Ở đây cũng cần thống nhất một số quan niệm: ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới c[r]
Trang 1Chủ đề 3 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN, HẢI ĐẢO VIỆT NAM
1 Môi trường biển
Môi trường biển là một bộ phận quan trọng trong môi trường sống của chúng ta Theo Luật bảo vệ môi trường (2005) của Việt Nam, môi trường bao gồm các yếu
tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật
Việt Nam nằm ở rìa phía đông của bán đảo Đông Dương, có đường bờ biển dài 3260km tiếp giáp với Biển Đông, đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới Vùng biển nước ta rộng khoảng 1 triệu km2 gấp hơn 3 lần diện tích trên đất liền
Vì thế cùng với nguồn tài nguyên biển phong phú và đa dạng, môi trường biển Việt Nam là những yếu tố vật chất rất quan trọng, là nguồn lực to lớn để phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Môi trường biển ở nước ta bao gồm: các yếu tố tự nhiên như nước biển, bờ biển
và các bãi biển, thềm lục địa và đáy biển, đa dạng sinh học biển; và các yếu tố vật chất nhân tạo như các công trình xây dựng, các cơ sở sản xuất ven biển và trên biển như đê,
kè, cảng, xí nghiệp, dàn khoan dầu khí
Môi trường biển ở nước ta trực tiếp có liên quan tới 28/63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, với hàng chục triệu người dân, trực tiếp có liên quan tới các ngành kinh tế quan trọng là khai thác khoáng sản, thủy hải sản, giao thông vận tải và du lịch Bảo vệ và cải thiện môi trường biển chính là điều kiện có ý nghĩa sống còn đảm bảo cho
sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở nước ta
2 Các nguy cơ gây ô nhiễm và hủy hoại môi trường biển, hải đảo
Biển là một bộ phận vô cùng quan trọng của Trái Đất Sự xuất hiện và quá trình phát triển của biển và các đại dương gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Trái Đất diễn ra cách đây từ hàng nghìn triệu năm Biển cũng đã không ngừng có những sự biến đổi Những sự biến đổi này hoàn toàn do các yếu tố tự nhiên mang lại Từ khi xuất hiện loài người, mới chỉ cách đây khoảng 2 triệu năm, con người và xã hội loài người đã làm quen và thích nghi dần với môi trường biển Những hoạt động của con người ngày càng có tác động mạnh mẽ đến môi trường biển, khai thác từ biển cả những tài nguyên
Trang 2quý giá nhưng đồng thời cũng góp phần làm tăng thêm các nguy cơ ô nhiễm và hủy hoại môi trường biển
2.1 Các nguy cơ gây ô nhiễm và hủy hoại môi trường biển có nguồn gốc tự nhiên
Có nhiều các nguy cơ gây ô nhiễm và hủy hoại môi trường biển có nguồn gốc tự nhiên song có thể nêu lên một số nguy cơ chính:
a Hiện tượng biển tiến, biển lùi
Hiện tượng biển tiến, biển lùi đã từng diễn ra rất nhiều lần trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái Đất Hiện tượng biển tiến, biển lùi có liênquan với mực nước biển trên Trái Đất Sự dao động của mực nước biển trên Trái Đất chủ yếu là do sự biến động của chế độ nhiệt gây ra Trong những biến đổi lớn của khí hậu, Trái Đất đã trải qua các thời kỳ lạnh đi, nóng lên Vào thời kỳ trở lạnh, nhiệt độ hạ thấp làm cho nước đóng băng ở hai cực của Trái Đất và những vùng núi cao (nên còn gọi là thời kỳ băng hà) giữ lại lượng nước rất lớn trên các lục địa khiến cho mực nước biển hạ thấp, diện tích các đại dương và các biển và đại dương bị thu hẹp, đường bờ biển bị lùi xa khỏi đất liền Ngược lại, vào thời kỳ nóng lên, nhiệt độ tăng cao làm cho băng tan và dãn nở nước khiến cho mực nước biển dâng cao, biển tiến sâu vào đất liền, diện tích biển tăng lên và diện tích các lục địa bị thu hẹp lại (còn gọi là thời kỳ gian băng)
