Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa: Số 2/2019 trình bày các nội dung chính sau: Đào tạo tiếng Anh chuyên ngành cho hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay, vai trò của truyền thông trong quảng bá du lịch cộng đồng ở Thanh Hóa, không gian lịch sử - văn hóa Lam Kinh trong dòng chảy xứ Thanh,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1MỤC LỤC
TRỊNH VĂN ANH - ĐỖ THỊ HẰNG
Kỹ thuật kết hợp dấu vân tay và thuật toán RSA - Cải tiến ứng dụng vào an toàn
bảo mật thông tin 5
LÊ THANH HÀ
Đào tạo tiếng Anh chuyên ngành cho hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa hiện nay 16
MAI THỊ THÚY AN
Vai trò của truyền thông trong quảng bá du lịch cộng đồng ở Thanh Hóa 23
HOÀNG THỊ THANH BÌNH - TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH
Ẩm thực xứ Thanh - nguồn lực cho phát triển du lịch 31
Trải nghiệm văn hóa ẩm thực góp phần gia tăng tính chân thực trong bản sắc
văn hóa xứ Thanh 64
NGUYỄN NHƯ SƠN
Vấn đề hoàn thiện pháp luật về di sản văn hóa 71
LÊ XUÂN SƠN
Ba vị Thành hoàng thời Lý trên đất Thọ Xuân qua tư liệu thần tích 81
VÕ VĂN THẬT
Cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa (1930 - 1945): một
số đặc điểm và bài học kinh nghiệm 89
TRẦN VĂN THỨC - NGUYỄN HỮU TÂM
Thời điểm ra đời của danh xưng Thanh Hóa 100
Số 02 (06), T4/2019 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH THANH HÓA
Trang 2Vai trò của chất liệu văn hóa dân gian trong ca khúc viết về Thanh Hóa 108
Trang 3KỸ THUẬT KẾT HỢP DẤU VÂN TAY VÀ THUẬT TOÁN RSA CẢI TIẾN ỨNG DỤNG VÀO AN TOÀN BẢO MẬT THÔNG TIN
NCS Trịnh Văn Anh 1 ThS Đỗ Thị Hằng 2
Tóm tắt: Bài báo đề cập đến hệ thống tính toán an toàn, tập trung vào quá trình tạo
khóa bất đối xứng dựa trên sinh trắc học Thông thường, hệ thống PKI (cơ sở hạ tầng khóa công khai) dựa trên khóa bí mật/công khai được tạo thông qua RSA (thuật toán) hoặc các thuật toán tương tự Giải pháp hiện tại nhúng sinh trắc học vào quá trình tạo khóa bí mật/khóa công khai Các thử nghiệm ban đầu cho thấy tạo khóa bất đối xứng phụ thuộc vào
độ chính xác xác thực sinh trắc học, đảm bảo khóa bất đối xứng duy nhất cho mỗi người dùng được chứng thực
Từ khóa: Dấu vân tay, kỹ thuật mã hóa bất đối xứng, kết hợp sinh trắc học và thuật toán
mã hóa
1 Giới thiệu
Điện toán đám mây, các hệ thống quy mô lớn, Ambient Intelligence (AMI) dựa trên các
hệ thống mở cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu người dùng Những hệ thống, ứng dụng này yêu cầu mức bảo mật cao, chẳng hạn như xác thực người dùng, giám sát hành vi người dùng, đảm bảo an toàn môi trường truyền thông Mật mã học và sinh trắc học đóng một vai trò quan trọng trong các ứng dụng bảo mật Ưu điểm của mật mã là tính khả dụng và có thể điều chỉnh mức bảo mật tùy thuộc vào mục đích truy cập và quản lý dữ liệu, tài nguyên, dịch
vụ [1] Mặt khác, sinh trắc học giúp chống chối bỏ và chống giả mạo mật khẩu hoặc các token [2], [3] Nhiều nhà nghiên cứu khai thác và đề xuất nâng cao chất lượng của khóa mật mã được tạo từ sinh trắc học theo độ an toàn hủy bỏ yêu cầu lưu trữ khóa dựa trên mật khẩu Kết quả nghiên cứu và phương pháp kết hợp sinh trắc học với mật mã nâng cao an toàn cho hệ thống Mục đích của nghiên cứu này là tích hợp các đặc điểm sinh trắc học của người dùng vào quá trình tạo khóa dựa trên thuật toán RSA cải tiến [4] Việc áp dụng hệ thống mật mã RSA cải tiến vào quá trình tạo khóa đảm bảo an toàn hơn bởi phương pháp này tạo ra biến n lớn và quá trình phân tích các yếu tố phức tạp hơn so với thuật toán ban đầu [5], do vậy tin tặc không thể đoán trước được quá trình tạo khóa để thực hiện hành vi gây mất an toàn Trong bài toán này, dấu vân tay là một trong những đặc tính được chọn lọc để tích hợp trong quá trình tạo khóa công khai/bí mật dựa trên thuật toán RSA
Khóa bí mật sinh trắc không được lưu trữ trong bất kỳ thiết bị nào, vì nó được tạo bởi các đặc điểm vân tay lưu trữ trong Smartcard tại giai đoạn đăng ký Vì vậy, nó không thể bị mất cũng như bị đánh cắp
1, 2 Trung tâm Công nghệ Thông tin - Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
Trang 4Hệ thống Biometric RSA được đề xuất bao gồm hai mô-đun chính: mô-đun xác thực vân tay và mô-đun mã hóa bất đối xứng Mô-đun xác thực vân tay dựa trên phương pháp tiếp cận đơn thức sử dụng các điểm Core và Delta Mô-đun mã hóa bất đối xứng thực hiện thuật toán RSA cải tiến Mô-đun đầu tiên đề cập đến việc trích xuất định danh sinh trắc và xác thực người dùng Mô-đun thứ hai liên quan đến việc tạo cặp khóa công khai/bí mật tích hợp định danh sinh trắc đã được trích xuất
Bài báo được tổ chức như sau Phần 2 đưa ra cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Trình bày bài toán liên quan; hệ thống Biometric RSA Phần 3, trình bày kết quả thực nghiệm, đánh giá hiệu năng của kiến trúc đề xuất dựa trên độ phức tạp mã hóa và giải mã Cuối cùng, phần 4 báo cáo, kết luận của bài báo
2 Bài toán liên quan
Gần đây, nhiều bài toán nghiên cứu thực hiện phát triển các phương pháp tạo khóa bí mật từ các đặc điểm sinh trắc học và xác thực người dùng bằng cách kết hợp nhiều phương thức sinh trắc học Tiếp theo, một số bài toán chính của mật mã sinh trắc sẽ được mô tả Trong [6], các tác giả đã trình bày một phương pháp mã hóa dựa trên sinh trắc học sử dụng đặc điểm mống mắt và sử dụng token chống giả mạo (tương tự Smartcard) để lưu trữ khóa được tạo ra từ hỉnh ảnh mống mắt Khôi phục khóa phụ thuộc vào hai yếu tố: sinh trắc mống mắt và token Phương pháp được đánh giá dựa trên kết quả thực nghiệm lấy từ các mẫu mống mắt với 70 mắt khác nhau, và 10 mẫu từ mỗi mắt Khóa được tạo ra từ một mã mống mắt với tỷ lệ không sai số đạt 99,5% Độ dài khóa sinh trắc là 140-bit phù hợp với tiêu chuẩn
mã hóa tiên tiến AES 128-bit AES là tên viết tắt của cụm từ Advanced Encryption Standard, chuẩn mã hóa dữ liệu cực kì phổ biến hiện nay và AES là một kiểu mã hóa đối xứng dạng khối, nghĩa là mỗi khối văn bản có một kích thước nhất định (ở đây là 128 bit) được mã hóa, khác với mã hóa dạng chuỗi khi từng kí tự được mã hóa Trong [9], các tác giả mô tả phương pháp ánh xạ mạng lưới dựa trên phương thức cam kết mờ để tạo ra khóa mật mã từ dữ liệu sinh trắc học Kỹ thuật này che giấu dữ liệu sinh trắc học ban đầu và tạo ra các khóa entropy cao Các kết quả mô phỏng đã xác nhận độ chính xác xác thực bằng phương pháp k-nearest neighbor K-nearest neighbor là một trong những thuật toán supervised-learning đi tìm đầu ra
của một điểm dữ liệu mới bằng cách chỉ dựa trên thông tin của K điểm dữ liệu trong training set gần nó nhất (K-lân cận), không quan tâm đến việc có một vài điểm dữ liệu trong những
điểm gần nhất này là nhiễu Trong [10], các tác giả trình bày sơ đồ tạo khóa sinh trắc học dựa
trên sinh trắc học ngẫu nhiên Kỹ thuật này bao gồm hai bước: xây dựng một mã dự phòng và quá trình rời rạc hóa điểm ngẫu nhiên Đầu tiên, cho phép giảm thiểu các lỗi Thứ hai, kiểm soát các biến thể trong lớp dữ liệu sinh trắc đến mức tối thiểu Tập con của cơ sở dữ liệu Facial Recognition Technology (FERET là công nghệ nhận dạng khuôn mặt) giúp đánh giá kỹ thuật trong phạm vi dữ liệu khuôn mặt
3 Hệ thống Biometric RSA
Tạo khóa sinh trắc được định nghĩa là quá trình chuyển đổi dữ liệu sinh trắc sống biểu diễn thành một chuỗi bit
Trang 5Trong giai đoạn đăng ký, đặc điểm sinh trắc được thu thập và xử lý để trích xuất các điểm riêng biệt Sau đó được mã hóa và lưu trữ trong thiết bị chống giả mạo là Smartcard Trong giai đoạn xác thực, định danh sinh trắc đã đăng ký được sử dụng cùng với định danh sinh trắc truy vấn để xác thực người dùng và tạo ra cặp khóa công khai và khóa bí mật (xem hình 1)
Xét phương pháp mật mã bất đối xứng với giải thuật RSA, mối liên hệ giữa các đặc điểm sinh trắc và thuật toán mật mã là một cặp số nguyên tố Quy trình ánh xạ định danh sinh trắc vào tập số nguyên tố được thực hiện bằng cách sử dụng chức năng ad-hoc Bắt đầu từ việc phân tích dấu vân tay xuất ra chuỗi bit, mẫu đầu tiên được thực hiện trên một phần của vector Các nhóm bit lấy mẫu được ghép nối để tạo chuỗi bit cuối cùng Dãy này biểu diễn cho chỉ số của số nguyên tố đầu tiên được lưu trữ trong bảng tra cứu Lấy mẫu lần hai thực hiện trên các phần khác nhau của vector ban đầu, được thực thi để tính toán một chỉ số khác biểu diễn cho số nguyên tố thứ hai Bảng tìm kiếm được xây dựng ngoại tuyến và nó chứa số nguyên tố có kích thước lớn
Hình 1: Hệ thống đề xuất Biometric RSA
Phương pháp mã hóa bất đối xứng dựa trên thuật toán RSA cải tiến, mô-đun xác thực người dùng và quá trình tạo cặp khóa công khai/khóa bí mật sẽ được mô tả và phân tích trong các phần dưới đây
- Phương pháp mã hóa bất đối xứng dựa trên thuật toán RSA cải tiến
Hệ mật khóa công khai RSA chậm hơn nhiều so với DES và các hệ mật khóa đối xứng khác Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện cải thiện tốc độ của hệ mật mã RSA
Năm 1982, J.J Quisquater và C Couveur mô tả kỹ thuật được đề xuất tăng tốc độ của thuật toán giải mã RSA Quisquater sử dụng khái niệm Chinese Remainder Theorem (CRT), gọi là QCRSA cải thiện hiệu suất giải mã RSA Tiếp theo, khái niệm Batch RSA được giới thiệu vào năm 1989, khái niệm Batch RSA là: nếu số mũ công khai e nhỏ được sử dụng cho mô-đun n, việc giải mã hai bản mã có thể được thực hiện khi giá trị các số mũ khóa công khai e1 và e2 nhỏ Sau đó, vào năm 1989, khái niệm MultiPrime RSA được giới thiệu, hệ số RSA bao gồm các số nguyên tố k1, p2, pk, thay vì chỉ sử dụng hai số nguyên tố trong RSA Sau đó khái niệm MultiPower RSA được phát minh vào năm 1998, theo phương pháp này, n
= p(k-1).q, ở đây p và q có n/k bits độ dài Khái niệm Rebalanced RSA đã được đề xuất vào năm 1990 Đây là thiết kế đáp ứng yêu cầu của các ứng dụng thuật toán giải mã hoặc ký bằng cách thay thế thuật toán mã hóa hoặc xác thực Sau đó, một số thuật toán được tạo ra nhờ sự
Trang 6kết hợp của thuật toán này Trong năm 2009, D.Garg và S Verma so sánh các biến thể RSA (Batch RSA, Multiprime RSA, Multipower RSA, Rebalanced RSA, Rprime RSA) Một trong những phương pháp đề xuất mở rộng RSA được giới thiệu bởi AH Al-Hamami và IAAldariseh và được mô tả ở đây [4]
Vào năm 2012, A.H Al-Hamami và I.A Aldariseh [7] đề xuất một khái niệm mới trong
hệ thống mật mã RSA bằng cách cải thiện thuật toán RSA sử dụng số nguyên tố thứ ba bổ sung trong thành phần của khóa công khai và khóa bí mật với kích thước thu gọn, thay vì sử dụng hai số nguyên tố lớn Phương pháp luận của giải thuật được trình bày như sau:
Tạo khóa
Để tạo khóa sử dụng ba số nguyên tố người dùng A nên làm như sau:
Bước 1: Tạo ba số nguyên tố lớn p, q, s
Bước 2: Tính n = p*q*s và φ(n) = (p-1)(q-1)(s-1)
Bước 3: Chọn e sao cho (e, φ(n)) nguyên tố cùng nhau
Bước 4: Lấy giá trị của d bằng cách sử dụng e*d = 1 mod φ(n)
Bước 5: Tìm dp = d mod (p-1), dq = d mod (q-1), ds = d mod (s-1)
Bước 6: Khóa công khai Ku = <e, n> và khoá bí mật Kr = <d, p, q, s, dp, dq, ds>
Mã hóa
Để mã hóa thông điệp M người dùng B nên làm như sau:
Người dùng B nên lấy khóa công khai của người dùng A <e, n>
Bước 1: Biểu diễn thông điệp M dạng một số nguyên trong khoảng [0, n-1]
Bước 2: Chọn số nguyên ngẫu nhiên k với gcd(k, n) = 1 và 1 <k<n-1
Trang 7Bước 1: Tính Cp = C1 mod p, Cq = C1 mod q, Cs = C1 mods Và sau đó tính toán kp =
Cpdpmod p, kq = Cqdqmod q và ks = Csds mod s
Bước 2: Tính k bằng cách sử dụng công thức:
k = [kp.(qs)(p-1)mod n + kq.(ps)(q-1)mod n + ks.(pq)(s-1)mod n]
Bước 3: Bằng cách sử dụng thuật toán Euclidean, tính giá trị của số nguyên duy nhất t, t*k = 1 modn và 1 <t <n
Bước 4: Sau đó tính Me
, C2*t = (Me.k)t = (Me)k.t = Me mod n
Bước 5: Để nhận được giá trị của thông điệp M nên làm theo các bước sau:
Trước tiên tính C'p = Me
mod p, C'q = Me mod q, C's = Me mods và sau đó tính Mp = C'pdp mod p, Mq = C'qdq mod q, Ms = C'sds mod s
Bước 6: Cuối cùng thu hồi thông điệp M bằng cách sử dụng công thức sau:
M = [Mp.(qs)(p-1) mod n + Mq.(ps)(q-1) mod n + Ms.(pq)(s-1) mod n]
Mã hóa: Người dùng B nên làm như sau:
Lấy khóa công khai của người dùng A (29, 28897)
