư hoạtđộng hợp pháp tại Việt Nam,các chi nhánh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;Cácdoanh nghiệp, các tổ chức kinh tế của Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế.Điều này đã cho phép kho bạc Nhà nước có thể huy động một khối lượng vốnvới thời gian hợp lý và tạo điều kiện cho việc sử dụng vốn của ngân sách Nhànước được kéo dài Tính từ năm 2000 – 2004, kho bạc Nhà nước đã huy độngđược 18.960 tỷ đồng với kỳ hạn 2 năm với lãi suất năm 2000: 8,9 - 10,5%/năm;2001: 6.8 - 7.0%/năm; 2002: 7,1 – 7,4%.năm; 2003 – 2004: 8,2 - 8,4%/năm
Bảng 2.3: Kết quả huy động trái phiếu kho bạc bằng hình thức bán lẻ giai đoạn
Trang 112002 7,1 – 7,4 4.117
( Nguồn kho bạc nhà nước )
_ Trái phiếu chiết khấu kho bạc kỳ hạn 5 năm: Để tiếp tục phát triển thị
trường vốn trong nước, đồng thời với mục đích tạo hàng hóa cho thị trườngchứng khoán còn non trẻ của Việt Nam, bắt đầu từ ngày 16/4 đến ngày15/6/2001, kho bạc Nhà nước đã tiến hành phát hành thí điểm trái phiếu chiếtkhấu kỳ hạn 5 năm với lãi suất 7,2 %/năm tại Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh Đây là loại trái phiếu không ghi tê, in sẵn mệnh giá, quy định thống nhâtngày phát hành và ngày đến tới hạn thanh toán Trái phiếu này đã được niêm yết
và giao dịch tại SGDCK Tp.HCM Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân kháchquan và chủ quan như: giá ngoại tệ và giá bất động sản có biến động lớn, tâm lýngười dân thích đầu tư vào cổ phiếu vì lợi tức cao, cơ chế lãi suất chưa tạoneen
sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư dẫn đến giá trị huy động của đợt phát hànhkhông được như mong muốn Trong thời gian đó, giá trị huy động chỉ đạtkhoảng 50 tỷ đồng
_ Công trái giáo dục: Nhằm mục tiêu phát triển giáo dục – đào tạo, thu
hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền, năm 2003 quốc hội, Chính Phủ đã có chủtrương phát hành 2000 tỷ đồng công trái giáo dục để hỗ trợ các tỉnh miền núi,Tây Nguyên và các tỉnh có nhiều khó khăn thực hiện mục tiêu không còn phònhọc ba ca, phòng học tranh tre nứa lá Từ ngày 5/5/2003, toàn bộ hệ thống khobạc Nhà nước đã triển khai phát hành công trái giáo dục cũng giống như công
Trang 12trái xây dựng tổ quốc đã phát hành năm 1999 Tuy nhiên, để khắc phục một sốhạn chế của đợt phát hành trước và nhằm thu hút vốn có hiệu quả hơn, công tráigiáo dục phát hành có 2 loại: in sẵn mệnh giá và không in sẵn mệnh giá Kếtquả toàn đợt thu được 2.580 tỷ đồng, vượt 29% chỉ tiêu được giao.
