1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ và công tác khai thác bảo hiểm nhân thọ.

33 811 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ và công tác khai thác bảo hiểm nhân thọ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm Nhân Thọ
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản N/A
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 48,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1583 hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới ra đời, do công nhân Luân Đôn là ông William Gybbonmột thuyền trởng đã nảy ra ý kiến yêu cầu công ty bảo hiểm phi nhân thọ đangbảo hiểm con

Trang 1

Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ và công tác khai thác bảo hiểm nhân thọ.

Nớc Anh đợc xem là cái nôi của ngành BHNT Năm 1583 hợp đồng BHNT

đầu tiên trên thế giới ra đời, do công nhân Luân Đôn là ông William Gybbon(một thuyền trởng) đã nảy ra ý kiến yêu cầu công ty bảo hiểm phi nhân thọ đangbảo hiểm con tàu và hàng hoá của ông hãy bán bảo hiểm sinh mạng cho mình.Lúc bấy giờ loại hình bảo hiểm này còn xa lạ và cha một ai biết đến, công ty bảohiểm cũng rất ngạc nhiên về lời đề nghị này, song để làm hài lòng khách hàng

họ đã đồng ý, phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chếttrong năm đó, ngời thừa kế của ông đợc hởng 400 bảng Anh

Năm 1669, Công ty bảo hiểm tơng hỗ đầu tiên là Hội BHNT và hu trí, hộinày do các nhà buôn bán vải thành lập Nhng chỉ ít năm sau đó đã bị thất bại,chìm đắm trong nợ nần

Sản phẩm BHNT trong giai đoạn mới thành lập đợc bán một cách rộng rãi

và không tính toán Ngời mua bảo hiểm cho nhau và tìm cách hại nhau để kiếmtiến bồi thờng Vì lý do đó, năm 1740, Chính phủ Anh đã tập hợp các Công tybảo hiểm trên toàn quốc, ra chỉ thị bán bảo hiểm nhất thiết phải căn cứ vào "quyền lợi bảo hiểm", tức là ngời chủ hợp đồng và ngời đợc bảo hiểm phải cómối quan hệ ruột thịt, hôn nhân hay bảo hộ hợp pháp

Trong số các công ty bảo hiểm Anh thời đó, có một công ty tên là Công tyBHNT Luân Đôn Với cách kinh doanh cẩn trọng hơn, công ty đã hạn chế đợc

số khách hàng và số tiền mua bảo hiểm Năm 1725 họ biết hớng dẫn đại lý của

họ tiếp xúc trực tiếp với ngời đợc bảo hiểm, nhận dạng khách hàng và hỏi mộtcâu hỏi duy nhất về tình trạng sức khoẻ là: " Ông bà có bị bệnh đậu mùa lần nàocha?" Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì đó là thời kỳ xuất hiệnmột trận dịch đậu mùa làm cho cả trăm ngàn ngời ở Châu Âu thiệt mạng, còncác công ty bảo hiểm thì sạt nghiệp vì chi trả

Trang 2

Tại Mỹ, năm 1759 Hội BHNT tơng hỗ do hội nghị tôn giáo của các nhàthờ đề nghị đợc thành lập, tuy nhiên họ chỉ hạn chế bán các hợp đồng BHNTcho các con chiên trong nhà thờ của tín đồ Presbyterian nên không đáp ứng đợcnhu cầu tham gia của toàn xã hội.

Phải đến khi các Công ty bảo hiểm tơng hỗ của Anh nghiên cứu đợc tỷ lệchết thực tế cho từng lứa tuổi khác nhau để biết rủi ro thực tế của từng độ tuổi vàkhoa học thẩm định, khoa học tính phí ra đời thì bảo hiểm nhân thọ mới thực sựhoạt động trên nguyên tắc khoa học và phát triển rộng rãi

Năm 1774, Vua Anh là Georges III đã chính thức cho phép hoạt độngBHNT Đến năm 1782, ở Anh đã có 3000 bản hợp đồng BHNT chính thức đợcphát hành

Tại Pháp, Công ty BHNT Hoàng gia đợc thành lập năm 1787

Đầu thế kỷ 19, vào khoảng năm 1809 tại Bắc Mỹ, Công ty BHNTPennsylvania thuộc tiểu bang Philadelphia, bắt đầu dùng hồ sơ yêu cầu BHNTcho khách hàng điền khi muốn mua BHNT, thay vì dùng sổ cái để theo dõikhách hàng nh thủa ban đầu Ngoài ra, công ty này yêu cầu khám sức khoẻ khimuốn mua bảo hiểm Đây là chuyển biến lớn trong BHNT nói chung

Năm 1823, Công ty BHNT bệnh viện Massachusettes tại Boston, tiểubang Massachusettes đã thiết kế ra quyển sổ tay tính phí Nhờ quyển sổ tay concon này mà các Đại lý thời đó có thể đi khắp nơi xa xôi hẻo lánh để bán BHNT.Quyển sổ tay vẫn còn đợc xem là " bửu bối" của các đại lý ngày nay

Năm 1844 đánh dấu một bớc quan trọng trong ngành BHNT, khichứng kiến việc khách hàng mua bảo hiểm nhân thọ muốn ngng hợp đồng giữachừng những không đợc công ty bảo hiểm nào trả tiền cho họ, ông ElizurWright, nhà tính phí ngời Mỹ đã cho răng điều này không công bằng Từ đó ôngnghĩ ra một công thức toán học tính phí giá trị giải ớc để hoàn lại phí cho kháchhàng một cách hợp lý

Đối với nhà nớc Mỹ, nền kinh tế chỉ có thể phát triển khi các công tybảo hiểm tồn tại Họ chủ trơng rằng mua BHNT phải là một sự mua bán lâu dài,năm, mời, mời lăm, hai mơi năm, hay suốt cuộc đời của ngời khách hàng Nếumọi khách hàng đều muốn rút tiền về sớm thì công ty bảo hiểm không thể hoạt