Bước 1: Xét thông điệp M=45, 1 < M < n-1
Bước 2: Chọn giá trị ngẫu nhiên k=46, gcd[k, n]=1
Bước 3: Tính C1= 4629
mod 28897 = 12513 Bước 4: C2= 4529
.46 mod 28897 = 6756 Bước 5: Gửi (12513, 6756) tới người dùng A
Giải mã: Người dùng A nên làm như sau:
Trang 8Sau đó tính các giá trị: Mp=45, Mq=8, Ms=1
Bước 6: Cuối cùng thu hồi thông điệp M=45
- Mô-đun xác thực vân tay
Dấu vân tay bao gồm các đường vân và các đường rãnh Các đường vân được đặc trưng bởi các điểm kết thúc và điểm rẽ nhánh, chúng còn được gọi là điểm kì dị (minutiae) Minutiae là các điểm vi mô của hình ảnh dấu vân tay Delta và Core được gọi là các điểm vĩ
mô Điểm Core là tâm của vòng xoáy vân tay, và điểm Deltalà tam phân điểm, là nơi giao nhau của ba hướng vân
Hệ thống nhận dạng dấu vân tay đặc trưng bởi ba giai đoạn chính: thu thập hình ảnh, trích xuất chữ ký sinh trắc, kết hợp giữa chữ ký sinh trắc thu được và thông tin được lưu trữ
Hệ thống nhận dạng vân tay chia nhỏ thành hai lớp chính Lớp đầu tiên của hệ thống sử dụng thông tin vi mô (minutiae) để thực hiện đối sánh dấu vân tay, trong khi lớp thứ hai của hệ thống sử dụng thông tin vĩ mô (Core và Delta) để thực hiện phân loại dấu vân tay
Hình 2: Mô-đun xác thực dấu vân tay dựa trên điểm Core và điểm Delta
Hệ thống xác thực dấu vân tay dựa trên điểm Core và điểm Delta (xem hình 2) Mô-đun xác thực người dùng được đề xuất tuân theo các hướng dẫn được phát triển trong [8] và được tối ưu hóa qua các giai đoạn thu nhận và xử lý sau đây:
1 Giai đoạn thu thập dấu vân tay (Fingerprint Acquisition phase)
2 Giai đoạn trích xuất Core và Delta (Core and Delta extraction phase)
3 Giai đoạn chuẩn hóa Core và Delta (Core and Delta normalization phase)
4 Giai đoạn tạo định danh (Identifier generation phase)
5 Giai đoạn đối sánh (Matching phase)
Giai đoạn Acquisition liên quan đến việc thu thập hình ảnh dấu vân tay, trong khi các giai đoạn còn lại xử lý và đối sánh dấu vân tay Các giai đoạn này sẽ được mô tả ngắn gọn trong các phần dưới đây
1) Giai đoạn trích xuất Core và Delta
Giai đoạn trích xuất Core và Delta được thực hiện bằng cách kiểm tra các chỉ số Poin kết hợp với ma trận chỉ hướng Các điểm kì dị liên quan đến Core, Delta và double Corevới chỉ số Pointương ứng là 180 °, -180 °, 360° Trong bài báo này, điểm double Coređược kết hợp với điểm Core đơn (xem hình 3) Cụ thể, giai đoạn trích xuất bao gồm bốn thao tác tuần tự:
Trang 9 Tính Gx và Gy gradients bằng cách sử dụng toán tử Sobel
Tính toán các đạo hàm Dx và Dy
Tính góc θ(i, j)của khối (i, j)
Ứng dụng bộ lọc làm nhẵn Gaussian trên ma trận góc
Cuối cùng, các điểm kì dị, Core và Delta được dò tìm sao cho phù hợp với các chỉ số Poincarè
Hình 3: Core và Delta với các vùng riêng biệt (ROIs)
2) Giai đoạn chuẩn hóa Core và Delta
Quy trình chuẩn hóa phải được thực hiện sau giai đoạn thu thập Core và Delta Trên thực tế, kích thước đặc điểm sinh trắc có thể thay đổi do thay đổi độ sáng hoặc biến thể áp suất trong giai đoạn lấy dấu vân tay
Tọa độ quá trình biến đổi mẫu dấu vân tay 21 * 96 đối với mỗi vùng trích xuất có nghĩa:
21 là số lượng các mẫu đã chọn, trong khi 96 pixel là bán kính vòng tròn trung tâm trong điểm Core và Delta (xem hình 4)
Hình 4 Ví dụ của ROI chuẩn hóa
3) Giai đoạn tạo định danh
Sau giai đoạn chuẩn hóa vùng vân tay, chúng được mã hóa bằng phương pháp Gabor Bộ lọc này thay thế bộ lọc Gabor (về phương diện hiệu suất), có thể được thiết kế với băng thông tùy ý Đồng thời, cấu tạo bộ lọc Gabor biểu diễn như Gaussian trên phạm vi lôgarit Bộ lọc tần số này được xác định bởi phương trình (1):
Log-Trong đó f0 là tần số trung tâm và σ là băng thông bộ lọc Mỗi một hàng định danh được chuẩn hóa coi như một tín hiệu đơn 1D, xử lý bởi thao tác nhân chập bằng bộ lọc Log-Gabor 1D (xem hình 5)
Trang 104) Giai đoạn đối sánh
Điểm đối sánh được tính thông qua tính toán khoảng cách Hamming giữa hai định danh cuối cùng Mẫu thu được trong quá trình tạo định danh sẽ cần đối sánh số đo tương ứng tiêu chuẩn cung cấp để đánh giá mức độ tương đồng giữa hai định danh Nếu hai mô hình X và Y được so sánh, khoảng cách Hamming (HD) được định nghĩa là tổng các bit không liên quan ở
vị trí tương đồng (hoạt động XOR giữa X và Y bit)
Nói cách khác, thuật toán đối sánh tuân theo phương trình (2):
Trong đó N là tổng số bit
Hình 5: Mã nhận dạng vân tay được mã hóa thu được khi áp dụng bốn mức lượng tử hóa
trong bộ lọc Log-Gabor 1D
- Tạo và phân phối khóa công khai, khóa bí mật
Biometric RSA sử dụng thuật toán RSA cải tiến để tính toán hai khóa từ các đặc điểm dấu vân tay của mỗi người dùng được lưu trữ trên Smartcard trong giai đoạn đăng ký
Hệ thống PKI sinh trắc mới được đề xuất chỉ tập trung vào việc tạo khóa bí mật khi cần Khóa bí mật được tạo ra có thể được sử dụng cho hai nhiệm vụ chung: giải mã và chứng thực tài liệu Bằng cách này, khóa bí mật không thể bị mất hoặc bị đánh cắp
Trong giai đoạn tạo khóa công khai, người dùng phải đăng ký vào hệ thống/nền tảng ứng dụng với dấu vân tay của mình Sau khi người dùng lấy dấu vân tay, định danh được trích xuất và lưu trữ trong Smartcard của người dùng Sử dụng thông tin định danh để tạo và phân phối khóa công khai (xem hình 6)
Hình 6: Pha tạo khóa công khai
Trang 11Trong giai đoạn tạo khóa bí mật, người dùng phải trải qua giai đoạn xác thực Cụ thể hơn, người dùng giới thiệuSmartcard đến người đọc và đưa ra dấu vân tay của mình thông qua cảm biến Hai dữ liệu này được xử lý: nếu người dùng được xác thực chính xác, thì họ có thể đăng nhập vào hệ thống để sử dụng và quản lý dữ liệu, dịch vụ, tài nguyên, và cũng có thể tạo
ra khóa bí mật của mình; Nếu người dùng không được chứng thực thì họ sẽ bị từ chối bởi hệ thống (xem hình 7)
Hình 7: Giai đoạn tạo khóa bí mật
DoD đã phát hành thành công các chứng chỉ số trên Common Access Cards (CAC) tới hơn 85% trong tổng số 3,5 triệu người sử dụng PKI của DoD bao gồm một Root CA và nhiều
CA cấp dưới Root CA chỉ cấp giấy chứng nhận cho CA cấp dưới Các CA cấp dưới phát hành năm loại chứng chỉ: định danh, chữ ký, mã hóa, Componentvà Code Signing Tất cả các khóa bí mật liên quan đến chứng chỉ mã hóa đều được đảm bảo trước khi phát hành chứng chỉ Ngoài ra, để cập nhật hồ sơ chứng nhận và CA, DoD phải quản lý các vấn đề chuyển đổi Smartcard của người dùng Sử dụng không gian thẻ thông minh, giải pháp được đề xuất này
sẽ cho phép người dùng thực hiện bảo trì thẻ, chẳng hạn như cập nhật chứng chỉ từ máy trạm
cá nhân thay vì phải quay lại trạm cấp phát
4 Kết quả đạt được
Dựa trên các bài báo nghiên cứu, bài viết đạt được kết quả sau: nghiên cứu giải thuật RSA cải tiến sử dụng ba số nguyên tố p, q, s ứng dụng trong hệ thống Biometric RSA Trong giải thuật RSA cải tiến, khóa công khai (e, n) giống như thuật toán RSA ban đầu Tuy nhiên, điểm mới của RSA cải tiến là quá trình tạo khóa, và khóa bí mật, bản mã thu được Thành phần khóa bí mật trong RSA cải tiến bao gồm bảy yếu tố thay vì chỉ có hai yếu tố (d, n) như trước Và bản mã nhận được là một cặp (C1, C2) Giải thuật mới đã cải thiện tốc độ giải mã nhờ sử dụng cơ chế bảo mật RSA CRT làm giảm một số cuộc tấn công có thể xảy ra trên thuật toán RSA Độ phức tạp mã hóa của thuật toán là 22n2
+ O (n3) và độ phức tạp giải mã là (8u + 6ne + 10) n2 + O (n2) Nếu so sánh với độ phức tạp của thuật toán RSA ban đầu nhận thấy rằng giải pháp sử dụng thuật toán RSA cải tiến tốn kém ít hơn
5 Kết luận
Trong bài báo này, dấu vân tay đã được tích hợp trong thuật toán RSA cải tiến để phát triển một hệ thống mã hóa bất đối xứng mới Trong giai đoạn đăng ký, đặc điểm sinh trắc được thu thập và xử lý để trích xuất các điểm riêng biệt Được biểu diễn dạng mã và lưu trữ
Trang 12trong Smartcard của người dùng Trong giai đoạn xác thực, định danh sinh trắc đã đăng ký kết hợp định danh sinh trắc truy vấn để xác thực người dùng và tạo cặp khóa công khai/bí mật Với giải pháp được đề xuất, khóa bí mật của người dùng được đảm bảo an toàn hơn so với khóa bí mật được tạo bởi thuật toán RSA ban đầu Bài toán trong tương lai được mở rộng đối với một số đặc tính sinh trắc học đặc biệt khác
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
[1] Nguyễn Tài Nguyên, Nguyễn Đức Huy (2010), “Ứng dụng sinh trắc học trong chứng
thực mạng riêng ảo”, tạp chí Công nghệ thông tin và truyền thông, kỳ 2, số (1), trang 45
[2] Bùi Ánh Dương (2006), “Bảo mật thông tin sử dụng cơ sở hạ tầng khóa công khai
(PKI), Luận văn thạc sĩ khoa học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Tiếng Anh
[1] Jagadeesan, T Thillaikkarasi, K Duraiswamy, “Cryptographic Key Generation
from Multiple Biometric Modalities: Fusing Minutiae with Iris Feature”, International
Journal of Computer Applications (0975-8887) Vol 2-No.6, pp 16-26, June 2010
[2] C Militello, V Conti, S Vitabile and F Sorbello, “Embedded Access Points for
Trusted Data and Resources Access in HPC Systems”, The Journal of Supercomputing - An
international journal of HighPerformance Computer Design, Analysis and Use, Springer Netherlands Publisher, 2010, ISSN 0920-8542, Vol 55, N° 1, pp 4-27, (ISSN Online 1573-0484), doi:10.1007/s11227-009-0379-1
[3] V Conti, C Militello, S Vitabile and F Sorbello, “A Multimodal Technique for an
Embedded Fingerprint Recognizer in Mobile Payment Systems”, International Journal on
Mobile Information Systems-Vol 5, No 2, 2009, pp 105-124, IOS Press Ed., ISSN: 017X, doi:10.3233/MIS-2009-0076
1574-[4] Vincenzo Conti, S V (2012) Fingerprint Traits and RSA Algorithm Fusion
Technique Sixth International Conference on Complex, Intelligent, and Software Intensive
Systems, (pp 351-356) Palermo
[5] Nikita Somani, Dharmendra Mangal “An Improved RSA Cryptographic System”,
International Journal of Computer Applications (0975-8887), Volume 105- No 16, November 2014 [6] J Daemen, V Rijmen AES proposal: Rijndael
From web: http://csrc.nist.gov/encryption/aes/round2/AESAlgs/Rijndael/Rijndael.pdf
[7] A H Al-Hamami and I A Aldariseh, “Enhanced Method for RSA Cryptosystem
Algorithm”, IEEE International Conference on Advanced Computer Science Applications and
Technologies, pp 402-408, 2012
[8] V.Conti, C Militello, F.Sorbello, S.Vitabile “A Frequency-based Approach for
Features Fusion in Fingerprint and Iris Multimodal Biometric Identification Systems”, IEEE
Transactions on Systems, Man, and Cybernetics (SMC) Part C: Applications & Reviews, pp.384-395 ISSN: 1094 6977, doi:10.1109/TSMCC.2010.2045374
[9] Gang Zheng, Wanqing Li and Ce Zhan, “Cryptographic Key Generation from
Trang 13Biometric Data Using Lattice Mapping”, in Proceedings of the 18th International Conference
on Pattern Recognition, vol.4, pp 513-516, 2006
[10] Beng.A, Jin Teoh and Kar-Ann Toh, “Secure biometrickey generation with
biometric helper”, in proceedings of 3rd IEEE Conference on Industrial Electronics and
Applications, pp.2145-2150, Singapore, June 2008
COMBINATION OF FINGERPRINT AND IMPROVED RSA
ALGORITHM IN INFORMATION SECURITY
Trinh Văn Anh, Ph.D student
Do Thi Hang, M.A
Abstract: The article analyzes a safe computing system which focuses on the
asymmetric key generation based on biometrics Typically, PKI systems based on secret / public keys are created via RSA or similar algorithms The current solution is to embed biometrics into the process of generating a secret / public key Initial tests show that creating asymmetric keys depends on the actual accuracy of biometrics that ensures unique asymmetric keys for each authenticated user
Key words: fingerprint, asymmetric coding techniques, combination of biometrics and
encryption algorithms
Người phản biện: NCS Trịnh Tất Đạt (ngày nhận bài 03/01/2019; ngày gửi phản biện 05/01/2019; ngày duyệt đăng 02/4/2019)
Trang 14ĐÀO TẠO TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH CHO HƯỚNG DẪN VIÊN
DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
TS Lê Thanh Hà 1
Tóm tắt: Nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành du