Như vậy, Đối với kênh phát hành trực tiếp TPCP (bán lẻ) qua hệ thốngKho bạc Nhà nước, số lượng phát hành hành năm không đáng kể, chỉ khoảng2.000 tỷ đồng mỗi năm với kỳ hạn ngắn, chủ yếu là 02 năm KBNN đã thựchiện kế hoạch từng bước giảm dần kênh bán lẻ qua hệ thống KBNN Từ đầunăm 2007 đến nay không thực hiện phát hành theo hình thức này
d - Trái phiếu công trình trung ương và trái phiếu công trình giao thôngthủy lợi
Trái phiếu công trình TW: bắt đầu từ năm 2000 trở lại đây, theoquy định trái phiếu công trình trung ương được phát hành qua các kênh như :đấu thầu trên trung tâm giao dịch chứng khoán và bảo lãnh phát hành Như vậy,các công trình sẽ được huy động vốn dài hạn hơn, chi phí thấp hơn.Tuy đã cóquy định mới về trái phiếu Chính Phủ và trái phiếu chính quyền địa phươngcũng như trái phiếu được Chính Phủ bảo lãnh , những việc huy động vốn chocác công trình đã được phê duyệt dù là của địa phương vẫn được coi là nguồnhuy động từ trái phiếu Chính Phủ Kết quả, từ năm 2000 đến hết năm 2004, tổnggiá trị huy động được cho trái phiếu công trình để thực hiện nốt kế hoạch đề rađạt khoảng 300 tỷ đồng
Trái phiếu giao thông thủy lợi: Trong 2 năm 2003 – 2004, được sựchỉ đạo trực tiếp của Bộ Tài Chính, hệ thống kho bạc Nhà nước dã tổ chức pháthành 2 đợt trái phiếu huy động vốn cho các công trình trọng điểm quốc giathuộc lĩnh vực giao thông, thủy lợi trái phiếu có kỳ hạn 5 năm, được phát hànhqua cả 3 phương thức : bán trực tiếp ra công chúng qua hệ thống kho bạc Nhà
Trang 13nước, đấu thầu qua TTGDCK và bảo lãnh phát hành Việc phát hành trái phiếugiao thông thủy lợi có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế và chính trị, được cácngành, các cấp từ trung ương đến địa phương đặc biệt quan tâm phối hợp chỉđạo và tích cực hưởng ứng nên chỉ trong thời gian ngắn đã huy động được khốilượng vốn khá lớn đáp ứng kịp thời nhu cầu giải ngân vốn đầu tư Đợt 1: từ15/10/2003 – 15/12/2003, tổng khối lượng trái phiếu phát hành bằng đồng ViệtNam là 4.505 tỷ đồng, bằng đô la Mỹ là 33.034.000 USD Đợt 2: từ 15/4/2004 –15/6/2004, tổng khối lượng trái phiếu phát hành bằng đồng Việt Nam là 2.067
tỷ đồng, bằng đo la Mỹ là 43.665.000 USD Đây là các đợt phát hành trái phiếucông trình có quy mô lớn nhất và có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng địnhquan điểm đúng đắn của Chính Phủ trong việc sử dụng trái phiếu Chính Phủ đểhuy động các nguồn vốn phục vụ cho đầu tư phát triển
2.2.2 Thị trường giao dịch TPCP
2.2.2.1 Khung pháp lý điều chỉnh:
Trước tháng 11/2003, Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 củaChính Phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán là văn bản pháp quy caonhất trong lĩnh vực chứng khoán, trong đó hoạt động giao dich trái phiếu đượcthực hiện theo cả hai phương thức là giao dịch khớp lệnh và giao dịch thỏathuận Đồng thời, Nghị định số 01/2000/NĐ-CP ngày 13/01/2000 quy định việcphát hành TPCP theo phương thức đấu thầu qua Trung tâm Giao dịch chứngkhoán và bảo lãnh phát hành
Hiện nay hoạt động đấu thầu và giao dịch TPCP trên TTGDCK được điềuchỉnh bởi các văn bản pháp quy sau:
- Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 về phát hành TPCP, tráiphiếu được Chính Phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương được ban
Trang 14hành thay thế Nghị định 01 trước đây cũng tạo cơ chế khuyến khích phát hànhhuy động vốn qua trái phiếu.