động và tồn tại lâu năm, và tình hình kinh tế nớc Mỹ cũng không thể phát triển

đợc Do đó, họ chấp nhận khái niệm " giá trị giải ớc" của ông Wright và cho ápdụng cách tính này Theo đó, nếu khách hàng ngng hợp đồng càng sớm thì sốtiền nhận lại càng ít

Trang 3

Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential của Anh đ ợc thành lập năm

1853 và là công ty đi đầu trong công nghiệp bảo hiểm Và thực tế cho đến naycông ty này vẫn đang phát triển lớn mạnh trên rất nhiều nớc trên thế giới

Ngành BHNT thực sự trở thành một nhu cầu lớn tại các n ớc đã và

đang phát triển ở châu á, Nhật Bản là nớc có công ty bảo hiểm nhân thọ đầutiên hoạt động dới hình thức kinh doanh là Công ty Meji Sau 7 năm độc quyền

ở Nhật Bản, đến năm 1889, hai Công ty bảo hiểm lớn ra đời là Công ty BHNTTeikoku và Nippon

Các Công ty BHNT của Anh và Nhật đóng vai trò quan trọng trongviệc phát triển BHNT ở các nớc Châu á khác Ví dụ ở Triều Tiên, các Công tyBHNT của Anh hoạt động ỏ hầu hết trên khắp đất nớc, cho đến năm 1905 thìNhật Bàn giành lại hoàn toàn quyền quản lý BHNT trên đất nớc Triều Tiên.Công ty BHNT SIM đợc thành lập năm 1929, là Công ty duy nhất do ngời TriềuTiên quản lý Đến những năm 60, nền công nghiệp BHNT hiện đại của TriềuTiên thực sự bắt đầu phát triển

Tại Singapore, các Công ty BHNT của Anh đóng vai trò chính trongviệc phát triển kinh doanh BHNT, Công ty BHNT trong nớc của Singapore ra

đời năm 1908, công nghiệp BHNT của Singapore thực sự phát triển vào năm1965

Nh vậy, BHNT ở trên thế giới ra đời từ rất lâu và nó trở thành mộtngành dịch vụ không thể thiếu đợc trong cuộc sống của mỗi ngời dân

Mặc dù BHNT ra đời muộn hơn so với nhiều loại hình bảo hiểm khácnhng nó đã nhanh chóng giữ một vị trí quan trọng trong lĩnh vực bảo hiểm Thực

tế hoạt động và kết quả triển khai BHNT ở các nớc đã chứng tỏ vị trí quan trọngcủa các sản phẩm BHNT trên thị trờng Hiện nay tham gia BHNT là một nhucầu tất yếu của nhân dân các nớc đang phát triển, đặc biết là ở Châu á Một sốnớc có nền kinh tế phát triển nh Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông BHNT giữmột vị trí trọng yếu trong nền kinh tế Thị phần BHNT trong một số thị tr ờng t-

ơng đối lớn, thể hiện ở tỷ lệ doanh thu phí BHNT so với phí thu của toàn ngànhbảo hiểm Theo thống kê năm 1992 của tạp chí Signa ( Thuỵ Sỹ), doanh thu phínghiệp vụ BHNT thế giới là 1466 tỷ USD, trong đó phí BHNT chiếm 52,4%.Tuy nhiên sự phát triển của BHNT rất không đồng đều Nếu nh ở Châu Mỹ - LaTinh, phí BHNT rất thấp, chỉ chiếm 21,4%, thì ở Châu Âu đạt tỷ lệ cân đối trongkhoảng từ 41,8% - 49% Tỷ lệ phí BHNT ở Châu Đại Dơng là 52,3% của toàn

bộ nghiệp vụ bảo hiểm

Trang 4

Tốc độ phát triển của nghiệp vụ BHNT trên thế giới không ngừng tăng

v-ợt hơn so với nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ Tỷ lệ phí BHNT năm 1993 đãlên tới 53% toàn bộ nghiệp vụ Đến năm 1995 thì tổng số phí BHNT đạt con số

kỷ lục là 1236,6 tỷ USD trong tổng số 2143,4 tỷ USD, tơng đơng với 57,7% tổng

số phí bảo hiểm gốc

Cũng theo thống kê của tạp chí Signa ( Swiss Re) năm 1995 ngời NhậtBản chi tiêu nhiều nhất về bảo hiểm : 5008 USD/ ngời, trong đó BHNT chiếm80,1%, Thuỵ Sỹ theo sau Nhật Bản với 4057 USD/ ngời Phần lớn các nớc côngnghiệp đạt mức chi bảo hiểm đầu ngời cao, từ 1200- 2400 USD/ ngời Mức chibình quân đầu ngời cho BHNT là hệ quả của sự kết hợp giữa mức sống cao hơn

và tỷ trọng lớn hơn của ngành BHNT trong mối tơng quan với toàn nền kinh tế

Sở dĩ có đợc kết quả nh vậy là do việc sử dụng rộng rãi BHNT nh là một phơngtiện đầu t tài chính và dự trữ cá nhân

Bảng 1: Phí bảo hiểm nhân thọ bình quân đầu ngời ở một số nớc Châu á năm

1995.

Tên nớc Phí bảo

hiểm / ngời(USD)

PhíBHNT /ngời (USD)

Phí BHNT/

phí bảohiểm (%)

PhíBHPNH/

ngời (USD)

PhíBHPNT/Phí bảohiểm (%)

( Nguồn: Tạp chí Signa- SwissRe số 268 năm 1995)

Cho đến năm 1998 thì đã có 5 thị trờng BHNT lớn nhất thế giới là Nhật,Anh, Mỹ, Pháp và Đức Theo số liệu thống kê năm 1998 phí BHNT của 5 thị tr-ờng này đợc thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2: Cơ cấu phí BHNT của 5 thị trờng lớn nhất thế giới năm 1993.