lịch Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ nhân lực du lịch nói chung và hướng dẫn viên du lịch nói riêng của Thanh Hóa vẫn còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề, đặc biệt
là ngoại ngữ Bài viết đi sâu phân tích thực trạng năng lực sử dụng tiếng Anh chuyên ngành của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề xuất một số giải pháp đào tạo nhằm nâng cao trình độ tiếng Anh chuyên ngành cho đội ngũ này trong thời gian tới
Từ khóa: Tiếng Anh chuyên ngành du lịch, hướng dẫn viên du lịch, nguồn nhân lực du lịch
1 Mở đầu
Tiếng Anh chuyên ngành du lịch là tiếng Anh mang đặc thù chuyên môn ở lĩnh vực hẹp
Hệ thống chủ điểm của tiếng Anh chuyên ngành du lịch gắn với các nội dung chuyên sâu của chuyên ngành, mang tính đặc thù riêng của ngành du lịch và rất cần thiết cho công việc của hướng dẫn viên du lịch Như vậy, để hiểu được thế nào là tiếng Anh chuyên ngành du lịch, chúng ta cần phải nắm được các khía cạnh công việc đòi hỏi người hướng dẫn viên du lịch sử
dụng tiếng Anh
Trong nghiên cứu đăng trên tạp chí English for Specific Purposes World, Nittaya Sanguanngarm (2011) đã tổng hợp hai nhiệm vụ chính của hướng dẫn viên cần sử dụng tiếng Anh:
- Dẫn chương trình du lịch (đón khách tại điểm; cung cấp thông tin cần thiết cho khách; thuyết minh tuyến điểm và giới thiệu các kiến thức văn hóa, lịch sử, xã hội liên quan; trả lời câu hỏi và thắc mắc của khách; tiễn khách)
- Lên và mô tả lịch trình chương trình du lịch
Tiếng Anh chuyên ngành du lịch cũng không nằm ngoài bối cảnh chung của việc học và
sử dụng tiếng Anh phổ thông (GE) và tiếng Anh chuyên ngành (ESP) Muốn sử dụng được tiếng Anh chuyên ngành du lịch, người học phải tương đối thông thạo ESP để có cơ sở về kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng diễn đạt và kỹ năng nhận thức hỗ trợ cho tiếng Anh hướng dẫn
du lịch hình thành và phát triển Do đặc thù công việc, các hướng dẫn viên du lịch cần có khả năng giao tiếp tốt không chỉ liên quan đến giao tiếp thông thường hay tiếng Anh để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể mà còn cần vốn tiếng Anh sâu rộng về mọi lĩnh vực, đặc biệt là các kiến thức văn hóa
Như vậy, tiếng Anh chuyên ngành du lịch được xem là một yếu tố cơ bản hình thành nguồn nhân lực có năng lực nghề nghiệp cao, thích nghi với đòi hỏi khắt khe của thị trường sức lao động Trình độ hiểu biết và sử dụng tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành du
1 Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
Trang 15lịch rõ ràng đóng vai trò có tính xung lực trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tỉnh Thanh Hóa theo những chuẩn mực quốc tế
2 Năng lực sử dụng tiếng Anh của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Trong những năm qua, công tác xây dựng và phát triển đội ngũ hướng dẫn viên du lịch được ngành du lịch Thanh Hóa hết sức quan tâm Tuy nhiên trên thực tế, đội ngũ này đang vừa thiếu về số lượng vừa hạn chế về chất lượng, có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động du lịch trên địa bàn
Về số lượng, theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa đến hết tháng 6/2017, toàn tỉnh có hơn 70 thuyết minh viên và 270 hướng dẫn viên được cấp thẻ (hơn 220 hướng dẫn viên nội địa và 50 hướng dẫn viên quốc tế) Trong đó, có 4 hướng dẫn viên trình độ thạc sĩ, 180 hướng dẫn viên trình độ đại học, còn lại là trình độ cao đẳng và trung cấp Về chất lượng, trình độ chuyên môn của một số hướng dẫn viên chưa đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của khách du lịch, biểu hiện ở nội dung thông tin thuyết minh còn sơ sài, chưa phong phú, hấp dẫn; kỹ năng nghiệp vụ hướng dẫn của các thuyết minh viên (TMV) còn hạn chế, nhất là giọng nói và phong cách hướng dẫn Đáng chú ý là vẫn còn nhiều hướng dẫn viên không biết ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng hoặc sử dụng chưa được tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch
Qua khảo sát 50 hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tác giả bài viết đưa
ra một số kết quả khảo sát và phân tích năng lực sử dụng tiếng Anh của khách thể nghiên cứu như sau:
Đa số hướng dẫn viên cho rằng tiếng Anh có vai trò quan trọng đối với nghề nghiệp của
họ (chiếm 90%) Có 10% số hướng dẫn viên đánh giá tiếng Anh du lịch ở mức rất quan trọng Như vậy, tất cả hướng dẫn viên du lịch tham gia nghiên cứu đều nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của tiếng Anh đối với ngành nghề của mình Điều này phản ánh thực tế nhu cầu phát triển
du lịch trong thời kỳ hội nhập thế giới mà tiếng Anh trở thành phương tiện giao tiếp chính Bên cạnh đó, kết quả khảo sát cũng cho thấy năng lực sử dụng tiếng Anh chuyên ngành của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch còn khá hạn chế Cụ thể, có đến 70% đánh giá năng lực tiếng Anh ở mức trung bình và kém, 8% số hướng dẫn viên tự nhận ở mức khá Như vậy, có thể thấy, năng lực sử dụng tiếng Anh của đa số đội ngũ hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn Thanh Hóa còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong hoạt động chuyên môn
Du lịch là ngành có nhân lực sử dụng được ngoại ngữ khá cao, chiếm 60% tổng số nhân lực; nhân lực biết ngoại ngữ nhiều nhất là tiếng Anh, chiếm khoảng 42% nhân lực toàn ngành;
tuy nhiên, đặc thù của ngành du lịch đòi hỏi tỷ lệ này phải nâng cao hơn nữa Trong Quy
hoạch phát triển nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2011 - 2020, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch Việt Nam đã ban hành Quyết định số 3066/QĐ-BVHTTDL ngày 29/9/2011 khẳng định tầm quan trọng của tiếng Anh trong ngành du lịch
Theo đó, việc đào tạo, nâng cao năng lực tiếng Anh chuyên ngành cho đội ngũ hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là một vấn đề cấp thiết hiện nay
Trang 163 Một số giải pháp trong đào tạo tiếng Anh chuyên ngành cho đội ngũ hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
3.1 Xây dựng chương trình đào tạo
Các cơ sở đào tạo chương trình tiếng Anh chuyên ngành du lịch nên phối hợp với nhau trong thiết kế và xây dựng chương trình đủ năng lực, đảm trách tốt việc xây dựng chương trình nhằm đảm bảo hiệu quả giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cho người học Trong việc xây dựng chương trình phải chú ý đến tính liên tục và tính kế thừa để nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh chuyên ngành cho đội ngũ hướng dẫn viên đang công tác trong ngành du lịch trên địa bàn tỉnh Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo tiếng Anh chuyên ngành cho nghề hướng dẫn du lịch theo hướng chuẩn hóa và thống nhất Đổi mới cơ bản việc xây dựng chương trình đào tạo dựa vào chuẩn kiến thức, kỹ năng được quy định trong các thang chuẩn đánh giá năng lực tiếng Anh quốc gia và quốc tế hiện hành
3.2 Phát triển tài liệu dạy học
Phát triển tài liệu dạy học là một trong những kỹ năng quan trọng của người dạy Với sự trợ giúp của những tổ chức nước ngoài, tài liệu mẫu về tiếng Anh du lịch, các đơn vị đào tạo cần phối hợp để thống nhất biên soạn bộ giáo trình chuẩn, cập nhật và phù hợp với nhu cầu đào tạo mới Phát triển tài liệu dạy học tiếng Anh chuyên ngành du lịch cho nghề hướng dẫn
du lịch phù hợp với thực tế hoạt động nghiệp vụ ở địa bàn tỉnh; cập nhật phù hợp với nhu cầu đào tạo mới và dùng thống nhất trên toàn quốc Đẩy mạnh việc triển khai xây dựng ngân hàng
đề thi trên cơ sở quy chuẩn cho lĩnh vực hướng dẫn du lịch dựa trên các chương trình, giáo trình và tài liệu tham khảo chung đã được thống nhất
Để dạy học tiếng Anh du lịch theo nhu cầu xã hội, trước hết cần vạch ra các mục tiêu cần đạt được của học phần, từ đó xây dựng các bài học và lựa chọn tài liệu phù hợp Hiện nay,
có rất nhiều tài liệu dạy học tiếng Anh du lịch phổ biến Tuy nhiên, lựa chọn một, hai hoặc ba giáo trình đáp ứng đủ các mục tiêu đặt ra là điều khó khả thi Vì vậy, cần thiết phải biên soạn một bộ giáo trình phù hợp bằng việc lựa chọn các bài dạy đáp ứng mục tiêu dạy học từ các bộ giáo trình có sẵn kết hợp sử dụng tài liệu thực tế và các bài do giảng viên tự biên soạn
Bên cạnh đó, việc kết hợp sử dụng tài liệu thực tế cũng là một giải pháp cần thiết Ngoài các bài học có trong giáo trình đã xuất bản, việc dạy học tiếng Anh cho hướng dẫn viên du lịch cần phải theo hướng tiếp cận tài liệu hiện đại Vì vậy, cập nhật các thông tin du lịch trên mạng Internet về thực tế công việc của một hướng dẫn viên du lịch để đưa vào bài học là một phần quan trọng trong dạy học tiếng Anh chuyên ngành du lịch cho người học
3.3 Hình thức tổ chức dạy học
Đa dạng các hình thức tổ chức dạy học nhằm phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ cho hướng dẫn viên ngành du lịch
Thứ nhất, dạy học tiếng Anh theo định hướng giao tiếp: Xuất phát từ mục đích sử dụng
ngôn ngữ, việc dạy học tiếng Anh du lịch chủ yếu nhằm phát triển khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong các tình huống du lịch Dạy học tiếng Anh du lịch theo phương pháp dạy giao tiếp qua đối thoại đòi hỏi người học phải biết cách sử dụng tiếng Anh để tham gia vào các cuộc thảo luận, đàm thoại về các vấn đề liên quan đến du lịch
Trang 17Thứ hai, dạy học tiếng Anh du lịch theo định hướng phát triển tính tự chủ cho người
học: Sử dụng bài tập lớn cá nhân, bài tập lớn theo nhóm giúp người học chủ động tự nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn các vấn đề về văn hóa du lịch của một vùng miền cụ thể theo sở thích
cá nhân và nhu cầu công việc
Thứ ba, dạy học tiếng Anh du lịch theo chủ đề: Tổ chức các hoạt động dạy học (nghe,
nói, đọc, viết, thuyết trình…) xoay quanh các vấn đề liên quan đến văn hóa du lịch như ẩm thực, phong tục tập quán, làng nghề, lễ hội, di tích lịch sử… Các chủ đề mà các hướng dẫn viên thường gặp trong công việc thực tế
Thứ tư, dạy học tiếng Anh du lịch theo tình huống: Người học đóng vai nhân viên
công ty lữ hành, hướng dẫn viên du lịch ở các địa điểm du lịch Ở mỗi vai, người học phải biết sử dụng ngôn ngữ phù hợp, có thái độ ứng xử lịch sự, thể hiện tính chuyên nghiệp Các tình huống tương tác với khách du lịch thực tế được lồng vào trong bài học nhằm nâng cao năng lực giải quyết vấn đề, khả năng phản xạ tiếng Anh cho hướng dẫn viên du lịch và thuyết minh viên
3.4 Hình thức kiểm tra, đánh giá
- Đa dạng hình thức kiểm tra, đánh giá thường xuyên Cụ thể, ngoài hình thức bài kiểm tra viết truyền thống, có thể sử dụng các hình thức đánh giá thông qua thuyết trình, bài tập lớn
cá nhân và nhóm, đóng vai trong các tình huống du lịch
- Đánh giá bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Trên thực tế ở phần lớn các khóa học, vì
một số điều kiện khách quan, hình thức đánh giá chủ yếu thông qua bài kiểm tra đọc - viết
trên giấy Tuy nhiên, đối với các lớp bồi dưỡng tiếng Anh cho hướng dẫn viên du lịch và thuyết minh viên, các bài kiểm tra cần được thiết kế đặc thù, chú trọng vào kiểm tra năng lực giao tiếp, kỹ năng nghe nói và xử lý các tình huống du lịch mà họ gặp phải
3.5 Nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên giảng dạy
Theo nhu cầu xã hội, việc dạy học tiếng Anh du lịch không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức chuyên ngành bằng tiếng Anh cho người học, mà điều quan trọng hơn là phát triển kỹ năng giao tiếp, khả năng sử dụng kiến thức chuyên ngành hiệu quả trong quá trình làm việc phục vụ khách du lịch nước ngoài Vì vậy, giáo viên giảng dạy tiếng Anh cho hướng dẫn viên phải là giáo viên tiếng Anh Với kỹ năng tổ chức các hoạt động ngôn ngữ trong và ngoài lớp học, giáo viên tiếng Anh có khả năng biến quá trình tiếp thụ kiến thức chuyên ngành bị động của sinh viên thành quá trình học tập chủ động, tích cực
Hơn nữa, để đạt được chất lượng đào tạo theo yêu cầu, việc đào tạo giáo viên chuyên ngành nói chung và tiếng Anh du lịch nói riêng là một yếu tố rất quan trọng vì ngoài kiến thức ngôn ngữ và văn hóa nói chung, giáo viên cần có kiến thức chuyên ngành chuyên sâu nhất định Để đáp ứng yêu cầu này, giáo viên tiếng Anh du lịch cần phải tham gia các khóa bồi dưỡng, các hội thảo chuyên ngành, đồng thời làm việc trực tiếp với giáo viên chuyên ngành