- Thông tư 21/2004/BTC ngày 24/03/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫnviệc đấu thầu TPCP, trái phiếu được Chính Phủ bảo lãnh và trái phiếu Chínhquyền địa phương qua thị trường chứng khoán giao dịch tập trung
Liên quan tới hoạt động giao dịch TPCP trên các TTGDCK bao gồm cácvăn pháp pháp quy hiện hành sau:
- Luật Chứng khoán, số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc hộinước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính Phủ quy địnhchi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán;
- Quy chế giao dịch chứng khoán tại Sở GDCK Tp HCM và Quy chếgiao dịch chứng khoán của TTGDCK Hà Nội
- Công văn số 244/UBCK-PTTT ngày 30/7/2004 của UBCKNN đồng ýtriển khai phương thức giao dịch mới cho trái phiếu niêm yết trên TTGDCKTP.HCM, theo đó: chỉ thực hiện giao dịch thỏa thuận đối với trái phiếu vàkhông giới hạn khối lượng giao dịch, biên độ dao động giá, đơn vị giao dịchcũng như đơn vị yết giá đối với trái phiếu
- Quyết định số 244/QĐ-BTC ngày 20/01/2005 của Bộ Tài Chính banhành Quy chế tạm thời tổ chức giao dịch chứng khoán tại TTGDCK Hà Nội;
- Quyết định số 245/QĐ-UBCK ngày 4/5/2005 của Chủ tịch UBCKNNban hành hướng dẫn quy định đăng ký, giao dịch chứng khoán và công bố thôngtin bất thường của tổ chức đăng ký giao dịch chứng khoán tại TTGDCK HàNội;
Trang 15- Quyết định số 323/QĐ-UBCK ngày của UBCKNN về việc sửa đổiQuyết định 245/QĐ-UBCK về quy định giao dịch tại TTGDCK Hà Nội;
Hiện nay, giao dịch TPCP trên Sở GDCK TPHCM được thực hiện theophương thức thoả thuận, yết giá theo lãi suất; còn trên TTGDCK Hà Nội có thểthực hiện theo cả phương thức thoả thuận và báo giá, yết giá theo giá và theo lãisuất Tất cả các nhà đầu tư đều có thể tham gia giao dịch trên thị trường thôngqua các thành viên môi giới trên thị trường
2.2.2.2 Thành viên tham gia
Về thành viên trên Sở GDCK TPHCM:
Thành viên trên hệ thống giao dịch trái phiếu của SGDCK Tp.HCM làcác công ty chứng khoán, đồng thời là các thành viên giao dịch TPCP trên SởGDCK TPHCM Hiện nay có 76 công ty chứng khoán thành viên, trong đóthành viên có số vốn điều lệ thấp nhất là 9 tỷ đồng và cao nhất là 1200 tỷ
Đối tượng tham gia giao dịch TPCP chủ yếu trong giai đoạn 2001-2002 làngân hàng thương mại (chiếm 94% khối lượng mua vào) và công ty chứngkhoán (chiếm khoảng trên 90% khối lượng bán), các đối tượng khác như công
ty bảo hiểm, quỹ đầu tư và công ty tài chính hầu như chưa tham gia vào thịtrường hơặc chỉ tham gia với tỷ trọng rất thấp
Từ năm 2003 đến nay, các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tàichính và các đối tượng khác đã tích cực và chủ động hơn trong việc tham giagiao dịch TPCP, tuy nhiên ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán vẫn
là hai đối tượng tham gia tích cực nhất (chiếm khoảng 50% tổng khối lượnggiao dịch) Tuy tỷ trọng giao dịch của quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty taìchính chỉ chiếm tỷ trọng giao dịch dưới 10% nhưng đây là tín hiệu khả quanchứng tỏ sự quan tâm của các nhà đầu tư có tổ chức ngoài ngân hàng và công tychứng khoán vào thị trường TPCP (số liệu trong bảng 2.4)
Trang 16Bảng 2.4: Đối tượng giao dịch TPCP
Đối tượng
%KLmua
% KLbán
% KLmua
% KLbán
% KLmua
% KLbán
% KLmua
% KLbán
tự doanh trái phiếu
Trang 17Tính tới thời điểm cuối tháng 9/2007, mới có 23/57 công ty triển khaihoạt động kinh doanh trái phiếu Trong tổng số 160 loại trái phiếu đang niêmyết, thành viên chỉ có giao dịch đối với 76 loại TPCP Các trái phiếu còn lạihoàn toàn không có giao dịch kể từ khi được niêm yết tính tới thời điểm cuốitháng 9/2007 Số lượng các giao dịch trái phiếu thông qua các thành viên củaTrung tâm Hà Nội chưa vượt quá 482 giao dịch tính tới cuối tháng 9 /07 Phầnlớn các giao dịch này là của các tổ chức đầu tư (ngân hàng, công ty chứngkhoán, công ty bảo hiểm).