Tên nớc

Tổng doanhthu phí bảohiểm (USD)

Cơ cấu phí bảo hiểm (%)

Thị phần thếgiới(%)Nhân thọ Phi nhân thọ

Trang 5

Kể từ khi ra đời, BHNT phát triển rất nhanh Theo số liệu thống kê năm

2001, doanh thu phí BHNT đã vợt xa doanh thu phí BHPNT, mức tăng trởng kỷlục lại diễn ra ở Châu á và Châu Phi Cụ thể ta có bảng sau:

Bảng 3: Cơ cấu phí BHNT và BHPNT theo khu vực năm 2001.

STT Khu vực Cơ cấu phí bảo hiểm (%)

( Nguồn: Bản tin thị trờng bảo hiểm năm 2001)

Cụ thể nhìn vào bảng trên ta thấy, ở Châu á doanh thu phí BHNT chiếm75% trong tổng doanh thu phí, trong khi đó doanh thu phí BHPNT chỉ chiếm tới25% Tại Châu phi doanh thu phí BHNT lên tới 71% trong tổng doanh thu phítoàn ngành bảo hiểm, còn doanh thu phí BHPNT chỉ chiếm tới 29% Trên góc

độ toàn thế giới nói chung, doanh thu phí BHNT chiếm 57% trong tổng doanhthu phí toàn ngành bảo hiểm , trong khi đó, doanh thu phí BHPNT chiếm 43%

Điều này có thể cho chúng ta thấy rõ mặc dù ra đời sau bảo hiểm phi nhân thọnhng nó lại có tiềm năng phát triển và có doanh thu lớn hơn hẳn BHPNT trêntoàn thế giới

Nh vậy, ngày nay lợi nhuận và những lợi ích xã hội mà BHNT manglại đã tạo cho nó chỗ đứng vững vàng trong nền kinh tế xã hội Các công ty bảohiểm đã có mặt ở hầu hết các nớc trên thế giới và nhiều sản phẩm ngày càng đadạng và hoàn hảo hơn Kỹ thuật tính toán và các phần mềm máy tính ứng dụngcũng nh các dịch vụ đi kèm sản phẩm ngày càng hoàn thiện

BHNT từng bớc trở thành nhu cầu thiết thân đối với mỗi ngời dân

Ng-ời ta đã thống kê đợc ở Nhật Bản và ở Mỹ cứ 10 ngNg-ời dân thì có 9 ngNg-ời muaBHNT, ở Singapore cứ 10 ngời dân thì có 5 ngời tham gia BHNT, ở Indonesia,một nớc có nền kinh tế xã hội gần giống với Việt Nam, cũng có 10% số hợp

đồng BHNT

Bảo hiểm nhân thọ đã xuất hiện ở Việt Nam từ cuối những năm 80, nhng

sự kém phát triển của nền kinh tế và sự không ổn định của đồng tiền trong thờigian đó đã không cho phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này Cụ thể:

Năm 1987, Bảo Việt đã tổ chức nghiên cứu đề tài " Lý thuyết về BHNT và

sự vận dụng thực tế vào Việt Nam" đã đợc Bộ Tài Chính công nhận là đề tài cấp

Trang 6

bộ Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu phân tích các điều kiện triển khai BHNT

ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế- xã hội cuối thập kỷ 80 Việc triển khaiBHNT ở Việt Nam phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà vào những nămcuối thập kỷ 80 ở Việt Nam cha có đợc:

- Tỷ lệ lạm phát lúc đó rất cao và cha ổn định

- Thu nhập của nhân dân thời gian đó rất thấp Hơn thế nữa, tỷ lệ lạmphát cao nên thu nhập của đa số nhân dân chỉ đủ để chi tiêu cho những nhu cầutối thiểu thờng ngày, phần giành ra để tiết kiệm rất ít

- Phí bảo hiểm thu đợc vẫn cha có điều kiện đầu t phát triển Công ty bảohỉêm lúc đó cha đợc phép sử dụng phí bảo hiểm đi đầu t, môi trờng đầu t chaphát triển

- Cha có những quy định mang tính chất pháp lý để điều chỉnh mối quan

hệ giữa Công ty bảo hiểm và khả năng thanh toán của các công ty này

Với những phân tích trên, việc vận dụng đề tài này chỉ dừng lại ở mức độtriển khai bảo hiểm sinh mạng cá nhân có thời hạn 1 năm( bắt đầu triển khai từtháng 2/ 1990) So với loại hình bảo hiểm con ngời trớc đây thì phạm vi bảohiểm đã đợc mở rộng ( chết do mọi nguyên nhân) Tuy nhiên, thực tế triển khaibảo hiểm sinh mạng cá nhân cho thấy:

- Việc lo xa cho gia đình khi không may ngời chủ gia đình bị mất đi, màchỉ tính đến trong vòng một năm là không hấp dẫn Tâm lý ngời tham gia loạihình bảo hiểm này không thoải mái Do đó, loại hình bảo hiểm này chỉ đáp ứng

đợc nhu cầu tham gia của những ngời già

- Mọi ngời đều thắc mắc sau 5, 10 năm sau tham gia bảo hiểm mà không

có rủi ro nào thì có nhận lại đợc gì không?