để có kiến thức sâu hơn về lĩnh vực này
Với vai trò của người giáo viên tiếng Anh chuyên ngành, ngoài việc nắm vững mục tiêu của học phần, hiểu rõ nội dung dạy học, hình thức tổ chức dạy học, và kiểm tra đánh giá, còn phải linh hoạt để nắm bắt những thay đổi trong ngành, nhằm đáp ứng việc dạy học hướng tới
Trang 18nâng cao năng lực người học, đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ của nguời học và nhu cầu của xã hội vốn không ngừng phát triển và thay đổi Điều này yêu cầu người giáo viên tiếng Anh chuyên ngành phải luôn cập nhật thông tin, tự học hỏi để theo kịp sự phát triển của ngành
4 Kết luận
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng với sự phát triển kinh tế Việt Nam nói riêng và kinh tế ASEAN nói chung Theo Tổ chức Du lịch thế giới, trong thế kỷ 21 du lịch trở thành hoạt động kinh tế quan trọng nhất trên phạm vi toàn cầu Với vai trò ngày càng tăng của ngành du lịch, nhiều quốc gia đã coi du lịch là động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội
Theo đó, để lao động du lịch Việt Nam nói chung và lao động làm việc trong ngành du lịch Thanh Hóa nói riêng, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có thể đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của du khách trong bối cảnh hiện nay, thì vấn đề đào tạo, nâng cao năng lực tiếng Anh chuyên ngành cần được quan tâm thường xuyên và có giải pháp cụ thể triển khai trong thời gian tới
Từ việc phân tích cơ sở lý luận và kết quả thu được qua khảo sát về nhận thức, năng lực tiếng Anh của hướng dẫn viên du lịch, chúng tôi đề xuất những giải pháp về việc xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, phương pháp dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá và bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội về sử dụng tiếng Anh chuyên ngành lĩnh vực du lịch một cách hiệu quả
Tài liệu tham khảo
[1] Hoài Anh (2019), Nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên Nguồn
vien-thuyet-minh-vien.html
dẫn:http://vanhoadoisong.vn/web/trang-chu/du-lich/nang-cao-chat-luong-doi-ngu-huong-dan-[2] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2011), Quy hoạch phát triển nhân lực ngành du
lịch giai đoạn 2011 - 2020
[3] Hutchinson, Tom & Waters, Alan (1987) English for Specific Purposes: A
learner-centered approach Cambridge University Press
[4] Hutchinson, T & Waters, A (1993) English for specific purposes, Target needs
Cambridge: Cambridge University Press
[5] Johns, A (1991) English for Specific Purposes: Its History and Contribution
Teaching English as a Second or Foreign Language Boston: Heinle and Heinle Publishers
Trang 19TRAINING ENGLISH FOR TOURISM TO TOURIST GUIDES IN
THANH HOA NOWADAYS
Le Thanh Ha, Ph.D
Abstract: Human resources play a very important role in tourism development
However, there exist many limitations in professional qualifications, vocational skills, especially foreign languages among the tourism staff in general and tourist guides in particular in Thanh Hoa The article analyzes the current situation of tourist guides’ competence of English for Tourism, thereby proposing some solutions to improve their proficiency of specialized English
Key words: English for Tourism, tourist guide, tourism human resource
Người phản biện: TS Vũ Văn Tuyến (ngày nhận bài 28/02/2019; ngày gửi phản biện 28/02/2019; ngày duyệt đăng 02/4/2019)
Trang 21VAI TRÕ CỦA TRUYỀN THÔNG TRONG QUẢNG BÁ
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở THANH HÓA
ThS Mai Thị Thúy An 1
Tóm tắt: Truyền thông được hiểu là quá trình chia sẻ, truyền tải thông tin từ một
người/một nhóm người đến một người hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin tạo nền tảng vững chắc cho vai trò có tính “quyền lực” của truyền thông Du lịch cộng đồng là hoạt động kinh tế có tính
xã hội hóa cao nên vai trò của truyền thông lại càng trở nên quan trọng Bài viết tập trung làm rõ vai trò của truyền thông trong việc quảng bá du lịch cộng đồng từ thực tế hoạt động
Theo Luật Du lịch năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi”
Từ góc nhìn văn hóa xã hội, du lịch cộng đồng được xem như là hình thức du lịch mang tính môi trường, xã hội và văn hóa bền vững Hình thức du lịch này lấy cộng đồng làm trung tâm: do cộng đồng quản lý, làm chủ và vì cộng đồng, với mục đích mang đến cho du khách những trải nghiệm độc đáo về sự đa dạng văn hóa, khám phá thiên nhiên, hòa mình vào cuộc sống lao động thường ngày của người dân địa phương Du lịch cộng đồng không phải nhằm giải quyết câu hỏi: “bằng cách nào để kiếm được lợi nhuận nhiều hơn từ du lịch” thay vào đó, câu hỏi được đặt ra là “bằng cách nào du lịch đóng góp vào quá trình phát triển cộng đồng” [3] Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang làm thay đổi diện mạo thế giới như hiện nay, vai trò “quyền lực mềm” của truyền thông càng được khẳng định rõ nét Du lịch với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp việc quảng bá sản phẩm, định hướng tiêu dùng và điều chỉnh hành vi của các bên liên quan không thể thiếu vắng vai trò của truyền thông
Du lịch cộng đồng là hoạt động du lịch khá mới ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng Vì thế, vai trò của truyền thông không chỉ là quảng bá về các sản phẩm, dịch
vụ du lịch mà còn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa của xứ Thanh
1
Trang 222 Một số vấn đề cơ bản của truyền thông quảng bá về du lịch cộng đồng
Truyền thông trong du lịch là quá trình truyền tải thông tin từ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tới công chúng để họ biết đến những sản phẩm, dịch vụ, các chương trình của doanh nghiệp, lợi ích mà các sản phẩm hoặc dịch vụ có thể cung cấp cho khách hàng
Truyền thông tích hợp là sự phối hợp tất cả những hình thức truyền thông thành một chương trình đồng nhất nhằm tác động nhiều nhất đến những đối tượng cần được quảng bá
Có 6 yếu tố chính tham dự vào quá trình truyền thông:
Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông
Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển thể thông điệp từ
nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận
Phản hồi/Hiệu quả: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp người nhận gửi trở
về nguồn phát
Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền
thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý…)
Người nhận: là đối tượng công chúng mà các kênh truyền thông muốn tiếp cận để truyền
tải thông điệp từ nguồn phát Đây là yếu tố cuối cùng trong quá trình truyền thông, cũng là khâu cuối cùng quyết định hiệu quả, biến mục đích của truyền thông từ khả năng thành hiện thực Quảng bá được hiểu là sự phổ biến rộng rãi về một đối tượng nào đó bằng các phương tiện truyền tải thông tin, nhằm thu hút sự chú ý, từ đó tạo ra nhu cầu tiêu dùng
Quảng bá là cách thức của một doanh nghiệp, một địa phương, một vùng, miền hay ngành kinh tế, một quốc gia nhằm tạo ra và duy trì một hình ảnh sản phẩn trước công chúng,
có lợi cho việc kinh doanh trên thị trường Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc thực hiện chính sách về quảng bá là hoạt động cần thiết, quan trọng
Hoạt động truyền thông quảng bá du lịch lấy mục tiêu của truyền thông quảng bá làm trung tâm, lấy nhu cầu của khách du lịch làm phương hướng chủ đạo, truyền tải các thông tin đến mọi người để kích thích nhu cầu của khách hàng Truyền thông quảng bá du lịch cần đảm bảo một số nguyên tắc như: tính chọc lọc, tính chân thực của thông tin, tính độc đáo và tạo được ấn tượng, nội dung thông tin ngắn gọn, xúc tích và dễ hiểu, tính thực tiễn, tạo ra những điều mới lạ, tính liên tục, tính kinh tế
Truyền thông quảng bá du lịch được hiểu là hoạt động cung cấp thông tin, hình ảnh về một điểm đến, sản phẩm du lịch cho đối tượng quan tâm để thúc đẩy nhu cầu du lịch và nhu cầu mua sản phẩm du lịch, hưởng thụ dịch vụ tại điểm đến đó Mục tiêu của truyền thông quảng bá du lịch thể hiện ở việc nâng cao được hình ảnh của điểm đến nhất định nào đó và thu hút khách du lịch
3 Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng ở Thanh Hóa
Nói đến tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng trước hết là nói đến nguồn tài nguyên phong phú để phát triển du lịch ở Thanh Hóa, bao gồm: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hệ thống giao thông… và đặc biệt là các giá trị văn hóa địa phương đặc sắc được tạo nên bởi hơn 3,67 triệu người, với 7 dân tộc: Kinh, Mường, Thái, H’Mông, Dao, Thổ, Hoa [7]
Trang 23Thanh Hóa nằm ở cực bắc miền Trung, cách thủ đô Hà Nội 150 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km về phía Nam Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hòa Bình
và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông là biển thuộc vịnh Bắc Bộ
Hệ thống giao thông của Thanh Hóa khá thuận lợi: có đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế Hiện tại, Thanh Hóa có sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch [7]
Địa hình của tỉnh Thanh Hóa khá đa dạng, được chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng núi và trung du, vùng đồng bằng, vùng ven biển Với 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000
km2, cùng các bãi biển nổi tiếng như: Sầm Sơn, Hải Tiến (Hoằng Hóa), Hải Hòa (Tĩnh Gia), Thanh Hóa trở thành một trong những vùng trọng điểm để phát triển du lịch biển của Việt Nam Bên cạnh tài nguyên biển, Thanh Hóa còn có 11 huyện miền núi, diện tích rộng hơn 8.000 km2, nơi đây sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng: rừng, hồ, núi, hang động, thác nước và nhiều cảnh quan hùng vĩ Đến với miền Tây xứ Thanh du khách sẽ được thỏa sức với niềm đam mê khám phá thiên nhiên hoang dã, tận hưởng không khí trong lành ở khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Pù Hu, Xuân Liên, vườn quốc gia Bến En… Đặc biệt về mặt địa hình, cảnh quan, khí hậu vùng núi hoàn toàn có những lợi thế để phát triển thể thao nước, leo núi mạo hiểm, du lịch thăm quan nghỉ dưỡng kết hợp trong loại hình du lịch cộng đồng
Ngoài ra, Thanh Hóa được xem là vùng đất “địa linh nhân kiệt” có bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa độc đáo Vào sơ kỳ thời đại đá cũ, Thanh Hóa là nơi sinh sống của người nguyên thủy với các di chỉ khảo cổ ở núi Đọ, núi Quan Yên, núi Nuông Đặc biệt, phải kể đến hang Con Moong là nơi chứng kiến các giai đoạn phát triển liên tục của con người từ hậu kỳ đá cũ sang thời đại đá mới Suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Thanh Hóa đã xuất hiện nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu như: Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Lê Văn Hưu, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ Cùng với những trang lịch sử oai hùng, Thanh Hóa có 1.535 di tích, trong đó có 134 di tích được xếp hạng quốc gia, 412 di tích
đã xếp hạng cấp tỉnh Với 160 lễ hội truyền thống liên quan đến di tích lịch sử, 50 lễ hội liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo và văn hóa đặc trưng riêng biệt [7]
Bên cạnh những tiềm năng về điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch cộng đồng thì Thanh Hóa còn được xem là một trong những cái nôi của những giá trị văn hóa phi vật thể của người Việt và của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn lưu lại đậm nét đến ngày nay Âm nhạc dân gian của đồng bào tỉnh Thanh Hóa chứa đựng nhiều sắc thái tình cảm: đồng bào Mường có âm nhạc cồng chiêng, đàn đá; người Thái có khua luống, trống chiêng; người Mông có kèn lá, kèn môi, khèn; người Kinh sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ dây, gõ, hơi với các cung bậc tình cảm phong phú [8] Chính lối sống, sinh hoạt đậm nét địa phương của dân cư xứ Thanh là tiềm năng to lớn có tính cạnh trạnh trong việc phát triển du lịch cộng đồng ở nơi đây
