1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thiết kế và sử dụng lược đồ trong dạy học Địa lý

88 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 19,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sử dụng lược đồ trống đòi hỏi có sự kết hợp chặt chẽ với hệ thống các bản đồ mới đem lại hiệu quả cao, vì lược đồ chỉ thể hiện những phần tử kiến thức địa lý đơn lẻ, kết hợp đối c[r]

Trang 1

MỞ ĐẦU

Đổi mới phương pháp dạy học đang là vấn đề bức xúc đối với sự nghiệp giáo dục nước ta Vấn đề này đã được đặt ra từ lâu và được đặc biệt nhấn mạnh trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nền nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học”

Thực tế, “ Về phương pháp giảng dạy còn nhiều hạn chế Chúng ta vẫn dùng những phương pháp của mấy chục năm trước, thậm chí hàng nửa thế kỷ trước Về cơ bản, chưa có một cuộc cách mạng về phương pháp”[11-tr49]

Hiện nay, trong các trường phổ thông, PP giảng dạy chủ yếu là diễn giảng và còn thiếu các thiết bị dạy học Do đó, việc tiếp thu kiến thức của HS còn thụ động, ghi nhớ máy móc và học sinh chưa có khả năng vận dụng kiến thức một cách linh hoạt

Hiệu quả của việc lĩnh hội tri thức của học sinh phụ thuộc vào các yếu

tố của quá trình dạy học: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, đánh giá Trong đó, một trong những yếu tố quyết định hiệu quả dạy - học đó là phương pháp dạy học Sử dụng những phương pháp dạy học để học sinh phát huy được “khả năng độc lập suy nghĩ, giúp cho cái thông minh của học sinh làm việc chứ không phải giúp cho họ trí nhớ Phải có trí nhớ, nhưng chủ yếu là phải giúp cho họ phát triển trí thông minh sáng tạo”

Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi người giáo viên phải

Trang 2

chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp và bậc học, kết hợp tốt học với hành, gắn nhà trường với xã hội áp dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh những năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”[4]

Những năm gần đây, định hướng đổi mới PPDH đã được thống nhất theo

tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh (HS) dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên (GV), HS chủ động tìm tòi, phát hiện, giải quyết nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt sáng tạo các kiến thức kỹ năng đã thu nhận được

Thực trạng dạy học Địa lí cho thấy việc sử dụng bản đồ dạy học ở các cấp học chưa trở thành nền nếp, quy trình tuần tự theo một hệ thống liên tục, chặt chẽ như cấu trúc của chương trình mong muốn

Phương pháp sử dụng, kỹ thuật sử dụng hệ thống bản đồ, lược đồ trong dạy học môn Địa lí cũng còn nhiều tồn tại Vì vậy, kiến thức địa lí và kiến thức bản đồ, HS thường ghi nhớ máy móc, thiếu một hệ thống chặt chẽ, tư duy bản đồ yếu Điều này phản ánh rất rõ qua các bài thi môn Địa lí ở trường phổ thông và các bài thi tuyển sinh đại học hàng năm Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục đã thay SGK, việc đổi mới về nội dung tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi về phương pháp.Với môn Địa lí, bản đồ vừa là nguồn kiến thức, vừa

là phương tiện trực quan không thể thiếu trong dạy học theo hướng tích cực

Trang 3

Chương 1 VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỊA LÍ BẬC T.H.P.T KHU

VỰC TD và MN BẮC BỘ

Dạy học lấy HS làm trung tâm đã có mầm mống từ thời cổ đại, nhưng mãi đến đầu thế kỉ XX mới được phát triển trở thành một quan điểm, một PP dạy học được nhiều tác giả trong nước và trên thế giới phân tích ở nhiều công trình có giá trị lí luận và thực tiễn

Một trong những giải pháp đề xuất trong “Chiến lược giáo dục 2010 – 2020” [2] là: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp

tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh”

Hiện nay, trong các trường phổ thông, PP giảng dạy chủ yếu là diễn giảng và còn thiếu các thiết bị dạy học Do đó, việc tiếp thu kiến thức của HS còn thụ động, ghi nhớ máy móc và học sinh chưa có khả năng vận dụng kiến thức một cách linh hoạt

Hiệu quả của việc lĩnh hội tri thức của học sinh phụ thuộc vào các yếu

tố của quá trình dạy học: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, đánh giá, Một trong những yếu tố quyết định hiệu quả dạy - học đó là phương pháp dạy học Sử dụng những phương pháp dạy học để học sinh phát huy được “khả năng độc lập suy nghĩ, giúp cho sự thông minh của học sinh làm việc chứ không phải giúp cho họ trí nhớ Phải có trí nhớ, nhưng chủ yếu là phải giúp cho họ phát triển trí thông minh sáng tạo"[5] Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi sáng tạo trong quá trình dạy học từ khâu thiết kế bài dạy đến khâu dạy Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 - Ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VII đã chỉ

Trang 4

hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh những năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Riêng đối với người giáo viên, trong tiến trình tổ chức hoạt động dạy và học cần lưu ý:

(i) Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS Người học là chủ

thể tham gia vào các hoạt động nhận thức dưới sự tổ chức, chỉ đạo của GV, tự lực khám phá các nguồn tri thức, không tự động tiếp thu các nguồn tri thức do thầy cung cấp, sắp đặt sẵn Từ đó, người học bộc lộ khả năng và phát huy các tiềm năng sáng tạo.[3]

(ii) Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học Việc dạy học cho

HS phương pháp tự học là một vấn đề có tính cốt lõi của PPDH tích cực Tự học chính là cầu nối giữa tự học và nghiên cứu khoa học Thông qua tự học

HS sẽ có khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Từ đó, góp phần tạo ra lòng tin, sự ham hiểu biết, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi con người [4]

(iii) Tăng cường hợp tác cá thể phối hợp với học tập hợp tác Đòi hỏi sự

nỗ lực cá nhân trong việc tự lực giành lấy kiến thức mới Năng lực của mỗi cá nhân khác nhau nên cường độ và tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của rừng thành viên cũng khác nhau, đặc biệt trong sử dụng PPDH tích cực sự phân hóa đó càng rõ.[5]

(iv) Trong PPDH tích cực nổi lên mối quan hệ trò - trò Thông qua thảo

luận, ý kiến của mỗi cá nhân sẽ được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ và từ

đó các em sẽ lĩnh hội được tri thức, chân lý.[15]

Mục tiêu của giáo dục đã xác định, GV phải rèn luyện cho HS phương pháp tự đánh giá để có khả năng tự học và làm chủ trước các nhuồn kiến thức mới, có khả năng cơ động, linh hoạt, khả năng sang tạo trong học tập thích ứng với những biến động đa dạng trong xu thế hiện nay

Với những tiến bộ của KHKT, sự ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin nên việc kiểm tra cũng sẽ là khâu cải tiến sao cho đáp ứng tốt nhất khâu tự đánh giá, tự điều chỉnh nhận thức của HS

Trang 5

1.1 Tình hình dạy học Địa lí ở các trường THPT khu vực TD và Miền núi Bắc Bộ

* Về đội ngũ GV

- Đội nhũ GV nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp, … các Sở giáo dục thường xuyên tổ chức định kỳ thi GV giỏi cấp tỉnh và thao giảng ở các cấp Việc làm này là một trong những yếu tố kích thích sự phấn đấu vươn lên trong giảng dạy của GV

- Một số trường, GV bước đầu đã đưa các phương tiện thiết bị hiện đại vào việc dạy học địa lí, góp phần tăng tính hấp dẫn và hiệu quả trong dạy học địa lí

- Những năm gần đây, hệ thống các phương tiện, thiết bị dạy học nói chung và bản đồ giáo khoa các loại nói riêng được trang bị khá đầy đủ Đây

là tiền đề quan trọng cho việc dạy học địa lí tại các trường phổ thông trên địa bàn Việc sử dụng bản đồ cũ nát, vá víu, …về cơ bản đã được loại bỏ Qua điều tra, các trường được khảo sát đều thể hiện rõ thực tế này

* Về tình hình HS

- Về đặc điểm tâm lí lứa tuổi: HS THPT đã có khả năng tư duy, tổng hợp tốt hơn so với HS các cấp dưới Các em muốn tự khẳng định mình và luôn muốn độc lập trong suy nghĩ và hành động Vì vậy, nếu GV biết khơi dậy tiềm năng đó, HS có thể từng bước tiếp cận và chủ động trong nghiên cứu và học tập bộ môn Địa lí thông qua hệ thống bản đồ, lược đồ

- Các tỉnh thuộc Trung du - Miền núi, HS cũng có sự phân hóa về mọi mặt giữa các địa bàn thành phố, thị xã với các huyện miền núi (Xét cả trên điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện học tập)