Đến thời kỳ đổi mới, nền kinh tế đã có những b ớc phát triển đáng kể,tiền tệ ổn định, tỷ lệ lạm phát đã đợc kiểm soát, đời sống nhân dân càng đợcnâng cao, đã tạo điều kiện thuận lợi cho bảo hiểm nhân thọ hình thành và pháttriển ở Việt Nam

Với thực tế trên, cùng với việc đánh giá các điều kiện kinh tế - xã hội ViệtNam trong những năm đầu thập kỷ 90, Bảo Việt đã bắt đầu tiến hành nghiên cứutriển khai BHNT vào cuối năm 1993

Ngày 20/3/1996, Bộ Tài Chính đã ký quyết định cho phép Bảo Việt triểnkhai hai loại hình BHNT đầu tiên ở Việt Nam là BHNT có thời hạn 5, 10 năm vàBảo Hiểm trẻ em

Trang 7

Ngày 22/6/1996, Bộ Tài Chính đã ký Quyết định số 568/QĐ/TCCB cho phépthành lập công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt Sự kiện đó đã đánh dấu một bớcngoặt mới của ngành BHNT Việt Nam.

Tháng 8/1996 những đơn bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đã suất hiện trongnhân dân, bớc đầu còn bỡ ngỡ nhng nhờ sự hoạt động tích cực của mạng lới đại

lý và nhờ sự đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phơng tiện thông tin đạichúng, sự hiểu biết của nhân dân về bảo hiểm nhân thọ từng bớc đợc nâng cao.Bên cạnh đó nhờ sự nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nớc, môi trờng pháp lýthông thoáng cũng dần đợc hình thành, tạo điều kiện thu hút các nhà đầu t nớcngoài vào Việt Nam

Trớc đây những năm 1996 đến 1999 chỉ có một mình công ty Bảo Việttrên thị trờng bảo hiểm Việt Nam, nhng đến nay trên thị trờng bảo hiểm ViệtNam đã có rất nhiều công ty kinh doanh BHNT Tính đến thời điểm này, thị tr-ờng BHNT Việt Nam đã có tất cả là 8 công ty BHNT đang hoạt động trong đóchỉ có một doanh nghiệp Nhà nớc, một doanh nghiệp t nhân, còn lại là nhữngdoanh nghiệp có 100% vốn đầu t nớc ngoài, cụ thể qua bảng sau:

STT Tên doanh nghiệp Năm thành

lập tại Việt Nam

Xuất xứ Hình thức sở hữu Nguồn vốn điều

lệ

2 Prudential 1999 Anh 100 % vốn nớc ngoài 65 Triệu USD

4 Bảo Minh CMG 1999 Việt- úc Liên doanh 10 Triệu USD

7 Prévoice 2005 Pháp 100% vốn nớc ngoài 10 Triệu USD

8 BHNT Hàn Quốc 2006 Hàn Quốc 100% vốn nớc ngoài

Ngày nay với xu hớng hội nhập, thị trờng bảo hiểm Việt Nam trở nên hấpdẫn hơn với nhiều các công ty nớc ngoài, những công ty đã có nhiều kinhnghiệm hoạt động ở nớc ngoài, kèm theo cơ chế tài chính, thù lao linh hoạt, thịtrờng BHNT Việt Nam thực sự bớc vào một giai đoạn mới- giai đoạn sôi động,cạnh tranh toàn diện và phát triển với tốc độ cao Sự cạnh tranh thể hiện trên tấtcả các mặt nh thu hút khách hàng, các sản phẩm đổi mới ngày càng đáp ứngthiết thực hơn với nhu cầu khách hàng, dịch vụ khách hàng, địa bàn hoạt động,thu hút đại lý, quảng cáo, khuyến mãi Và thực chất kinh doanh BHNT là mộtngành kinh doanh mang có tơng lai phát triển lớn mạnh thể hiện ở doanh thu củaBHNT qua bảng sau qua các năm:

Trang 8

Bảng 4: Doanh thu phí BHNT toàn thị trờng qua các năm ( tỷ đồng)

Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005Doanh

đông đảo, mô hình tổ chức và quản lý các quy trình nghiệp vụ ngày một hoànthiện, chất lợng khai thác bảo hiểm từng bớc đợc nâng cao Bên cạnh đó cũng sẽphải đối mặt với những diễn biến phức tạp ảnh hởng đến hoạt động kinh doanhbảo hiểm Song thị trờng BHNT Việt Nam là một thị trờng còn nhiều tiềm năng,hứa hẹn nhiều bớc phát triển mới

2 Vai trò của BHNT

BHNT có vai trò rất lớn, BHNT không chỉ thể hiện trong từng gia đình và

đối với từng cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống, giảm bớt khó khăn

về tài chính khi gặp rủi ro, mà còn thể hiện rõ trên phạm vi toàn xã hội Trênphạm vi toàn xã hội, BHNT góp phần thu hút vốn đầu t nớc ngoài, huy động vốntrong nớc từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi trong dân c Nguồn vốn này khôngchỉ có tác dụng đầu t dài hạn, mà còn góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạmphát và tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động góp phần hỗ trợ ngân sáchnhà nớc giải quyết đợc một số khó khăn về kinh phí đảm bảo xã hội và đầu tphát triển Cụ thể :

2.1 BHNT góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân, gia đình và là chỗ dựa tình thần vững chắc cho ngời tham gia bảo hiểm.