Hiện tượng biển tiến, biển lùi có quy mô toàn cầu đã có tác động mạnh đến các quá trình tự nhiên diễn ra trên Trái Đất như các quá trình địa mạo, quá trình hình thành đất, quá trình tuần hoàn của nước , đặc biệt có tác động trực tiếp tới sự sống của sinh vật và các hệ sinh thái ven biển
b Bão biển, nước dâng
Ở các vùng biển nhiệt đới và ôn đới thường xuyên hàng năm đều bị những cơn bão tàn phá Bão gây mưa to, gió lớn, sóng biển và nước biển dâng cao có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường biển vùng ven biển gây sự lở bờ biển, phá hủy các công trình xây dựng, tàu thuyền, các cơ sở sản xuất và uy hiếp đến đời sống của người dân
c Tràn dầu tự nhiên
Hiện tượng tràn dầu tự nhiên thường xảy ra ở những nơi có hoạt động kiến tạo địa chất ở đáy biển có liên quan tới các đứt gãy, sự tách dãn, động đất hoặc phun trào
Trang 3núi lửa tại các khu vực có các bể chứa dầu khí trong lòng đất dưới đáy biển Vì thế sự
cố tràn dầu tự nhiên cũng chỉ diễn ra ở các vùng và các khu vực biển nhất định Khi có
sự cố tràn dầu xảy ra đã uy hiếp trực tiếp đến môi trường sống của sinh vật; làm chết và ảnh hưởng nghiêm trọng tới một số loài sinh vật, đặc biệt ở các khu vực ven bờ biển do sóng biển đánh dạt vào
d Sóng thần
Sóng thần là hiện tượng hải văn đặc biệt nguy hiểm có độ cao hàng chục mét đột ngột đổ ập vào bờ, có sức tàn phá rất mạnh mẽ trên một diện rộng ở các vùng ven biển khi chịu ảnh hưởng của các trận động đất lớn (thường có cường độ mạnh trên 7 độ Rich te) xảy ra ở dưới đáy biển hoặc đại dương ở gần đó
Sóng thần hủy hoại nghiêm trọng môi trường biển ở những vùng bị ảnh hưởng, gây nên những thiệt hại to lớn về người, tài sản và phải mất một thời gian dài mới có thể khắc phục được
2.2 Các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển có nguồn gốc do con người gây
ra
a Các chất thải đổ thẳng ra biển
Thường xuyên, hàng ngày một lượng chất thải (chất thải rắn, khí thải, nước thải) rất lớn đổ ra biển từ các dòng sông; từ các thành phố và đô thị ven biển; từ các bãi biển
có hoạt động du lịch; từ các bãi cá, các đầm nuôi trồng thủy sản; từ các bến cảng, bến tàu Phần lớn các chất thải này chưa được xử lý mà đổ thẳng ra biển gây nên tình trạng
ô nhiễm môi trường biển; mất vệ sinh và mỹ quan các bãi biển; tổn hại đến đời sống sinh vật và làm biến đổi nhiều hệ sinh thái ở vùng cửa sông, ven biển
b Các chất thải từ tàu thuyền, từ các công trình xây dựng trên biển
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, các hoạt động kinh tế, khai thác các nguồn lợi trên biển có sự tăng trưởng rất nhanh chóng Các tàu thuyền hoạt động trên biển, các công trình xây dựng khai thác các nguồn lợi trên biển như thăm
dò, khai thác dầu khí; nuôi trồng thủy sản; hoạt động du lịch biển đều thải xuống biển các chất thải gây ô nhiễm môi trường biển Đặc biệt nghiêm trọng là những vụ tràn dầu
do tai nạn giao thông đường thủy, do đắm tàu thuyền, do sự cố từ các giàu khoan thăm
dò và khai thác dầu khí có thể gây nên những hậu quả nặng nề về môi trường và những thiệt hại to lớn, lâu dài về kinh tế - xã hội
Trang 4d Sự ô nhiễm không khí
Sự ô nhiễm không khí cũng có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến ô nhiễm môi trường Sự gia tăng của nồng độ điôxit cacbon (CO2) và nhiều chất khí độc hại và bụi kim loại nặng trong không khí do hoạt động của con người gây ra sẽ làm gia tăng thành phần vật chất và có ảnh hưởng tới chất lượng của nước biển Sự gia tăng của các chất khí thải nhà kính dẫn đến sự biến đổi khí hậu làm nhiệt độ Trái Đất tăng lên, mực nước biển dâng và làm thay đổi nhiều hệ sinh thái biển
đ Sự triệt phá rừng ngập mặn ven biển
Do chưa nhận thức đầy đủ về những lợi ích của các rừng ngập mặn tự nhiên ở các bãi triều ven biển mà con người đã khai thác quá mức, thậm chí triệt hạ các rừng ngập mặn để khai thác gỗ, lấy đất nuôi tôm Vì thế diện tích rừng ngập mặn ven biển đã bị thu hẹp nhanh chóng, nhiều nơi gần như mất trắng, khả năng tái sinh, phục hồi rất kém làm cho môi trường biển bị ảnh hưởng nghiêm trọng; tài nguyên sinh vật bị suy giảm, nghèo kiệt; tình trạng xói lở bờ biển, mất đấ ngày một tăng thêm; đê, kè dễ bị phá hủy khi có bão làm cho nước mặn tràn vào đồng ruộng
3 Bảo vệ môi trường biển
Bảo vệ môi trường biển là hoạt động giữ cho môi trường biển luôn được trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu tới môi trường, ứng phó các sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác,
sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học
Ở đây cũng cần thống nhất một số quan niệm: ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người, sinh vật; suy thoái môi trường biển là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật; sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng; tiêu chuẩn môi trường biển là giới hạn cho phép của các thông
số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường
Trang 53.1 Bảo vệ môi trường nước biển
Bảo vệ môi trường nước biển là hoạt động giữ cho môi trường nước biển luôn được trong sạch; hạn chế đến mức tối đa các yếu tố gây ô nhiễm, suy thoái môi trường nước biển; phục hồi và cải thiện môi trường nước biển Bảo vệ môi trường nước biển trước hết là đảm bảo môi trường sống của các loài sinh vật, kể cả các loài sống trong môi trường biển tự nhiên cũng như các loài sống trong môi trường ở các đầm, phá, các bãi triều, với các yêu cầu khác nhau về nhiệt độ, độ muối, độ đục, lượng ôxy hòa tan (DO), lượng ôxy cần thiết cho các phản ứng hóa học (COD), lượng ôxy cần thiết cho các phản ứng sinh học (BOD), độ pH
Đối với việc khai thác, sử dụng cho các mục đích khác nhau, môi trường nước biển cũng cần phải đảm bảo để đáp ứng Thí dụ để phục vụ cho việc làm muối, nước biển cần trong sạch và có độ muối cao; phục vụ cho việc tắm biển thể thao nước và lặn biển, nước biển cần trong sạch, có độ muối và nhiệt độ thích hợp với cơ thể người
Ở nước ta hiện nay môi trường nước biển đã bị ô nhiễm do chất thải đổ trực tiếp
ra biển Nhiều đô thị và điểm quần cư xã nước thải trực tiếp ra biển không qua xử lý Rác thải nhiều khi đã vứt thẳng xuống biển rất mất vệ sinh và ảnh hưởng xấu tới môi trường Ở nhiều khu vực nuôi trồng thủy hải sản, nước sử dụng và nước thải đã bị ô nhiễm do thiếu ôxy và chứa nhiều mầm bệnh khiến cho nhiều loài sinh vật bị chết, bị bệnh và phát triển chậm, cho năng suất thấp Hầu hết các nơi khai thác khoáng sản sa khoáng ven bờ đều thải xuống biển các chất thải độc hại gây ô nhiễm nặng cho môi trường nước biển
Bảo vệ môi trường nước biển ở nước ta hiện nay cần tập trung giải quyết các công việc chính sau:
- Hạn chế việc xả các chất thải trực tiếp ra biển và xuống biển Các khu đô thị, các điểm quần cư ở vùng hạ lưu, cửa sông, ven biển, cần hạn chế tới mức tối đa việc xả trực tiếp xuống sông và xuống biển
Cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống xử lý rác và nước thải ở các khu tập trung dân cư, các cơ sở nuôi trồng, chế biến thủy sản, các hoạt động du lịch
Các phương tiện vận tải, các công trình xây dựng, thăm dò và khai thác dầu khí trên biển phải xử lý chất thải và hạn chế việc xả thải trực tiếp xuống biển
Trang 6- Tăng cường và thường xuyên tiến hành việc dọn dẹp vệ sinh, làm sạch môi trường không để ô nhiễm tới nước biển ở bờ biển và trên biển
3.2 Bảo vệ môi trường bờ biển, bãi biển
Bờ biển và bãi biển là nơi tiếp xúc giữa biển và đất liền Hàng ngày bờ biển và bãi biển chuyển dịch theo sự giao động của mực nước biển do thủy triều gây ra Ở nhiều cửa sông và khu vực liền kề sự tác động giữa các quá trình sông - biển được thể hiện rất rõ rệt Đó là sự hình thành nên các bãi triều - các doi ngầm, các cồn, mà vật liệu chủ yếu là do phù sa của các con sông bồi lấp Ở các khu vực ven biển khác và ở trên các đảo, những chỗ có địa thế lõm cong thường hình thành nên các bãi cát là vật liệu phong hóa từ đá do sóng biển bồi đắp nên Các bãi cát này thường được chọn thành các bãi tắm hoặc bãi biển phục vụ cho việc phát triển du lịch
Khu vực bờ biển, bãi biển với các quá trình bồi lấp và sạt lở thường xuyên diễn ra
là khu vực rất nhạy cảm với những sự tác động của tự nhiên cũng như con người
Về sự tác động của tự nhiên trước hết là do cấu trúc địa chất - địa hình, do ảnh hưởng của các hoạt động tân kiến tạo; sau đó là do tác động của các yếu tố ngoại sinh khác như dòng chảy của sông, sóng, dòng biển và thủy triều của bãi biển, gió bão, gió mùa và các dạng thời tiết đặc biệt, tính chất cơ lý của các vật liệu thành tạo vùng bờ
Về sự tác động của con người đó là việc xây dựng các công trình bảo vệ bờ biển, thủy lợi, dân sinh, kinh tế; việc khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng; việc nạo vét lòng sông, phục vụ giao thông đường thủy; việc phá rừng đầu nguồn và rừng ngập mặn; việc nuôi trồng, khai thác thủy hải sản; việc triển khai các hoạt động du lịch biển
Bảo vệ môi trường bờ biển, bãi biển ở nước ta hiện nay cần tập trung giải quyết các công việc chính sau:
- Củng cố hệ thống đê kè để chống sạt lở bờ biển
Ở những nơi có địa hình thấp, cần củng cố vững chắc hệ thống đê điều không để sóng biển dâng cao khi có bão lớn gây sạt lỡ, vỡ đê hoặc nước biển tràn qua đê
- Trồng cây chắn sóng làm giảm áp lực của sóng biển ở vùng bờ biển
- Xử lý các chất thải rắn, nước thải, giữ vệ sinh, làm cho cảnh quan môi trường luôn sạch, đẹp
Trang 7- Nhanh chóng khắc phục các sự cố môi trường, khôi phục các hoạt động bình thường ở bờ biển và các bãi biển
3.3 Bảo vệ môi trường thềm lục địa và đáy biển
Thềm lục địa và đáy biển là bộ phận biển bị chìm ngập dưới nước Đây là nơi lắng đọng các vật liệu trầm tích từ các lục địa và chứa đựng những tài nguyên sinh vật
và khoáng sản rất có giá trị Các quá trình địa chất, địa mạo cũng như các hoạt động kiến tạo (động đất, núi lửa ) diễn ra ở thềm lục địa và đáy biển; các đặc điểm về trắc lượng hình thái (độ bằng phẳng, sườn dốc, độ nông sâu) của địa hình thềm lục địa và đáy biển; các đặc điểm khí tượng hải văn biển; các đặc điểm của đời sống sinh vật biển đều có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến môi trường biển thềm lục địa và đáy biển
Các công trình xây dựng nhằm khai thác các tài nguyên biển như khai thác dầu khí (dàn khoan, ống dẫn dầu khí), khai thác sa khoáng; nuôi trồng thủy hải sản; đảm bảo giao thông vận tải biển (hải đăng, biển hiệu chỉ dẫn luồng lạch, trục vớt tàu đắm ) cũng có tác động lớn đến môi trường thềm lục địa và đáy biển
Bảo vệ môi trường thềm lục địa và đáy biển ở nước ta hiện nay cần tập trung giải quyết các công việc chính sau:
- Hạn chế và tránh tập trung quá mức các công trình xây dựng, khai thác khoáng sản ở vùng thềm lục địa, đặc biệt là ở các khu vực cửa sông, ven biển gần bờ
- Xử lý các chất thải, hạn chế tới mức tối đa việc xả chất thải trực tiếp xuống biển
và lắng đọng ở thềm lục địa và đáy biển
- Nhanh chóng khắc phục các sự cố môi trường cứu hộ cứu nạn, trục vớt tàu đắm, đảm bảo an toàn cho mọi hoạt động ở vùng thềm lục địa được diễn ra bình thường
3.4 Bảo vệ đa dạng sinh học biển
Sinh vật biển là tài nguyên rất quý giá góp phần tạo nên những giá trị vô cùng to lớn của biển Nguồn tài nguyên này được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo, tuy nhiên không phải là vô cùng tận mà hiện nay do sự khai thác quá mức và không đúng cách của con người đã suy giảm rất nhiều, thậm chí có nguy cơ cạn kiệt
Để duy trì nguồn tài nguyên này vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học biển có ý nghĩa quyết định Bảo vệ đa dạng sinh học biển được thể hiện trên cả ba nội dung: bảo vệ sự
Trang 8đa dạng của các loài sinh vật, bảo vệ sự đa dạng của nguồn gen di truyền và bảo vệ sự
đa dạng của các hệ sinh thái
Đa dạng sinh học biển ở nước ta hiện nay cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ
và thách thức lớn Số lượng loài sinh vật đã giảm sút nhanh chóng Nhiều loài có nguy
cơ bị tuyệt chủng; đặc biệt trong đó có nhiều loài quý, hiếm có giá trị cao về kinh tế và khoa học Nhiều hệ sinh thái bị suy thoái, xuống cấp, năng suất sinh học bị giảm đi rõ rệt
Để bảo vệ đa dạng sinh học biển ở nước ta hiện nay cần chú trọng giải quyết một
số vấn đề sau:
- Giảm sản lượng khai thác thủy sản ven bờ và gần bờ, tăng cường khai thác nguồn lợi thủy sản xa bờ
- Cấm khai thác quá mức và khai thác có tính chất thủy diệt (mìn, thuốc nổ, xung điện) đối với một số loài sinh vật biển (cá, san hô)
- Tăng cường nuôi trồng, chế biến thủy sản đối với nhiều loài sinh vật ở các đầm, phá, trại nuôi trồng ven bờ và trên biển
- Bảo vệ môi trường sống của các loài sinh vật, khắc phục kịp thời các sự cố môi trường uy hiếp đến sinh vật biển
4 Biện pháp phòng chống ô nhiễm môi trường biển và thiên tai
Phòng chống ô nhiễm môi trường biển và các thiên tai là nhiệm vụ cấp bách và thường xuyên ở các vùng biển đảo ở nước ta Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng,
có quy mô và phạm vi rộng lớn đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, cả giải pháp phi công trình và giải pháp công trình, cùng nhiều biện pháp cụ thể thích ứng và phù hợp với các điều kiện cụ thể của từng địa phương
4.1 Biện pháp phòng chống ô nhiễm môi trường biển
a Các biện pháp phi công trình trong phòng chống ô nhiễm môi trường biển
- Thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức về môi trường, những lợi ích từ môi trường và những tác hại do ô nhiễm và hủy hoại môi trường gây ra
Trang 9- Vận động nhân dân ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, hạn chế và sử dụng đúng cách các loại phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, các chất tẩy rửa có hại cho môi trường
- Vận động nhân dân hạn chế sử dụng các vật dụng có hại cho môi trường (bao
bì, túi ni lông) tiết kiệm năng lượng và sử dụng các vật dụng thân thiện với môi trường
- Vận động nhân dân tích cực tham gia các hoạt động trồng cây, giữ gìn và làm sạch đẹp môi trường
- Thực hiện tốt việc quản lý môi trường, kiên quyết xử phạt các hành vi vi phạm luật bảo vệ môi trường và các quy tắc, quy định về bảo vệ môi trường
b Các biện pháp công trình trong phòng chống ô nhiễm môi trường biển
- Xử lý các chất thải, không đổ các chất thải chưa qua xử lý xuống biển
+ Xây dựng các trạm, các xí nghiệp, phân loại rác để tiêu hủy rác hoặc tái chế
+ Xây dựng các bãi chôn lấp rác
+ Xây dựng các cơ sở tái chế rác để làm nguyên liệu, nhiên liệu, sản xuất phân bón
+ Xây dựng các hồ chứa và hệ thống xử lý nước thải tại các khu tập trung dân
cư, tại các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở nuôi trồng, chế biến thủy sản đảm bảo nước thải đạt tiêu chuẩn khi xả vào môi trường hoặc tái sử dụng
- Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường biển
+ Xây dựng và thường xuyên củng cố hệ thống đê biển, kè biển ở những nơi xung yếu để bảo vệ đường bờ biển
+ Xây dựng các cống, đập trên các đê biển và đường bờ biển để tiêu thoát lũ và ngăn chặn sự xâm nhập mặn, để chủ động cung cấp nguồn nước cho việc nuôi trồng thủy sản
4.2 Biện pháp phòng chống thiên tai ở vùng biển đảo
Các thiên tai chính thường xảy ra ở vùng biển đảo nước ta là sự tàn phá của bão
lũ, sự sạt lở bờ biển và nước biển dâng Những thiên tai này vốn dĩ thường hay xảy ra trong tự nhiên, nay trong hoàn cảnh có sự biến đổi khí hậu toàn cầu, chúng càng có những diễn biến phức tạp và bất thường hơn Các thiên tai ở vùng biển đảo nước ta về
Trang 10sự cơ bản đã diễn ra theo những quy luật nhất định về thời gian và không gian mà chúng ta đã xác định được như quy luật gió mùa, mùa bão ở nước ta nói chung và ở từng khu vực bờ biển nói riêng với tỷ lệ tần suất của số trận bão, cường độ bão và thời gian xuất hiện, mùa gió chướng ở Nam Bộ hoặc sự hoạt động theo chu kỳ của triều cường, xu hướng dâng lên của mực nước biển
Tuy vậy những diễn biến bất thường, trái quy lật của các thiên tai đã xảy ra cũng không hiếm ; điển hình là cơn bão số 5 (Linda) ngày 2/11/1997 đổ bộ vào Cà Mau gây thiệt hại gây thiệt hại nặng nề nhất từ trước tới nay ở 7 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long làm 467 người chết, 3373 người mất tích, 4382 tàu thuyền bị đắm , hơn 170 nghìn ngôi nhà bị đổ, thiệt hại vật chất lên tới 6452 tỷ đồng
Vì thế các biện pháp phòng chống thiên tai ở vùng biển đảo nước ta vừa có những điểm chung giống nhau nhưng đồng thời cũng có những điểm riêng thích hợp với từng địa phương
a Các biện pháp phi công trình trong phòng chống thiên tai ở vùng biển đảo
- Thường xuyên tuyên truyền trong nhân dân nâng cao nhận thức và ý thức phòng chống thiên tai
- Thường xuyên tuyên truyền trong nhân dân các kỹ năng giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, kỹ năng sống thích ứng với những tác động do thiên tai gây ra
- Tổ chức tập luyện, diễn tập phòng chống thiên tai; sơ tán, di rời dân khi có thiên tai uy hiếp
- Làm tốt việc dự báo thiên tai, thông tin liên lạc kịp thời để toàn dân có biện pháp đối phó, phòng chống thích hợp và có hiệu quả
- Vận động, tuyên truyền sự cảm thông giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng với nhân dân vùng bị ảnh hưởng của thiên tai
b Các biện pháp công trình phòng chống thiên tai ở vùng biển đảo
- Xây dựng các công trình kiên cố để chủ động phòng chống thiên tai
+ Xây dựng và củng cố hệ thống đê, kè để bảo vệ bờ biển chống sạt lở và xâm nhập mặn
+ Xây các nhà kiên cố để nhân dân tạm trú khi có bão, lũ