- Sự phân hóa rõ nhất là ở HS ở những vùng núi thuộc địa bàn

- Qua khảo sát cho thấy nhiều HS của những địa bàn này nhà ở cách xa trường tới 20 – 30 km, phải ở trọ, một số ở cự ly 7 – 10 km, thường xuyên đi lại trong điều kiện giao thông khó khăn

- Điều tra việc học tập địa lí của HS ở địa bàn thành phố, thị xã, huyện,

Trang 6

+ Số HS có Atlat, tập bản đồ - bài tập thực hành, trong toàn tỉnh chỉ chiếm 30 %

+ Số HS thường xuyên sử dụng Atlat trong học tập địa lí: 10% (riêng trường THPT chuyên : 95%)

+ Số HS không thường xuyên sử dụng Atlat trong học tập chiếm tới 90% Đây là một thực tế rất đáng lo ngại vì các em không thể bổ xung những nguồn kiến thức, các kĩ năng bản đồ trong học tập và nghiên cứu địa lí

Thực tế trên đã có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của bộ môn Địa lí

1.2 Tình hình sử dụng bản đồ giáo khoa trong dạy học địa lí

Hầu hết các trường thuộc các thành phố, thị xã đã có trang bị bản đồ phục vụ cho việc dạy, họa địa lí, mặc dù số lượng, chủng loại có sự khác nhau giữa các trường ở khu vực thành phố, thị xã và các huyện

Bảng 1.1 Tình hình sử dụng bản đồ ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Hà Giang

Sử dụng kết hợp giữa bản đồ treo tường, tập Atlat,

lược đồ có trong SGK Thường

xuyên (%)

Tùy bài (%)

Chưa sử dụng (%)

Chỉ sử dụng bản đồ treo tường (%)

(Nguồn: Nhóm tác giả điều tra và phân tích, tổng hợp)

- Khu vực bảo quản, cất giữ bản đồ phục vụ cho dạy học bộ môn địa lí cũng không thống nhất, có trường để ở khu vực phòng đợi của GV, có trường

do GV tự bảo quản, có trường để ở phòng thí nghiệm chung với các bộ môn khác

Trang 7

- Khảo sát ở những trường bản đồ đã được treo tập trung tại một điểm cho thấy: đã có sự sắp xếp chủng loại bản đồ theo các lớp, nhưng còn thiếu đồng bộ về bản đồ của từng khối lớp

- Về tập Atlat: chủ yếu do HS tự trang bị nên ở nhiều trường số lượng

HS có Atlat và thường xuyên sử dụng phục vụ cho học tập của giờ địa lí còn rất ít

Để có sự đánh giá khách quan tình hình sử dụng bản đồ, Atlat trong dạy học địa lý chúng tôi thực hiện các thao tác: điều tra, phỏng vấn, dự giờ có báo trước

Thực tế đã phản ánh rõ nhất là: đa số GV mới sử dụng bản đồ chủ yếu để minh họa bài giảng, coi bản đồ chỉ là một phương tiện trực quan để chỉ ra sự phân bố không gian của đối tượng và hiện tượng địa lý Một số ít GV sử dụng bản đồ, sơ đồ hoặc tranh ảnh địa lí chỉ như một sự minh họa cho nội dung bài giảng, trong tiết học GV thuyết trình từ đầu đến cuối, nặng về mô tả, liệt kê các hiện tượng… từ đó tạo cho HS thói quen học tập thụ động, ngại suy nghĩ, thiếu tập trung vào bài học

Trong các giờ học địa lí có GV chỉ sử dụng một bản đồ trong suốt giờ dạy, việc phối hợp với các bản đồ trong SGK, Atlat còn rất hạn chế

- Qua thống kê cho thấy: số GV sử dụng kết hợp hệ thống bản đồ trong dạy học địa lí ở tỉnh Thái Nguyên cao hơn hai tỉnh Hà Giang và Bắc Kạn, nhưng nhìn chung tỉ lệ này chưa tương xứng với yêu cầu đòi hỏi Trong đó đáng chú ý là số chưa sử dụng chiếm tỉ lệ khá cao tại các tỉnh : Hà Giang và Bắc Kạn (46%, 47%)

- Cách sử dụng bản đồ cũng còn nhiều tồn tại: Các thao tác treo, cất bản

đồ, thời lượng sử dụng, thời điểm sử dụng, … còn thiếu khoa học, chặt chẽ, chưa đúng kĩ thuật, …

Với thời gian của một tiết học nếu chỉ quan tâm đến các đơn vị kiến thức địa lí trong SGK, không gắn việc phân tích, so sánh với hệ thống các bản đồ

Trang 8

không có sự liên hệ so sánh, phân tích bởi vậy việc chủ động nắm kiến thức sẽ hạn chế

Nhiều HS đã học xong lớp 12 nhưng không thể nhớ được một số đơn vị hành chính lớn của đất nước, thậm chí có sự nhầm lẫn lớn về sự phân bố không gian của các đối tượng địa lí

Ví dụ: Qua các kì thi tuyển sinh vào Đại học – Cao đẳng của môn Địa lí thuộc ĐHSP Thái Nguyên: có khoảng 85% số bài của thí sinh không xác định đúng các địa danh đề thi yêu cầu Trong đó, có tới hơn 30% số thí sinh có sự nhầm lẫn về vị trí địa lí của các tỉnh, thành phố (đưa các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Hà Nội, … vào vùng Duyên hải miền Trung)

Tình trạng trên có thể do những nguyên nhân sau: HS không tiếp xúc với bản đồ, Atlat, … thường xuyên trong khi học, hoặc GV không hướng dẫn HS trong phương pháp ghi nhận sự phân bố không gian của các đối tượng địa lí,

… HS chỉ học thuộc lòng và ghi nhớ máy móc, …

- Năng lực phác thảo lược đồ trống, sử dụng bản đồ trống của hầu hết

GV địa lí thuộc tỉnh Thái Nguyên, Sơn La, Hà Giang chưa tốt, do đó việc khắc họa, hình thành các biểu tượng, khái niệm địa lí cho HS hạn chế (xem bảng 1.2)

Bảng 1.2 Tình hình sử dụng lược đồ trống trong dạy học địa lí

ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang

Sử dụng lược đồ trống trong dạy học địa lí (%)

Trang 9

Qua thống kê cho thấy, tỉ lệ số GV chưa sử dụng lược đồ trống cho việc dạy học địa lí ở các tỉnh rất cao: chiếm trên 80%, chỉ trung bình > 60% số Gv

sử dụng lược đồ trống vào việc dạy học

Nguyên nhân chủ yếu do GV chưa có khả năng tự vẽ lược đồ Vì vậy, điểm mấu chốt cần giải quyết là phải có lược đồ chuẩn bị trước Để giải quyết khó khăn này, chúng tôi nêu ra một số phương án sau:

- Rèn luyện cho GV khả năng tự phác thảo lược đồ khi giảng dạy và chủ động lâu dài hơn Mặt khác, khi GV thể hịên việc vẽ lược đồ còn tạo ra sự hứng thú cho HS noi theo, đồng thời GV hoàn toàn chủ động trong quá trình dạy trên lớp

Nếu thực hiện theo phương án nêu trên, việc tích hợp kiến thức địa lí và kiến thức cơ bản trên lược đồ trống là hoàn toàn có thể áp dụng khi cần và không đòi hỏi quá cao về phương tiện kĩ thuật

Hệ thống giáo khoa phổ thông được biên tập với mục đích phục vụ cho việc dạy học địa lí nhưng mỗi bản đồ lại có những ưu, nhược điểm khác nhau

Để rèn luyện kĩ năng học tập địa lí qua các nguồn bản đồ đòi hỏi GV phải có

sự nghiên cứu kĩ lưỡng, nắm chắc các thao tác thực hành, để từ đó rèn luyện thường xuyên, tạo cho HS thói quen làm việc, khai thác các kiến thức địa lí qua hệ thống bản đồ Trong thực tế, rất ít GV quan tâm sâu vào mảng kiến thức này

Tóm tắt chương 1

1 Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa phương pháp dạy học, tuy nhiên cần chú ý tới mặt bản chất của phương pháp dạy học đó là sự thống nhất của hoạt động dạy và hoạt động học Trong đó, hoạt động dạy giữ vai trò

tổ chức, chỉ đạo còn hoạt động học mang tính chủ động tích cực và sáng tạo

2 Thực tế đã phản ánh rõ nhất là: đa số GV mới sử dụng bản đồ chủ yếu

để minh họa bài giảng, coi bản đồ chỉ là một phương tiện trực quan để chỉ ra

sự phân bố không gian của đối tượng và hiện tượng địa lí

3 Đặc điểm của HS các tỉnh trong địa bàn có những khó khăn về điều

Trang 10

đồ giáo khoa trong dạy học sẽ hạn chế trong ghi nhớ sự phân bố của đối tượng địa lí