Trong cuộc sống, con ngời dù đã có những biện pháp đề phòng hạn chếnhng rủi ro vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào Hậu quả của rủi ro thật khôn lờng,

nó không những ảnh hởng đến sức khoẻ, sinh mạng của con ngời mà còn ảnh ởng đến tình hình tài chính của mỗi cá nhân, mỗi gia đình Nhiều cá nhân, gia

h-đình trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong gia h-đình là trụ cột

bị chết hoặc bị thơng tật toàn bộ vĩnh viễn Khi đó gánh nặng đè lên gia đìnhngoài những chi phí mai táng, chôn cất, chi phí nằm viện, thuốc men, chi phíphẫu thuật mà những khoản thu thờng xuyên cũng bị mất đi Khó khăn hơn làmột loạt các nghĩa vụ và trách nhiệm mà ngời chết cha kịp hoàn thành nh: phụngdỡng cha mẹ, nuôi dạy con cái ăn học, trả nợ Dù rằng hệ thống bảo trợ xã hội

và các tổ chức xã hội có thể trợ cấp khó khăn, nhng cũng chỉ mang tính tạm thời

Trang 9

trớc mắt, cha đảm bảo lâu dài về mặt tài chính Tham gia BHNT sẽ phần nàogiải quyết đợc những khó khăn đó Qua các sản phẩm của mình thể hiện việc hỗtrợ nh: khắc phục hậu quả rủi ro, hỗ trợ tài chính khi không còn khả năng lao

động, cơ chế bù đắp tài chính có thể khẳng định rằng BHNT đã, đang và sẽ gópphần tích cực giảm nhẹ những khó khăn cho cá nhân, gia đình, giảm nhẹ cáckhoản trợ cấp của Nhà nớc, của xã hội đối với các cá nhân gặp khó khăn, ngoài

ra còn thực hiện xã hội hoá các đảm bảo xã hội

Nh vậy, tham gia BHNT là việc ngời đợc bảo hiểm đã chuyển phần rủi

ro của mình sang công ty bảo hiểm, đã giải toả đợc nỗi lo lắng về những thiệthại xảy ra đối với mình và yên tâm công tác

2.2 BHNT góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ gần gũi, gắn bó ngời lao động với ngời sử dụng lao động.

Trong sản xuất kinh doanh nếu nh doanh nghiệp bị mất đi những ngời chủchốt, những ngời mang lại cho doanh nghiệp những lợi nhuận, những kết quảkinh doanh thì doanh nghiệp đó có thể rơi vào tình trạng khó khăn, và không đạt

đợc lợi nhuận nh mong muốn Ngày nay, tuỳ theo đặc điểm ngành nghề kinhdoanh mà chủ doanh nghiệp thờng mua bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tập thể cho ngời làm công, đặc biệt là những ngời chủ chốt trong doanh nghiệp nhằm

đảm bảo ổn định cuộc sống và tạo ra sự lôi cuốn, gắn bó ngay cả trong lúcdoanh nghiệp gặp khó khăn, tránh cho doanh nghiệp sự bất ổn định về tài chính,bên cạnh đó góp phần quan trọng là giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất, tránh

đợc sự thua thiệt về tài chính và những tai nạn rủi ro gây nên mà vẫn có chi phí

số tiền này còn nằm trong các ngân hàng rất lớn và nh thế lợi nhuận thu từ việc

đầu t là cha cao, cụ thể ta có thể thấy ở Mỹ trong những năm 1970 số vốn cáccông ty BHNT cung cấp chỉ là 9 tỷ USD, trong khi đó cung cấp vốn qua hệthống ngân hàng để đầu t là 37 tỷ USD Nhng chỉ đến năm 2001 số vốn do cáccông ty BHNT đầu t là 100,2 tỷ USD, trong khi hệ thống ngân hàng trong nớcchỉ có 95,7 tỷ USD Còn các nớc ở khu vực Châu á từ khi mở cửa thị trờng bảohiểm nhân thọ cho các công ty nớc ngoài đầu t vào thị trờng trong nớc thì vốncủa các công ty đã lớn mạnh hơn rất nhiều

Trang 10

Tại Việt Nam nguồn vốn đầu t mà các công ty BHNT mang lại ngày càngtăng lên điều này thể hiện rõ qua bảng 5 sau đây:

Bảng 5: Quỹ đầu t của các công ty BHNT ở Việt Nam cung cấp cho nền kinhtế

6

1997

1998

1999

2000

2001Quỹ đầu t( tỷ đồng) 0,7 15 178 582 165

4

4000

( Nguồn: Tạp chí bảo hiểm số 6/ 2002)

( Ghi chú: quỹ đầu t ớc tính vào cuối năm, tơng ứng với quỹ dự phòngnghiệp vụ, không tính nguồn vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu)

Nhìn vào bảng trên ta thấy rõ quỹ đầu t của các công ty BHNT vào nền kinh

tế ngày càng tăng một cách nhanh chóng Điều này cũng góp phần to lớn trongviệc phát triển nền kinh tế - xã hội của nớc ta vì đây là một khoản tiền hoàn toànkhông nhỏ, thúc đẩy các hoạt động kinh doanh phát triển thu đợc lợi nhuận lớnhơn từ các khoản đầu t này Với chức năng gom nhặt những khoản tiền nhàn rỗinằm rải rác trong dân c, BHNT đã hình thành một quỹ đầu t lớn, cung cấp vốnhữu ích cho nền kinh tế, đặc biệt đó là nguồn vốn trung và dài hạn, phục vụ đắclực cho công cuộc CNH-HĐH đất nớc So với ngành ngân hàng, BHNT ViệtNam tuy mới có thâm niên hoạt động còn ngắn nhng đã thực sự trở thành mộtkênh huy động và phân phối vốn hữu hiệu cho nền kinh tế Dới hình thức quỹ dựphòng, các doanh nghiệp BHNT đã tích luỹ đợc số vốn ngày càng lớn, cho phépcác doanh nghiệp BHNT thực hiện những khoản đầu t lớn dới hình thức nh gópvốn liên doanh, mua cổ phiếu, tín phiếu kho bạc Nhà nớc, gửi tiền tiết kiệmngân hàng, cho vay, tham gia các dự án đầu t Hoạt động tài chính cũng trởthành xơng sống cho nâng đỡ cho hoạt động kinh doanh BHNT, tạo tiền đề và

điều kiện để doanh nghiệp BHNT tham gia vào thị trờng tài chính, tạo lập cácquỹ đầu t Thực chất, các doanh nghiệp BHNT đã tham gia vào rất nhiều hoạt

động đầu t, là cổ đông lớn trong nhiều công ty cổ phần đồng thời cũng là thànhviên thờng xuyên trong các cuộc đấu thầu tín phiếu, trái phiếu kho bạc và cũng

là những nhà " đầu t" lớn trên thị trờng chứng khoán

2.4 BHNT góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công

ăn việc làm cho ngời lao động trên phạm vi toàn xã hội.

