Bài tập hết môn GIÁO DỤC NÂNG CAO SỨC KHỎE Tỷ xuất tử vong mẹ ở Mường Nhé, Điện Biên 2019 Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em (CSSKBMTE) là mục tiêu ưu tiên hàng đầu của ngành Y tế cũng như trong các chương trình nghị sự của nước ta. Việc đảm bảo an toàn cho các bà mẹ mang thai, sinh đẻ và chăm sóc tốt, tạo một khởi đầu tốt đẹp cho những đứa trẻ mới ra đời là những chăm sóc quan trọng nhất đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Tuy nhiên, một thực tế đau lòng vẫn tiếp tục xảy ra là trên thế giới cứ 5 phút trôi qua lại có 3 phụ nữ tử vong vì liên quan quan đến mang thai và sinh đẻ và khoảng 30 trẻ sinh ra tử vong khi chưa kịp có lễ ăn mừng tròn tháng. Thêm vào đó, có khoảng 50.000 phụ nữ mắc bệnh do hậu quả của quá trình sinh đẻ không an toàn và thiếu chăm sóc sau đẻ, trong số đó có khoảng 15% để lại biến chứng lâu dài hoặc tàn tật vĩnh viễn. Hàng năm trên thế giới ước tính có khoảng 350.000500.000 ca chết mẹ; 8 triệu ca tai biến sản khoa, trong đó 99% là ở các nước đang phát triển.
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÀI TẬP HẾT MÔN NHÓM 4 MÔN GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Chủ đề: Tỷ suất tử vong mẹ ở huyện Mường Nhé,
tỉnh Điện Biên năm 2019 cao
Trang 2MỤC LỤC
I Đặt vấn đề và một số khái niệm liên quan 4
1.1 Đặt vấn đề 4
1.2 Khái niệm liên quan 5
1.3 Một số thông tin chung về địa bàn 8
II Đặc điểm đối tượng đích và phân tích hành vi 9
2.1 Phân tích vấn đề sức khỏe theo Mô hình của Dahlgren và Whitehead 9
2.2 Mô hình niềm tin sức khỏe 12
2.3 Các giai đoạn thay đổi hành vi 13
2.4 Tiếp cận và xác định giải pháp 14
2.4.1 Nguyên nhân, cách tiếp cận và lý giải sự lựa chọn cách tiếp cận 14
2.4.2 Giải pháp can thiệp 18
2.4.3 Bảng lý giải hoạt động can thiệp 21
III Lập bản kế hoạch nâng cao sức khỏe 27
3.1 Mục tiêu 27
3.2 Các bên liên quan 28
3.3 Kế hoạch hoạt động 32
3.4 Chỉ số đánh giá chương trình 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 1 53
Trang 3Uỷ ban nhân dânQũy dân số liên hợp quốcQũy nhi đồng liên hợp quốc
Trang 4I Đặt vấn đề và một số khái niệm liên quan
I.1 Đặt vấn đề
Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em (CSSKBMTE) là mục tiêu ưu tiên hàng đầu củangành Y tế cũng như trong các chương trình nghị sự của nước ta Việc đảm bảo an toàncho các bà mẹ mang thai, sinh đẻ và chăm sóc tốt, tạo một khởi đầu tốt đẹp cho nhữngđứa trẻ mới ra đời là những chăm sóc quan trọng nhất đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh
đẻ Tuy nhiên, một thực tế đau lòng vẫn tiếp tục xảy ra là trên thế giới cứ 5 phút trôi qualại có 3 phụ nữ tử vong vì liên quan quan đến mang thai và sinh đẻ và khoảng 30 trẻ sinh
ra tử vong khi chưa kịp có lễ ăn mừng tròn tháng Thêm vào đó, có khoảng 50.000 phụ nữmắc bệnh do hậu quả của quá trình sinh đẻ không an toàn và thiếu chăm sóc sau đẻ, trong
số đó có khoảng 15% để lại biến chứng lâu dài hoặc tàn tật vĩnh viễn [1] Hàng năm trênthế giới ước tính có khoảng 350.000-500.000 ca chết mẹ; 8 triệu ca tai biến sản khoa,trong đó 99% là ở các nước đang phát triển [2]
Theo Phó giám đốc Sở y tế TPHCM, tỷ lệ tử vong mẹ trong quá trình mang thai,vượt cạn ở Việt Nam đang ở mức khá cao (65/100.000 ca sinh sống) Trong đó, bănghuyết, sản giật được xác định là những nguyên nhân gây tử vong cho mẹ hàng đầu trongsản khoa bên cạnh đó có sự khác biệt lớn giữa các vùng sinh thái trong cả nước, tỷ lệ tửvong mẹ (TVM) và tử vong sơ sinh cao tại một số tỉnh miền núi có điều kiện kinh tế khókhăn, phụ nữ có tập quán đẻ tại nhà, không có người được đào tạo đỡ đẻ
Chính vì vậy trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức bà
mẹ, trẻ em ở nước ta là giảm tỷ suất tử vong mẹ đặc biệt là ở khu vực miền núi, vùng sâu
và vùng xa Vấn đề giảm tử vong ở bà mẹ cũng được Chính phủ phê duyệt trong chươngtrình mục tiêu Quốc gia về Y tế - Dân số giai đoạn 2016 – 2020 (QĐ 1125/QĐ-TTg ngày31/7/2017) Việc đảm bảo an toàn cho các bà mẹ mang thai, sinh đẻ và chăm sóc tốt, tạomột khởi đầu tốt đẹp cho những đứa trẻ mới ra đời là những chăm sóc quan trọng nhất đốivới phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, tử vong mẹ là tử vong của người phụ nữtrong khi mang thai hoặc trong vòng 42 ngày sau khi kết thúc thai kỳ, không phụ thuộcvào thời gian và địa điểm mang thai, do bất kỳ nguyên nhân nào có liên quan hoặc bị
Trang 5nặng lên bởi quá trình mang thai hoặc quản lý thai nghén Năm 2018, tử vong bà mẹ củaViệt Nam là 54/100.000, đứng thứ 10 khu vực các nước Tây Thái Bình Dương.