Nhận xét chung
Nhìn chung, các thành viên tham gia giao dịch TPCP trên TTGDCK HàNội cũng đồng thời là các thành viên giao dịch TPCP trên Sở GDCK TpHCM.Hiện tại, chỉ có một số ít thành viên tham gia giao dịch trái phiếu trên TTGDCK
Hà Nội Giao dịch trái phiếu của các thành viên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trêntổng giao dịch chứng khoán của chính các thành viên có giao dịch tại TTGDCK
Hà Nội Các giao dịch trái phiếu của thành viên chỉ tập trung vào một số loạiTPCP niêm yết, tần suất giao dịch thấp
Đối tượng tham gia giao dịch TPCP chưa đa dạng, đặc biệt nhà đầu tưnước ngoài (nhất là các nhà đầu tư có tổ chức) chưa quan tâm nhiều đến giaodịch TPCP Ngoài ra, giao dịch trái phiếu đòi hỏi một lượng vốn lớn và chỉ cónhững nhà đầu tư có tổ chức mới có đủ năng lực tài chính để tham gia, trong khi
đó nhà đầu tư có tổ chức tại thị trường thứ cấp còn ít
Đối với một số thành viên đấu thầu trái phiếu, việc mua trái phiếu chủyếu phục vụ cho mục đích nắm giữ lâu dài chứ không phải để kinh doanh Một
số ngân hàng mua TPCP làm dự trữ bắt buộc nên tỷ lệ trái phiếu được giao dịchsau khi mua trên thị trường sơ cấp còn thấp Thêm vào đó, số thành viên thamgia vào các đợt đấu thầu và bảo lãnh phát hành TPCP rất hạn chế về số lượng
Trang 18(mỗi đợt phát hành chỉ có khoảng 4 thành viên tham gia) và hạn chế về vốncũng như kinh nghiệm; giá trị từng đợt phát hành tương đối nhỏ, manh mún và
tỷ lệ phát hành thành công chưa cao
Hiện nay điều kiện để trở thành thành viên đấu thầu và bảo lãnh pháthành tương đối dễ dàng nhưng chúng ta chưa có những quy định để ràng buộctrách nhiệm tham gia của thành viên trong tất các đợt đấu thầu hoặc bảo lãnh.Điều này không chỉ gây khó khăn cho công tác phát hành mà còn ảnh hưởngkhông nhỏ đến thị trường giao dịch thứ cấp
2.2.2.3 Thực trạng hoạt động thị trường giao dịch TPCP
Vào thời gian này, Sở GDCK Tp.HCM áp dụng cả hai phương thức giaodịch là khớp lệnh và thỏa thuận đối với giao dịch trái phiếu và áp dụng biên độdao động giá trái phiếu (xem Bảng 2.5) Tuy nhiên vì số lượng TPCP niêm yếtquá hạn chế nên các biện pháp điều chỉnh biên độ dao động giá và sự linh hoạt
sử dụng cả hai phương thức giao dịch chưa mang lại kết quả mong muốn, giá trị
Trang 19giao dịch bình quân trong giai đoạn này rất thấp, chỉ bằng khoảng 4% giá trịTPCP được niêm yết (xem số liệu Bảng 2.6).
Bảng 2.5: Biên độ dao động giá trái phiếu 2000-2006
Thời gian áp dụng Biên độ giá trái phiếu
tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu của các tổ chức, cá nhân; bỏ biên độ dao độnggiá cũng tác động làm tăng mạnh cả về giá trị và khối lượng TPCP được giaodịch Về giá trị giao dịch, giá trị giao dịch khớp lệnh trái phiếu trong năm 2003đạt gần gấp đôi và giá trị giao dịch thỏa thuận đạt 21 lần năm 2002
Bảng 2.6: So sánh giá trị trái phiếu giao dịch và giá trị TPCP niêm yết
Năm Giá trị niêm yết
(triệu đồng)
Giá trị giao dịch (triệu đồng)
GT giao dịch/GT niêm yết (%)
Trang 20Bảng 2.7: Thống kê tình hình giao dịch TPCP 2000 đến 30/6/2007
Trang 21Bình quân phiên