BHNT ra đời thực chất đã đem lại rất nhiều hữu ích cho nền kinh tế xãhội, nó thu gom những đồng tiền trôi nổi trong xã hội, giảm lạm phát, ngoài ra

nó còn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho ngời lao động, giảm tỷ lệ thấtnghiệp BHNT đã thu hút ngời lao động trong xã hội, tạo ra một lực lợng đông

Trang 11

đảo các đại lý chuyên nghiệp, đại lý bán chuyên và các cộng tác viên Đến cuốinăm 2005, tổng số đại lý chuyên nghiệp của toàn thị trờng Việt Nam đã lên tới96.000 nghìn ngời Với đặc trng nổi bật hoàn toàn độc lập, tự chủ về thời gian,

đòi hỏi tính tự giác cao, hởng thù lao theo kết quả hoạt động, tự hạch toán độclập, không yêu cầu quá cao về bằng cấp, nghề đại lý(t vấn) BHNT cũng đã tạo rachỗ làm việc cho hàng triệu ngời với t cách là cán bộ, nhân viên của các doanhnghiệp BHNT, ngoài ra còn tạo ra việc làm cho các ngành khác có liên quan nhcông nghệ thông tin, ngân hàng, in ấn, quảng cáo

2.5.BHNT góp phần nâng cao sức khoẻ cho những ngời tham gia BHNT.

Bên cạnh việc phải bảo hiểm cho khách hàng khi có sự cố sảy ra thì cáccông ty bảo hiểm cũng thực sự quan tâm đến sức khoẻ của khách hàng, công tyluôn tìm cách bảo vệ sức khoẻ cũng nh tính mạng của ngời đợc bảo hiểm Cáccông ty bảo hiểm trớc khi chấp nhận bảo hiểm cho khách hàng sẽ đợc kiểm trasức khoẻ tại trung tâm y tế do công ty chỉ đinh, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ đợc thamgia bảo hiểm, việc kiểm tra sức khoẻ này cũng thực sự có ích cho khách hàng, vìqua đợt kiểm tra này họ có thể biết rõ hơn về tình trạng sức khoẻ của bản thân,

mà dịch vụ này là miễn phí Hơn nữa trong thời hạn bảo hiểm mỗi công ty đềuthực hiện các chính sách dịch vụ khách hàng, trong đó có thực hiện chính sách,chăm sóc sức khoẻ thông qua dịch vụ kiểm tra sức khoẻ của phòng chăm sóc sứckhoẻ khách hàng, dịch vụ này thờng đợc tiến hành định kỳ 1 năm/ 1 lần hoặc 2năm/ 1 lần ( tuỳ theo từng công ty) tại các trung tâm y tế do công ty BHNT chỉ

định hoặc tại phòng chăm sóc sức khoẻ khách hàng của công ty Ngoài ra, khikhách hàng đợc bảo hiểm gặp rủi ro ốm đau, phẫu thuật, tai nạn, công tyBHNT cũng trả một số tiền để họ phục hồi sức khoẻ một cách nhanh chóng

2.6 Ngoài ra, BHNT còn có tác dụng kích thích tiết kiệm.

Thông qua các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, mỗi ngời hoàn toàn có thểtiết kiệm đợc những số tiền một cách có kế hoạch, có mục đích chính đáng nh:tiết kiệm cho tơng lai sau này, tiết kiệm cho con cái ăn học, tiết kiệm để lo chotuổi già, nh vậy BHNT đã tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động

đến nếp sống, nếp suy nghĩ của mỗi cá nhân, từng gia đình, chủ doanh nghiệp,góp phần hình thành ý thức, thói quen về việc dành một phần thu nhập để chomột cuộc sống tơng lai an toàn hơn, một thế hệ tơng lai tốt đẹp hơn, đầy đủ hơn.Thông qua các hợp đồng bảo hiểm họ hoàn toàn có thể thực hiện đợc điều đó.Trên thực tế, BHNT cón có vai trò nh một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNTtín dụng thờng đợc bán cho các đối tợng đi vay để mua xe hơi, đồ dùng gia đìnhhoặc dùng cho mục đích cá nhân khác

Trang 12

Qua các tác dụng nêu trên, chúng ta thực sự thấy đợc tác dụng to lớn và ýnghĩa của BHNT, chính vì vậy mà BHNT ngày càng phát triển và trở nên quantrọng không thể thiếu đợc trong đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức, vàmỗi nền kinh tế

3 Đặc điểm của BHNT.

3.1 BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro

Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với BHPNT.Thật vậy, mỗi ngời mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (phí bảohiểm ) cho ngời bảo hiểm, ngợc lại ngời bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiềnlớn (số tiền bảo hiểm) cho ngời đợc hởng quyền lợi bảo hiểm nh đã thoả thuận

từ trớc khi các sự kiện bảo hiểm xảy ra Số tiền bảo hiểm đợc trả khi ngời đợcbảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và đợc ấn định trong hợp đồng Hoặc sốtiền này đợc trả cho thân nhân và gia đình ngời đợc bảo hiểm khi ngòi nàykhông may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm đợc một khoản tiền rất nhỏqua việc đóng phí bảo hiểm Số tiền này giúp ngời sống trang trải đợc nhữngkhoản chi phí cần thiết nh thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục cho con cái Chính vì vậy BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro cao Tính chấttiết kiệm ở đây thể hiện ngay trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thờngxuyên, có kế hoạch và có kỷ luật Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác vớicác hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, ngời bảo hiểm đảm bảo trả cho ngời thamgia bảo hiểm hay ngời thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiếtkiệm đợc một khoản tiền nhỏ Có nghĩa là khi ngời đợc bảo hiểm không maygặp rủi ro trong thời hạn bảo hiểm đã đợc ấn định, những ngời thân của họ sẽnhận đợc những khoản trợ cấp hay số tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm Điều

đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong BHNT

3.2 BHNT đáp ứng rất nhiều mục đích khác nhau của ngời tham gia bảo hiểm.

Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng đợc một mục

đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tợng tham gia bảo hiểm gặp sự cố,

từ đó góp phần ổn định tài chính cho ngời tham gia bảo hiểm, thì BHNT đã đápứng đợc nhiều mục đích khác nhau và rất hữu ích cho ngời tham gia bảo hiểmnhân thọ Mỗi mục đích thể hiện khá rõ trong từng hợp đồng Chẳng hạn, hợp

đồng bảo hiểm hu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của ngời tham gia bảo hiểm nhữngkhoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ khigià yếu Hợp động bảo hiểm tử vong sẽ giúp ngời đợc bảo hiểm để lại cho gia

đình một số tiền bảo hiểm khi họ bị tử vong Số tiền nay đáp ứng đợc rất nhiều

Trang 13

mục đích của ngời quá cố nh: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dỡng bố

mẹ già Hợp đồng BHNT đôi khi còn có vai trò nh một vật thế chấp để vay vốnhoặc BHNT tín dụng thờng đợc bán cho các đối tợng đi vay để họ mua xe hơi,

đồ dùng gia đình, hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác Chính vì đáp ứngcác mục tiêu khác nhau mà loại hình bảo hiểm nhân thọ ngày càng có thị trờngrộng lớn và đợc rất nhiều ngời quan tâm

3.3 Các loại hợp đồng BHNT rất đa dạng và phức tạp.

Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ngay ởnhóm sản phẩm của nó Mối nhóm sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp

đồng bảo hiểm khác nhau, chẳng hạn hợp đồng BHNT hỗn hợp có các hợp đồng

5 năm, 10 năm Mỗi hợp đồng có thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau vềSTBH, phơng thức đóng phí, độ tuổi của ngời tham gia Ngay cả trong một bảnhợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp Khác với các bản hợp

đồng bảo hiểm phi nhân thọ, hợp đồng BHNT có thể có 4 bên tham gia: ngờibảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm, ngời tham gia bảo hiểm, ngời thụ hởng quyền lợibảo hiểm

3.4 Phí bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quátrình định phí khá phức tạp

Theo tác giả Jean- Claude Harrari "sản phẩm bảo hiểm nhân thọ khônggì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đa sản phẩm bảo hiểm đếncông chúng" Trong tiến trình này, ngời bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí đểtạo nên sản phẩm, nh : chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng

Nhng những chi phí đó chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sảnphẩm BHNT Phí BHNT chịu tác động chủ yếu của các yếu tố sau:

- Lãi suất đầu t

-Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền

Điều đó khác với việc định giá cả một chiếc ô tô Chiếc ô tô là sản phẩmcủa một dây chuyền sản xuất, để sản xuất ra nó, ngời ta phải chi ra rất nhiềukhoản chi phí nguyên, nhiên vật liệu, chi phí lao động sống, khấu hao tài sản cố

định Những khoản chi phí này là những chi phí thực tế phát sinh và thực chất

Trang 14

chúng là những khoản chi phí " đầu vào" đợc hoạch định một cách chi tiết, đầy

đủ chính xác để phục vụ cho quá trình định giá Thế nhng, khi định giá phíBHNT, một số yếu tố nêu trên phải giả định, nh : tỷ lệ chết, tỷ lệ huỷ bỏ hợp

đồng, lãi suất đầu t, tỷ lệ lạm phát Vì thế, quá trình định phí ở đây rất phức tạp

đòi hỏi phải nắm vững đặc trng của mỗi loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ,phân tích đợc chiều hớng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trờng nói chung

3.5 Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định

Tại các nớc kinh tế phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trămnăm nay Ngợc lại có một số nớc trên thế giới hiện nay vẫn cha triển khai đợcBHNT, mặc dù ngời ta hiểu rõ vai trò và lợi ích của nó Vì sự ra đời của BHNTcòn phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội nh:

- Tốc độ tăng trởng của tổng sản phẩm quốc nội ( CDP)

- Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân một đầu ngời

- Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh

Ngoài điều kiện kinh tế - xã hội thì môi trờng pháp lý cũng ảnh hởngkhông nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT Thông thờng ở các nớc, luậtkinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trớckhi ngành bảo hiểm phát triển Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ đềcập cụ thể đến các vấn đề nh: Tài chính, đầu t, hợp đồng, thuế Đây là nhữngvấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT Chẳng hạn, ỏmột số nớc phát triển nh : Anh, Pháp, Đức Nhà nớc thờng tạo điều kiện thuậnlợi cho BHNT bằng cách có chính sách thuế u đãi Mục đích nhằm tạo ra chocác cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hu trí, từ đó cho phép giảmbớt phần trợ cấp từ Nhà nớc Mặt khác còn đẩy mạng đợc quá trình tập trungvốn trong các công ty bảo hiểm để từ đó có vốn dài hạn đầu t cho nền kinh tế.Cũng chính vì mục đích đó mà một số nớc Châu á nh : ấn Độ, Hồng Kông,Singapore không đánh thuế doanh thu đối với các nghiệp vụ BHNT, sự u đãinày là đòn bẩy tích cực để BHNT phát triển

4 Các loại hình BHNT cơ bản.

Trang 15

BHNT đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau Đối với những ngời thamgia mục đích chính của họ là để bảo vệ con cái và những ngời ăn theo tránh khỏinhững nỗi bất hạnh về cái chết bất ngờ của họ hoặc tiết kiệm để đáp ứng các nhucầu về tài chính trong tơng lai Do vậy, ngời bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hoácác sản phẩm BHNT, thực chất là đa dạng hoá các loại hợp đồng nhằm đáp ứng

và thoả mãn mọi nhu cầu của ngời tham gia bảo hiểm Trong thực tế có 3 loạihình BHNT cơ bản sau:

-Bảo hiểm trong trờng hợp tử vong

-Bảo hiểm trong trờng hợp sống

-BHNT hỗn hợp

Ngoài ra, ngời bảo hiểm còn áp dụng các điều khoản bổ sung cho các loạihợp đồng BHNT cơ bản sau:

-Bảo hiểm tai nạn

-Bảo hiểm sức khoẻ

-Bảo hiểm không nộp phí khi thơng tật

-Bảo hiểm cho ngời đóng phí

Thực chất, các điều khoản bổ sung không phải là BHNT, vì không phụthuộc vào sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con ngừơi, mà là bảo hiểm chocác rủi ro khác có liên quan đến con ngời Tuy nhiên đôi khi ngời tham gia bảohiểm vẫn thấy rất cần thiết phải tham gia bổ sung cho hợp đồng cơ bản ( hợp

đồng tiêu chuẩn)

4.1 Bảo hiểm trong trờng hợp tử vong.

Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và đợc chia thành hai nhóm:

4.1.1 Bảo hiểm tử kỳ( bảo hiểm tạm thời, bảo hiểm sinh mạng có thời hạn).

Đợc ký kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định củahợp đồng Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì ngời đợc bảo hiểmkhông nhận đợc bất kỳ một khoản hoàn phí nào từ số tiền bảo hiểm đã đóng

Điều đó cũng có nghĩa là ngời bảo hiểm không phải thanh toán số tiền bảo hiểmcho ngời đợc bảo hiểm Ngợc lại, nếu cái chết xảy ra trong thời hạn có hiệu lựccủa hợp đồng, thì ngời bảo hỉêm có trách nhiệm thanh toán STBH cho ngời thụhởng quyền lợi bảo hiểm đợc chỉ định

+ Đặc điểm:

- Thời hạn bảo hiểm xác định

- Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời

- Mức phí bảo hỉêm thấp vì không phải lập nên quỹ tiết kiệm cho ngời đợcbảo hiểm

Trang 16

+ Mục đích:

- Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất

- Bảo trợ cho gia đình và ngời thân trong một thời gian ngắn

- Thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế chấp của

ng-ời đợc bảo hiểm

Bảo hiểm tử kỳ còn đa dạng hóa thành các loại hình sau:

- Bảo hiểm tử kỳ cố định: có mức phí bảo hiểm và STBH cố định, khôngthay đổi trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng

- Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục: loại hình này có thể đợc tái tục vào ngàykết thúc hợp đồng và không yêu cầu có thêm bằng chứng nào về sức khoẻ củangời đợc bảo hiểm, nhng có sự giới hạn về độ tuổi ( thờng tối đa là 65 tuổi) Tạilúc tái tục phí bảo hiểm tăng lên vì độ tuổi của ngời đợc bảo hiểm lúc này tănglên

- Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi: là loại hình bảo hiểm tỷ kỳ cố địnhnhng cho phép ngời đợc bảo hiểm có sự lựa chọn chuyển đổi một phần hay toàn

bộ hợp đồng thành một hợp đồng BHNT trọn đời hay một hợp đồng BHNT hỗnhợp tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang còn hiệu lực

- Bảo hiểm tử kỳ giảm dần: là loại hình bảo hiểm có một bộ phận củaSTBH giảm hàng năm theo một mức quy định Bộ phận này giảm tới 0 vào cuối

kỳ hạn hợp đồng Có đặc điểm sau:

+ Phí bảo hiểm giữ ở mức cố định

+ Phí thấp hơn bảo hiểm tử kỳ cố định

+ Giai đoạn nộp phí ngắn hơn toàn bộ thời hạn hợp đồng để tránh việcthanh toán vào cuối thời hạn của hợp đồng khi mà STBH còn rất nhỏ

- Bảo hiểm tử kỳ tăng dần: giúp ngời tham gia bảo hiểm có thể ngăn chặn

đợc yếu tố lạm phát của đồng tiền Loại hợp đồng này có đặc điểm là phí bảohiểm sẽ tăng lên dần theo STBH và phải dựa trên tuổi tác của ngời đợc bảo hiểmkhi tái tục hợp đồng

- Bảo hiểm thu nhập gia đình: Nhằm đảm bảo cho một gia đình khi khôngmay có ngời trụ cột trong gia đình bị chết Quyền lợi bảo hiểm mà gia đình nhận

đợc sau cái chết của ngời trụ cột có thể là:

+ Nhận toàn bộ ( trọn gói)

+ Nhận đợc từng phần dần dần cho đến khi hết hạn hợp đồng

Nếu ngời đợc bảo hiểm còn sống đến khi hết hạn hợp đồng, gia đình sẽkhông nhận đợc bất kỳ một khoản thanh toán nào từ công ty bảo hiểm

Ngày đăng: 06/11/2013, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Cơ cấu phí BHNT và BHPNT theo khu vực năm 2001. - Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ và công tác khai thác bảo hiểm nhân thọ.
Bảng 3 Cơ cấu phí BHNT và BHPNT theo khu vực năm 2001 (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w