Chương 2

HỆ THỐNG CÁC BẢN ĐỒ TRONG S.G.K và BẢN ĐỒ GIÁO KHOA

TREO TƯỜNG Ở BẬC T.H.P.T

2.1 Vai trò của bản đồ giáo khoa trong dạy học tích cực

Bản đồ là phương pháp đặc trưng nghiên cứu địa lí, là phương pháp không thể thay thế của việc giảng dạy và học tập địa lí Khi hình thành các khái niệm chung về ĐLTN ĐLKT cũng như khi xem xét các khái niệm đơn

lẻ, ta thấy: mối khái niệm Địa lí đều có mối quan hệ với bản đồ bằng cách này

hay cách khác “bất kì một đối tượng địa lí nào cũng được thể hiện ra trong không gian và thời gian như một đối tượng có những đường nét xác định trên

bề mặt Trái Đất Nó chỉ được hiểu rõ và giải thích khi tính đến vị trí của nó trên bản đồ, chỉ nhờ vào bản đồ mà các đối tượng có được tính chất địa lí của nó."[ 9]

"Bản đồ địa lí dùng trong nhà trường khác với những bản đồ tra cứu ở chỗ: Dung lượng kiến thức không lớn, nội dung phù hợp với chương trình giảng dạy của từng lớp, từng cấp học, thậm chí sát với nội dung của từng bài học Bản đồ được coi là một tư liệu khoa học độc lập trong nhà trường, được xác định và sử dụng như một cuốn sách giáo khoa thứ hai.mỗi đối tượng địa

lí là một khái niệm vật chất, được sắp xếp trong không gian trong mối quan

hệ tương tác với nhiều đối tượng địa lí khác, nó là một thể đang tồn tại, đang biến đổi."[9]

Đối tượng, hiện tượng địa lí nào cũng là một dạng cấu tạo vật chất - không gian - thời gian, được đặc trưng bởi các phương diện khu vực, phạm trù và nguồn gốc phát sinh

Các kiến thức địa lí và các kiến thức bản đồ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Bằng các kiến thức địa lí và bản đồ có thể đọc và phân tích được mối tương quan và sự tương tác của các yếu tố tự nhiên, KT - XH trên bản đồ, tìm

Trang 11

ra được những kiến thức địa lí tiềm ẩn trên bản đồ Việc nghiên cứu các kiến thức bản đồ trong phần này nhằm phân tích và xác lập mối quan hệ tương tác giữa kiến thức địa lí và bản đồ, tạo điều kiện cho việc tích hợp hệ thống kiến thức địa lí và bản đồ trong dạy học địa lí

Hệ thống kiến thức địa lí, kiến thức bản đồ gắn liền với nhau như hình với bóng, trong quá trình chuẩn bị bài giảng, GV không thể không nghiên cứu

kỹ lưỡng và xác định hệ thống bản đồ của từng bài dạy

Trong hệ thống bản đồ lại đa dạng về chủng loại, khác nhau về tỉ lệ, đối tượng biên vẽ, … Vì vậy, nghiên cứu kỹ để có lựa chọn phù hợp với từng bài dạy là rất cần thiết

Tính khoa học của bản đồ đia lí dùng trong nhà truờng

Bản đồ địa lí dùng trong nhà truòng khác với những bản đồ địa lí, bản đồ tra cứu ở chỗ: "trọng tải" của bản đồ không lớn và có nội dung phù hợp với chương trình giảng dạy từng cấp, từng lớp, từng bài học Do đó, bản đồ là một

tư liệu khoa học độc lập trong nhà trường, được xác định và sử dụng như một cuốn sách giáo khoa thứ hai Để đáp ứmg yêu cầu đó, bản đồ phải có tính khoa học

Cấu trúc nội dung của một bản đồ vừa đủ để truyền đạt nội dung địa lí

cơ bản đã viết trong SGK; Vừa giúp học sinh hiểu và trình bày được mối quan

hệ biện chứng với những đối tượng khác

Tính khoa học còn biểu hiện ở tính trừu tượng, tính chọn lọc và tính tổng hợp, tính bao quát, tính đồng dạng và tính logíc

- Tính trừu tượng của bản đồ

Bất kì bản đồ nào, đặc biệt là bản đồ tỉ lệ nhỏ, khi biên vẽ đều trải qua một quá trình trừu tượng hoá Đó là kết quả của sự lựa chọn có mục đích rõ rệt, sự loại bỏ cái thứ yếu, ít quan trọng, không cơ bản, đặc biệt chú ý đến những đặc điểm chính, sự cường điệu hoá cao các đối tượng và hiện tượng có

ý nghĩa quan trọng đối với địa phương Sự trừu tượng hoá các đối tượng địa lí biểu hiện trên bản đồ được GV khai thác trong giảng dạy, được học sinh lĩnh

Trang 12

duy, khi có nguồn gốc từ cụ thể đến trừu tượng, nó sẽ không đi xa chân lí - nếu nó đúng đắn …Từ chân lí, nó sẽ tiếp cận chân lí Sự trừu tượng hoá vật chất, sự trừu tượng hoá quy luật tự nhiên, trừu tượng hoá giá trị … là một từ, tất cả trừu tượng hoá khoa học (đúng đắn, nghiêm túc, không vô lí) đều phản ánh tự nhiên sâu sắc hơn, đúng đắn hơn, đầy đủ hơn Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tế - đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan" Tổng

quát hoá ở nhiều mức độ khác nhau là đặc tính của mô hình bản đồ

- Tính chọn lọc và tính tổng hợp của bản đồ

Tất cả những quá trình riêng biệt và những hiện tượng trong thực tế nhiều khi không biểu hiện được đầy đủ lên bản đồ mà có sự chọn lọc Chẳng hạn, trong tất cả các nhân tố hình thành khí hậu trên lãnh thổ, người ta chỉ lựa chọn lượng mưa để biểu hiện trên bản đồ phân bố lượng mưa của lãnh thổ đó Các nhân tố khác như áp suất không khí, gió, nhiệt độ, … đều bị loại bỏ

"Bản đồ không chỉ có tính chất chọn lọc, mà còn có cả tính chất tổng hợp nữa Tính chất tổng hợp của bản đồ biểu hiện ở sự thống nhất các hiện tượng và quá trình trong thực tế Chẳng hạn, muốn hiểu biết đặc điểm phát triển kinh tế của một đất nước phải biểu hiện tổng hợp các nhân tố như trình

độ phát triển nông nghiệp và công nghiệp, thu nhập quốc dân, nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên lao động Tính tổng hợp của bản đò bao giờ cũng liên quan đến những khái niệm, những chỉ tiêu và những kí hiệu mới, chính nhờ chúng mà có thể phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa các hiện tượng và các quá trình."[10]

Tính chất chọn lọc và tính chất tổng hợp vốn có trong nhiều mô hình địa

lí Sự khác nhau của các tính chất này trong các mô hình chỉ là ở mức độ và tính chất trực quan

- Tính logic của bản đồ

Bản đồ nào cũng kèm theo bản chú giải Nó là chìa khoá cho mọi bản đồ

và là cơ sở logic của mọi bản đồ "Bản chú giải của bản đồ không chỉ giải thích kí hiệu mà chúng còn là đơn vị phân loại (địa hình, khoáng sản, công nghiệp, nông nghiệp, …), phân cấp bậc (bậc độ cao và độ sâu, mật độ dân số,

Trang 13

tổng giá trị sản lượng công nghiệp …), là cơ sở đo tính (thước tỉ lê, thước đo

độ dốc …), giúp người đọc bản đồ hiểu mô hình bản đồ với các đặc trưng chất lượng, số lượng và các cấu trúc, các mối tương quan không gian và mọi biến đổi theo thời gian." [11]

Những bản đồ có biểu đồ bổ sung thể hiện tính kết cấu logic đặc biệt và tính trực quan Những kí hiệu đường nét, màu sắc dùng trên bản chú giải cùng với sự sắp sếp thứ tự giải thích đã được lựa chọn, cân nhắc kĩ lưỡng, nhằm nhấn mạnh ý nghĩa, tình trạng phụ thuộc và tính thống nhất của các hiện tượng được biểu hiện Như vậy, khi sử dụng bản đồ không chỉ sự dụng mô hình kí hiệu, mà còn phải dùng cả mô hình logic nữa Kí hiệu bản đồ dùng trong bản chú giải là ngôn ngữ phổ thông dùng cho mọi đối tượng đọc bản đồ Những tính chất trên đây của bản đồ có khả năng phản ánh đầy đủ thực

tế giống như mô hình thực tế, chúng liên kết lại với nhau một cách chặt chẽ đến mức có thể biết được một tính chất từ các tính chất khác