Trang 24Mô hình du lịch cộng đồng ở Thanh Hóa đã bắt đầu xây dựng và bước đầu có hiệu quả ở một số nơi như: Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh… Nổi tiếng nhất phải kể đến khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (thuộc địa phận hai huyện Quan Hóa và Bá Thước) Một số dạng tham gia phổ biến của cộng đồng vào hoạt động du lịch có thể kể đến như: Xây dựng các khu nghỉ dưỡng dựa trên lối sống (nhà sàn, bếp củi…) của người dân bản địa; Cho khách thuê trọ và ở chung trong nhà dân; Lập các nhà nghỉ bình dân dưới sự điều hành chung của cộng đồng hoặc
có đóng góp cho cộng đồng; Người dân làm hướng dẫn viên, làm lễ tân, nấu ăn phục vụ du khách ; Tham gia hướng dẫn, hỗ trợ các hoạt động của du khách như: làm đồng, khám phá hang động, leo núi ; Sản xuất hàng hóa và bán hàng lưu niệm để bán trực tiếp cho khách không qua trung gian…
Tuy nhiên, các dự án du lịch cộng đồng không dễ triển khai khi năng lực của cộng đồng chưa đủ để họ có thể giữ vai trò chủ động Có thể nói, sức mạnh nội lực của chính cộng đồng
là nền tảng của nguyên tắc tham gia và trao quyền của du lịch cộng đồng Trước những biến động của cuộc sống hiện đại, việc tham gia vào hoạt động du lịch giúp cho cư dân địa phương đảm bảo cuộc sống, từ đó tạo ra những động lực để bảo tồn văn hóa truyền thống Đây cũng chính là nội dung trọng tâm mà truyền thông cần phải truyền tải, từng bước làm rõ và thấm nhuần đến cộng đồng góp phần vào việc phát triển du lịch nước nhà
4 Những vai trò cụ thể của truyền thông trong việc quảng bá du lịch cộng đồng tại Thanh Hóa
4.1 Vai trò quảng bá sức hấp dẫn của điểm đến, sản phẩm và dịch vụ du lịch cộng đồng
Trong thời đại mở cửa, mối quan hệ giao thương giữa các vùng và các quốc gia phát triển, cơ sở vật chất về giao thông được đầu tư, việc di chuyển, đi lại ngày càng dễ dàng Nhờ
đó, mong muốn được đi du lịch, khám phá thế giới của con người có điều kiện được thỏa mãn Tuy nhiên, chính điều đó đặt con người trước quá nhiều sự lựa chọn: đi đâu?, sử dụng sản phẩm, dịch vụ nào?… Nếu như trước đây đối với ngành du lịch, nhiệm vụ của truyền thông là giới thiệu các điểm đến, sản phẩm, dịch vụ thì bây giờ truyền thông phải đóng góp vai trò tư vấn giúp du khách giải quyết được vấn đề đang đặt ra
Truyền thông trong du lịch góp phần đưa đến cho du khách những thông tin chân thực, khách quan, rõ ràng và đầy đủ về điểm đến, sản phẩm, dịch vụ Những kênh truyền thông du lịch tin cậy không chỉ là nơi giới thiệu mà còn trở thành các chuyên gia tư vấn, định hướng cho du khách Sự bùng nổ của công nghệ thông tin, kéo theo sự phát triển của các kênh truyền thông, đặt ngành du lịch trong sự canh tranh khốc liệt, không chỉ về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ mà còn là sự cạnh tranh về việc sử dụng truyền thông để quảng bá một cách hiệu quả Lúc này, vai trò của truyền thông trong du lịch không chỉ là đưa thông tin đơn thuần mà còn
là phải phổ biến một cách sâu rộng sức hấp dẫn của điểm đến, sản phẩm và dịch vụ tạo sự kích thích, thôi thúc và tiến tới thúc đẩy quyết định lựa chọn của du khách
Du lịch là một ngành kinh tế có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Bản chất hoạt động du lịch là sự khám phá, trải nghiệm Nhìn chung, khách du lịch muốn đi đến những vùng đất mới lạ, tìm hiểu những nền văn hóa độc đáo, trải nghiệm những lối sống khác nhau Theo số liệu từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, năm 2017, du lịch Thanh Hóa đã
Trang 25đón khoảng 7 triệu lượt khách, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2016 Trong đó, khách quốc tế đạt 189.000 lượt khách Đối với khách du lịch quốc tế, đặc biệt là du khách đến từ nền kinh tế phát triển, du lịch là một phần thiết yếu trong cuộc sống bên cạnh quá trình lao động, làm việc Họ có điều kiện dành thời gian và nguồn tài chính để thực hiện nhiều chuyến du lịch và coi đây là cơ hội vừa để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, vừa để khám phá những nền văn hóa mới và bồi đắp kiến thức cho mình Du lịch cộng đồng đang trở thành lựa chọn của nhiều du khách cả trong nước và quốc tế Thanh Hóa mặc dù có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng nhưng hiện tại khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là điểm đến nổi tiếng nhất Đây
là một trong những điển hình của việc sử dụng truyền thông vào quảng bá du lịch Nhờ những
nỗ lực của chính quyền địa phương, việc sử dụng hợp lý các kênh truyền thông truyền thống (báo in, phát thanh, truyền hình) kết hợp với những kênh truyền thông mới (facebook, youtube) đã mang lại những kết quả tích cực Hình ảnh bản Hiêu, chợ phố Đoàn, làng nghề dệt thổ cẩm Lũng Niêm, bản Đôn, bản Kho Mường, hang cá thần Mường Ký, bản Suối Tôn… cùng không gian văn hóa thung lũng của ruộng bậc thang, rừng nguyên sinh, các phong tục tập quán, lễ hội cổ truyền… từ đó trở nên sinh động, lôi cuốn và hấp dẫn du khách
Như vậy, trong thế giới phẳng, khi mà truyền thông được xem như “quyền lực thứ tư” thì mọi ngành kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng cần biết cách khai thác tối đa sức mạnh của truyền thông cho sự phát triển có tính đột phá
4.2 Vai trò nâng cao nhận thức của nhân lực tham gia cung cấp dịch vụ du lịch và cộng đồng dân cư địa phương
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày một sâu và toàn diện, để đẩy mạnh phát triển du lịch trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần nhận thức một cách đầy đủ hơn những giá trị lớn lao và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người trong hoạt động du lịch Phải thay đổi sâu sắc cách nhìn, cách nghĩ, cách hành động về nguồn nhân lực du lịch và coi việc phát huy nhân tố con người trong hoạt động du lịch như một yếu tố then chốt
Nói đến nguồn nhân lực du lịch là nói đến chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch và kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực ấy không phải là chủ thể biệt lập riêng rẽ một cá nhân hay một tập thể, mà là chủ thể được tổ chức thành lực lượng thống nhất cả về tư tưởng và hành động
Truyền thông đảm nhận một trong những nhiệm vụ quan trọng là nâng cao nhận thức của nhân lực tham gia cung cấp dịch vụ du lịch Đầu tiên là nhận thức về vai trò chủ động của mình trong việc tạo ra chất lượng dịch vụ du lịch, sau đó là quyết định sự sống còn của du lịch địa phương nói riêng và tỉnh nhà nói chung Một trong những nguyên nhân khiến việc triển khai mô hình du lịch cộng đồng ở Sầm Sơn chưa thành, là do cách thức phục vụ có tính “chộp giật”, để lại sự phản cảm trong lòng du khách là bài học kinh nghiệm mà các cơ quan chức năng và nhân lực tham gia làm du lịch ở Thanh Hóa cần nghiêm túc nhìn nhận
Truyền thông cũng đảm nhận nhiệm vụ nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa xứ Thanh Khái niệm cộng đồng thường được dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô và đặc tính xã hội Ý nghĩa rộng nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn thế giới (cộng
Trang 26đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng châu Âu ), một khu vực (cộng đồng Đông Nam Á ) Cộng đồng cũng được dùng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo Nhỏ hơn nữa, cộng đồng được dùng khi gọi tên các đơn vị làng, bản, xã, huyện Cộng đồng dân cư xứ Thanh với những giá trị văn hóa, sinh thái, môi trường được coi là yếu tố cơ bản để phát triển du lịch địa phương Nghiên cứu của Timothy đã chỉ ra rằng: “Du lịch cộng đồng là hình thức du lịch bền vững hơn so với du lịch đại chúng thông thường… nó cho phép người chủ cộng đồng phá vỡ vai trò lãnh đạo của các công ty lữ hành và sự độc quyền của giới thượng lưu giàu có, tạo thế cân bằng trong các mối quan hệ quyền lực, bởi lẽ gốc rễ của du lịch cộng đồng là sự trao quyền [5] Lúc này, vai trò của truyền thông nhằm cung cấp cho người dân các nguồn lực, cơ hội, kiến thức và kỹ năng
để nâng cao năng lực của họ trong việc xác định tương lai của mình và tham gia tạo ảnh hưởng đến cuộc sống cộng đồng của họ Nguyên tắc này được áp dụng và đem lại hiệu quả đáng ghi nhận trong mô hình du lịch cộng đồng trên thế giới Đời sống của cộng đồng địa phương gắn liền với điểm du lịch được khai thác nên nếu nhận thức được ý nghĩa của việc
bảo tồn các giá trị văn hóa đối với cộng đồng, họ sẽ là lực lượng bảo vệ tốt nhất nguồn tài
nguyên du lịch địa phương một cách bền vững Đồng thời, họ cũng sẽ có phản ứng nhanh nhất
với những biến đổi tiêu cực của môi trường Truyền thông giúp cộng đồng thêm hiểu, yêu và trở thành đại sứ của chính các giá trị văn hóa nơi đây
4.3 Vai trò xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch cộng đồng xứ Thanh
Thương hiệu điểm đến là tổng hợp những nhận thức, cảm giác và thái độ của khách du lịch đối với điểm đến, cho phép khách du lịch xác lập một hình ảnh có thể so sánh của một điểm đến với những điểm đến khác Thương hiệu điểm đến là tổng hợp của các giá trị cốt lõi
mà điểm đến mang lại, tổng hợp các giá trị do khách du lịch trải nghiệm, những sự khác biệt của điểm đến, niềm tin của khách du lịch Thương hiệu không chỉ gắn với hình ảnh về điểm đến có từ nhận thức của khách du lịch mà còn đi liền với hoạt động của người quản lý du lịch trong việc tạo lập và duy trì những nhận thức, giá trị và niềm tin đó
Xây dựng và quảng bá thương hiệu nhằm xác lập hình ảnh du lịch của một quốc gia một cách rộng rãi với cả khách du lịch trong nước và quốc tế Đây chính là một nhiệm vụ quan trọng trong khi làm truyền thông du lịch cho doanh nghiệp, khẳng định được vị trí trên thương trường và thế cạnh tranh mạnh mẽ với nhiều đối thủ khác nhau
Bản chất của việc xây dựng thương hiệu du lịch có nghĩa chính là việc chuyển tải có chủ đích một bản sắc riêng thành một hình ảnh trong tâm trí khách du lịch Bởi ngày nay, thương hiệu du lịch đã và đang trở thành một tài sản vô cùng có giá trị của một địa phương Để có được một thương hiệu du lịch, truyền thông cần làm tốt các vai trò nêu trên
Thương hiệu du lịch quốc gia không chỉ là những yếu tố hữu hình như khẩu hiệu quảng cáo, logo, catalog, trang web mà phải cần có cả những yếu tố vụ hình như thông tin quảng bá, quan hệ công chúng, tổ chức sự kiện…
Quá trình tạo dựng thương hiệu và sự nhận dạng có tính khác biệt, độc đáo và đặc trưng của một điểm đến du lịch cần có nhiều sự phối hợp chặt chẽ của tất cả các sản phẩm và dịch
vụ có liên quan đến du lịch lữ hành Vì thế, truyền thông quảng bá sức hấp dẫn của điểm đến,
Trang 27dịch vụ du lịch; truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương góp phần từng bước tạo dựng thương hiệu du lịch cộng đồng của xứ Thanh
Thanh Hóa là một trong những vùng trọng điểm của du lịch quốc gia Ở cấp địa phương, hoạt động xúc tiến nói chung và phát triển thương hiệu đã và đang bắt đầu được tỉnh quan tâm đầu tư Tuy vậy, việc xây dựng thương hiệu du lịch địa phương cũng gặp phải những khó khăn nhất định Trước hết, từ góc độ hệ thống, trong khi thương hiệu du lịch Việt Nam đang trong quá trình xây dựng thì những định hướng xây dựng thương hiệu du lịch địa phương dường như chưa được đề cập
Hai yếu tố quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu địa phương là hợp tác và sáng tạo Hợp tác bao gồm cả hợp tác giữa nhà nước, địa phương và doanh nghiệp cũng như hợp tác với nhau giữa các địa phương Với vị trí địa lý thuận lợi, Thanh Hóa hoàn toàn có thể làm tốt việc xây dựng thương hiệu du lịch địa phương trong tương lai không xa và ở đó cộng đồng địa phương chính là những đại diện thương hiệu tốt nhất
Quá trình xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch cộng đồng xứ Thanh đòi hỏi sự tham gia tích cực của truyền thông Trước hết, truyền thông thúc đẩy quá trình xây dựng thương hiệu, phản hồi lại tiếng nói của các nhóm công chúng liên quan Tiếp đó, truyền thông mang hình ảnh thương hiệu đến gần hơn với nhóm công chúng mục tiêu Cuối cùng, truyền thông góp phần định vị thương hiệu du lịch cộng đồng của Thanh Hóa trong lòng công chúng khách
du lịch trong và ngoài nước
5 Kết luận