Biểu đồ 1: Tỷ suất tử vong mẹ khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2018
Điện Biên là một trong các tỉnh miền núi phía bắc có tỷ suất tử vong mẹ cao nhất cảnước Theo số liệu thống kê của ủy ban dân tộc, tỷ lệ tử vọng tại Điện Biên được xếp vàomột trong các tỉnh cao nhất cả nước, cứ 148 phụ nữ vào tuổi 15-49 thì có 1 tử vong mẹ,một trong các huyện có tỷ lệ cao nhất cả tỉnh là huyện Mường Nhé Huyện Mường Nhé
có địa hình đồi núi phức tạp, nằm trên ngã ba biên giới giữa Việt Nam, Trung Quốc vàLào, dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao, Mông và có gánh nặng tử vong mẹ cao tạiĐiện Biên [3]
Sức khỏe sinh sản: Sức khoẻ sinh sản (SKSS) là trạng thái khoẻ mạnh, hoàn hảo về
thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản,chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật haytổn thương ở bộ máy sinh sản (Tổ chức Y tế Thế giới WHO) [5]
Khái niệm vị thành niên: Theo tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO): Vị thành niên là những người trong độ tuổi từ 10 đến 19 [5].
Trang 6Tử vong mẹ: Tử vong mẹ là tử vong của người phụ nữ trong khi mang thai hoặc trong
vòng 42 ngày sau khi kết thúc thai kỳ, không phụ thuộc vào thời gian và địa điểmmang thai, do bất kỳ nguyên nhân nào có liên quan hoặc bị nặng lên bởi quá trìnhmang thai hoặc quản lý thai nghén (Tổ chức Y tế Thế giới WHO 1990) [6]
Chất lượng cuộc sống: Chất lượng cuộc sống là nhận thức mà cá nhân có được trong
đời sống của mình, trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà cá nhân sống, trongmối tương tác với những mục tiêu, những mong muốn, những chuẩn mực, và nhữngmối quan tâm Đó là một khái niệm rộng phụ thuộc vào hệ thống phức hợp của trạngthái sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý hay mức độ độc lập, những mối quan hệ xã hội
và môi trường sống của mỗi cá nhân” (WHO, 1994) [5]
Khám thai:
Lợi ích khám thai:
Đi khám thai đều đặn để biết tình trạng sức khỏe của cả mẹ và thai nhi
Nếu có những dấu hiệu bất thường sẽ được theo dõi và điều trị
Nếu mẹ và thai nhi đều bình thường thì sẽ được cán bộ y tế hướng dẫn về cách chămsóc thai nghén
Thời điểm khám thai:
Trong thời kỳ mang thai, các bà mẹ cần đi khám thai ít nhất 3 lần hoặc theo hẹn của cán
bộ y tế Thông thường các thời điểm khám thai như sau:
Lần khám 1: Ngay khi nghi ngờ mình có thai, trong vòng ba tháng đầu để:
Xác định có thai hay không
Xem thai nằm trong hay nằm ngoài tử cung
Tư vấn về sàng lọc trước sinh: phát hiện bất thường ở thai nhi
Tư vấn về vệ sinh, dinh dưỡng, sử dụng thuốc khi mang thai, giảm khó chịu khinghén nhiều…
Trang 7Lần khám 2: Khi thai được 3 đến 6 tháng tuổi để:
Theo dõi sự phát triển của thai nhi
Theo dõi và dặn dò cách phát hiện sớm các triệu chứng và dấu hiệu của tiền sản giật
và dự phòng sản giật (cân, đo huyết áp, thử nước tiểu, khám phù…)
Tiêm phòng uốn ván
Nghe tư vấn để xét nghiệm HIV, thông tin về HIV và AIDS, nhất là các con đườnglây truyền và cách dự phòng lây truyền từ mẹ sang con
Lần khám 3: Vào 3 tháng cuối của thai kỳ để:
Theo dõi sự phát triển của thai nhi, xác định ngôi thai
Tiêm phòng uốn ván cho đủ 2 lần trong thai kỳ, lần thứ 2 cách ngày sinh ít nhất mộttháng
Phát hiện những nguy cơ cho mẹ và thai nhi, quyết định nơi sinh (Trạm y tế xã haybệnh viện huyện…)
Dự đoán ngày sinh, chuẩn bị sinh, nghe hướng dẫn các dấu hiệu chuyển dạ
Nghe dặn dò một số dấu hiệu nguy hiểm như ra máu âm đạo, ra nước ối sớm, nhứcđầu hoa mắt của tiền sản giật…
Tai biến sản khoa: Là vấn đề sức khỏe xảy ra có liên quan đến tình trạng mang thai,
trong lúc chuyển dạ, hay trong thời kì hậu sản có thể dẫn đến những biến chứng đe dọatính mạng của mẹ hoặc thai nhi 5 tai biến sản khoa thường gặp:Sản giật, vỡ tử cung,bang huyết, nhiễm trùng hậu sản, uốn ván rốn (Th.BS Trương Thị Bích Hà-Đại học Y
Hà Nội)
Trang 81.3 Một số thông tin chung về địa bàn
Bản đồ 1: Bản đồ huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Điện Biên là một tỉnh thuộc vùng Tây bắc Với diện tích tự nhiên là 157.372,94 ha.Toàn tỉnh có 1.725 thôn, bản, tổ dân phố, trong đó, có 877 thôn, bản thuộc diện đặc biệtkhó khăn Dân số toàn tỉnh hiện có hơn 52 vạn người (32.977 nhân khẩu), gồm 19 dân tộccùng sinh sống và trên 80% dân số là người dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Thái chiếm37,99%, Mông 34,80%, Kinh 18,42%, Khơ Mú 3,30%, còn lại là các dân tộc khác Tỷ lệ
hộ nghèo của toàn tỉnh năm 2013 chiếm 35,06% Trình độ dân trí thấp, có vùng 80% phụ
nữ trong độ tuổi sinh đẻ không biết chữ Số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ cao, đặc biệtnhóm tuổi có mức sinh cao (từ 22 - 29) tuổi đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng sốphụ nữ độ tuổi sinh đẻ, tiềm ẩn nguy cơ tăng tỷ suất sinh Nhiều tập tục lạc hậu của đồngbào dân tộc thiểu số còn tồn tại như tảo hôn, kết hôn cận huyết, đẻ tại nhà hoặc không chongười ngoài gia đình đỡ đẻ làm cho công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em gặp rấtnhiều khó khăn [20] Huyện Mường Nhé thuộc tỉnh Điện Biên có 11 đơn vị hành chínhcấp xã trực thuộc Là huyện có trình độ dân trí còn ở mức thấp, tỷ lệ người dân tộc thiểu
số chiếm khá cao (chiếm 70,0%), tỷ lệ hộ nghèo cao, người dân còn gặp khó khăn trongviệc tiếp cận với nguồn thông tin về sức khỏe sinh sản
Huyện Mường Nhé
Trang 9Việc tìm hiểu, phân tích vấn đề “Tỷ suất tử vong mẹ ở huyện Mường Nhé cao” theo
mô hình sức khỏe là rất cần thiết, để có một bước tranh tổng quan về các yếu tố ảnhhưởng tới tỷ suất tử vong mẹ tại huyện Mường Nhé nói riêng và tỉnh Điện Biên nóichung Từ đó là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch can thiệp toàn diện để giải quyết vấn
đề này tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
II Đặc điểm đối tượng đích và phân tích hành vi
II.1 Phân tích vấn đề sức khỏe theo Mô hình của Dahlgren và Whitehead
- Vấn đề tử vong mẹ ở huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên cao được phân tích theo
mô hình của Dahlgren và Whitehead, bao gồm các yếu tố được phân tích sau đây:
- Yếu tố sinh học: ít tuổi (tại huyện Mường Nhé độ tuổi người lập gia đình là 14 –
15 tuổi, đây là độ tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất lẫn tinh thần) Không
những vậy là đồng bào, người dân tộc H’mong, ảnh hưởng bởi gen - di truyền nênthanh thiếu niên thường có thân hình thấp bé
- Hành vi, lối sống: Thói quen ăn uống (người phụ nữ khi mang thai uống rượu
(khoảng 30% - 40 %), ăn đồ sống như gỏi cá tươi, các món làm từ thịt sống, đồnướng và các đồ hun khói), quan hệ tình dục không an toàn, không sử dụng dịch
vụ y tế trước, trong và sau sinh*.
- Mạng lưới cộng đồng, xã hội: Tục lệ gia đình (cúng ma, làm bùa phép), kinh
nghiệm của những người xung quanh (khuyên người phụ nữ mang thai làm theo
Trang 10những tập tục cổ hủ như: không tiêm vaccine trước, trong và sau sinh, kiêng khôngnên ăn thịt khi mang thai), mạng lưới cô đỡ thôn bản (quản lý và theo dõi về sứckhỏe sinh sản trên địa bàn và tư vấn phụ nữ mang thai đến trạm y tế đăng ký quản
lý thai sản), mạng lưới công tác viên y tế thôn bản (tư vấn cho người dân tham giacác dịch vụ y tế)
- Điều kiện sống và làm việc: Thiếu lương thực, thực phẩm bổ sung dinh dưỡng
cho bà mẹ khi mang thai (ví dụ: các rau giàu vitamin, các loại thịt, cá….); trình độdân trí thấp (30% chị em trong độ tuổi sinh đẻ không biết chữ); công việc (làmnương rẫy) nặng nhọc; vất vả; khó tiếp cận dịch vụ y tế; nhà ở không kiên cố
- Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội: Phong tục tập quán (tảo hôn, đẻ tại nhà, sử
dụng các phương pháp dân gian chưa qua kiểm nghiệm, …), thu nhập thấp (tỷ lệ
hộ nghèo tại địa bàn khoảng 35%), phân biệt giới tính (trọng nam khinh nữ vì vậycác bà mẹ bắt buộc phải sinh được con trai)
Hành vi được lựa chọn để phân tích và can thiệp: Hành vi không sử dụng dịch
vụ y tế trước, trong và sau sinh.
- Yếu tố tiền đề:
+ Kiến thức: thiếu kiến thức chăm sóc phụ nữ khi mang thai (không biết phải đi
khám thai, đến cơ sở y tế để sinh đẻ hoặc không có/có ít kiến thức về sự cần thiếtcủa các dịch vụ y tế
+ Niềm tin: tin rằng chỉ cần làm theo tục lệ vốn có của địa phương không cần sử
dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước, trong và sau sinh thì vẫn sinh con bìnhthường, không có nguy hiểm gì cho cả mẹ và em bé, không tin vào chất lượng dịch
vụ y tế; Chủ quan khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường (chảy máu dọa sảy, …)
+ Thái độ: Không quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe khi mang thai, cho rằng
việc sử dụng dịch vụ y tế là không cần thiết hoặc cảm thấy tốn tiền bạc và thời giankhi sử dụng dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe, chủ quan không nhận thức được sựnguy hiểm khi có dấu hiệu bất thường xảy ra nên không đến cơ sở y tế
- Yếu tố tăng cường:
+ Gia đình: thiếu kiến thức, hiểu chưa đúng về chăm sóc sức khỏe khi mang thai,
muốn con làm theo tục lệ có từ xa xưa theo kinh nghiệm bản thân và người xưatruyền lại, do đó không muốn cho con/vợ sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Trang 11+ Bạn bè, hàng xóm xung quanh: họ cũng không sử dụng dịch vụ chăm sóc sức
khỏe khi mang thai mà vẫn đẻ con ra bình thường và khuyên không cần phải sửdụng các dịch vụ y tế
- Yếu tố tạo điều kiện:
+ Kinh tế của người dân còn thấp không đủ khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sócsức khỏe, nơi sống cách xa cơ sở y tế, đi lại khó khăn
+ Đầu tư nguồn lực cho công tác chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang thai còn hạn chế
và thiếu (vật lực, nhân lực còn thiếu và yếu), do đó, tính sẵn có, chất lượng của cácdịch vụ y tế không cao ảnh hưởng đến sự tiếp cận với dịch vụ của phụ nữ mangthai
+ Chương trình truyền thông GDSK chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai nóiriêng và cho người dân nói chung có độ bao phủ chưa cao, chưa đa dạng và chưahiệu quả, đội ngũ truyền thông còn thiếu kiến thức về chăm sóc sức khỏe khi mangthai không thực hiện hành vi sử dụng các DVYT trước, trong và sau khi sinh đểđảm bảo sức khỏe cho bản thân và thai nhi
+ Cơ chế tổ chức, chính sách hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thựchiện tiếp cận, sử dụng dịch vụ CSSK còn chưa hoàn thiện tại rào cản trong tiếp cậnvới dịch vụ y tế của người dân
Trang 12II.2 Mô hình niềm tin sức khỏe
và sau sinh, bà mẹ
có thể bị sinh non,mắc biến chứngsau sinh hoặc cóthể bị tử vong
Đe dọa: Bà mẹ cóthể bị tử vong nếukhông sử dụngdịch vụ y tế trước,trong và sau sinh
Hành vi cá nhân: Khảnăng sử dụng dịch vụ
y tế trước, trong vàsau sinh của các phụ
nữ mang thaiTrầm trọng: Có thể
bị đẻ non, mắc cácbiến chứng sausinh và tử vongLợi ích: Phát hiện sớm ra các bấtthường của thai nhi và người mẹ
Hoạt động truyềnthông về CSSKSS tốt,đưa ra những hìnhảnh, dẫn chứng, sốliệu về sinh sản khókhăn, các biến chứng
Trang 13II.3 Các giai đoạn thay đổi hành vi
Các bước thay đổi hành vi Hoạt động GDSK và NCSK
(5) Thực hiện và duy trì
Khám thai theo định kỳ và đủ số lần tối
thiểu
Duy trì môi trường thuận lợi
(4) Thực hiện và đánh giá hành vi mới
Đã đi khám thai định kỳ và theo kế hoạch
Hướng dẫn giải quyết một số khó khăntạm thời
Bổ sung kiến thức, hỗ trợ kỹ năng Tăng cường tư vấn, giám sát hỗ trợ Duy trì một môi trường thuận lợi, hỗ trợ(3) Có ý định, chuẩn bị và sẵn sàng thực
hiện sự thay đổi
Đăng ký khám thai định kỳ
Động viên và nêu những gương tốt
Sự trợ giúp của bạn bè, gia đình Tạo ra một môi trường thuận lợi, hỗ trợ(2) Đã có kiến thức nhưng chưa có ý định
Có kiến thức về sức khỏe sinh sản nhưng
vẫn không sử dụng DVYT trước, trong và
sau sinh
Động viên, hỗ trợ, giải thích, tư vấn
Cung cấp, bổ sung thông tin
(1) Chưa hiểu biết đến hiểu biết
Thiếu kiến thức về số lần khám, dịch vụ
khám thai, tác hại của việc không sử dụng
dịch vụ y tế để khám theo dõi trước, trong
và sau sinh
Tìm hiểu vấn đề của đối tượngPhân tích lợi hại của hành viCung cấp thông tin qua nhiều kênh khácnhau
VI.
Trang 14II.4 Tiếp cận và xác định giải pháp
II.4.1 Nguyên nhân, cách tiếp cận và lý giải sự lựa chọn cách tiếp cận
Huyện có tỷ lệ người dân tộc thiểu sốchiếm khá cao (chiếm 70,0%), tỷ lệ
hộ nghèo cao, sự dễ dàng trong tiếpcận với nguồn thông tin của ngườidân chưa cao Do đó việc chủ độngtìm hiểu thông tin sức khỏe còn hạnchế và chưa được ưu tiên quan tâm
Không biết/ chậm nhận ra các dấuhiệu bất thường, không nhận thứcđược mức độ nguy hiểm của các dấuhiệu bất thường, không biết/ khôngnhận thức được tầm quan trọng củacác dịch vụ y tế trong chăm sóc sứckhỏe
Tiếp cận giáodục sức khỏe
Lựa chọn cách tiếp cận giáo dục sẽ cung cấpkiến thức cho PNMT, người chăm sóc cókiến thức, thông tin đủ, đúng về chăm sócSKSS, sức khỏe khi mang thai và nhận biếtdấu hiệu bất thường và những hiểu biết vềcác hậu quả có thể xảy ra khi có các dấu hiệubất thường xảy ra hình thành sự thay đổi tíchcực về thái độ của người dân Từ đó giúp họ
có những phát hiện sớm và đến cơ sở y tếđiều trị kịp thời giảm thiểu tối đa hậu quảxấu có thể xảy ra
Không đi khám thai Do đời sống kinh tế còn khó khăn và Tiếp cận giáo Việc lựa chọn giáo dục sức khỏe sẽ cung cấp
Trang 15Cảm thấy khám thai không phải làvấn đề cần ưu tiên và gây tốn thờigian cũng như tiền của, kinh tế thấpkhông đủ chi trả cho các dịch vụ y tế.
Bị chi phối bởi quan niệm chăm sócsức khỏe trước, trong và sau sinh từphía gia đình, làm theo văn hóa,phong tục của địa phương
Không tin vào chất lượng dịch vụ y
tế, đường xá đi lại khó khăn nên ngại
đi đến cơ sở y tế
dục sức khỏe
truyền thôngthay đổi hànhvi
kiến thức, thông tin đúng, đủ về các hoạtđộng chăm sóc khi mang thai và tầm quantrọng của nó đối với sức khỏe bà mẹ và thainhi để đảm bảo cho cuộc đẻ diễn ra an toàn
Từ đó hình thành sự thay đổi trong thái độ,niềm tin trong việc thực hiện chăm sóc khimang thai về khi sinh hướng đến lựa chọnhành vi có lợi Tiếp cận truyền thông thayđổi hành vi nhằm khuyến khích họ chấpnhận và thực hiện việc sử dụng dịch vụ y tếkhi mang thai và sinh đẻ
Do kinh tế của huyện còn thấp thiếu
cơ sở vật chất cho công tác vậnchuyển trong y tế
Địa hình của địa bàn nhiều núi, nơi ởchủ yếu ở trên núi cao
Sự quan tâm, tham gia từ cộng đồng
để trợ giúp cho phụ sản đến được cơ
Tiếp cận vậnđộng tạo môitrường thuậnlợi
Tiếp cận traoquyền
Tiếp cận vận động tạo môi trường thuận lợinhằm tạo sự quan tâm, ủng hộ và hỗ trợ từphía cộng đồng chung tay với chính quyền,giúp tăng nguồn lực cho công tác tạo điềukiện thuận lợi cho tiếp cận dịch vụ y tế Tiếp cận trao quyền nhằm phát triển cộngđồng giúp họ xác định được nhu cầu trong
Trang 16những yếu tố quyết định sức khỏe và ápdụng các kĩ năng để giải quyết vấn đề sứckhỏe và vấn đề tăng khả năng tiếp cận vớidịch vụ y tế (thành lập nhóm tự lực chuyểntuyến dựa vào cộng đồng).
Tiếp cận vậnđộng tạo môitrường thuậnlợi Tiếp cậngiáo dục sứckhỏe
Tiếp cận này nhằm vận dụng kĩ năng lập kếhoạch, vận động hành lang, thương thuyếtnhằm nâng cao ý thức tinh thần trách nhiệm,tăng cường sự ủng hộ của lãnh đạo, Chínhquyền, ban ngành liên quan, những người có
uy tín trong cộng đồng đối với công tácCSSKBM khiến họ tham gia, đầu tư ngânsách cho công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹtại huyện Từ đó có nguồn vốn cho đào tạocán bộ y tế có chuyên môn đỡ đẻ, CĐTB chonhững vùng có điều kiện đi lại khó khăn vànghèo đói Cải thiện, bổ sung trang thiết bị y
tế cần thiết Nâng cao tính sẵn có, chất lượng
và sự tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
bà mẹ Tiếp cận giáo dục sức khỏe giúp cung
Trang 17cấp kiến thức đầy đủ về chuyên môn sảnkhoa, phát triển kĩ năng kĩ năng cho CBYT,CĐTB nâng cao tay nghề cho họ
khỏe khi mang thai
chưa nhiều, đa dạng
và hiệu quả chưa
Sự phối hợp lồng ghép tư vấn khithực hiện dịch vụ khám chữa bệnhcho người dân chưa đươc triển khaihoặc triển khai không hiệu quả
Do kĩ năng thực hiện truyền thông củađội ngũ nhân viên y tế chưa tốt, thiếukiến thức về chăm sóc SKSS
Năng lực thực hiện công tác tư vấncòn yếu và chưa có sự phối hợp chặtchẽ với cơ quan thông tin đại chúngtrong công tác truyền thông vềCSSKBM-TE, SKSS
Tiếp cận Vậnđộng tạo môitrường thuậnlợi
Tiếp cận traoquyền
Tiếp cận vận động tạo môi trường thuận lợinhằm tạo sự ủng hộ, quan tâm và sự tham giacủa các cơ quan thông tin đại chúng trongcông tác truyền thông về CSSKBM-TE, sứckhỏe sinh sản để khi thực hiện chương trìnhđem lại hiệu quả hơn
Bên cạnh đó, thu hút được sự đầu tư hơn nữacho công tác truyền thông, tư vấn nâng caosức khỏe cho người dân giúp độ bao phủ củachương trình truyền thông rộng hơn và đảmbảo thông tin sức khỏe đến với người dânmột cách dễ dàng và đẩy đủ hơn Ngoài racòn giúp hỗ trợ kĩ năng các cô đỡ thôn bản,CBYT truyền thông trong tư vấn làm côngtác truyền thông
Trao quyền nhằm phát triển cộng đồng ở đây
là nhóm PNMT, người thân của họ Để họ cónhững kiến thức kĩ năng tự chăm sóc SKSS
và sức khỏe khi mang thai đúng cách
Trang 18II.4.2 Giải pháp can thiệp
Thiếu kiến thức,
nhận thức chưa đúng
về chăm sóc SKSS,
sức khỏe khi mang
thai: không biết cách
Cung cấp, trang bị đầy đủkiến thức về những dấuhiệu bất thường trong khimang thai và những hậuquả có thể xảy ra Nhấnmạnh đó là sự cần thiếtgiúp được các bà mẹ khimang thai và người thân cónhững phát hiệm sớm vàkịp thời điều trị
Tổ chức các buổi truyền thông trực tiếp cho phụ nữmang thai và người thân/người chăm sóc phụ nữmang thai
Phát tờ rơi, sách mỏng có hình ảnh dễ hiểu cung cấpkiến thức về CSSKSS như những dấu hiệu bấtthường khi mang thai và hậu quả mà nó gây ra Truyền thông qua loa đài tại địa phương cung cấpcác kiến thức, thông tin về dấu hiệu bất thường khimang thai và hậu quả
Không đi khám thai
Cung cấp, tuyên truyền những kiến thức, thông tin
đủ và đúng về các hoạt động chăm sóc khi mang thai và tầm quan trọng của việc thực hiện các hoạt
Tổ chức buổi nói chuyện, tư vấn cung cấp thông tin cho PNMT và người chăm sóc PNMT biết về các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe khi mang thai và lợi ích của chúng đối với sức khỏe của bà mẹ và thai nhi
Trang 19Nguyên nhân Cách tiếp cận Giải pháp Các hoạt động
điểm, thái độ chưa đúng vềchăm sóc sức khỏe khi mang thai và sinh con
Khuyến khích, động viên PNMT và người thân, người chăm sóc tìm đến và
sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở
y tế
Tổ chức các buổi chia sẻ, truyền thông động viên khuyến khích tại nhà, xóm về sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế cho PNMT với
sự trợ giúp của CĐTB
Truyền thông qua loa đài tại đại phương cung cấp tầm quan trọng của việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế đúng lúc, kịp thời đồng thời khuyến khích PNMT, người thân/người chăm sóc sử dụng các dịch vụ y tế để hỗ trợ
Vận động các bên liênquan, ban ngành, tổ chứcủng hộ, tham gia và hỗ trợ
về nguồn lực cho công tácchăm sóc sức khỏe Cungcấp kiến thức, kĩ năng đầy
đủ về sản khoa cho CBYT,CĐTB nhằm nâng cao taynghề cho họ
Tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng choCBYT về thai sản có tổ chức thực hành
Vận động các bên liên quan, các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ về nguồn lực: thiết bị y tế cần thiết , thuốc thiết yếu
Vận động sở y tế tỉnh thực hiện thêm các lớp đào tạođội ngũ CĐTB trong mô hình CCĐTB tại huyện và vận động sự hỗ trợ về ngân sách cho việc duy trì môhình
Chương trình truyền
thông, dịch vụ tư
vấn giáo dục sức
Tiếp cận vận độngtạo môi trường thuậnlợi Tiếp cận trao
Tăng kĩ năng tư vấn truyềnthông cho CBYT, CĐTB
Bổ sung, củng cố tài liệu
Phối hợp với cơ quan thông tin đại chúng trong côngtác truyền thông về chăm sóc SKBM-TE, sức khỏesinh sản trong công tác truyền thông
Trang 20Nguyên nhân Cách tiếp cận Giải pháp Các hoạt động
và chăm sóc sức khỏe khimang thai từ đó xác địnhđược nhu cầu sức khỏe củamình tự mình ra nhữngquyết định và thực hiệnnhững hành vi có lợi chosức khỏe và duy trì nó
Tổ chức tập huấn nâng cao kĩ năng tư vấn cho CBYT và CĐTB
Lồng ghép tư vấn chăm sóc cho PNMT trong các buổi khám sức khỏe định kỳ
Tổ chức các buổi thăm hỏi, trò chuyện, tư vấn cho những gia đình có PNMT
Tổ chức văn nghệ có lồng ghép các thông tin, hành
vi đúng về chăm sóc sức khỏe cho PNMT tại nhà văn hóa thôn/bản
Xin các tài liệu truyền thông từ TTYT, CSYT lân cận và chỉnh sửa cho phù hợp với địa phương và tặng cho người dân kèm vào các hoạt động
Lồng ghép chương trình về SKSS/SKBM-TE: “ LÀM MẸ AN TOÀN – LÀM NÊN HẠNH PHÚC” trong các ngày hội của địa phương với nhiều hoạt động: thi văn nghệ, thi hỏi đáp, đố vui
Vận động các bên liên quan, các ban ngành, người có uy tín có sự quan tâm, hỗ trợ thực hiện các
dự án, hoạt động giúp tăngnguồn lực cho chăm sóc
Vận động lãnh đạo huyện, ban ngành liên quan quyết định tiến hành triển khai mô chuyển tuyến dựavào cộng đồng” tại huyện
Xây dựng “Mô hình chuyển tuyến dựa vào cộng đồng” tại huyện
Trang 21Nguyên nhân Cách tiếp cận Giải pháp Các hoạt động
Từ việc nâng cao kiến thức, nhận thức và kĩ năng phát hiện nhu cầu và vấn
đề ưu cùng các bên liên quan tổ chức và phát triển tính tự lực vào thực hiện giải quyết vấn đề của cộngđồng mình đang sống
Thành lập các nhóm tự lực tại các thôn/bản trong huyện : “Nhóm chuyển tuyến dựa vào cộng đồng” thành viên lòng cốt của nhóm là người đứng đầu thôn/bản, CĐTB, trưởng ban hội phụ nữ,người dân
ưu tiên là người thân của PNMT
Tổ chức các buổi tập huấn kiến thức,các kỹ năng (làm mẹ an toàn, nhận biết các dấu hiệu tai biến từ quá trình mang thai cho đến khi thai phụ chuyển dạ,
đẻ và sau đẻ; những kiến thức cơ bản trong việc vận chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế)
Tổ chức các buổi tập huấn thực hành tư vấn, vận chuyển bệnh nhân cho nhóm và đưa vào hoạt động
II.4.3 Bảng lý giải hoạt động can thiệp
Ccác hoạt động cụ thể Lý giải hoạt động
Vận động lãnh đạo huyện, ban ngành
liên quan quyết định tiến hành triển
khai mô hình chuyển tuyến dựa vào
Trang 22hình này Bên cạnh đó cũng tạo sự ủng từ các bên để thực hiện chương trình thì tạo được sự hỗ trợ từ các bên liên quan là điều vô cùng quan trọng
Thành lập các nhóm tự lực tại các thôn
bản trong huyện : Nhóm chuyển tuyến
dựa vào cộng đồng thành viên lòng cốt
của nhóm người đứng đầu thôn, CĐTB,
người dân sinh sống tại thôn/bản
Sau khi đã xây dựng kế hoạch thực hiện thì tiến hành triển khai trên địa bàn việc thành lập nhóm tự lực “ Chuyển tuyến dựa vào cộng đồng”
(khoảng 7-8 thành viên) là bước quan trọng của chương trình đây cũng
là hoạt động chính trong phát triển cộng đồng Thành viên trong nhóm chính là người dân sinh sống tại địa bàn cùng sử dụng ngôn ngữ, cùng
có tập quán văn hoá nên dễ tiếp cận với bà con để triển khai công tác chăm sóc SKSS Nhóm tự lực này sẽ có nhiệm vụ thực hiện công tác tuyên truyền, vận động người dân nắm được nội dung về chăm sóc SKSS Cùng với đó, đội chuyển tuyến cũng thực hiện nhiệm vụ vận động chị em có thai đi khám thai định kỳ, phát hiện những trường hợp
có dấu hiệu tai biến khi mang thai, tai biến khi sinh, phối hợp với gia đình đưa người bệnh đến các cơ sở y tế kịp thời Từ đó giúp cho người dân sống trong địa bàn thay đổi về kiến thức, nhận thức xác định được nhu cầu cần thiết cho sức khỏe và thực hiện,duy trì những hành vi có lợicho sức khỏe, tham gia chia sẻ kinh nghiệm hoạt động và nhân rộng môhình để giải quyết vấn đề sức khỏe của cộng đồng mình
Vận động các bên liên quan, các tổ
chức phi chính phủ hỗ trợ về nguồn lực:
thêm CBYT, cung cấp thiết bị y tế cần
thiết , thuốc thiết yếu
Huyện Mường Nhé có 170 cán bộ y tế nhưng số cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng chỉ có 30 người Đặc biệt hiện nay cả Trung tâm Y tế huyện Mường Nhé với hơn 50 giường bệnh và phải làm nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho hơn 3,5 vạn dân nhưng chỉ có 20 bác sỹ trong
đó chỉ có 4 BS CK1, 16 BS đa khoa Còn 11 trạm y tế của Mường Nhé, chỉ có trạm y tế xã Sen Thượng đạt chuẩn quốc gia với 1 bác sỹ đa khoa của trạm, còn lại đều chưa đạt [20] Chất lượng của công tác chăm sóc sức khỏe và cung cấp dịch vụ y tế cho bà mẹ và trẻ sơ sinh tại huyện vẫn còn thấp Một trong những nguyên nhân gây ra TVM là do chậm chăm sóc và điều trị thích hợp do thiếu CBYT tại thời điểm đó, không
có sẵn thiết bị, máy móc, thuốc cần thiết do đó không đáp ứng kịp thời nhu cầu của bệnh nhân Chính vì thế cần phải làm vận động để thay đổi
Trang 23thái độ, nhận thức của họ từ đó thúc đẩy họ đưa ra những quyết định nhằm tăng cường chất lượng dịch vụ y tế bên cạnh đó vận động sự hỗ trơ của tổ chức phi chính phủ là điều quan trọng không kém để có thêm được nguồn đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe.
Vận động sở y tế tỉnh thực hiện thêm
các lớp đào tạo đội ngũ CĐTB trong
mô hình CCĐTB tại huyện và vận động
sự hỗ trợ về ngân sách cho việc duy trì
mô hình
Mô hình cô đỡ thôn bản đã được triển khai từ lâu tại nhiều nơi trên cả nước phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ Tại tỉnh Điện Biên, chương trình đào tạo cô đỡ thôn bản do Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh triển khai đã đi vào hoạt động 5 năm kể từ năm 2009,giúp giải quyết những khó khăn trong việc đỡ đẻ tại nhà và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa Tới nay, toàn tỉnh có hơn 110 cô đỡ/1.725 thôn Tuy nhiên số CĐTB có tại tỉnh còn ít so với nhu cầu phủ khắp mạng lưới CĐTB trong toàn tỉnh Làngười địa phương, về hoạt động ngay tại thôn mình sinh sống nên CĐTB luôn được người dân tin tưởng bên cạnh đó còn là lực lượng nòng cốt trong công tác truyền thông Có thể khẳng định, mô hình CĐTB người dân tộc thiểu số phù hợp với nhu cầu thực tế tại các huyện đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa CĐTB đã góp phần tác động trực tiếp đến việc thay đổi hành vi của người dân trong thôn, đặc biệt là các đối tượng phụ nữ trong việc khám thai và đến đẻ tại cơ sở y tế.Do đó cần vận động Sở y tế tỉnh để có thể mổ rộng mô hình hơn nữa đáp ứng nhu cầu của người dân trong chăm sóc sức khỏe Bên cạnh đó cần có những chế độ đãi ngộ hợp lý cho các cô đỡ thôn bản Có như vậy thì mới khuyến khích được nhiều người có trình độ tình nguyện cống hiến nhiệt tình cho công việc thầm lặng, vất vả này và duy trì mô hình
Phối hợp với cơ quan thông tin đại
chúng trong công tác truyền thông về
chăm sóc sức khỏe BM-TE, sức khỏe
sinh sản trong công tác truyền thông
Việc phối hợp với cơ quan quan thông tin đại chúng trong công tác truyền thông về chăm sóc sức khỏe BM-TE, sức khỏe sinh sản sẽ giúp cho công tác truyền thông của chương trình được diễn ra thuân lợi hơn nhờ có sự hỗ trợ về kĩ năng chuyên môn bên cạnh đó hỗ trợ trong công tác thực hiện truyền thông được hiệu quả và đến được nhiều người hơn
Trang 24Tổ chức các buổi tập huấn kiến thức,
các kỹ năng (làm mẹ an toàn, nhận biết
các dấu hiệu tai biến từ quá trình mang
thai cho đến khi thai phụ chuyển dạ, đẻ
và sau đẻ; những kiến thức cơ bản trong
việc vận chuyển bệnh nhân đến cơ sở y
tế)
Sau khi thành lập các đội chuyển tuyến, tổ chức cho các thành viên trong nhóm được tập huấn kiến thức, kĩ năng chăm sóc SKSS nhằm xây dựng nền tảng kiến thức, kĩ năng vững chắc phụ vụ cho công tác hoạt động của nhóm diễn ra đảm bảo và hiệu quả nhất
Tổ chức các buổi tập huấn thực hành và
đưa vào hoạt động
Thử nghiệm để đảm bảo khi đi vào hoạt động thực tế mô hình diễn ra hiệu quả và không có sai sót đáng tiếc Thực hiện và duy trì hoạt động
để luôn phát huy tối đa công suất và hiệu quả góp phần giảm thiểu TVM
Tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức,
kỹ năng cho CBYT, CĐTB về sản khoa
và đỡ đẻ có tổ chức thực hành
Do kĩ năng chuyên môn về sản khoa, đỡ đẻ của CBYT, CĐTB chưa được tốt do đó không đáp ứng được khi có các tình huống xảy ra trong quá trình mang thia, sinh đẻ của PNMT dẫn đến TVM vì vậy cần phải nâng cao tay nghề cho CBYT, CĐTB để giảm các trường hợp TVM bêncạnh đó tăng chất lượng của dịch vụ y tế giúp tăng tính tiếp cận với dịch
vụ y tế của người dân
Tổ chức tập huấn nâng cao kĩ năng tư
vấn cho CBYT, CĐTB về chăm sóc
SKSS, khi mang thai
Khoảng 27,7% (tương ứng với 83 bà mẹ) trong tổng số 300 bà mẹ được hỏi cho biết họ không nhận được bất cứ tư vấn hay hướng dẫn kiến thức
gì liên quan đến mang thai từ TYT xã khi đến khám thai cũng như từ các hoạt động truyền thông nói chung [20] CBYT, CĐTB mặc dù đã cókiến thức, kĩ năng trong chăm sóc SKSS và chăm sóc SKBM-TE tuy nhiên do không có kĩ năng tư vấn tốt nên công tác truyền thông nâng cao kiến thức, nhận thức và kĩ năng cho cộng đồng chưa hiệu quả trong khi đó CBYT, CĐTB là những nguồn thông tin chủ lực và tác động mạnh mẽ nhất đến người dân Đặc biệt trong công tác khuyến khích, vận động người dân tìm đến cơ sở y tế để nhận được sự chăm sóc tốt nhất
Xin các tài liệu truyền thông từ TTYT,
CSYT lân cận và chỉnh sửa cho phù
hợp với địa phương và tặng cho người
Truyền thông sức khỏe đến người dân là điều không thể thiếu trong các chương trình nâng cao sức khỏe của người dân để thực hiện truyền thông hiệu quả thì tài liệu truyền thông là thứ không thể thiếu Để có
Trang 25dân kèm vào các hoạt động
được buổi truyền thông có chất lượng nội dung của tài liệu truyền thôngcần phải có tính phù hợp, mới mẻ và nội dung đầy đủ dễ hiểu để có thể đáp ứng đặc thù văn hóa, xã hội của địa phương Do huyện Mường Nhé
là huyện mà trình độ dân trí chưa cao và có nhiều người dân tộc thiểu sốsinh sống với những phong tục tập quán riêng do đó tài liều truyền thông cần phải phù hợp với văn hóa, dân trí của người dân để họ có thể tiếp nhận thông tin một cách thoải mái, hứng thú và dễ dàng nhất đem lại hiệu quả cho chương trình truyền thông
Lồng ghép tư vấn chăm sóc cho PNMT
trong các buổi khám sức khỏe
Nhằm đa dạng hóa các phương thức truyền thông truyền tải được thông tin sức khỏe đến người dân nhiều nhất có thể Bên cạnh đó tiết kiệm thời gian cho người dân và cũng giúp người dân có sự lựa chọn đúng đắn trong chăm sóc sức khỏe tăng tính tiếp cận với dịch vụ y tế của họ
Tổ chức văn nghệ có lồng ghép các
thông tin, hành vi đúng về chăm sóc
sức khỏe cho PNMT tại nhà văn hóa
thôn/bản
Nhằm đa dạng hóa các phương thức truyền thông truyền tải được thông tin sức khỏe đến người dân nhiều nhất có thể Trong đó việc lồng ghép như vậy có lợi cho chương trình khi có được sự tham gia nhiệt tình, hứng thú hơn với nội dung truyền thông từ phía người dân
Lồng ghép chương trình về
SKSS/SKBM-TE: “ LÀM MẸ AN
TOÀN – LÀM NÊN HẠNH PHÚC”
trong các ngày hội của địa phương với
nhiều hoạt động: thi văn nghệ, thi hỏi
đáp, đố vui
Trong ngày lễ hội của địa phương người dân sẽ tham gia nhiều việc thựchiện lồng ghép giúp tiết kiệm thời gian và đầu tư nguồn lực Tạo sự hứng thú, nhiệt tình tham gia của người dân qua các hoạt động vui tươi
bổ ích không chỉ có được các kiến thức về chăm sóc SKSS và
SKBME-TE mà còn giúp họ chủ động cởi mở hơn trong việc tìm hiểu thông tin Chương trình sẽ được tổ chức vào ngày 7/5- là ngày lễ lớn quan trọng nhất của tỉnh có ý nghĩa quốc gia sâu sắc được tổ chức vào ngày 7 tháng
5 hàng năm và được tổ chức rất long trọng vào những năm chẵn, năm tròn
Truyền thông qua loa đài tại địa phương
cung cấp các kiến thức,kĩ năng về chăm
sóc SKSS, sức khỏe khi mang thai
Người dân phải mất ít nhất từ trên 30 phút – trên 90 phút đi từ nhà tới TYT xã lại chủ yếu rơi vào hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số (Mông và Thái) và đang sinh sống tại huyện Mường Nhé Do địa hình đilại khó khăn, bận việc người dân và sống không tập chung mà rải rác tạicác nơi do đó người dân không thường xuyên đến các địa điểm tập chung của các buổi truyền thông tư vấn trực tiếp vì thế truyền thông qualoa đài là một cách truyền tải thông tin đến người dân một cách rộng rãi
Trang 26giúp tăng tính tiếp cận với thông tin sức khỏe của người dân.
Phát tờ rơi, sổ tay, tài liệu sách mỏng có
hình ảnh dễ hiểu cung cấp kiến thức, kĩ
năng về CSSKSS, sức khỏe khi mang
thai và giải thích cho đối tượng hiểu
Để chương trình truyền thông sức khỏe với người dân được hiệu quả với
độ bao phủ cao thì sự đa dạng về các tài liệu truyền thông là điều cần thiết vì chúng sẽ phù hợp với từng đối tượng, hoàn cảnh của người tiếp nhận Việc phát tờ rơi, sổ tay, tài liệu sách mỏng có hình ảnh dễ hiểu sẽ giúp đối tượng hứng thú tiếp nhận dễ dàng thuận tiện và lưu giữ được lâu Là các sản phẩm truyền thông hữu hiệu trong các buổi tư vấn, hướng dẫn và trong các chương trình hỗ trợ cho việc cung cấp kiến thức, kĩ năng đến người dân góp phần tạo nên thành công cho các hoạt động đó
Tổ chức buổi nói chuyện, tư vấn tại nhà
dân, tại nhà văn hóa cung cấp thông tin
cho PNMT, Người chăm sóc PNMT
biết về CSSKSS, sức khỏe khi mang
thai
Theo ý kiến phản hồi của bà mẹ thì hình thức truyền thông trực tiếp được đa số bà mẹ lựa chọn ở mức ưu tiên thứ nhất (chiếm 40,0%)
Người dân mong muốn được truyền thông trực tiếp nhiều hơn, tại bản
và vào buổi tối, tổ chức tập trung để mọi người cùng trao đổi [20] Tư vấn trực tiếp qua buổi thảo luận, nói chuyện nhóm, cá nhân tại nhà dân, nhà văn hóa là điều quan trọng trong việc truyền tải thông tin sức khỏe,
kĩ năng chăm sóc sức khỏe cho đối tượng do trình độ dân trí thấp người dân có thể không tiếp thu hết được nội dung từ các phương tiện truyền thông đại chúng Bên cạnh đó việc nói chuyện trực tiếp sẽ giúp người dân cởi mở hơn tạo sự tương tác giữa người thực hiện hướng dẫn với người tiếp nhận Tăng tính tự chủ, tự tin hơn cho các đối tượng Ngoài
ra việc tư vấn trực tiếp tại nhà khi người dân không thể đi đến nơi tập chung giúp tăng tính tiếp cận với thông tin sức khỏe, tạo sự tin tưởng của người dân