- Tính trực quan của bản đồ địa lí dùng trong nhà trường

Bản đồ dùng trong trường học, nhất là loại bản đồ treo tường đòi hỏi có tính trực quan cao Đây là tính đặc trưng quan trọng nhất của bản đồ dùng trong trường học Tính trực quan thể hiện ở tốc độ nhận biết các đối tượng và hiện tượng biểu hiện trên bản đồ Tốc độ nhận biết các đối tượng và hiện tượng biểu hiện trên bản đồ càng nhanh, tính trực quan càng cao Tính trực quan càng cao thì mức độ cường điệu hoá càng lớn, việc biểu hiện các đối tượng và hiện tượng trên bản đồ các kém chính xác, tính khoa học giảm Bản đồ địa lí dùng trong nhà trường thường sử dụng nhiều màu sắc đẹp, nhiều kí hiệu tượng trưng gần gũi với đối tượng và nhiều kí hiệu tượng hình gây hứng thú cho học sinh, tạo ra phản ứng tư duy nhanh khi giáo viên giảng bài Tính trực quan trong bản đồ được đánh giá rất cao, nó được thực nghiệm xác nhận là có hiệu quả tri giác cao trong hoạt động nhận thức

- Tính sư phạm của bản đồ địa lí dùng trong nhà trường

Hệ thống bản đồ giáo khoa bao gồm các thể loại bản đồ mang những đặc

Trang 14

thành kiến thức địa lí cho học sinh Quá trình sử dụng phối hợp các thể loại bản đồ trong trường học sẽ hình thành hệ thống kiến thức bản đồ trong học sinh, giúp các em học tập bộ môn Địa lí có kết quả Đó là yêu cầu khách quan xuất hiện trong quá trình sử dụng bản đồ Phù hợp với điều đó, tính sư phạm của bản đồ biểu hiện Bản đồ giáo khoa phù hợp với chương trình Địa lí của từng bậc học, từng cấp học và từng lớp học, phù hợp với trình độ người học Nội dung bản đồ liên hệ chặt chẽ với sách giáo khoa Nó được tổng quát hoá phù hợp với nội dung địa lí cơ bản của bài học, phục vụ mục đích và nhiệm

vụ học tập Tài liệu giáo khoa là tiêu chuẩn nội dung để thành lập bản đồ giáo khoa Nếu tài liệu giáo khoa thay đổi thì nội dung bản đồ giáo khoa cũng thay đổi

Trên các loại bản đồ phải dùng thống nhất hệ thống kí hiệu và phương pháp biểu hiện mà học sinh đã quen biết, nhất là đối với những bản đồ tự nhiên và kinh tế Hệ thống kí hiệu và phương pháp biểu hiện phải tuân theo tính kế thừa, bằng cách phát triển dần dần và làm phức tạp thêm nội dung bản

đồ và phương pháp truyền đạt nó từ lớp dưới lên lớp trên

Bố cục của bản đồ hợp lí và trình bày đẹp, vừa có vai trò quan trọng trong việc giáo dục óc thẩm mĩ cho học sinh, vừa kích thích học sinh say mê làm việc với bản đồ, đem lại cho các em hứng thú học môn Địa lí

Những biểu hiện trên đây liên quan chặt chẽ với nhau cùng thống nhất ở mục tiêu giảng dạy, học tập và được trình bày một cách có hệ thống trên các thể loại bản đồ từ lớp dưới lên lớp trên Sử dụng bản đồ giáo khoa chỉ đạt được hiệu quả cao nhất khi chúng thành một hệ thống thống nhất

- Bản đồ như là phương tiện lao động của người giáo viên

Bản đồ giáo khoa là bộ phận khăng khít không thể tách rởi môn Địa lí học trong nhà trường Bởi vì môn Địa lí trong nhà trường chọn lọc và trình bày những tri thức địa lí bằng ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ văn học, còn bản

đồ giáo khoa phản ánh chúng bằng ngôn ngữ bản đồ Sự phối hợp giữa ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ bản đồ làm cho việc phản ánh thực tế địa lí sinh động hơn, đầy đủ hơn, giúp cho việc nhận thức thực tế địa lí

Trang 15

dễ dàng hơn Chính vì vậy, môn Địa lí trong nhà trường luôn luôn gắn bó với bản đồ giáo khoa như hình với bóng

Bản đồ giáo khoa là công cụ duy nhất giúp thầy và trò có khả năng nhìn bao quát được các hiện tượng diễn ra trong một khoảng không gian rộng lớn không thể tri giác trực tiếp được

Bản đồ giáo khoa mở rộng khái niệm không gian cho học sinh, cho phép các em thiết lập mối quan hệ tương hỗ và nhân quả của các hiện tượng

và các quá trình trong tự nhiên và trong xã hội, phát triển tư duy lôgíc và óc quan sát hình thành thế giới quan duy vật, xây dựng lòng yêu nước và lòng tự hào đối với Tổ quốc mình

Bản đồ giáo khoa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành

ở học sinh quy luật phân bố các đối tượng và hiện tượng địa lí, quy luật phân

bố lực lượng sản xuất của một vùng, của một nước, quy luật phân công lao động theo lãnh thổ, …

Bản đồ giáo khoa giúp cho giáo viên trình bày mối liên hệ kinh tế nội, ngoại vùng, phát triển mối liên kết kinh tế giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới

Bản đồ giáo khoa còn dùng cho giáo viên soạn bài ở nhà, truyền thụ kiến thức ở trên lớp và hướng dẫn học sinh thực hành trong giờ học địa lí và

tự học tập, tra cứu, tự tìm tòi kiến thức địa lí ở nhà Có thể nói, bản đồ giáo khoa là phương tiện tốt nhất thực thi phương pháp dạy học tích cực

2.2 Sự hình thành các biểu tượng, khái nịêm địa lí và sự phát triển kỹ năng đọc bản đồ có mối quan hệ rất chặt chẽ

Khi hình thành các khái niệm chung và khái niệm riêng ta thấy rằng, mỗi khái niệm địa lí đều có quan hệ với bản đồ Một đối tượng, hiện tượng địa lí nào cũng được thể hịên ra trong không gian và thời gian như một đối tượng có đường nét xác định trên bề mặt Trái Đất Nó chỉ được hiểu rõ và giải thích đúng khi tính đến vị trí của đối tượng biểu hiện trên bản đồ Chỉ nhờ vào bản

đồ mà các mối liên hệ tương hỗ nhân quả rút ra từ đó mới có được tính chất

Trang 16

"Bản đồ, có thể nói đó là sự thể hiện các khái niệm, được coi là tài liệu giáo khoa địa lí thức hai Khi đọc bản đồ, đòi hỏi HS phải có một năng lực trừu tượng hóa cao, phải ghi nhớ một khối lượng các biểu tượng cụ thể Khi đọc bản đồ, HS có thể hình dung một cách trực quan mối tương quan của các đối tượng địa lí trên bề mặt Trái Đất, các mối liên hệ tương hỗ không gian giữa các đối tượng này." [9]

Trong qúa trình dạy học địa lí, khi hệ thống các khái niệm địa lý được tiếp thu đồng thời với việc nắm vững kĩ năng đọc và sử dụng bản đồ, HS sẽ hiểu các mối tương quan chủ yếu trên bản đồ và nhanh chóng nhận biết được tất cả các kí hiệu Những mối tương quan trên bản đồ phải được hiểu là những tương quan về phương hướng, khoảng cách, tỷ lệ và sự chênh lệch độ cao HS hiểu được các vấn đề đó nhờ rèn luyện nhiều lần Phải hình thành cho HS kỹ năng đọc bản đồ, hiểu tỷ lệ và thuộc bảng chú giải của bản đồ Mỗi kí hiệu mới cần phải liên hệ với những biểu tượng nhất định để giúp HS hiểu thật đầy đủ nội dung bản đồ

Chẳng hạn, khi cần nắm vững các bậc thang độ cao của bản đồ ĐLTN, lúc đầu các em đọc các kí hiệu chung về đồng bằng, các núi trung bình và các khối núi cao bằng các màu cơ bản, dần dần đọc qua nhiều vùng khác nhau trên một bản đồ rồi trên các bản đồ, các biểu tượng địa lí được mở rộng, làm cho HS nhận rõ bản đồ đối với họ ngày càng trở thành loại thông tin linh hoạt

và dễ hiểu HS sẽ dễ dàng hiểu rõ mối tương quan của ký hiệu trên bản đồ về

độ cao, về vị trí địa lí đối với các đối tượng xung quanh

Xây dựng bản đồ, lược đồ, sơ đồ và làm việc với các bản đồ trống cùng hình thành cho HS vị trí của một đối tượng địa lý trong mối quan hệ với các đối tượng địa lý khác Nhờ bản đồ, lược đồ, mà HS có thể xác định vị trí, hình dạng đối tượng địa lý, lãnh thổ nghiên cứu một cách dễ dàng và nhớ lâu Việc sử dụng các mối liên tưởng mà các tài liệu giáo khoa địa lí và các biện pháp giúp ghi nhớ, sẽ tạo cho HS khả năng hiểu biết các đối tượng địa lí trên cơ sở các kiến thức về vị trí địa lí của chúng

Trang 17

Trình độ cao của kỹ năng đọc bản đồ sẽ đạt được khi những mối liên hệ bên ngoài được ý thức cải biến thành những mối liên hệ về mặt vật chất có nội dung đầy đủ

Ví dụ: Cảng Hải Phòng, ở đây các mối tương quan không gian bên ngoài (sông, biển, đường giao thông, …) phải được kết hợp với sự phát triển lịch sử của thành phố cảng và với chức năng kinh tế của nó (nội dung bên trong) Những biểu tượng về bản đồ của HS càng hoàn thiện, những kỹ xảo đọc bản đồ của họ càng phát triển bao nhiêu thì tiền đề của kiến thức địa lí sẽ càng cao bấy nhiêu Càng hiểu sâu hơn, những mối liên hệ tương hỗ và những khái niệm địa lí chung HS càng có thể thu được nhiều kiến thức hơn khi đọc bản

đồ Chính vì vậy, giữa hệ thống khái niệm, biểu tượng địa lý và bản đồ có mối liên hệ qua lại rất chặt chẽ

- Lý luận Mác – Lênin đã khẳng định, con đường nhận thức là “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tế - đó

là con đường biện chứng cho nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách

quan”

- Ông cha ta lại có câu châm ngôn “Trăm nghe không bằng một thấy” Điều đó cũng khẳng định quá trình nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, thông qua đó nhận thức mới bền vững

2.3 Các bản đồ trong SGK bậc THPT

2.3.1 Các bản đồ trong SGK lớp 10

Một trong những nét khác biệt dễ nhận thấy trong cấu trúc, nối dung SGK Địa lí 10 mới là hệ thống kênh hình rất phong phú đa dạng, không chỉ tăng lên về số lượng mà ngay cả nội dung cũng được chú trọng chọn lọc và hình thức có sự đổi mới cải tiến, hệ thống các bản đồ luôn gắn liền với kiến thức địa lí Do hệ thống các bản đồ giáo khoa của lớp 10 không còn phù hợp nên hướng giải quyết là: Tập trung khai thác tốt nhất các lược đồ đã có trong

Trang 18

* Các bản đồ Địa lí tự nhiên thế giới gồm:10 lược đồ trong SGK

1 Bản đồ các vành đai động đất núi lửa và các vùng núi trẻ

2 Biên độ nhiệt độ năm thay đổi theo vị trí gần hay xa đại dương

3 Bản đồ các khu áp cao, áp thấp trong tháng 7

4 Bản đồ các khu áp cao, áp thấp trong tháng 1

5 Bản đồ các đới khí hậu trên Trái Đất

6 Các dòng biển trên thế giới

7 Các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới

8 Các nhóm đất chính trên thế giới

9 Bản đồ các thành phần tự nhiên

10 Bản đồ phân bố lượng mưa trên thế giới

* Các bản đồ dân cư, kinh tế-xã hội gồm:18 bản đồ trong SGK

1 Bản đồ phân bố dân cư châu Á

2 Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên thế giới hằng năm, thời kì 2000 - 2005(%)

3 Tỉ lệ dân thành thị trên thế giới, thời kì 2000 – 2005 (%)

4 Phân bố dân cư thế giới, năm 2000

5 Bản đồ các ngành kinh tế

6 Phân bố các cây lương thực chính trên thế giới

7 Phân bố các cây công nghiệp chính trên thế giới

8 Phân bố đàn gia súc trên thế giới

9 Trữ lượng dầu mỏ và sản lượng khai thác dầu mỏ trên thế giới, thời kì

2000 – 2003

10 Phân bố sản lượng điện năng thế giới, thời kì 2000 – 2003

11 Khai thác quặng sắt và sản xuất thép trên thế giới, thời kì 2000 –

2003

12 Sản xuất ô tô và máy thu hình trên thế giới năm 2000

13 Tỉ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP của các nước, năm 2001

Trang 19

14 Số ô tô trên 1000 dân, năm 2001

15 Các luồng vận tải hàng hóa bằng đường biển chủ yếu trên thế giới

16 Kênh Xuyê

17 Kênh Panama

18 Bình quân số máy điện thoại trên 1000 dân, năm 2001

Như vậy, số lương các bản đồ và lược đồ của SGK đã có tới 28 trang thuộc 40 tiết học

2.3.2 Các bản đồ trong SGK lớp 11

Hệ thống bản đồ trong chương trình Địa lí 11 rất phong phú và đa dạng

Nó không chỉ minh họa làm rõ thêm kiến thức lí thuyết mà còn là một nguồn tri thức phong phú để học sinh khai thác Hệ thống kiến thức và hệ thống bản

đồ luôn song hành và có mối quan hệ mật thiết với nhau bao gồm:

● Phần I: Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới có những bản đồ:

1 Phân bố các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới theo mức bình quân đầu người (USD/người – năm 2004)

2 Cảnh quan và khoáng sản chính ở châu Phi

3 Cảnh quan và khoáng sản chính ở Mĩ la tinh

4 Khu vực Tây Nam Á

5 Khu vực Trung Á

● Phần II: Địa lí khu vực và quốc gia

- Bài Hoa Kì

1 Bản đồ địa hình và khoáng sản Hoa Kì

2 Bản đồ phân bố dân cư Hoa Kì, năm 2004

3 Phân bố các vùng sản xuất nông nghiệp chính của Hoa Kì

3 Các trung tâm công nghiệp chính của Hoa Kì

Trang 20

4 Liên minh châu Âu – năm 2004

5 Sự hợp tác của các nước EU trong quá trình sản xuất máy bay bớt

E-6 Liên kết vùng Ma-xơ Rai-nơ

7 Các trung tâm công nghiệp chính của Cộng hòa Liên bang Đức

8 Phân bố sản xuất nông nghiệp của Cộng hòa Liên bang Đức

- Liên bang Nga

9 Địa hình và khoáng sản Liên bang Nga

10 Phân bố dân cư của Liên bang Nga

11 Các trung tâm công nghiệp chính của Liên bang Nga

12 Phân bố sản xuất nông nghiệp Liên bang Nga

- Nhật Bản

13 Tự nhiên Nhật Bản

14 Các trung tâm công nghiệp chính của Nhật Bản

15 Phân bố sản xuất nông nghiệp Nhật Bản

- Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

16 Địa hình và khoáng sản Trung Quốc

17 Phân bố dân cư Trung Quốc

18 Các trung tâm công nghiệp chính của Trung Quốc

19 Phân bố sản xuất nông nghiệp Trung Quốc

20 Địa hình và khoáng sản Trung Quốc

Trang 21

- Địa lí tự nhiên

1 Các nước Đông Nam Á

2 Địa chất - khoáng sản

3 Bản đồ ĐLTN Việt Nam

4 Gió mùa mùa đông ở khu vực Đông Nam Á

5 Gió mùa mùa hạ ở Đông Nam Á

6 Khí hậu

7 Các miền địa lí tự nhiên

- Địa lí dân cư, kinh tế- xã hội

8 Phân bố dân cư

9 Tỉ lệ nông thôn có thu nhập chủ yếu từ nông, lâm, thủy sản năm

2006

10 Công nghiệp chung, Giao thông

11 Công nghiệp năng lượng

12 Du lịch

13 Khai thác một số thế mạnh chủ yếu của Trung du và miền núi Bắc Bộ

14 Kinh tế Đồng bằng sông Hồng

15 Khai thác một số thế mạnh chủ yếu của vùng Bắc Trung Bộ

16 Khai thác các thế mạnh chủ yếu ở Duyên hải Nam Trung Bộ

17 Khai thác một số thế mạnh chủ yếu về nông, lâm nghiệp ở Tây Nguyên

18 Các bậc thang thủy điện trên Tây Nguyên

19 Khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ

20 Các loại đát chính ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 22

Các bản đồ giáo khoa Địa lí trong SGK12 giúp phát hiện các đặc điểm về

tự nhiên hay kinh tế - xã hội, xác định các mối quan hệ không gian giữa các đối tượng và quá trình địa lí Các kiến thức bản đồ luôn song hành cùng các kiến thức lí thuyết và bản thân các bản đồ cũng là một nguồn tri thức quan trọng

2.4 Hệ thống các bản đồ giáo khoa treo tường và những khó khăn trong

sử dụng vào các hoạt động Dạy - Học

2.4.1 Hệ thống các bản đồ giáo khoa của lớp 10

- Các bản đồ đều được in từ nhiều năm trước đây nên không còn phù hợp với nội dung của chương trình hiện hành

- Các bản đồ đều in trên loại giấy cứng, khổ rộng rất khó trong sử dụng

và bảo quản

- Nội dung của các tờ bản đồ không còn phù hợp với nội dung các bài dạy

- Hệ thống chú giải không đồng nhất giữa các bản đồ

2.4.2 Hệ thống các bản đồ giáo khoa của lớp 11

- Đều có những hạn chế giống hệ thống bản đồ giáo khoa lớp 10

- Thiếu một số bản đồ của các quốc gia mới được đưa vào trong sách

giáo khoa mới

2.4.3 Hệ thống các bản đồ giáo khoa của lớp 12

- Trong tổng số 17 bản đồ phục vụ cho dạy học sách giáo khoa Địa lí 12 nhiều bản đồ nội dung, hình thức chưa đáp ứng trong dạy học

Ví dụ 1: Bản đồ Địa chất - khoáng sản

- Màu của các thời kì địa chất lấn át màu các kí hiệu của khoáng sản

- Màu của các đá quá gần nhau về gam màu và một số lại lẫn vào màu của khoáng sản ( đá axit cùng màu với Paleozoi sớm; sét, cao lanh cùng màu với nền địa tầng Ocdovic giữa và hệ Silua; các mỏ than đá, sắt, đất hiếm, mangan, graphit, … cùng màu với hệ Các bon - Thống Triat dưới)

- Bài 4,5 Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ Việt Nam đã bỏ không còn trong chương trình dạy vì thế nội dung địa chất không còn cần

Trang 23

trong dạy học chỉ cần thể hiện tài nguyên khoáng sản để HS dẽ đọc và phân tích

Ví dụ 5: Bản đồ Đất đai

- Màu cuả núi đá lẫn với màu của đất phù sa ( màu xanh lá cây )

- Màu của đất đỏ bazan giống với màu của đất đỏ đá vôi

Ví dụ 6: Bản đồ Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ sản

- Đối tượng của ngành kinh tế này rất đa dạng và phong phú nên đưa chúng vào một bản đồ đã dẫn đến tình trạng quá tải Các đối tượng đã chồng lấn và che lấp lẫn nhau

- Nhiều đối tượng đã chìm đi bởi cùng màu với những đối tượng được kí hiệu bằng nền chất lượng: màu của rừng giàu và trung bình cùng gam màu với chè, cao su, đỗ tương

- Gam màu của kí hiệu nhiều loại cây trồng gần nhau về màu sắc nên rất rối và tính phân bố không rõ

- Vùng trồng cây công nghiệp lâu năm và vùng trồng cây ăn quả sử dụng nền chất lượng không khớp với sự phân bố của các cây trên

Trang 24

- Màu xanh của rừng giàu và trung bình cùng màu của vùng Nông - Lâm kết hợp đã phủ lên toàn bộ vùng TDMN (HS có thể hiểu là vùng này không

có núi đá và đất trống đồi trọc?)

Như vậy, qua phân tích hệ thống các bản đồ giáo khoa và thực tế của

công tác dạy học được phản ánh qua các ý kiến trao đổi với GV và HS các trường phổ thông cho thấy: Trong dạy - học Địa lí, nếu chỉ dựa vào BĐGK treo tường hiệu quả của việc dạy - học hạn chế Học sinh không thể quan sát

để nhận biết đối tượng cũng như liên hệ so sánh tổng hợp khi phân tích và khai thác các kiến thức địa lí Vì vậy, để giải quyết khó khăn trên có nhiều giải pháp khác nhau:

 Đối với lớp 10: khai thác triệt để các bản đồ đã có sẵn trong SGK kết hợp với Atlat thế giới

 Đối với lớp 11: khai thác triệt để các bản đồ đã có sẵn trong SGK kết hợp với Atlat thế giới

 Đối với lớp 12: ngoài khai thác các bản đồ trong tập Atlat Địa lí Việt Nam và các bản đồ trong SGK việc thiết kế và sử dụng lược đồ trống sẽ là giải pháp tích cực nhất

Trang 25

Tóm tắt chương 2

1 Bản đồ là phương pháp đặc trưng nghiên cứu địa lí, là phương pháp không thể thay thế của việc giảng dạy và học tập địa lí Khi hình thành các khái niệm chung về ĐLTN ĐLKT cũng như khi xem xét các khái niệm đơn

lẻ, ta thấy: mối khái niệm Địa lí đều có mối quan hệ với bản đồ bằng cách này

hay cách khác

2 Bản đồ địa lí dùng trong nhà truòng khác với những bản đồ địa lí, bản đồ tra cứu ở chỗ: "trọng tải" của bản đồ không lớn và có nội dung phù hợp với chương trình giảng dạy từng cấp, từng lớp, từng bài học

3 Hệ thống các bản đồ trong SGK các lớp là khá đầy đủ, là hướng có thể tập trung khai thác trong dạy học

4 Hệ thống các bản đồ giáo khoa treo tường rất thiếu ở các lớp 10, 11, các bản đồ giáo khoa của lớp 12 tuy mới nhưng bộc lộ nhiều hạn chế trong dạy học Nhiều bản đồ nội dung bị chèn lấn, che khuất bởi các đối tượng khác tính trực quan, tính sư phạm không đảm bảo, hiệu quả sử dụng thấp

Trang 26

đồ, tìm ra được những kiến thức địa lí tiềm ẩn trên bản đồ Việc nghiên cứu các kiến thức bản đồ trong phần này nhằm phân tích và xác lập mối quan hệ tương tác giữa kiến thức địa lí và bản đồ, tạo điều kiện cho việc tích hợp hệ thống kiến thức địa lí và bản đồ trong dạy học địa lí

Hệ thống kiến thức địa lí, kiến thức bản đồ gắn liền với nhau như hình với bóng, trong quá trình chuẩn bị bài giảng, GV không thể không nghiên cứu

kỹ lưỡng và xác định hệ thống bản đồ của từng bài dạy

Trong hệ thống bản đồ lại đa dạng về chủng loại, khác nhau về tỉ lệ, đối tượng biên vẽ, … Vì vậy, nghiên cứu kỹ để có lựa chọn phù hợp với từng bài dạy là rất cần thiết Hệ thống kiến thức, kỹ năng địa lí và bản đồ trong chương trình Địa lí bậc THPT được xác định như sau:

3.1.1 Hệ thống kiến thức địa lí

- Việc phân tích để thấy rõ hệ thống kiến thức địa lí có tầm quan trọng đặc biệt, bởi mỗi lớp học đều chứa đựng những đơn vị kiến thức địa lí nhất định Các thành phần kiến thức đều có quan hệ mật thiết với nhau, hình thành

hệ thống kiến thức, kĩ năng địa lí trong từng lớp và từng cấp học Những kiến thức, kỹ năng ở bài đầu là cơ sở để nhận thức kiến thức và kỹ năng ở các bài sau

- Thấy được mối quan hệ đó để tránh hiện tượng cắt rời từng mảng kiến thức riêng biệt: dạy bài nào biết bài đó, chương nào biết chương đó, thiếu đi thao tác liên hệ, so sánh, phân tích tổng hợp HS tiếp thu các đơn vị kiến thức

Trang 27

có sẵn trong SGK, máy móc, thụ động, thiếu mối liên hệ theo một hệ thống chặt chẽ

Như vậy có thể thấy: Hệ thống kiến thức địa lí và kiến thức bản đồ luôn gắn bó với nhau như hình với bóng Mọi kiến thức địa lí đều được thể hiện trên bản đồ và ngược lại từ bản đồ có thể tìm thấy các kiến thức địa lí tiềm ẩn trên đó

3.1.2 Mối quan hệ giữa kiến thức – kĩ năng địa lí và kiến thức kỹ năng bản đồ

Mỗi khái niệm địa lí đều có quan hệ với bản đồ bằng cách này hay cách khác Bởi vì mỗi đối tượng địa lí đều thể hiện ra trong không gian và thời gian như một đối tượng có đường nét xác định trên bề mặt Trái Đất Nó chỉ được hiểu đúng khi tính đến vị trí của nó trên bản đồ

- Nhờ bản đồ mà các mối liên hệ tương hỗ, nhân quả của các đối tượng

và hiện tượng địa lí được biểu hiện rõ ràng, làm cho chúng có ý nghĩa địa lí nhất định

Cũng cần phải nói thêm rằng: khác với biểu tượng của các khoa học khác, biểu tượng địa lí không chỉ là biểu tượng chung mà nó được xác định trên một không gian cụ thể

Ví dụ: Hình ảnh của một dòng sông, một cánh đồng trong địa lí luôn gắn

bó với đơn vị lãnh thổ (ở đâu ?) và nó có đặc điểm thế nào ?

- Đặc thù của bộ môn Địa lí lại có không gian vô cùng rộng lớn, các sự vật, hiện tượng lại xảy ra và diễn biến, phát triển theo thời gian vô cùng tận Bản đồ có thể biểu hiện được các đặc thù này và là công cụ không thể thay thế trong dạy học và nghiên cứu địa lí

- SGK là tài liệu học tập cơ bản ở nhà trường phổ thông Nó lý giải các quy luật địa lí, quá trình phát sinh, phát triển của các hiện tượng tự nhiên hay kinh tế - xã hội và bản đồ, tập Atlat được coi là cuốn SGK thứ hai không thể thiếu trong dạy học địa lí

Trang 28

N.N Baranxki nhận xét: “Bản đồ và nội dung bài học cần bổ sung cho

nhau: Bài học phải hướng vào bản đồ và đồng thời bổ sung cho bản đồ, còn bản đồ phải minh họa cho bài học”

Ngoài chức năng minh họa, bản đồ còn là nguồn kiến thức, dựa trên, dựa trên các thao tác tư duy liên hệ, so sánh, phân tích, tổng hợp có thể khai thác

hệ thống kiến thức địa lí thông qua hệ thống các kiến thức bản đồ

Những mối tương quan trên đây có quan hệ mật thiết và kết hợp chặt chẽ với nhau Việc dạy học địa lí không thể không thấy mối tương quan này Qua

đó nhận biết được mọi đối tượng, hiện tượng địa lí biểu hiện trên bản đồ và hiểu đặc tính số lượng, chất lượng và động lực phát triển của chúng

3.2 Hệ thống kiến thức Địa lí và kiến thức bản đồ trong chương trình THPT

3.2.1 Hệ thống kiến thức Địa lí và kiến thức bản đồ trong chương trình Địa lí lớp 10

Chương trình Địa lí 10 được cấu tạo bởi hai phần kiến thức đại cương là phần tự nhiên và kinh tế - xã hội Kiến thức ĐLTN đại cương chiếm 1/2 chương trình, bộ khung kiến thức gồm: Bản đồ; Vũ trụ Hệ quả các chuyển động của Trái Đất; Cấu trúc của Trái Đất Các quyển của lớp vỏ Địa lí; Một số quy luật của lớp vỏ Địa lí

Địa lí kinh tế - xã hội dại cương chiếm ½ thời lượng được xây dựng với các nội dung như sau: Địa lí dân cư; Cơ cấu nền kinh tế; Địa lí nông nghiệp; Địa lí công nghiệp; Địa lí dịch vụ; Môi trường và sự phát triển bền vững

Bảng 3.1 Nội dung kiến thức địa lí và kiến thức bản đồ

trong chương trình Địa Lí 10 Chương, bài Kiến thức địa lí Kiến thức bản đồ PHẦN I ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN

Bài 2: Một số

phương pháp biểu

hiện các đối tượng

- Hiểu rõ phương pháp biểu hiện đối tượng địa

- Học sinh có thể nhận biết được các đối tượng Địa lí trên bản đồ qua

Trang 29

Địa lí trên bản đồ lí trên bản đồ

- Khi đọc bản đồ Địa lí trước hết phải tìm hiểu bảng chú giải của bản

- Các sơ đồ: các hành tinh trong hệ Mặt Trời, vận động của Trái Đất quanh Mặt Trời

Chương III CẤU

đồ

Trang 30

Thuyết kiến tạo

- Tác động theo phương thẳng đứng và phương nằm ngang đến địa hình

bề mặt Trái Đất

- Bản đồ Thạch quyển về các mảng kiến tạo (trong Tập bản đồ Địa lí tự nhiên đại cương)

- Sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ với các mảng kiến tạo

- Xác định trên bản đồ các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ

- Nhận biết qua bản đồ: + Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 7

+ Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 1

Bài 13: Ngưng

đọng hơi nước

trong khí quyển

- Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng mưa

- Đọc và giải thích sự phân bố mưa trên bản đồ

Trang 31

Mưa - Sự phân bố mưa theo

- Xác định ranh giới các đới, sự phân hóa các kiểu khí hậu ở nhiệt đới và ôn đới qua bản đồ: Các đới khí hậu trên Trái Đất

Bài 16: Sóng

Thủy triều và dòng

biển

- Nguyên nhân hình thành sóng biển, sóng thần

- Sự phân bố các dòng biển lớn trên đại dương

- Xác định các dòng biển nóng và lạnh trên thế giới qua bản đồ Địa lí tự nhiên thế giới Nơi xuất phát và hướng di chuyển của dòng biển

Bài 19: Sự phân

bố sinh vật và đất

trên Trái Đất

- Một số kiểu thảm và nhóm đất chính Phân biệt được các kiểu thảm thực vật

- Các quy luật phân bố các kiểu thảm thực vật

- Sự phân bố qua bản đồ các thảm thực vật và các nhóm đất chính trên thế giới

Trang 32

Chương IV MỘT

SỐ QUY LUẬT

CỦA LỚP VỎ

ĐỊA LÍ

Bài 21: Quy luật

địa đới và quy luật

phi địa đới - Khái niệm về quy luật

địa đới

- Khái niệm và biểu hiện của quy luật địa ô

và quy luật đai cao

- Nhận biết được sự thay đổi của các kiểu thảm thực vật và các nhóm đất theo quy luật địa ô qua bản đồ:

+ Các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới

+ Các nhóm đất chính trên thế giới

PHẦN HAI ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI

Chương V ĐỊA LÍ

DÂN CƯ

Bài 22: Dân số và

sự gia tăng dân số

- Dân số thế giới luôn luôn biến động, nguyên nhân của sự biến động

- Khái niệm: tỉ suất sinh, tử, gia tăng cơ học

và gia tăng thực tế

- Đọc bản đồ để thấy được tỉ suất GTDSTN thế giới (2000 - 2005)

Bài 24: Phân bố

dân cư Các loại

hình quần cư và đô

thị hóa

- Đặc điểm phân bố dân

cư trên thế giới và các nhân tố ảnh hưởng

- Bản chất và đặc điểm của đô thị hóa

- Đọc bản đồ tỉ lệ dân thành thị trên thế giới (2000-2005) để thấy sự phân hoá của dân cư đô thị giữa các vùng và các châu lục

Trang 33

- Rèn luyện kĩ năng đọc, phân tích và nhận xét bản

đồ phân bố dân cư thế giới năm 2000

Chương VI CƠ

- Vai trò và hiện trạng phát triển của ngành trồng rừng

- Xác định trên bản đồ khu vực phân bố các cây lương thực chính, các cây công nghiệp chủ yếu trên thế giới

Bài 29: Địa lí

ngành chăn nuôi

- Tình hình phân bố các ngành chăn nuôi quan trọng trên thế giới

- Xác định trên bản đồ thế giới những vùng và quốc gia chăn nuôi

- Xây dựng và phân tích lược đồ của chăn nuôi Chương VIII ĐỊA

Trang 34

năng lượng năng lượng

Chương IX: ĐỊA

vụ

- Những đặc điểm phân

bố các ngành dịch vụ trên thế giới

- Đọc và phân tích bản

đồ về tỉ trọng các ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP của các nước trên thế giới năm 2001

- Xác định được trên lược đồ các trung tâm dịch vụ lớn trên thế giới

Bài 37: Địa lí các

ngành giao thông

vận tải

- Ưu điểm và hạn chế của từng loại hình vận tải

- Đặc điểm phát triển và phân bố của các loại hình giao thông

- Xác định trên bản đồ số

ô tô bình quân trên 1000 dân năm 2001, các luồng vận tải hàng hoá bằng đường biển

và Panama; vai trò của hai con kênh này trong ngành vận tải biển thế giới

- Xác định được vị trí của hai kênh đào trên bản

đồ Địa lí tự nhiên thế giới

Chương X: MÔI

Trang 35

Kiến thức của lớp 10 là tiền đề cơ sở cho việc dạy, học các chương trình kế tiếp bởi tính lôgíc của hệ thống kiến thức, kĩ năng

Hệ thống các bản đồ trong SGK lớp 10 khá phong phú và gắn liền với nội dung kiến thức của từng bài nên phải tổ chức cho học sinh khai thác tốt nhất các bản đồ và lược đồ của từng bài học

3.2.2 Hệ thống kiến thức Địa lí và kiến thức bản đồ trong chương trình Địa lí lớp 11

Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa, quan hệ giữa các nước được mở rộng, nhu cầu hiểu biết về kinh tế - xã hội của thế giói và các quốc gia là rất cần thiết Những kiến thức Địa lí kinh tế - xã hội thế giới sẽ góp phần làm học sinh hiểu biết về đặc điểm kinh tế - xã hôi toàn cầu, khu vực để từ đó hiểu kĩ hơn đặc điểm và những vấn đề của kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đã tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

và ngày càng mở rộng giao lưu với nước ngoài Những hiểu biết về con đường phát triển kinh tế - xã hội của một số quốc gia, giúp học sinh có được cái nhìn đúng đắn hơn và có trách nhiệm hơn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Chương trình Địa lí lớp 11 gồm có 2 phần: Phần khái quát chung về nền

Trang 36

Phần khái quát chung về nền kinh tế - xã hội thế giới chiếm một thời lượng nhỏ trong chương trình với những kiến thức cơ bản được thiết kế theo cấu trúc sau:

- Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nhóm nước trên thế giới

- Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa

- Một số vấn đề mang tính chất toàn cầu

Phần Địa lí khu vực và các quốc gia tiêu biểu chiếm phần lớn thời lượng của chương trình Các khu vực và quốc gia tiêu biểu gồm có:

- Hoa Kì

- Liên minh châu Âu

- Liên bang Nga

- Nhật Bản

- Trung Quốc

- Khu vực Đông Nam Á

- Ôxtrâylia

Bảng 3.2 Nội dung kiến thức địa lí và kiến thức bản đồ

trong chương trình Địa Lí 11 Chương, bài Kiến thức địa lí Kiến thức bản đồ

- Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học

và công nghệ hiện đại

- Tác động của cuộc khoa học và công nghệ hiện đại

- Nhận xét sự phân bố các nước theo mức GDP bình quân đầu người qua bản đồ trong SGK

Trang 37

và công nghệ hiện

đại

Bài 2: Xu hướng toàn

cầu hóa, khu vực hóa

của châu Phi

- Châu Phi có nhiều khoáng sản, song có khá nhiều khó khăn do khí hậu khô, nóng, tài nguyên môi trường bị cạn kiệt, …

- Phân tích bản đồ cảnh quan và khoáng sản

- Mĩ la tinh có điều kiện

tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế, mức sống chênh lệch lớn trong xã hội

- Tình trạng phát triển thiếu ổn định nợ nước ngoài lớn

- Phân tích bản đồ các cảnh quan và khoáng sản ở Mĩ la tinh

Bài 5: Một số vấn đề - Tiềm năng phát triển - Sử dụng bản đồ Tây Nam

Trang 38

và các vấn đề dẫn tới xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, nạn khủng bố

vị trí của các nước trong khu vực

- Đọc trên bản đồ Tây Nam

Á và Trung Á để tìm hiểu các tài nguyên thiên nhiên của khu vực

- Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của từng vùng

- Đặc điểm dân cư của Hoa Kì và ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển kinh tế

- Phân tích bản đồ để thấy được đặc điểm địa hình,

sự phân bố khoáng sản, dân cư của Hoa Kì

Bài 6: Hợp chúng

quốc Hoa Kì

Tiết 2: Kinh tế

- Hoa Kì có nền kinh tế quy mô lớn và đặc điểm các ngành kinh tế: dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp

- Khai thác lược đồ để thấy

sự phân bố các vùng sản xuất nông nghiệp chính của Hoa Kì

- Sản xuất công nghiệp có

sự phân hóa giữa các vùng

về mức độ tập trung các

- Phân tích lược đồ, phân tích các mối liên hệ giữa điều kiện phát triển với sự phân bố của các ngành công nghiệp và nông nghiệp

Trang 39

trung tâm công nghiệp và các ngành công nghiệp

Bài 7: Liên minh

châu Âu (EU)

Tiết 1: EU – Liên

minh khu vực lớn

trên thế giới

- Quá trình hình thành và phát triển, mục đích và thể chế của EU

- EU là trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới

- Quan sát lược đồ nhận biết các nước thành viên EU

Bài 7: Liên minh

châu Âu (EU) (tiếp

sử dụng đồng tiền chung EURO

- Phân tích lược đồ để thấy được vị trí của các nước thành viên trong liên kết vùng Ma- xơ Rai-nơ

Bài 7: Liên minh

châu Âu (EU) (tiếp

theo)

Tiết 3: Thực hành:

Tìm hiểu về liên

minh châu Âu

- Các kiến thức cơ bản - Bản đồ chính trị thế giới

Bài 8: Liên bang Nga

Tiết 1: Tự nhiên, dân

cư và xã hội

- Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ của Liên bang Nga

- Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

- Đặc điểm dân cư, xã hội

và ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển kinh

tế

- Sử dụng bản đồ để nhận biết và phân tích đặc điểm

tự nhiên, phân bố dân cư của Liên bang Nga

Trang 40

(tiếp theo)

Tiết 2: Kinh tế

tế của Liên bang Nga

- Đặc trưng một số vùng kinh tế của LB Nga

- Quan hệ đặc biệt giữa Liên bang Nga và Việt Nam

điểm một số ngành kinh tế

và vùng kinh tế của Liên bang Nga qua lược đồ các trung tâm công nghiệp chính

Bài 8: Liên bang Nga

- Nhận biết và phân tích sự phân bố của cây trồng, vật nuôi chủ yếu của Liên bang Nga

- Thuận lợi, khó khăn của TNTN đối với sự phát triển kinh tế

- Các đặc điểm của dân cư

và ảnh hưởng của chúng tới sự phát triển kinh tế

- Tình hình kinh tế Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

- Sử dụng lược đồ để nhận biết và trình bày một số đặc điểm chủ yếu tự nhiên của Nhật Bản

- Nhận xét và trình bày về

sự phân bố các trung tâm công nghiệp chính và một

số cây trồng, vật nuôi chủ yếu của Nhật Bản qua bản

Ngày đăng: 05/03/2021, 11:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Bộ Giáo dục - Đào tạo (2010), Chiến lược giáo dục Việt Nam thời kỳ 2010 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược giáo dục Việt Nam thời kỳ 2010 - 2020
Tác giả: Bộ Giáo dục - Đào tạo
Năm: 2010
[3]. Đinh Quang Báo - Nguyễn Đức Thành (1996), Lý luận dạy học sinh học, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo - Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
[4]. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Bộ GD & DT, Vụ giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
[5]. Lê Khánh Bằng (1995), Công nghệ dạy học với vấn đề tổ chức quá trình dạy học ở PTTH, Bộ GD & ĐT, Vụ giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy học với vấn đề tổ chức quá trình dạy học ở PTTH
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1995
[6]. Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt nam khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt nam khoá VIII
Tác giả: Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[7]. Hoàng Chúng (1997), Graph và giải toán phổ thông, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Graph và giải toán phổ thông
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1997
[8]. Đảng cộng sản Việt nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[9]. Lâm Quang Dốc (1996), Sử dụng bản đồ ở trường phổ thông, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ ở trường phổ thông
Tác giả: Lâm Quang Dốc
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
[10]. Lâm Quang Dốc (2002), Bản đồ chuyên đề, Nxb ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ chuyên đề
Tác giả: Lâm Quang Dốc
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2002
[11]. Lâm Quang Dốc (1992), Xác lập hệ thống kiến bản đồ địa lý trong việc dạy học địa lí ở trường phổ thông cấp II Việt Nam, Luận án Phó TS, KHSP – Tâm lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác lập hệ thống kiến bản đồ địa lý trong việc dạy học địa lí ở trường phổ thông cấp II Việt Nam
Tác giả: Lâm Quang Dốc
Năm: 1992
[12]. Lâm Quang Dốc (2003), Bản đồ giáo khoa, Nxb ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ giáo khoa
Tác giả: Lâm Quang Dốc
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2003
[13]. Nguyễn Dược – Nguyễn Trọng Phúc (1998), Lý luận dạy học Địa Lí, Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Địa Lí
Tác giả: Nguyễn Dược – Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1998
[14]. Đỗ Ngọc Đạt (1997), Tiếp cận hoạt động dạy học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hoạt động dạy học
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
[15]. Đặng Văn Đức – Nguyễn Thu Hằng, Phương pháp dạy học Địa Lí theo hướng tích cực, Nxb ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Địa Lí theo hướng tích cực
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
[16]. Trần Bá Hoành (1996), Kỹ thuật dạy học Sinh học, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật dạy học Sinh học
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
[17]. Trần Bá Hoành (1997), “Thiết kế bài học theo phương pháp tích cực”, Giáo viên và nhà trường, Số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thiết kế bài học theo phương pháp tích cực”", Giáo viên và nhà trường
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 1997
[18]. Trần Bá Hoành (2000), Đổi mới phương pháp dạy học ở THCS, Nxb ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở THCS
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2000
[19]. Lekhaclamop (1998), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, Người dịch: Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc Quang, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào
Tác giả: Lekhaclamop
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
[20]. Phan Văn Khải (2010), “Chiến lược phát triển giáo dục 2010 – 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2010 – 2020”
Tác giả: Phan Văn Khải
Năm: 2010
[21]. Trần Hồng Quân (1995), Một số vấn đề đổi mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo TW I. Hà Nội (tr 49) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Tác giả: Trần Hồng Quân
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w