Trong những năm gần đây, du lịch cộng đồng là vấn đề đang được quan tâm ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam mà cụ thể là tỉnh Thanh Hóa nói riêng, do vai trò và ý nghĩa quan trọng của nó trong chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững của quốc gia Hoạt động này rất phù hợp ở các khu du lịch của Thanh Hóa, nơi có nguồn tài nguyên quan trọng, có giá trị đang cần được truyền thông quảng bá Vấn đề đặt ra
là, truyền thông cũng cần phải chú trọng giải quyết những mâu thuẫn giữa công tác bảo tồn với phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương
Đứng trước thực trạng ngành du lịch thế giới đang có những bước chuyển mình để bước vào nền kinh tế tri thức Điều này đặt ra cho các doanh nghiệp du lịch Việt Nam không ít cơ hội và thách thức, đòi hỏi phải nắm bắt cơ hội, thời cơ nếu không muốn bị đẩy khỏi bánh xe thời đại Tuy nhiên, làm thế nào để tiếp cận với đông đảo khách hàng trong thời gian nhanh nhất với chi phí thấp nhất và đạt hiệu quả cao nhất là bài toán mà truyền thông là lời giải cho các doanh nghiệp du lịch xứ Thanh
Tài liệu tham khảo
[1] Claudia Mast (2003), Truyền thông đại chúng:Công tác biên tập, Nxb Thông tấn, Hà Nội [2] Jacques Locquin (2003), Truyền thông đại chúng: Từ thông tin đến quảng cáo, Nxb
Thông tấn, Hà Nội
[3] Melker Anstrand (2006), Community based tourism and social culture aspect
relating to tourism, sh.diva-portal.org
Trang 28[4] Philippe Breton, Serge Poulx (1996), Bùng nổ truyền thông: Sự ra đời một ý thức hệ
mới, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
[5] Timothy, Tourism and community development issues, in Sharpley R and Telfer D.J Tourism and development concepts and issues (pp 135 - 178) Cleverdon: Chanennel
Mai Thi Thuy An, M.A
Abstract: The media is understood as the process of sharing or conveying information
from one person / group of people to another person or group of people by word, image, text
or signal The explosive development of information technology provides a solid foundation for the "power" role of the media Community tourism is a highly socialized economic activity
so that the roles of communication become even more important The article focuses on clarifying the role of media in promoting community tourism from the current status of tourism activities in Thanh Hoa
Key words: media, tourism promotion, community tourism, Thanh Hoa
Người phản biện: TS Nguyễn Thị Thục (ngày nhận bài 29/6/2018; ngày gửi phản biện 29/8/2018; ngày duyệt đăng 02/4/2019)
Trang 29ẨM THỰC XỨ THANH - NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH
GVC.ThS Hoàng Thị Thanh Bình1
ThS Trần Thị Như Quỳnh2
Tóm tắt: Ẩm thực xứ Thanh từ trước đến nay vẫn được nói đến như một sản phẩm riêng
có của vùng đất “địa linh nhân kiệt” Tuy nhiên, tiềm năng và lợi thế lại chưa được khai thác một cách hiệu quả Trong bài viết này, chúng tôi bàn thêm về tiềm năng, giá trị văn hóa, lịch
sử của ẩm thực xứ Thanh để từ đó gợi mở hướng đi cho ẩm thực trở thành nguồn lực trong khai thác, phát triển du lịch Thanh Hóa như một sản phẩm đặc trưng
Từ khóa: Ẩm thực xứ Thanh, nguồn lực khai thác, phát triển du lịch
1 Đặt vấn đề
Ẩm thực là một loại hình di sản văn hóa độc đáo, được hình thành trong dòng chảy hàng ngàn năm của văn hóa Việt và được đông đảo cộng đồng các nước thừa nhận có yếu tố riêng, khác biệt với ẩm thực Trung Hoa hay ẩm thực các nước Đông Nam Á Ngày nay, nhiều món
ăn Việt Nam được bạn bè quốc tế tôn vinh Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những yếu tố thuộc về bản sắc riêng của mỗi dân tộc được coi là yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia Trong văn hóa Việt Nam, ẩm thực âm thầm chảy trong lòng dân tộc, chiếm giữ một
vị trí quan trọng, góp phần định vị hình ảnh đất nước trên bản đồ di sản ẩm thực thế giới Trong suốt chiều dài lịch sử, Thanh Hóa được biết đến với điều kiện địa lý - tự nhiên tiêu biểu giúp cho Thanh Hóa phát triển về nông - lâm - ngư nghiệp Lịch sử phát triển của Thanh Hóa gắn liền với tên gọi của vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi có dấu tích của người Việt cổ định cư từ rất sớm, nơi có nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ Bản chất con người xứ Thanh vốn coi trọng truyền thống gia phong, gia đình, gia tộc vì vậy Thanh Hóa cũng nổi tiếng với nhiều đặc sản, nhiều món ngon mà thiên về giữ gìn các món ăn truyền thống của quê hương, bản quán Chính điều này đã tạo nên dấu ấn riêng biệt, đậm sắc thái trong ẩm thực xứ Thanh Nhận thấy được sức hút của ẩm thực trong phát triển du lịch, những năm gần đây Thanh Hóa đã và đang chú trọng đến xây dựng thương hiệu ẩm thực đặc trưng của vùng
2 Đặc trưng ẩm thực xứ Thanh
Với vị trí địa lý hội tụ đầy đủ yếu tố của một quốc gia thu nhỏ nên Thanh Hóa từ trước đến nay đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu trên các phương diện về địa lý, kinh tế, văn hóa, lịch sử Học giả người Pháp H.Le Breton trong “Thanh Hóa đẹp tươi” đã nhận định:
“nói đến xứ Thanh là nói đến nơi có thiên nhiên đẹp nhất, cũng như giàu kỷ niệm lịch sử hay
truyền thuyết nhất Đông Dương” Còn C Robequain trong tác phẩm “Tỉnh Thanh Hóa” cho
rằng “Thanh Hóa không phải chỉ là một đơn vị hành chính mà là cả một xứ, một tập hợp hài
hòa, quanh vùng đất châu thổ các quả đồi cao dần lên thành núi, một đơn vị thật sống động,
đa dạng, qua đó phát hiện ra hơn là hiệu quả của ngẫu nhiên, sự biểu hiện của những quy
1,2 Phòng Quản lý Khoa học - Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
Trang 30luật sâu xa”3
Một số học giả trong nước cũng dành những mỹ từ cho Thanh Hóa khi ca ngợi
về thiên nhiên, văn hóa, con người nơi đây Sử gia Phan Huy Chú (1872 - 1840) đã nhận xét
về đất và người Thanh Hóa “Thanh Hóa mạch núi cao vót, sông lớn lượn quanh Vẻ non
sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa họp tụ lại nảy ra nhiều văn nho ”4
Hay tác giả Quốc Chấn trong cuốn “Một số đặc điểm tâm lý người xứ
Thanh” nhận xét “Thanh Hóa có đầy đủ các yếu tố tự nhiên như núi, rừng, đồng bằng, hồ,
sông, biển, có khí hậu thuận lợi, nguồn nước dồi dào, nhiều nguyên liệu đảm bảo mọi điều kiện để con người có thể sinh tồn và phát triển lâu dài Bởi vậy, nơi đây là một miền đất cổ,
có mặt con người từ thời nguyên thủy”5
Khi nói về ẩm thực Thanh Hóa, tác giả Võ Thúc Loan - Nguyễn Hữu Ngôn trong cuốn
“Văn hóa ẩm thực xứ Thanh” đã nhận định “ẩm thực xứ Thanh được duy trì tiếp biến và phát
triển mạnh mẽ bởi hai yếu tố: yếu tố truyền thống và yếu tố địa tự nhiên, lịch sử, chính trị, văn hóa” Nhận định trên hoàn toàn đúng khi nghiên cứu Thanh Hóa ở góc độ địa lý cũng
như lịch sử, văn hóa
Đặc điểm về điều kiện địa lý, tự nhiên quyết định về nguồn gốc và số lượng nguồn nguyên liệu cho ẩm thực nhưng truyền thống văn hóa, lịch sử, tập quán sinh hoạt lại hình thành nên đặc trưng ẩm thực riêng của các vùng miền Thanh Hóa Trong nghiên cứu của chúng tôi, tiềm năng ẩm thực Thanh Hóa được chia làm 3 vùng: ẩm thực vùng trung du - miền núi, ẩm thực vùng đồng bằng và ẩm thực vùng ven biển
2.1 Đặc trưng ẩm thực vùng trung du - miền núi
Miền đồi trung du ở Thanh Hóa có diện tích hẹp, bị xé lẻ, không liên tục và không rõ nét như ở Bắc Bộ nên đây là lí do mà nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền đồi trung du của Thanh Hóa thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi các đồi núi thấp là một phần không tách rời của miền núi nói chung Vùng đồi núi phía Tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn nên có nguồn lâm sản dồi dào, có tiềm năng thủy điện, trong đó sông Chu và các phụ lưu có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện Miền đồi núi phía Nam thấp, đất màu mỡ, có khả năng phát triển cây lấy gỗ, đặc sản và cây công nghiệp như: luồng, keo, xoan, lát hoa, quế, cao su… Đặc biệt, ở các khu bảo tồn và Vườn Quốc gia Bến En còn nhiều loại gỗ quý như: pơ
mu, sa mu, lim xanh, dổi, chò chỉ, lát hoa, táu mật Bên cạnh đó, miền núi Thanh Hóa còn có tài nguyên du lịch tự nhiên vô cùng phong phú, đa dạng, cảnh quan đẹp với nhiều di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Vườn Quốc gia Bến En (Như Thanh, Như Xuân), Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Bá Thước, Quan Sơn); Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (Quan Hóa, Mường Lát); Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (Thường Xuân), Khu bảo tồn các loài hạt trần Nam Động (Quan Hóa); thác Hiêu (Bá Thước); thác Ma Hao (Lang Chánh); thác Mơ, suối cá thần Cẩm Lương (Cẩm Thủy); thác Mây, thác Voi (Thạch Thành); thác Trai gái, thác Thiên Thủy, thác Yên, đền Cửa Đặt (Thường Xuân); động Bo Cúng, cửa khẩu quốc tế Na Mèo (Quan Sơn)…
3 C Robequain (2012), Tỉnh Thanh Hóa, dịch giả Nguyễn Xuân Dương và Lâm Phúc Giáp, Nxb Thanh Hóa, tr.14
4 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học Xã hội, 1992
5 Quốc Chấn (2008), Một số đặc điểm tâm lý người xứ Thanh, Nxb Thanh Hóa, tr.24
Trang 31Vùng miền núi Thanh Hóa là địa bàn cư trú của các dân tộc Mường, Thái, Mông, Thổ, Khơ mú, Dao, Kinh… mang trong mình bản sắc văn hóa độc đáo, đa dạng tạo nên bức tranh
đa sắc về đời sống văn hóa, xã hội Từ kiến trúc nhà ở, trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực, đến các tập tục sinh hoạt, tín ngưỡng, lễ hội đều toát lên những sắc thái riêng biệt Ẩm thực của đồng bào nơi đây không cầu kỳ nhưng hấp dẫn bởi hương vị của tự nhiên, của núi rừng, như canh lá đắng (Ngọc Lặc), măng đắng (Quan Sơn), cơm lam, rượu cần, vịt Cổ Lũng (Bá Thước), rượu siêu men lá (Lang Chánh), cá mè sông Mực (Như Thanh)… Nguồn nguyên liệu chế biến của bà con chủ yếu được lấy từ môi trường tự nhiên Theo quan niệm của người dân, thiên nhiên là người mẹ vĩnh hằng nuôi sống họ Vì vậy, ngay như rêu đá là loại thực vật tưởng chừng như không có giá trị thì qua bàn tay chế biến đã trở thành món đặc sản khi gia chủ
có khách quý đến chơi Những vật nuôi như trâu, bò, lợn, gà, vịt cũng được bà con chăn thả tự nhiên nên thịt rất thơm ngon và giàu dinh dưỡng
Ẩm thực trung du - miền núi xứ Thanh là kết tinh từ tinh hoa thiên nhiên đất trời, qua bàn tay khéo léo của những người phụ nữ tạo ra những món ăn, đồ uống mang hương vị đặc trưng của núi rừng, góp phần làm cho ẩm thực xứ Thanh như một bản nhạc giàu màu sắc, âm thanh, giai điệu và có nét riêng không trùng lẫn với bất kỳ vùng miền nào khác
2.2 Đặc trưng ẩm thực vùng đồng bằng
Đồng bằng châu thổ Thanh Hóa được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải dài trên một bề mặt rộng hơi nghiêng về phía biển ở mé Đông Nam Rìa Bắc và Tây Bắc là dải đất cao được cấu tạo bởi phù sa cũ của sông Mã, sông Chu Đồng bằng Thanh Hóa lớn nhất của miền Trung và đứng thứ ba của cả nước sau đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng Đồng bằng Thanh Hóa có đầy đủ tính chất của một đồng bằng châu thổ, do phù sa các hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Hoạt bồi đắp
Vùng đồng bằng Thanh Hóa chủ yếu là người Kinh Đây cũng là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ, nơi có nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ với trống đồng Đông Sơn
là di sản tiêu biểu Do đó, nét văn hóa ẩm thực của vùng này chịu sự chi phối của hương vị
Trang 32thành một thứ quà đậm hồn quê đi vào ca dao, tục ngữ “Vàng mã làng Giàng, chè lam Phủ
Quảng”, “Đi thì mỏi gối chối lè, không đi thì nhớ cháo chè Đình Hương”5
Vùng đồng bằng Thanh Hóa cũng phát triển về chăn nuôi nên nhiều món ngon được biết đến từ nguồn thực phẩm này, như: nem chua, dê núi Hàm Rồng (thành phố Thanh Hóa), nem nướng (Thọ Xuân) Nhiều nghiên cứu cho rằng “Bài ca gia vị” được “chính người phụ
nữ Thanh Hóa hoàn chỉnh” trong quá trình nấu ăn của mình:“Con gà cục tác lá chanh/ Con
lợn ủn ỉn mua hành cho tôi ”6
Ngoài những món ăn, vùng đồng bằng Thanh Hóa còn mang trong mình nhiều sản vật
từ các loại quả tưởng chừng như dân dã, đời thường nhưng từ xưa đã nổi tiếng vào hàng dùng làm cống phẩm tiến vua được các triều đại vua chúa Việt Nam yêu thích, như: bưởi Luận Văn (Thọ Xuân), mía Triệu Tường (Hà Trung), cam Giàng (thành phố Thanh Hóa)
Nói đến ẩm thực vùng đồng bằng không thể không nói đến đặc sản ẩm thực thành phố Thanh Hóa Thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh, tập trung mọi đặc sản của địa phương, vùng miền Trước đây, Thanh Hóa có lị sở ở làng Dương Xá, xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa Năm 1804, vua Gia Long hạ chiếu chỉ di dời lị sở về làng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, gọi là Hạc Thành Đến năm 1889, vua Thành Thái ký đạo dụ thành lập thị xã Thanh Hóa Đến năm 1929, người Pháp đặt tên là thị xã Thanh Hóa; năm
2014, thị xã Thanh Hóa trở thành thành phố Thanh Hóa Nơi đây, từ xưa đã nổi tiếng với những hàng quà bánh chủ yếu được làm từ nguyên liệu lúa gạo của vùng đồng bằng sông Mã Đến nay, vẫn còn những con đường, góc phố gắn liền văn hóa, lịch sử vùng đất này Bánh mỳ Nam Ngạn - vùng đất, con người Hàm Rồng kiên cường trong lịch sử đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược Ốc luộc Bến Ngự - món ăn vặt của người dân phố thị gắn liền với bến dừng chân xuống thuyền của các vua triều đại Lê sơ mỗi lần về bái yết Sơn Lăng Hay tiếng rao của các bà, các mẹ mỗi chiều với gánh hàng rong vang lên trên những con phố nhỏ “ai bánh nhè, chè khoai, bánh đúc sốt, cháo canh ” Nét riêng biệt, đặc trưng cho ẩm thực xứ Thanh không thể thiếu các món bánh, các hàng quà ăn vặt trên các tuyến phố của thành phố Thanh Hóa, như: Trường Thi, Đào Duy Từ, Tống Duy Tân hay các chợ Vườn Hoa, Tây Thành, Tân An đặc biệt vào khoảng chiều từ 15 giờ cho đến khuya
Trong mỗi làng quê xứ Thanh, nghề và làng nghề luôn được người dân trân trọng, gìn giữ, lưu truyền như một báu vật, di sản mà ông cha để lại và nghề còn tạo ra công ăn việc làm cho họ sau mỗi độ thu hoạch mùa màng Nhiều làng quê vùng đồng bằng Thanh Hóa có tuổi đời hàng trăm năm, người dân ở đây vẫn dành những tình cảm ưu ái cho nghề của làng, gìn giữ bí quyết gia truyền để làm những loại bánh ngon, nổi tiếng khắp trong và ngoài tỉnh, như: bánh đa làng Chòm (Thiệu Hóa), bánh đa nem Cầu Bố - làng Kiều Đại (thành phố Thanh Hóa), bánh gai Tứ Trụ - làng Thịnh Mỹ (Thọ Xuân), chè lam Phủ Quảng - làng Giáng (Vĩnh Lộc) Hiện nay, nhiều làng nghề đã và đang được các cấp chính quyền địa phương quan tâm, đầu tư, quy hoạch phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
5 Nguyễn Thị Bảy, Phạm Lan Oanh (2014), Văn hóa ẩm thực qua tục ngữ người Việt, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.52
6 Võ Thúc Loan - Nguyễn Hữu Ngôn (2009), Văn hóa ẩm thực xứ Thanh, Nxb Thanh Hóa, tr.20
Trang 332.3 Đặc trưng ẩm thực vùng ven biển
Thanh Hóa có đường bờ biển dài 102 km, gồm 05 huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia và thành phố Sầm Sơn Đường bờ biển Thanh Hóa dài, tương đối bằng phẳng, độ mặn vừa phải; có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng được người Pháp phát hiện
từ những năm đầu thế kỷ 19; có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc lấn biển, nuôi trồng thủy sản, phân bố các khu dịch vụ, khu công nghiệp, phát triển kinh tế biển
Đặc biệt, Thanh Hóa có 06 cửa lạch (Lạch Trường, Lạch Trào, Lạch Hới, Lạch Ghép, Lạch Sung, Lạch Bạng), là nơi tiếp giáp, gặp gỡ giữa vùng nước sông và nước biển tạo thành vùng nước lợ, nơi sinh sống của nhiều loài hải sản trù phú, với những đặc sản nổi tiếng như phi cầu Sài (Hậu Lộc), rươi (Nông Cống), cá nhệch (Nga Sơn); tôm, cá, cua ở các vùng cửa biển này cũng được mọi người thừa nhận, đánh giá là ngon bởi thịt của chúng chắc, thơm và ngọt hơn Mực Sầm Sơn nổi tiếng cả trong và nước ngoài Bất cứ ai đã có dịp ghé qua Thanh Hóa, tắm biển Sầm Sơn thì chắc không thể chối từ những đặc sản ở nơi đây và không thể không mua về làm quà một vài cân mực, cá, tôm
Từ nguồn nguyên liệu dồi dào mà thiên nhiên ban tặng cho các huyện vùng ven biển Thanh Hóa, qua bàn tay khéo léo, sự cần cù, chịu khó và tư duy sáng tạo của ngư dân vùng biển, nhiều đồ ăn, thức uống được chế biến dù cầu kỳ hay đơn giản thì cũng đã được đánh giá,
thừa nhận của những người sành ẩm thực nhất qua các câu ca dao, tục ngữ: “Tôm he Cửa
Vích, cá trích Lạch Trào”, “Ăn mít đi chợ Bôn, ăn tôm đi chợ Ghép”
Không những thế, những đặc sản chế biến từ lúa gạo cũng nổi tiếng như bánh đa Hậu Lộc, rượu Chi Nê (Hậu Lộc), bánh đa Hải Bình (Tĩnh Gia), rượu (Nga Sơn) Ban đầu chỉ là
để đáp ứng nhu cầu ăn uống sinh hoạt thường ngày và để thích hợp cho những chuyến đi biển dài ngày, thì bánh đa là thứ lương thực tiện dụng nhất đối với ngư dân biển Bánh đa có thể được kẹp ăn cùng với cá phơi khô hoặc cá kho nồi ngay trên biển Rượu là đồ uống không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực, trong bữa ăn hàng ngày của người Việt nói chung và Thanh Hóa nói riêng Từ món ăn chỉ để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất được tiện dụng, dần dần chúng đã được người dân sáng tạo, nâng tầm lên thành đặc sản, được đông đảo cộng đồng thừa nhận
Điều kiện tự nhiên đa dạng của Thanh Hóa mang lại sự phong phú về nguồn nguyên liệu cho ẩm thực, sự hòa trộn của sản vật núi rừng, đồng bằng và biển cả, cùng với cách thức chế biến theo những bí quyết riêng được đúc rút trong lao động và sản xuất của người dân đã tạo ra những đặc sản với bản sắc riêng của ẩm thực xứ Thanh Điều đó không chỉ thể hiện là phong tục, tập quán, đời sống của người xứ Thanh mà còn góp phần làm dày thêm danh sách
đặc sản ẩm thực Việt Nam
3 Ẩm thực xứ Thanh mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa
Như chúng ta đã biết, Thanh Hóa có một vị trí vô cùng quan trọng, là tỉnh cuối của khu vực miền Bắc nhưng là tỉnh cửa ngõ của khu vực miền Trung Và ngay từ thuở khai nguyên, Thanh Hóa luôn đồng hành cùng lịch sử hào hùng của dân tộc
Xứ Thanh luôn tự hào là vùng đất khởi nghiệp của nhiều triều đại vua chúa trong lịch
sử phong kiến Việt Nam Nếu tính từ khi nước Nam có nhà nước đầu tiên cho đến khi kết
Trang 34thúc triều đại phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn, thì hầu hết các dòng họ vua, chúa đa phần đều phát tích từ đất Thanh Hóa Cũng vì vậy, Thanh Hóa được nói đến là vùng đất
“địa linh, nhân kiệt” với hơn một nửa thời gian tồn tại của chế độ phong kiến Việt Nam,
đứng đầu bộ máy cai trị quốc gia là người quê hương Thanh Hóa
Vì Thanh Hóa là đất căn bản, có vị trí địa lý, chiến lược quan trọng trong lịch sử dân tộc (vùng biên viễn thời Lý; vùng đất che chở vua tôi nhà Trần trong những trận chiến chống quân Nguyên Mông; vùng đất được Hồ Quý Lý chọn làm kinh đô; và dưới triều Lê Trung Hưng kinh đô Vạn Lại - Yên Trường là kinh đô quân sự quan trọng của thời loạn) nên những dấu ấn về văn hóa, phong tục, lễ nghi… của đất kinh kỳ phần nào cũng ảnh hưởng đến tập quán, văn hóa người xứ Thanh Trong sách “Lam Sơn thực lục”7
miêu tả những kẻ sĩ mưu trí, khách thập phương từ khắp nơi về đầu quân được Lê Lợi dốc sạch của cải, tiếp đãi rất hậu Hay các vua Lê về sau, mỗi lần về bái yết Sơn Lăng, các đầu bếp cung đình đều phải nghiên cứu chế biến ra những món ngon cho các bữa yến tiệc của triều đình tại quê nhà Và đây là điều kiện để cho những món ăn cung đình cùng những món ăn dân dã của người dân được đồng hành trong bữa tiệc, những món ăn dân dã có điều kiện gia nhập
“nơi lầu son gác tía” Chính sự giao thoa đã này tạo nên các món ăn ở Thanh Hóa trở nên
phong phú, độc đáo cho đến ngày nay
Đất nước Việt Nam ngay sát Trung Quốc nên cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, trong đó không thể không nói đến học thuyết Nho giáo đã tác động sâu sắc đến xã hội phong kiến Việt Nam Và không thể phủ nhận được rằng Nho giáo đã một phần nào đó tạo nên diện mạo tinh thần dân tộc và sự hình thành văn hóa dân tộc Việt Nam Các triều đại phong kiến Việt Nam đã sử dụng học thuyết Nho giáo như một công cụ để xây dựng và hoàn thiện thể chế nhà nước Đến thời Hậu Lê, nho giáo đã vươn lên chiếm địa vị độc tôn trong văn hóa cung đình, cũng vì thế Thanh Hóa là vùng đất chịu nhiều ảnh hưởng
và tư tưởng Nho giáo Người xứ Thanh coi trọng các mối quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng
- vợ, anh - em, bạn bè và truyền thống lễ nghĩa, đạo hiếu… trong học thuyết Khổng Tử Việc ăn uống cũng vì thế mà thiên về giữ gìn các yếu tố truyền thống và tình yêu quê hương bản quán Bánh gai Tứ Trụ phải được gọi là bánh gai làng Mía như xuất xứ của bánh, nhưng
vì bánh làm ra được bày bán ở phố Tứ Trụ (mà trước năm 1945, Tứ Trụ thuộc tổng Diên Hào - là quê hương của các vị khai quốc công thần triều Lê) nên bánh mới có tên này để tưởng nhớ các anh hùng vùng đất Lam Sơn và bánh cũng được người dân nơi đây xem như một đặc sản quý thường dùng để cúng tiến trong các ngày lễ hội ở đình làng, nhất là trong các kỳ lễ “hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi” ở khu điện miếu Lam Kinh Hay như chè lam Phủ Quảng, theo các cụ cao niên ở địa phương kể lại có từ trước khi có địa danh Phủ Quảng
- vùng đất xưa kia thuộc kinh thành Tây Đô triều Hồ, rồi là Tây Kinh triều Lê Trung Hưng Bởi là nơi đô hội, kinh thành nên nhân dân ở đây phải khéo tay làm nhiều nghề, nhiều mặt hàng cung ứng cho những yêu cầu cần thiết của triều đình, quan quân… nên nghề làm chè
Trang 35Bên cạnh những món ăn, đặc sản dùng để cung tiến vua quan thời phong kiến, thì những món ăn dân dã như nòng nọc om măng (Quan Hóa), bánh đúc sốt (thành phố Thanh Hóa), bánh đa làng Chòm (Thiệu Hóa)… vẫn gắn liền với người dân lam lũ ở mọi miền quê
xứ Thanh Và cũng có rất nhiều đặc sản gắn liền với tên gọi của vùng đất, miền quê sản sinh
ra nó, như: quế Thường Xuân, rượu làng Quảng Xá (thành phố Thanh Hóa), mía Kim Tân
(Thạch Thành), gỏi cá nhệch Nga Sơn
Cũng do đặc điểm Thanh Hóa là vùng đất cổ, dân bản địa có mặt ở vùng đất này rất sớm, nhiều đời nối tiếp nhau sinh tồn; từ xưa đến nay, ranh giới địa lý hành chính không thay đổi nhiều so với các tỉnh/thành khác trong cả nước, nên đó cũng là căn nguyên Thanh
Hóa giữ được những nét bản sắc riêng trong văn hóa, ẩm thực
Ẩm thực xứ Thanh không chỉ là sự phong phú của nguồn nguyên liệu mà còn là sự đa dạng trong cách thức chế biến của các cộng đồng người tụ cư trên vùng đất này Người Kinh là chủ nhân của vùng đồng bằng và vùng ven biển, ngoài tiếp xúc văn hóa Hán từ hàng ngàn năm thì từ thế kỷ 16 - 17 các tàu buôn nước ngoài đã cập bến vào Thanh Hóa nên sớm hình thành sự giao lưu, buôn bán thương nghiệp, trao đổi hàng hóa… Sau khi đất nước giành độc lập, việc tiếp xúc với văn hóa phương Tây càng rộng mở là cơ hội cho văn hóa cũng như ẩm thực xứ Thanh học hỏi, tiếp thu tinh hoa làm giàu thêm danh sách những món
ăn, cách thức chế biến Trong khi đó, đồng bào dân tộc thiểu số vùng miền tây Thanh Hóa
do đặc điểm địa lý, văn hóa tộc người, giao thông khó khăn, sự tiếp xúc văn hóa bên ngoài
có phần hạn chế, nhưng đây chính lại là điểm khác biệt của đồng bào miền núi cũng như điều kiện để bảo lưu những giá trị văn hóa cổ của người Việt Các món ăn miền núi được chế biến không cầu kỳ mà thiên về giữ hương vị tự nhiên của món ăn, với phương pháp chế biến ít dùng dầu, mỡ mà thường là làm chín bằng hơi nước (như hấp, hông, đồ) hoặc phơi
khô, hun khói, nướng, ủ chua…
Theo thống kê của chúng tôi trong công trình nghiên cứu khoa học đề tài cấp tỉnh
“Nghiên cứu đặc sản ẩm thực Thanh Hóa phục vụ phát triển du lịch” thì Thanh Hóa sử
dụng các cách thức chế biến món ăn chủ yếu là: Hấp/đồ/hông (nấu chín bằng hơi nước), luộc, nướng, chiên, tần, quay, xào, rán, om, rang, tráng, gỏi/nộm, phơi, ủ (lên men tự nhiên), ủ (lên men chưng cất), ủ nóng, muối và để chín tự nhiên Trong đó, thành phố Thanh Hóa là trung tâm quy tụ ẩm thực của cả tỉnh, các nhà hàng hiện nay gần như sử dụng mọi phương thức chế biến món ăn để thu hút du khách và làm nên thương hiệu riêng cho mình Đặc sản của các huyện cũng đã được giới thiệu tại các quầy hàng địa phương ở thành phố8
8
Đề tài khoa học cấp tỉnh“Nghiên cứu đặc sản ẩm thực Thanh Hóa phục vụ phát triển du lịch”, chủ nhiệm đề
tài TS Lê Thị Lệ, năm 2016
Trang 36yếu tố: coi trọng sự nguyên sơ của tự nhiên với sự chế biến vừa phải không quá cầu kỳ (như
món ăn Huế); luôn chú ý giữ gìn từ màu sắc đến hương vị
Văn hóa ẩm thực là một nét văn hóa vật chất mà khi soi vào đó ta có thể cảm nhận được tâm hồn, nếp sống, phong tục tập quán của một địa phương, một dân tộc Ẩm thực xứ Thanh
đi vào cuộc sống và xuất phát từ lòng người nên nó chính là tấm gương phản chiếu tâm hồn con người nơi đây một cách rõ ràng, gần gũi và tinh tế nhất
4 Hướng đi cho ẩm thực xứ Thanh trở thành nguồn lực trong phát triển du lịch
Ẩm thực xứ Thanh không chỉ phong phú, đa dạng về nguồn nguyên liệu, cách chế biến
mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa riêng có của địa phương Thực hiện chủ trương của
Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa, những năm gần đây, trong phát triển du lịch, ẩm thực xứ Thanh bước đầu cũng đã đem lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, đến nay, ẩm thực Thanh Hóa cũng chỉ mới được khai thác là một sản phẩm cơ bản trong các gói dịch vụ du lịch mà chưa thực sự trở thành một sản phẩm dịch vụ gia tăng, tạo nên đặc trưng của du lịch Thanh Hóa Bài viết đề xuất hướng đi cho ẩm thực Thanh Hóa trở thành nguồn lực phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa trên các phương diện:
Thứ nhất: Giải pháp nâng cao nhận thức từ cấp quản lý đến người dân thông qua các hoạt động
Trong nhiều năm qua bằng sự cố gắng của các tổ chức, các ngành, các cấp, chúng ta đã góp phần nâng cao được nhận thức trong cộng đồng về vai trò, tác dụng và ảnh hưởng to lớn của du lịch vào sự phát triển mọi mặt của xã hội nói chung, của tỉnh nhà nói riêng Song, chúng ta chưa làm được việc nâng cao nhận thức cho các tổ chức, các ngành hữu quan và cộng đồng về ẩm thực và việc gắn chặt ẩm thực với phát triển du lịch hoặc có làm cũng còn
mờ nhạt Đã đến lúc phải bằng mọi cách, sử dụng mọi phương tiện để thực hiện cho được nhận thức sâu sắc, đúng đắn về ẩm thực và việc gắn kết hữu ích giữa ẩm thực và du lịch Phải xác định đặc sản ẩm thực xứ Thanh là di sản văn hóa và xem đặc sản ẩm thực như một yếu tố quan trọng của du lịch, gắn bó mật thiết, hỗ trợ phát triển du lịch
- Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề tại các câu lạc bộ của tỉnh, tại các trung tâm văn hóa của tỉnh, của huyện Mời các chuyên gia, các nhà nghiên cứu nói chuyện tạo ra cảm hứng, nâng cao nhận thức và sức lan tỏa trong cộng đồng hiểu sâu sắc, toàn diện ẩm thực, vai trò, ý nghĩa và giá trị nhiều mặt của ẩm thực đối với đời sống và phát triển kinh tế của cả xã hội và của các tổ chức, cá nhân
- Tổ chức các hoạt động liên hoan ẩm thực, các festival ẩm thực về đồ uống, về món ăn rừng, biển… để mọi người được thưởng thức và được thể hiện tài năng Các hoạt động liên hoan nên mời các tỉnh/ thành cận kề để cùng giới thiệu, giao lưu, tạo sự so sánh để thấy được bản sắc, giá trị riêng, nhận thức về ẩm thực, về kinh nghiệm học hỏi…
- Tổ chức có quy mô dưới sự quản lý của cấp ngành địa phương các chợ ẩm thực, các trung tâm văn hóa ẩm thực tại các điểm du lịch để tạo nên sự cộng hưởng trong toàn xã hội Cần tổ chức các chợ ẩm thực tại 3 miền Bắc Trung Nam với qui mô tương xứng, luôn sẵn các mặt hàng để phục vụ Cần thiết bù giá để có mức giá tương đương nơi sản xuất để kích cầu nhu cầu mua bán đặc sản ẩm thực Thanh Hóa Các mặt hàng đều phải là loại hàng tiêu biểu,
Trang 37đảm bảo về chất lượng, đủ số lượng Tổ chức các kênh phân phối và duy trì cho được mức tiêu thụ
Thứ hai: Giải pháp về xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai theo lộ trình để từng bước đưa
ẩm thực gắn với du lịch
- Trước hết, cần phải xác định đâu là đặc sản ẩm thực có đặc trưng riêng của xứ Thanh
so với các vùng miền khác Đã là đặc sản thì phải là đặc sắc, riêng có không trùng với nơi khác như: nem chua Thanh Hóa, dừa Hoằng Hóa, chè lam Phủ Quảng, gỏi nhệch Nga Sơn, mắm tép Hà Yên, mía Triệu Tường, hến Giàng, cam Giàng, nước mắm Ba Làng… xác định là đặc sản xứ Thanh để từ đó có kế hoạch, chiến lược xây dựng thành thương hiệu, chú trọng các khâu: đăng ký sản phẩm hàng hóa, xây dựng thương hiệu, bao bì nhãn mác, thiết lập kênh phân phối, tổ chức bán hàng
- Khi xác định được các đặc sản thì phải có kế hoạch, biện pháp, chủ trương đầu tư
để gìn giữ, bảo tồn, phát huy, nâng cao ảnh hưởng tạo dấu ấn riêng có Lập kế hoạch, lộ trình, ưu tiên nguồn lực đầu tư cho từng đặc sản và tập trung chỉ đạo hoàn thành theo mốc thời gian Có kế hoạch đầu tư nâng cao chất lượng, số lượng đặc sản để đủ khả năng đáp ứng đòi hỏi của thị trường
Thứ ba: Giải pháp về đầu tư
- Xây dựng các cơ sở sản xuất có chất lượng, có địa chỉ cụ thể xác tín rõ ràng, đăng ký mẫu mã, chất lượng hàng hóa, có thương hiệu, đảm bảo các tiêu chuẩn về y tế, về an toàn vệ sinh thực phẩm Có kênh phân phối đủ sức cung cấp một cách kịp thời, tốt nhất cho các nhà hàng, khách sạn, các cơ sở lưu trú khi có nhu cầu
- Cần tập trung đầu tư tài chính, nhân lực, nâng cao chất lượng và khả năng cung ứng, khả năng tiếp thị hàng hóa Xây dựng các giải pháp về thị trường phù hợp với từng khu, điểm, địa danh trong tỉnh Xây dựng các cơ sở, các tour, tuyến, điểm mua bán trao đổi các sản phẩm
du lịch dựa trên tài nguyên đặc sản ẩm thực của các địa phương từ đó xây dựng sản phẩm đặc trưng, có thương hiệu, có khả năng cạnh tranh cao, chiếm thị phần sản phẩm độc quyền
- Thường xuyên theo dõi, giám sát báo cáo các cấp có thẩm quyền về kết quả đầu tư Từ
đó tổ chức, đánh giá rút ra kinh nghiệm, bài học, tổng kết mô hình và nhân mô hình, tạo ra hiệu quả trong đầu tư; tránh đầu tư dàn trải, đầu tư sai địa chỉ, thất thoát trong đầu tư
Thứ tư: Giải pháp về truyền thông
- Đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến có hệ thống, có trọng tâm, trọng điểm, thường xuyên, liên tục về các mặt hàng, sản phẩm ẩm thực; xúc tiến và khai thác thị trường bên ngoài để góp phần giới thiệu nhanh rộng từ cả bên ngoài
- Xây dựng và triển khai thực hiện đề án truyền thông cho du lịch và ẩm thực Coi trọng ứng dụng marketing điện tử, nâng cao hiệu quả của truyền thông Lập các trang thông tin điện
tử, thông tin trực tuyến về ẩm thực Thanh Hóa trên các trang mạng Công khai các sản phẩm
ẩm thực, giá cả, địa chỉ mua bán Có cơ chế chính sách hỗ trợ cho các cá nhân, cơ sở tư nhân
về cơ sở vật chất, kinh nghiệm truyền thông, tạo cho họ được tham gia vào các hoạt động truyền thông, xúc tiến du lịch
Trang 38- Tổ chức viết sách, ấn phẩm du lịch, tờ rời, tờ gấp, catalog, viết bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm các phim tư liệu, các phóng sự chuyên đề về đặc sản ẩm thực Thanh Hóa, các làng nghề chế biến, chợ tiêu thụ sản phẩm Sử dụng công tác dân vận trong quảng bá giới thiệu để mỗi người dân là một hướng dẫn viên du lịch Hiện Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa đã làm phim tư liệu về các đặc sản và các vùng quê có đặc sản đang được dư luận và người xem hoan nghênh
- Khi in bản đồ du lịch Thanh Hóa nên cung cấp hoặc bán với giá ưu đãi cho khách du lịch, hoặc các tờ rơi, các catolog cần phải in địa danh gắn với sản phẩm du lịch và những chỉ dẫn địa lý cần thiết để du khách tìm đến hoặc thuận lợi khi đặt hàng Có thể lập một bản đồ đặc sản ẩm thực để dễ tìm, dễ nhận diện Các chỉ đẫn địa lý, chỉ dẫn tìm kiếm, cách thức mua bán, bảo quản, chế biến, sử dụng cũng cần được giới thiệu hướng dẫn rõ ràng, khoa học Xây dựng lắp đặt các quầy thông tin du lịch, các quầy hàng ẩm thực tiêu biểu tại các khu du lịch
trọng điểm
- Kiểm soát thị trường, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời, xử lý nghiêm các cơ sở sản xuất tiêu thụ hàng giả, hàng kém chất lượng, làm ảnh hưởng thương hiệu ẩm thực Thanh Hóa Các đơn vị, cá nhân tham gia dịch vụ du lịch phải giữ vững uy tín, thực hiện ký cam kết, hợp đồng thương mại
ẩm thực trong các khách sạn, nhà hàng sang trọng ở Thanh Hóa Điều đó cho thấy sự thay đổi trong xu hướng thưởng thức ẩm thực, giá trị thực chất của các đặc sản và quá trình phát triển của đặc sản ẩm thực thay đổi theo nhu cầu và sự phát triển của xã hội
Tài liệu tham khảo
[1] C Robequain (2012), Tỉnh Thanh Hóa, dịch giả Nguyễn Xuân Dương và Lâm Phúc
Giáp, Nxb Thanh Hóa
[2] Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học Xã hội
[3] Quốc Chấn (2008), Một số đặc điểm tâm lý người xứ Thanh, Nxb Thanh Hóa
[4] Nguyễn Thị Bảy, Phạm Lan Oanh (2014), Văn hóa ẩm thực qua tục ngữ người Việt,
Trang 39[7] Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử (2001), Nghề thủ công truyền thống Thanh
Hóa, Nhà in báo Thanh Hóa
[8] Đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu đặc sản ẩm thực Thanh Hóa phục vụ phát triển du lịch”, chủ nhiệm đề tài TS Lê Thị Lệ, năm 2016
CUISINE OF THANH LAND – THE RESOURCE FOR TOURISM
DEVELOPMENT
Hoang Thi Thanh Binh, M.A Tran Thi Nhu Quynh, M.A
Abstract: Cuisine of Thanh land contains its own characteristics of“the holly land with
talent people" However, the potential and advantages of cuisine of Thanh land have not been effectively exploited The article discusses the potential, historical and cultural values of cuisine of Thanh land in the the hope of developing cuisine into the resource for tourism development in Thanh Hoa
Key words: cuisine of Thanh land, resource, tourism development
Người phản biện: TS Vũ Văn Tuyến (ngày nhận bài 11/03/2019; ngày gửi phản biện 15/03/2019; ngày duyệt đăng 02/4/2019)
Trang 40KHÔNG GIAN LỊCH SỬ - VĂN HÓA LAM KINH
TRONG DÕNG CHẢY XỨ THANH
NCS Lưu Thị Ngọc Diệp 1
Tóm tắt: Không gian lịch sử - văn hóa Lam Kinh lấy điện Lam Kinh (xã Xuân Lam,
huyện Thọ Xuân) là trung tâm nhưng phạm vi lan tỏa trên địa bàn nhiều xã lân cận thuộc các huyện Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Thường Xuân (Thanh Hóa) Đây là một không gian tích tụ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể nổi bật Có thể thấy rằng, không gian lịch sử - văn hóa Lam Kinh thấm đẫm “hơi thở” của triều đại Lê sơ và mang dấu ấn văn hóa cung đình đậm nét trên nhiều phương diện Hào khí Lam Sơn cùng sự hiện hữu của di sản văn hóa Lam Kinh
đã tạo cho nơi đây trở thành một không gian lịch sử liền mạch và một vùng văn hóa đa dạng, đặc sắc, trở thành một chủ lưu trong dòng chảy lịch sử - văn hóa xứ Thanh
Từ khóa: Di sản, giá trị văn hóa, không gian lịch sử - văn hóa Lam Kinh, xứ Thanh
1 Sự hình thành không gian lịch sử - văn hóa Lam Kinh
1.1 Cơ sở xác định không gian lịch sử - văn hóa Lam Kinh
Từ đầu thế kỷ 19, khi ngành khoa học Địa văn hóa có những thành tựu nhất định thì lý thuyết về khu vực lịch sử - văn hóa, không gian văn hóa, không gian lịch sử - văn hóa, vùng văn hóa bắt đầu được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Theo các nhà dân tộc học Xô Viết: “Khu vực lịch sử - văn hóa (hay là khu vực lịch sử -
dân tộc học) là một vùng địa lý ở đó phát triển kinh tế - xã hội, trong quá trình lịch sử lâu dài giữa họ diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng qua lại khăng khít, do vậy ở đó hình thành nên những đặc trưng văn hóa chung về vật chất cũng như tinh thần, vận mệnh lịch sử các dân tộc
ấy gắn bó mật thiết với nhau” [5,tr.7]
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu mang tính thực nghiệm “lý thuyết vùng văn hóa” áp dụng vào Việt Nam
Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh: “không gian văn hóa như là một không gian địa lý xác
định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống” [4, tr.10]
Theo GS.TSKH Vũ Minh Giang, không gian văn hóa là một đối tượng nghiên cứu của
Khu vực học - ngành khoa học “lấy không gian văn hóa - xã hội bao gồm các lĩnh vực hoạt
động của con người và quan hệ tương tác giữa con người và điều kiện tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu” [2,tr.2]
Ứng dụng phương pháp liên ngành của Khu vực học để nghiên cứu, chúng ta có thể xác định không gian lịch sử - văn hóa Lam Kinh là một không gian văn hóa với đầy đủ các đặc trưng chung về điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành, sự phát triển kinh tế và văn hóa, trong
đó những dấu ấn về mặt lịch sử thể hiện sự ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ nét
1 Khoa Du lịch - Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa