Chính vì vậy, xuất phát từ việc khai thác các quan điểm khác nhau về vốn xã hội, gắn kết chúng với những nét đặc thù của xã hội Việt và giới hạn phạm vi nghiên cứu trong một khu vực tươn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN ĐĂNG DƯƠNG
VỐN XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH TÌM VIỆC LÀM CỦA NHỮNG NGƯỜI GIÚP VIỆC TẠI HÀ NỘI - TRƯỜNG HỢP CHUNG CƯ BẮC LINH ĐÀM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
HÀ NỘI, 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN ĐĂNG DƯƠNG
VỐN XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH TÌM VIỆC LÀM CỦA NHỮNG NGƯỜI GIÚP VIỆC TẠI HÀ NỘI - TRƯỜNG HỢP CHUNG CƯ BẮC LINH ĐÀM
Chuyên ngành: Việt Nam học
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành một luận văn luôn là một hành trình dài với nhiều thử thách Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Đặng Hoài Giang - cán bộ giảng dạy tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, là người trực tiếp hướng dẫn, động viên tinh thần và liên tục chỉ dạy cả về chuyên môn và phương pháp mà nếu thiếu chúng, tôi không thể hoàn thành luận văn này
Tiếp đến, tôi xin gửi lời tri ân đến những cư dân hiện đang cư trú tại Khu đô thị Bắc Linh Đàm Trong quá trình khảo sát và phỏng vấn, nhờ sự hợp tác nhiệt tình của mọi người nên tôi có được những dữ liệu và thông tin cần thiết để thực hiện đề tài nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin nhắc tới người thân, cộng sự và những người bạn với
sự cảm kích sâu sắc vì đã đồng hành cùng tôi trong suốt hành trình đầy khó khăn vừa qua
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp chọn mẫu và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Bố cục luận văn 10
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM “VỐN XÃ HỘI” VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 11
1.1 Thuật ngữ “Vốn xã hội”: Lòng tin và Mạng lưới 12
1.2 Một số quan điểm phổ biến về khái niệm vốn xã hội 16
1.2.1 Quan điểm của Pierre Bourdieu 16
1.2.2 Quan điểm của James Coleman & Robert Putman 17
1.2.3 Quan điểm của Francis Fukuyama 19
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng 20
1.4 Các định chế truyền thống trong xã hội Việt 23
1.4.1 Ý niệm “gia đình‟‟ trong tâm thức của xã hội Việt 23
1.4.2 Vai trò của “không gian làng” đối với mạng lưới quan hệ 25
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2 CHUNG CƯ LINH ĐÀM VÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 27
2.1 Chung cư Linh Đàm và nhu cầu về lao động giúp việc gia đình 27
2.1.1 Khái niệm nhà chung cư và căn hộ chung cư 27
2.1.2 Khu đô thị Linh Đàm: vị trí và đặc điểm 29
2.1.3 Nhu cầu về lao động giúp việc gia đình 31
2.2 Người giúp việc gia đình và quá trình tìm việc làm 36
Trang 52.2.1 Định nghĩa và một số đặc điểm chung 36
2.2.2 Quá trình tìm kiếm việc làm 42
Tiểu kết chương 2 52
CHƯƠNG 3: VỐN XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÁC GIAI ĐOẠN TRONG QUÁ TRÌNH TÌM VIỆC LÀM 53
3.1 Ảnh hưởng đối với lựa chọn, tiếp cận và xác thực thông tin 53
3.2 Ảnh hưởng đối với quá trình thương lượng và đảm bảo quyền lợi 59
3.3 Ảnh hưởng đối với quá trình thay đổi công việc 64
Tiểu kết chương 3 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các ý nghĩa của “vốn” và “xã hội” khi đứng độc lập 13
Bảng 2.1: Những bước trong quá trình tìm kiếm việc làm 42
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa lòng tin và vốn xã hội 15
Sơ đồ 1.2: Vốn xã hội theo quan điểm của Pierre Bourdieu 17
Sơ đồ 1.3: Vốn xã hội theo Quan điểm của James Coleman & Robert Putman 18
Sơ đồ 1.4: Lòng tin và các nhân tố 21
Sơ đồ 1.5: Các định chế và xã hội 22
Sơ đồ 1.6: Các định chế và các nhân tố 23
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH Hình 2.1: Chung cư truyền thống 28
Hình 2.2: Chung cư hiện đại 28
Hình 2.3: Bản đồ Khu đô thị Bắc Linh Đàm 30
Hình 2.4: Không gian sinh hoạt chung 49
Hình 2.5: Không gian kết nối qua mạng xã hội 50
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bản mô tả công việc
OECD Organization for Economic Cooperation and
Trang 8Mặc dù nhóm đối tượng này đã được khai thác bởi một số lượng lớn các nghiên cứu với các đề tài đa dạng và đã được khai thác nhiều khía cạnh bằng nhiều phương pháp khác nhau.Tuy nhiên, nhìn chung, các nghiên cứu tiếp cận từ góc độ ảnh hưởng của vốn xã hội là chưa phổ biến Nguyên nhân một phần là do khái niệm vốn xã hội là tương đối mới mẻ và chưa có sự thống nhất về nội hàm nên còn nhiều tranh luận
Chính vì vậy, xuất phát từ việc khai thác các quan điểm khác nhau về vốn xã hội, gắn kết chúng với những nét đặc thù của xã hội Việt và giới hạn phạm vi nghiên cứu trong một khu vực tương đối đặc trưng là các chung cư tại Khu đô thị Bắc Linh Đàm, luận văn hi vọng có thể góp thêm một góc nhìn
về quá trình tìm kiếm việc làm của những con người hàng ngày vất vả mưu sinh với nhiều thiệt thòi và dường như vẫn đang bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển của xã hội
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mọi tri thức đương đại đều là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài với nhiều đóng góp của các học giả trong những lĩnh vực có liên quan đến nhau Khái niệm “Vốn xã hội” không phải là ngoại lệ Quá trình tranh luận về nội hàm
Trang 9của khái niệm và ứng dụng chúng vào việc khai thác những nhóm đối tượng khác nhau đã được ghi nhận qua nhiều công trình ở cả trong và ngoài nước
Theo quan điểm của Robert Putnam, học giả chính trị học Hoa Kỳ, thuật ngữ “Vốn xã hội” được sử dụng lần đầu tiên trong các công trình của Lyda J Hanifan, một nhà giáo dục ở West Virginia từ năm 1916 Tuy nhiên, sau đó một thời gian dài thuật ngữ này hầu như không được sử dụng một cách phổ biến mặc dù chúng có được nhắc đến bởi một số học giả khác Mãi tận cho tới thập niên 50 trở đi, các nhà nghiên cứu xã hội học Canada mới thực sự quan tâm đến khái niệm này và đưa chúng vào các công trình của họ Tiêu biểu là nhưng nghiên cứu đồ thị của Jane Jacobs trong những năm 60 và nhưng nghiên cứu kinh tế học của Glenn Loury trong những năm 70
Khái niệm này bắt đầu thu hút được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu quốc tế từ những năm 1980 sau những công trình có tính đột phá của nhà
xã hội học người Pháp Piere Bourdieu và nhà xã hội học người Mỹ Jame Coleman
Từ năm 1990, với chương trình của Ngân hàng Thế giới, hàng loạt các tác giả danh tiếng tham gia vào việc khai thác các khái cạnh của vốn xã hội như: Narayan (1997), Narayan & Pritchett (1999), Narayan & Parker (1999), Narayan & Shah (2000), Narayan & Cassidy (2001), Rose (1999, 2000a), Woolcock (1998), Woolcock & Narayan (2000)
Năm 1995, Robert Putnam cho ra đời tác phẩm “Chơi bowling một
mình: Sự sụp đổ và sự hồi sinh của cộng đồng Hoa Kỳ” Công trình này đã
đưa “Vốn xã hội” vào trung tâm trong các vấn đề nghiên cứu và tranh luận của nhiều nhà khoa học trên thế giới Cho tới hiện tại, cộng đồng các nhà nghiên cứu dành nhiều mối quan tâm cho khái niệm này đã trở nên đông đảo với nhiều gương mặt nổi trội như: Putnam, Feldstein, Yoshihiro, Francis Fukuyama, Kawachi, Knack, Keefer, Nahapiet, Ghoshal, Portes, Nan Lin, Adler, Kwon, Krishna, David Halpern…
Trang 10Nhiều hội thảo quốc tế đã được tổ chức để các học giả quy tụ đồng thời cùng thảo luận mà tiêu biểu là hội thảo Le capital do GRIS và Đại học Rouen tổ chức năm 2003, hội thảo La mesure du capita social do PRP tổ chức năm 2006
Tại Việt Nam, từ những năm 2000 cho tới nay, các nhà nghiên cứu đã
có nhiều bài viết và công trình có liên quan, trực tiếp thảo luận về khái niệm
“Vốn xã hội”, phân tích các khía cạnh của vốn xã hội tại Việt Nam, mà tiêu biểu là: Bùi Văn Nam Sơn, Trần Hữu Quang, Lê Minh Tiến, Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Duy Thắng, Lương Văn Hy, Lê Văn Tiến, Nguyễn Văn Tiến,
Nguyễn Đức Lộc Hội thảo “Vốn xã hội và phát triển” do Tạp chí Tia Sáng
tổ chức năm 2006 có thể coi là cuộc hội thảo chính thức về chủ đề này tại Việt Nam Sau quá trình đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau có ứng dụng khái niệm “Vốn xã hội” vào những đối tượng khác nhau
Về ảnh hưởng của của vốn xã hội đối với quá trình tìm kiếm việc làm, theo Phạm Huy Cường trong “Mạng lưới quan hệ xã hội với kết quả tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp: những tác động không được mong đợi” tác
giả cũng đã chỉ ra rằng: “Sự xuất hiện của khái niệm vốn xã hội và các nghiên
cứu về vốn xã hội nói chung và trong thị trường lao động nói riêng trong những năm gần đây đã xác nhận vai trò của một nguồn lực mới, nhấn mạnh ảnh hưởng của các yếu tố niềm tin, sự có đi có lại, và mạng lưới quan hệ xã hội đến sự thành đạt nghề nghiệp của người lao động Mặc dù hầu hết các kết quả nghiên cứu cho đến nay đều xác nhận những tác động tích cực của việc tận dụng mạng lưới quan hệ xã hội trong quá trình tìm kiếm một công việc Điều này tạo nên một ấn tượng rằng tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ là một chiến lược hiệu quả đáp ứng được mọi mong đợi từ các đối tác trong thị trường Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế tác động hai chiều của vốn xã hội, trong đó mạng lưới quan hệ xã hội là một thành tố cấu thành nền tảng, các mối quan hệ xã hội bên cạnh ý nghĩa tích cực còn có những tác động không được mong đợi trong thị trường lao động.” [4, tr 58]
Trang 11Nếu xét về khía cạnh lao động nhập cư, trong công trình “Sinh kế của
người nhập cư dưới góc nhìn của lý thuyết vốn xã hội” (Nguyễn Thị Bích
Thủy, 2015) nhấn mạnh các nội dung: “Người nhập cư vào các thành phố
gặp nhiều trở ngại, nhưng bên cạnh đó họ cũng có những lợi thế riêng của mình, tuy nhiên để có thể vượt qua được mọi thách thức, rào cản cũng như bất trắc, đòi hỏi người dân nhập cư cần phải sử dụng nhiều loại nguồn lực khác nhau Các nguồn lực cần thiết đối với người dân nhập cư có thể kể đến: vốn tài chính, vốn vật chất, vốn con người, vốn văn hóa và vốn xã hội Trong
số các loại vốn này, có một loại vốn đặc biệt - là vốn xã hội, không tồn tại hữu hình mà tồn tại vô hình trong mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân với nhau, hơn nữa nó không trực tiếp tạo ra lợi ích vật chất củng như tinh thắn,
mà nó là bước trung gian chuyển đổi sang các loại vốn khác nếu như cá nhân biết cách vận dụng.” [21, tr.66]
Trong luận văn “Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội
(Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
(Trương Thị Nga, 2013) tác giả đã khai thác sâu việc vốn xã hội được cụ thể
hóa thông qua các hoạt động cố kết cộng đồng và kết luận: “ …thông qua các
hoạt động thờ cúng tổ tiên; thăm hỏi, động viên, hỗ trợ, giúp đỡ nhau khi gia đình có việc cưới, việc tang; hay tham gia các lễ hội tại địa phương của người dân ven đô Hà Nội Phân tích hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng bằng việc người dân ven đô đã khai thác nguồn vốn xã hội thông qua sự tin tưởng, sự có đi lại trong mạng lưới xã hội để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán, dịch vụ.” [13, tr.67]
Trong nghiên cứu về nông thôn về miên núi “Vốn xã hội của người
Nùng Phàn Sình ở một xã miền núi trong bối cảnh toàn cầu hóa.” (Lý Viết
Trường, 2017), tác giả đã khai thác các dữ liệu về việc tham dự một hoạt động
Trang 12công đồng rất điển hình là dự đám tang, tác giả cũng đã chỉ rõ: “…mời khách
tham dự đám tang không những chỉ đóng vai trò rất quan trọng đến mức độ trọn vẹn của đám tang, mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc cố kết cộng đồng (giữa gia đình tang chủ với họ hàng, hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp) Thông qua việc mời tang, số lượng khách mời, phạm vi khách mời và số lượng tiền phúng chúng ta dễ dàng nhận thấy trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay mạng lưới xã hội của người dân ngày càng có xu hướng mở rộng về phạm vi, gia tăng về số lượng và chất lượng Đây là một trong nhữ ng biểu hiện rõ ràng nhất của sự gia tăng số lượng và chất lượng vốn xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.” [20, tr.54]
Tại địa bàn phường Đại Kim (bao gồm một phần KĐT Bắc Linh Đàm),
nghiên cứu “Vốn xã hội với sự phát triển nguồn nhân lực trẻ thành phố Hà
Nội (Nghiên cứu trường hợp Phường Đại Kim, Quận Hoàng Mai, thành phố
Hà Nội) (Đinh Thị Thu Hường, 2014) cũng chỉ ra: “ lao động việc làm của nguồn nhân lực trẻ cũng như việc sử dụng vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ tại phường Đại Kim Kết quả nghiên cứu cho thấy, vốn xã hội chưa được sử dụng thường xuyên Vốn xã hội có vai trò tích cực trong tuyển dụng, thăng tiến Mặt khác, vốn xã hội trở nên tiêu cực khi tạo sự bất bình đẳng trong cơ hội tuyển dụng, học tập, thăng tiến.” [12, tr 63]
Trong nghiên cứu “Vốn xã hội trong lựa chọn nghề của thanh niên”
(nghiên cứu trường hợp tại địa bàn phường Bắc Sơn và xã Quang Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) (Lương Thị Xuân, 2014) cũng nêu ra ảnh hưởng
của vốn xã hội rằng : “…quá trình lựa chọn nghề, thanh niên có tiếp cận và
sử dụng vốn xã hội từ các nhóm xã hội mà họ là thành viên trước khi đưa ra quyết định lựa chọn nghề; Đồng thời quá trình tiếp cận, cũng như sử dụng vốn xã hội của thanh niên ở hai khu vực thành thị và nông thôn có sự khác nhau ” [22, tr 69]
Trang 13Trong nghiên cứu “Vai trò tạo vốn xã hội của các diễn đàn điện tử ở Việt
Nam hiện nay” (Dương Thị Ngọc, 2014), tác giả đã khai thác sau những khía
cạnh tích cực của mạng xã hội và các hình thức liên lạc online hiện nay trong việc phát triển vốn xã hội như: Phát triển mạng lưới các mối quan hệ; Thúc đẩy chia sẻ các nguồn lực; Tăng cường sự đoàn kết, tin cậy; Nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề cá nhân; Hỗ trợ tích lũy vốn văn hóa, vốn kinh tế
Như vậy, nhìn chung là khái niệm “Vốn xã hội” đã được ứng dụng để nghiên cứu nhiều đối tượng khác nhau, từ nhiều khía cạnh và tại nhiều địa phương khác nhau Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu tập trung khai thác ảnh hưởng của vốn xã hội nhóm đối tượng là người giúp việc gia đình, đặc biệt là ảnh hưởng của vốn xã hội đối với quá trình tìm kiếm việc làm của họ là chưa nhiều Chính vì vây, luận văn lựa chọn đề này này với hi vọng góp một phần công sức làm giàu thêm những hiểu biết về nhóm đối tượng này
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu, đúng như tên gọi của đề tài là tập trung làm
rõ ảnh hưởng của vốn xã hội đối với quá trình tìm kiếm việc làm của những người giúp việc gia đình tại Hà Nội Khách thể hay đối tượng của nghiên cứu
là những người hiện tại đang làm công việc này tại Khu đô thị Bắc Linh Đàm
Cụ thể hơn, ở đây trong toàn thể các công trình của Khu đô thị bao gồm chung cư cao tầng – liền kề - biệt thự, luận văn chỉ tập trung khai thác thông tin bằng phương pháp ghi chép điền dã đối với nhóm đối tượng đang làm việc các chung cư cao tầng
Để làm rõ vấn đề hay để đạt được mục đích đã đặt ra, về cơ bản, nghiên cứu được thực hiện một cách tuần tự theo 3 bước như sau:
Đầu tiên là tổng hợp và phân tích nhằm làm rõ các khía cạnh của khái niệm “Vốn xã hội” thông qua việc tìm hiểu và so sánh các quan điểm phổ biến và tham khảo một số vấn đề có liên quan Liên hệ và đối chiếu những
Trang 14khía cạnh của khái niệm “Vốn xã hội” với những đặc điểm/ diễn biến của xã hội Việt Nam và ảnh hưởng của chúng đối với những lao động giúp việc gia đình trong giai đoạn này
Thứ hai là thực hiện phương pháp điền dã tại Khu đô thị Bắc Linh Đàm
để quan sát những đặc điểm của các chung cư hiện đại với vai trò là một không gian sống đang trong quá trình hình thành và phát triển, phỏng vấn (trò chuyện) những người giúp việc gia đình hiện tại đang làm việc tại đây để ghi chép những câu chuyện thực tế về quá trình tìm kiếm việc làm, thương lượng, thực hiện công việc, chuyển đổi công việc đã và đang diễn ra tại những tòa nhà cao tầng này
Cuối cùng, từ những câu chuyện thực tế, phân tích và đối chiếu với các kết quả đã thu được ở các bước nghiên cứu trước nhằm đạt được mục tiêu của nghiên cứu Đồng thời, các giai đoạn của quá trình tìm việc cũng được đào sâu tức để làm rõ ảnh hưởng của vốn xã hội đối với một số bước trong quá trình tìm kiếm việc làm của các khách thể nghiên cứu Tương ứng với các bước là nội dung của các chương trong luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong giai đoạn đầu của nghiên cứu, tương ứng với mục tiêu đã đặt ra làm rõ các khía cạnh của khái niệm và sự liên quan của chúng với nhau, phương pháp chủ yếu là tổng hợp và phân tích tài liệu Tuy nhiên, để có thể đi đến bản chất của vấn đề, luận văn không chỉ liệt kê các các quan điểm về khái niệm mà còn nỗ lực chỉ ra sự phát triển có tính kế thừa giữa chúng với nhau Đồng thời, gắn kết chúng với những đặc trưng và những biến đổi trong xã hội Việt Nam, đặc biệt là những sự kiện có ảnh hưởng tới đối tượng của nghiên cứu là lao động giúp việc gia đình
Giai đoạn hai, người nghiên cứu trực tiếp thực hiện việc phỏng vấn điền dã tại khu vực đã lựa chọn Để phù hợp với nội dung và mục tiêu nghiên
Trang 15cứu, phương pháp phỏng vấn mở được lựa chọn Một số câu hỏi được chuẩn
bị trước, tuy nhiên tùy thuộc vào hoàn cảnh và mức độ tham gia của đối tượng phỏng vấn mà các câu hỏi phỏng vấn được nêu lên một cách phù hợp do đó quá trình phỏng vấn không bị đóng khung theo kịch bản cố định Do người nghiên cứu cũng là công dân cư trú tại địa bàn và để tránh những rào cản tâm
lý từ phía người được phỏng vấn, người nghiên cứu tùy vào tình huống cụ thể
mà có thể thông báo cho đối tượng biết về việc phỏng vấn hoặc không thông báo mà chỉ thực hiện như một cuộc trò chuyện thường ngày Một số đối tượng được lựa chọn để thực hiện việc phỏng vấn sâu và có ghi chép, còn lại, phần lớn các cuộc phỏng vấn sẽ được chép lại theo trí nhớ sau khi trò chuyện
Về phương pháp chọn mẫu phỏng vấn ở giai đoạn 2, tổng số lượng phỏng vấn (trò chuyện): hơn 30 cuộc được thực hiện trong khoảng thời gian
từ 3/2018 tới tháng 12/2019, với các đối tượng là người giúp việc gia đình (18 trường hợp), vợ hoặc chồng chủ nhà (7 trường hợp) và những người có liên quan như người thân chủ nhà, lao công, bảo vệ… (08 trường hợp) Những cuộc phỏng vấn (trò chuyện) ban đầu được thực hiện tại các căn hộ, sân chơi trẻ em và một số khu vực khác tại các tòa chung cư của KĐT một cách ngẫu nhiên Sau đó, những trường hợp điển hình được lựa chọn để phỏng vấn sâu, ghi chép chi tiết và đưa vào làm dẫn chứng tiêu biểu trong luận văn là 04 người giúp việc và 03 chủ nhà 04 trường hợp tiêu biểu điển hình được lựa chọn để đảm bảo cân đối về cả mặt địa lý và thời gian Cụ thể, Khu Đô thị Linh Đàm có thể được chia thành hai khu vực chính là: khu vực “Bán đảo” – thuộc địa phận phường Hoàng Liệt (bao gồm các tòa nhà HH, VP và tác tòa nhà thuộc dự án X2) và khu vực “Mở rộng” – thuộc địa phận phường Đại Kim (Bao gồm các tòa nhà thuộc dự án X1, các tòa nhà thuộc dự án OCT, cụm tòa nha Ecolake View - 32 Đại Từ), nên mỗi khu vực được lựa chọn 02 trường hợp Trong mỗi khu vực sẽ có 01 trường hợp thuộc các tòa nhà cũ -
Trang 16tức thuộc dự án xây dựng ở thời kỳ đầu (HUB xây dựng) và 01 trường hợp thuộc các tòa nhà mới do các đơn vị khác thực hiện
Giai đoạn ba, kết quả của quá trình điền dã sẽ được kết hợp với đối chiếu với những lý thuyết thu được từ các bước trước đó để tiến tới việc hoàn tất nghiên cứu Trong giai đoạn này, từng giai đoạn trong quá trình tìm kiếm việc làm sẽ được phân tích riêng để có thể làm rõ và đi đến kết luận về ảnh hưởng của vốn xã hội đối với quá trình tìm kiếm việc làm của đối tượng nghiên cứu Các kết quả của quá trình phỏng vấn trước đó sẽ được sử dụng để phân tích và kết luận trong giai đoạn này, đặc biệt là những câu chuyện tiêu biểu
5 Đóng góp của luận văn
Thứ nhất, luận văn góp phần tìm hiểu thêm về khái niệm “Vốn xã hội”
và mối liên quan giữa các cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “Vốn xã hội” với một số đặc thù của xã hội Việt Ngoài ra, luận văn cũng góp phần làm rõ mối quan hệ giữa vốn xã hội với lòng tin, vốn xã hội và những nhân tố
có liên quan như đạo đức - luật pháp - lợi ích và tương tứng với chúng là mối liên hệ giữa các định chế như nhà nước, thị trường và xã hội dân sự với vốn
xã hội
Thứ hai, thông qua những trường hợp tại Khu đô thị Linh Đàm, luận văn góp phần phân tích những nhu cầu về người giúp việc gia đình tại các khu chung cư Đồng thời, cũng phân tích một số khía cạnh trong công việc giúp việc gia đình và quá trình tìm kiếm việc làm của họ Quá trình này cho thấy ảnh hưởng của mạng lưới những mối quan hệ mà rõ ràng nhất là mạng lưới quan hệ giữa những người phụ nữ trung niên trong quá trình việc kết nối người giúp việc với chủ nhà
Thứ ba, luận văn phân tích và góp phần cho thấy ảnh hưởng của vốn xã hội đối với các giai đoạn khác nhau trong quá trình tìm kiếm việc làm Trong
đó, trong từng giai đoạn mà những quan điểm khác nhau về vốn xã hội trở
Trang 17nên rõ ràng và qua đó khẳng định ảnh hưởng mạnh mẽ mang tính quyết định của vốn xã hội đối với quá trình tìm kiếm việc làm của những người giúp việc gia đình
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm “Vốn xã hội” và một số vấn đề có liên quan
Chương 2: Chung cư Linh Đàm và người giúp việc gia đình
Chương 3: Vốn xã hội và các giai đoạn trong quá trình tìm việc làm
Trang 18CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM “VỐN XÃ HỘI” VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
CÓ LIÊN QUAN
Thuật ngữ “Vốn xã hội” đã được giới thiệu và sử dụng trong khoa học
xã hội trong khoảng trên dưới ba thập niên trở lại đây một cách khá thường xuyên Một số tổ chức uy tín hoặc học giả danh tiếng đã đưa ra những định nghĩa nhất định về khái niệm “Vốn xã hội” trong những công trình của họ Tuy nhiên, công bằng mà nói, cho đến thời điểm hiện tại giới nghiên cứu vẫn gặp nhiều khó khăn để có thể đi đến một sự đồng thuận cuối cùng về nội hàm của khái niệm này
Tình trạng đã nêu trên phản ánh một thực tế nằm ngay trong nội tại của thuật ngữ “Vốn xã hội” là nó đang cố gắng mô tả một “(nhóm) đối tượng” –
“thực thể” mang tính đa – chiều – kích liên ngành, bao hàm nhiều yếu tố - phương diện có mối quan hệ phức tạp khó đo lường và có thể diễn giải theo nhiều cách khác nhau Quá trình khảo sát các tài liệu cho thấy các nhà nghiên cứu thường căn cứ theo bối cảnh, mục tiêu và đối tượng của công trình nghiên cứu để lựa chọn cách thức tiếp cận và nội hàm của khái niệm một cách phù hợp Nhìn chung, dù đôi khi quan điểm của các nhà nghiên cứu có thể có nhiều khác biệt nhưng các định nghĩa được đưa ra vẫn ít nhiều có sự giao thoa với nhau
Trong bài „Tìm hiểu vốn xã hội‟, tác giả Trần Hữu Quang đã nêu ra vấn đề trước khi nỗ lực khái niệm hóa khái niệm từ cách tiếp cận xã hội học : “Vốn
xã hội là một thuật ngữ… được dùng để chỉ một thực thể bao quát đến mức khá mơ hồ và khó nắm bắt… có thể nói cho đến nay thuật ngữ này vẫn chưa được khái niệm hóa một cách đầy đủ, hay nói cách khác, nó chưa trở thành một khái niệm khoa học thực thụ” Trần Hữu Quang (2006), “Tìm hiểu vốn xã hội”, Tạp chí Khoa học xã hội Tương tự như thế, nhà kinh tế học Trần Hữu
Trang 19Dũng cũng đã có nhận định tương tự khi cho rằng vốn xã hội là một ý niệm
rất linh động, thậm chí mập mờ… nhưng hữu ích Ông cho rằng ý niệm vốn
xã hội là một cầu nối giữa tiếp cận kinh tế và tiếp cận xã hội, nó cho thấy bản chất và mức độ của sự tương tác giữa các cộng đồng với thể chế có ảnh hưởng
quan trọng đến thành tựu kinh tế như thế nào
Xuất phát từ đặc điểm liên ngành của chuyên ngành Việt Nam học, chương 1 sẽ khảo sát chung về một số vấn đề có liên quan và một số quan điểm về nội hàm của khái niệm “Vốn xã hội” trước khi ứng dụng chúng vào những chương tiếp theo
1.1 Thuật ngữ “Vốn xã hội” : Lòng tin và Mạng lưới
Thuật ngữ “Vốn xã hội” được ghép từ hai từ “Vốn” và “Xã hội” Bảng 1.1 thể hiện các ý nghĩa mà hai từ này được biểu đạt được khi đứng độc lập Trước khi đi đến với những nỗ lực khái niệm hóa “Vốn xã hội” thành thuật ngữ chuyên ngành với nội hàm xác định, từ bảng 1.1, có thể nhận ra nhiều phương án phối hợp từ hai yếu tố trên để tạo thành các cách hiểu (nội dung) khác nhau về “Vốn xã hội”, ví dụ:
a Toàn bộ (nguồn vốn) tài sản vật chất mà loài người tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của loài người
b Toàn bộ những gì sẵn có, bao gồm cả vật chất và phi vật chất - hữu hình và phi hữu hình, tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của loài người
c Nguồn vốn – toàn bộ những gì sẵn có, bao gồm cả vật chất và phi vật chất – hữu hình và phi hữu hình, tương ứng với một xã hội (ở nhiều quy
mô và hình thức khác nhau: khu vực, quốc gia, vùng miền, tỉnh thành, làng xã…; tầng lớp, giai cấp, hội nhóm… ) ở một thời điểm (thời kỳ lịch sử) nhất định
Trang 20Vốn Xã hội
[Danh từ]
1 Tổng thể nói chung những tài
sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu
hiện bằng tiền dùng trong sản xuất
kinh doanh, nói chung trong hoạt
động sinh lợi Chung vốn mở một
cửa hàng Đi buôn lỗ vốn Bán vốn
(bán với giá vốn, giá mua vào, không
lấy lãi) Vốn đầu tư
2 Tổng thể nói chung những gì sẵn
có hay tích lũy được, dùng trong
một lĩnh vực hoạt động nào đó, nói
về mặt là cần thiết để hoạt động có
hiệu quả Vốn kiến thức sâu rộng
Vốn từ ngữ của một nhà văn Người
là vốn quý nhất
[Danh từ]
1 Hình thức sinh hoạt chung có tổ chức của loài người ở một trình độ phát triển nhất định của lịch sử, xây dựng trên cơ sở một phương thức
sản xuất nhất định Xã hội phong
kiến Xã hội tư bản Quy luật phát triển của xã hội
2 Đông đảo những người cùng sống
trong một thời (nói tổng quát) Dư
luận xã hội Trong gia đình, ngoài xã hội Làm công tác xã hội
3 (Kết hợp hạn chế) Tập hợp người
có địa vị kinh tế - chính trị như nha;
tầng lớp Xã hội thượng lưu
Bảng 1.1: Các ý nghĩa của “vốn” và “xã hội” khi đứng độc lập
[16, tr.1428;1445]
Các phương án a, b và c đã nêu trên được hiểu trong sự mặc định chủ thể là (toàn thể) “xã hội” Trong trường hợp “cụ thể hóa” các nội dung bằng cách xoay chủ thể về “con người” – (các) “cá nhân” thì nhiều phương án khác có thể được xét đến, ví dụ:
d Nguồn vốn, bao gồm cả vật chất – phi vật chất và hữu hình – phi hữu hình, mà một cá nhân tích lũy được trong quá trình xã hội hóa Chú ý là khái niệm xã hội hóa ở đây mang ý nghĩa quá trình một cá nhân trưởng thành và hòa nhập vào xã hội
Trang 21e Tổng thể những gì có sẵn, bao gồm cả vật chất – phi vật chất và hữu hình – phi hữu hình, mà một cá nhân được thụ hưởng (và phải chấp nhận), khi
là thành viên của một xã hội nào đó
Những ví dụ nêu trên cho thấy một “biên độ co dãn” rất lớn trong các ý nghĩa mà hai yếu tố “vốn” và “xã hội” có thể biểu đạt, dẫn đến tính đa – chiều – kích của thuật ngữ “vốn xã hội” Ở cách hiểu đơn giản và phổ biến nhất, có thể hiểu vốn xã hội là mạng lưới những mối quan hệ của một cá nhân; ở quy
mô lớn nhất, có hiểu vốn xã hội là toàn bộ thực tại đang hiện hữu
Trong tiếng Anh, từ điển Oxford có một từ mục riêng cho “Social Capital”:
social capital (noun) [uncountable]
The networks of relationships among people who live and work in a particular society that enable the society to exist and be successful
Building social capital requires trust and participation among individuals
The middle-class kid, whose dad knows the company director, is said to have more social capital
Corporations transform social capital into economic capital [50, tr.38]
Tạm dịch: (những) mạng lưới (những) mối quan hệ giữa những người
đang sống và làm việc ở một xã hội nhất định mà cho phép xã hội đó có thể tồn tại và phát triển Trong cách giải nghĩa này, ta thấy rõ cơ sở cho “Vốn
xã hội” - “Social Capital” chính là mạng lưới mối quan hệ, đồng thời, thuật ngữ cũng nhấn mạnh về tầm quan trọng mạng lưới quan hệ trong việc duy trì
xã hội
Cách hiểu này sẽ được thể hiện rõ hơn khi quan sát kỹ cách chuyển ngữ thuật ngữ “Capital”, mặc dù trong tiếng Việt được dịch là “Vốn”, nhưng thực chất mang ý nghĩa là “Tư bản” bởi thuật ngữ “Tư bản”, ngoài các phần có thể lượng hóa, thì còn hàm chứa yêu tố mối quan hệ ở trong đó Một trong những
Trang 22cách định nghĩa phổ biến được biết đến là của Karl Marx thì tư bản không (chỉ) là tiền, không chỉ là máy móc, công cụ, nguyên liệu, hàng hóa, mà là quan hệ lao động sản xuất của xã hội Nói cách khác, tư bản (capital) chính là mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội (social relation) hay chính là nhân tố chi phối mạng lưới xã hội
Những mối quan hệ tạo thành mạng lưới xã hội Cơ sở cho những mối quan hệ chính là lòng tin, niềm tin, sự tín nhiệm hay sự tin cậy Có thể hiểu, lòng tin chính là điểm tựa cho những mối quan hệ, dù là ở kích cỡ bé nhất là mối quan hệ giữa hai cá nhân hay ở những quy mô lớn như mối quan hệ giữa các thành viên của một cộng đồng, những công dân của một quốc gia hay của toàn thể thế giới loài người với nhau Trong bản báo cáo của OECD đã nêu
rõ: “Ta có thể xem xét sự tin cậy vừa là nguồn gốc của vốn xã hội vừa là kết
quả của loại vốn này Như một giá trị thay thế rất gần với các chuẩn mực, niềm tin và giá trị làm nền tảng cho sự hợp tác xã hội” [27, tr.15] Lòng tin là
điểm tựa cho những mối quan hệ, vậy những gì sẽ là điểm tựa cho lòng tin ?
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa lòng tin và vốn xã hội Nguồn: Tác giả tổng hợp
Lòng tin
Vốn xã hội
Các mạng lưới quan hệ
Trang 23Những nhân tố là điểm tựa cho niềm tin để tạo thành các mạng lưới, như trong định nghĩa của khái niệm “social capital” đã nêu lên, sẽ là cơ sở cho phép xã hội có thể tồn tại và phát triển Đồng thời, việc lựa chọn quy mô,
mô tả và nhấn mạnh những nhân tố đó cũng chính là quá trình hình thành nên những quan điểm khác nhau về khái niệm này Điều này có thể được nhìn thấy qua những thảo luận trong và ngoài nước
1.2 Một số quan điểm phổ biến về khái niệm vốn xã hội
1.2.1 Quan điểm của Pierre Bourdieu
Nhà xã hội học người Pháp – Pierre Bourdieu có thể được xem là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về khái niệm Vốn xã hội một cách có hệ thống Trong các tác phẩm xuất bản vào tập niên 80, ông đã nhấn mạnh rằng, ngoài vốn kinh tế (capital economique), cần thiết phải phân biệt và ghi nhận thêm
03 loại vốn khác là vốn văn hóa (capital culturel), vốn biểu tượng (capital symbolique) và vốn xã hội (capital social) Theo quan điểm của ông, vốn xã
hội là một „„mạng lưới lâu bền bao gồm các mối quan hệ quen biết nhau và
nhận ra nhau, (các mối liên hệ này) ít nhiều được định chế hóa‟‟ [29, tr.120]
Pierre Bourdieu coi vốn xã hội là mạng lưới quan hệ và với một cá nhân thì
„„khối lượng vốn xã hội của một tác nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế, đồng thời cũng phụ thuộc vào khối lượng của vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn biểu tượng‟‟[32, tr.121]
Trang 24Sơ đồ 1.2: Vốn xã hội theo quan điểm của Pierre Bourdieu
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Như vậy, đối với một cá nhân thì các loại vốn không hề tồn tại độc lập
mà có thể chuyển hóa qua nhau Điều này khá dễ hiểu và hoàn toàn có thể quan sát được trên thực tế khi một cá nhân có thể dùng tiềm lực về kinh tế, phong cách sống hay hiểu biết của bản thân để gia tăng mạng lưới các mối quan hệ Ngoài ra, theo quan điểm của Bourdieu, vốn xã hội có thể bị/được
„„định chế/thể chế‟‟ hóa, mang hàm ý các mạng lưới này ngoài những rằng buộc mang tính cụ thể hay trừu tượng thì cũng ít nhiều được „„quy chuẩn hóa‟‟ hay „„cưỡng bức‟‟ ở những mức độ khác nhau
1.2.2 Quan điểm của James Coleman & Robert Putman
Tiếp thu những quan điểm của Bourdieu, nhưng Coleman và Putnam đã đặt vấn đề khác đi khi nhấn mạnh rằng vốn xã hội bao gồm các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social trust), những nhân tố này chính là những nền tảng giúp các thanh viên có thể hành động
cùng với nhau: “Hiểu một cách tương tự như vốn vật thể hay vốn con người -
đây là những phương tiện và (những kỹ năng) đào tạo (có tác dụng) làm gia tăng năng suất của cá nhân, „vốn xã hội‟ nói tới những khía cạnh đặc trưng
Cá nhân
Vốn kinh
tế
Vốn xã hội
Vốn biểu tượng Vốn văn
hóa
Trang 25của tổ chức xã hội như các mạng lưới „xã hội‟, các chuẩn mực, và sự tin cậy trong xã hội vốn tạo điều kiện thuận lợi cho sư phối hợp và sự tương tác nhằm đạt đến lợi ích tương hỗ” [35, tr.67]
Khác với quan điểm của Bourdieu – vốn nhận diện vốn xã hội như một thứ tài sản thuộc quyền sở hữu của mỗi cá nhân – quan điểm của Coleman và Putnam lại coi vốn xã hội như một thứ tài sản chung của một cộng đồng hay toàn thể xã hội
Sơ đồ 1.3: Vốn xã hội theo Quan điểm của James Coleman & Robert
Putman Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trong những nỗ lực của minh, Putnam còn đề xuất những yếu tố để đo lường vốn xã hội như : mức độ tham gia vào các cuộc bầu cử, mức độ tin tưởng vào những định chế công cộng, tính chất của các hội nhóm trong cộng đồng… Putnam cũng chỉ ra mối quan hệ giữa vốn xã hội với sự hiệu quả của các định chế cũng như quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các cộng đồng
mà ông nghiên cứu Quan điểm này cũng rất gần với quan điểm của Ngân
hàng thế giới hiện này về vốn xã hội : “Vốn xã hội (là một khái niệm) có liên
quan tới những chuẩn mực và mạng lưới xã hội dẫn tới hành động cụ thể Ngày càng có nhiều sự kiện chứng minh rằng sự gắn kết xã hội – tức vốn xã
đặc trưng của
tổ chức xã hội
Xã hội
Hành động tập thể và Lợi ích tương
hỗ
Vốn xã hội
Trang 26hội – đóng vai trò trọng yếu đối với việc giảm nghèo và sự phát triển con người và kinh tế một cách bền vững” [44, tr.36]
Như vậy, từ Bourdieu tới Coleman & Putnam có thể thấy được sự thay đổi về chủ thể xem xét đã dẫn tới sự thay đổi về quy mô, tính chất, cũng như tầm ảnh hưởng của khái niệm Đồng thời, cũng có thể nhận ra mối liên hệ giữa hai quan điểm khi “mạng lưới quan hệ” của mỗi cá nhân vừa góp phần
xây dựng lại cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của “đặc trưng của tổ chức xã
hội” và quá trình chuyển hóa các nguồn vốn khác nhau (vốn kinh tế, vốn văn
hóa, vốn biểu tượng…) của mỗi cá nhân có mối liên hệ chặt chẽ với “những
chuẩn mực và sự tin cậy chung” trong quan điểm của Coleman & Putnam
1.2.3 Quan điểm của Francis Fukuyama
Nhà chính trị học người Mỹ gốc Nhật Francis Fukuyama nhận thức rõ ràng về tính trừu tượng và tính liên/đa chủ thể của „vốn xã hội‟ khi ông đưa ra
quan điểm của mình về khái niệm này, ông cho rằng :“Vốn xã hội là một
chuẩn mực phi chính thức được biểu hiện trong thực tế (có tác dụng) thúc đẩy
sự hợp tác giữa hai hay nhiều cá nhân Các chuẩn mực làm nên vốn xã hội có thể bao gồm từ chuẩn mực có đi có lại giữa hai người bạn, cho tới những học thuyết phức tạp và được kết cấu một cách tinh tế như Ki – tô giáo hay Khổng giáo Những chuẩn mực này phải được biểu hiện trong thực tế trong mối liên
hệ có thực giữa con người với con người : chuẩn mực có đi có lại tồn tại trong niềm tin tiềm thể trong mối xử sự của tôi với mọi người, nhưng nó chỉ được hiện thực hóa khi tôi xử sự với bạn bè của tôi mà thôi Theo quan điểm này, sự tin cậy, các mạng lưới xã hội, xã hội dân sự, và những thứ tương tự, vốn gắn liền với vốn xã hội, đều là những hiện tượng thứ phát, nảy sinh do (từ) vốn xã hội chứ không phải là bản thân vốn xã hội” [39, tr.36]
Nếu xem xét một cách sâu xa, thì có thể cho rằng Fukuyama đã coi
„vốn xã hội‟ chính là nhân tố cấu thành (chỉ định) nên những đặc trưng văn
Trang 27hóa – tập quán đang chi phối xã hội hay như cách diễn đạt của ông là „thành
tố văn hóa‟ trong quan điểm rằng : “(Vốn xã hội) cấu thành nên thành tố văn
hóa của những xã hội hiện đại – những xã hội mà kể từ thời kỳ Khai Sáng đã được tổ chức dựa trên cơ sở của các định chế chính thức và trên nhà nước pháp quyền và lý tính” [39, tr.37]
Như vậy, nếu xuất phát từ quan điểm của Fukuyama thì phải gắn „vốn xã hội‟ với những đặc điểm đã cấu thành nên thế giới đương đại (hay những quan điểm về các định chế và các nhà nước) trong tiến trình lịch sử, đồng thời đặt “vốn xã hội” như một thành tố phi chính thức nhưng vẫn chi phối một cách tinh tế và mạnh mẽ toàn xã hội lẫn từng cá nhân cụ thể
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng
Nếu nhìn một cách tổng quát, “lòng tin”, “sự tin cậy” hay “sự tín nhiệm”
có thể được đảm bảo thông qua 03 nhóm yếu tố mà ta tạm gọi tên một cách
đại diện là: “pháp luật”, “lợi ích” và “đạo đức” Mà ở đây, mỗi yếu tố thực
chất là đại diện cho những nhóm „cơ chế‟ với vai trò và chức năng khác nhau:
-“Pháp luật”: đại diện cho những những cơ chế mang tính bắt buộc phải
thực hiện, có bộ máy tương ứng để thực thi và có sự trừng phạt trực tiếp khi các thành viên trong xã hội vi phạm Pháp luật là hoàn toàn khách quan
-“Lợi ích”: đại diện cho những cơ chế rằng buộc xuất phát từ quyền lợi,
mà cụ thể nhất là những quyền lợi về kinh tế giữa những đối tác trong thỏa thuận Nhận định về quyền lợi trong một thỏa thuận mang tính chủ quan giữa các bên
-„Đạo đức‟ : đại diện cho nhóm các yếu tố như luân lý phong tục tập quán,
luân lý, truyền thống, tôn giáo… là những cơ chế rằng buộc mang tính vô hình, vừa mang tính tự nguyện vừa mang tính bắt buộc gián tiếp, ở đây không
có một bộ máy tương ứng chuyên trách thực thi nhưng có nhiều nhân tố vô hình khác để duy trì cơ chế này
Trang 28Một lần nữa phải nhấn mạnh là những nhân tố này hoàn toàn có thể nhận diện một cách độc lập nhưng không bao giờ có thể tách bạch khỏi nhau Mỗi
cá nhân trong xã hội đều vừa là những người thực thi vừa là đối tượng bị chi phối của những nhân tố này Trong trạng thái toàn hảo nhất, cả ba yếu tố phối hợp nhịp nhàng với nhau để duy trì „lòng tin‟, cả lòng tin giữa các cá nhân lẫn
„lòng tin‟ chung như là giá trị của một xã hội
Sơ đồ 1.4: Lòng tin và các nhân tố Nguồn: Tác giả tổng hợp
Tuy nhiên, trên thực tế không nhất thiết cả ba phải nằm ở vị trí tương đương nhau mà tùy vào tính huống cụ thể Ví dụ : Hợp đồng lao động giữa nhân viên và công ty là một giao dịch được pháp luật bảo hộ và hàm chứa mối quan hệ đạo đức ở trong đó, tuy nhiên, điều cốt yếu nhất chi phối tất cả lại chính là yếu tố lợi ích mà mỗi bên có được trong giao kèo này
Tương ứng với những yếu tố ở trên, ở quy mô xã hội, tồn tại những định chế tương ứng, như là sự khách thể hóa hoàn toàn các yếu tố trên và đảm bảo cho những cơ chế trên hoạt động hiệu quả Ở đây, ta có thể liệt kê vào 03 nhóm định chể chủ yếu : nhà nước, thị trường và xã hội dân sự
Lòng tin
Lợi ích
Pháp luật
Đạo đức
Trang 29Sơ đồ 1.5: Các định chế và xã hội Nguồn: Tác giả tổng hợp
Nhà nước với cơ chế chính là pháp luật, đại diện cho mối liên hệ theo chiều thẳng đứng từ trên xuống dưới giữa cá nhân với xã hội Thị trường với
cơ chế chính là lợi ích, đại diện cho những liên kết ngang trong xã hội Xã hội dân sự là sự mối liên hệ theo cụm mạng lưới, đa chiều, lúc đậm đặc lúc rời rạc nhưng không đứt đoạn trong xã hội Không thể nói rằng đạo đức, phong tục tập quán, truyền thống và các giá trị… nằm hoàn toàn trong định chế xã hội dân sự, tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể quan sát thấy một vai trò trọng yếu của định chế này trong việc duy trì chúng
Trang 30Sơ đồ 1.6: Các định chế và các nhân tố Nguồn: Tác giả tổng hợp
1.4 Các định chế truyền thống trong xã hội Việt
Những gì đang xảy ra ở hiện tại luôn luôn bao hàm những “trầm tích” của quá khứ Với khách thể nghiên cứu là người giúp việc gia đình thì những nhân tố trong mạng lưới quan hệ và cách thức họ sử dụng nó là biểu hiện rõ ràng nhất của “Vốn xã hội” Tuy nhiên, thực tại đó chỉ có thể được thấu hiểu nếu được kết nối với những phân tích với những trầm tích của quá khứ, đặc biệt là vai trò của những định chế trong tâm thức của những con người đang hiện hữu Những nội dung đã nêu trên là cơ sở để hiểu rõ hơn về hai nhân tố mang nét đặc trưng của xã hội Việt: gia đình và làng
1.4.1 Ý niệm “gia đình’’ trong tâm thức của xã hội Việt
Gia đình luôn là một nguồn vốn quan trọng trong bất kỳ nền văn hóa nào Nhưng điểm khác biệt mang tính đặc thù của xã hội Việt là sự chi phối
có tính bao trùm của ý niệm này lên toàn thể xã hội Có thể nói, đây vừa là
Trang 31một thứ vốn lớn lao, vừa là một thứ “của nợ” không thể chối từ đối với mỗi người Việt
Một trong những thể hiện rõ ràng nhất là ở trong ngôn ngữ Việc xưng
hô trong tiếng Việt đòi hỏi một trật tự rất chặt chẽ Trong đó, mỗi cá nhân khi tham gia vào hội thoại đều phải lựa chọn cách xưng hô “như thể trong gia đình” với đối phương, dù họ là người xa lạ Trong tiếng Việt có từ “đồng bào” xuất phát từ truyền thuyết về sự khởi đầu từ “bọc trăm trứng” do một mẹ sinh
ra của mọi cộng đồng người Việt
Ý niệm về “gia đình” chi phối cả lên các định chế nhà nước và các định chế thị trường Trong cả những tình huống tranh chấp, cách xử lý “thấu tính đạt lý” luôn là yêu cầu mà xã hội đặt ra Các bên tranh chấp luôn hướng tới việc “đóng cửa bảo nhau” để điều phối lợi ích theo hướng “dĩ hòa vi quý” Trong các giao dịch kinh tế, việc có thể kết thân “như anh em” đôi khi còn quan trọng hơn những hợp đồng chặt chẽ nhất
Sự chi phối của ý niệm “gia đình” trong xã hội Việt là nhân tố đầu tiên
và mang tính nền tảng cho thấy ảnh hưởng của vốn xã hội đối với quá trình tìm kiếm việc làm của người giúp việc gia đình, cũng là quá trình tìm kiếm và tuyển dụng lao động của các chủ nhà theo quan niệm về vốn xã hội của
Fukuyama như “là một chuẩn mực phi chính thức được biểu hiện trong thực
tế (có tác dụng) thúc đẩy sự hợp tác giữa hai hay nhiều cá nhân…” [40,
tr.33] Tính chất “phi chính thức” thể hiện một cách rất rõ rệt ở đây do tính
đặc thù của giao dịch Đây rõ ràng là một giao dịch kinh tế và đòi hỏi sự chi phối của pháp luật Nhưng quan niệm về việc tìm kiếm một người lao động
“như là một thành viên trong gia đình” khiến những người tham gia giao dịch này gần như không quan tâm tới việc văn bản hóa giao dịch từ đó kéo theo nhiều hệ lụy khác (cả tốt và xấu) sẽ được phân tích kỹ hơn trong những tình huống cụ thể ở những chương tiếp theo
Trang 321.4.2 Vai trò của “không gian làng” đối với mạng lưới quan hệ
Có thể nói, đối với người Việt trong quá khứ, làng như là điểm hội tụ của cả ba định chế nhà nước – thị trường – xã hội dân sự
Nếu nhìn từ quan điểm “Khế ước xã hội”, với người Việt mang tâm thức “phép vua thua lệ làng” thì hương ước có thể còn mang tính “khế ước” cao hơn rất nhiều so với những điều luật chính thức Xã hội Việt Nam trong quá khứ không khuyến khích việc giao thương buôn bán Những người làm thương mại thường không được trọng thị trong xã hội theo quan niệm “sĩ – nông – công – thương‟‟ Trong một xã hội tiểu nông tự cung tự cấp, những phân tích thị trường mang tính lý thuyết về “bàn tay vô hình‟‟ hầu như là vô nghĩa Tuy nhiên, các yếu tố mang tính “xã hội dân sự” lại được gieo mầm và
có nhiều ảnh hưởng, nhất là trong quá trình di cư “Hội đồng hương những người cùng làng” có lẽ là hội nhóm phổ biến nhất và hoạt động hiểu quả của những người lao động phổ thông di cư từ nông thôn ra thành thị
Không phải vô cớ mà người Việt có câu “Bán anh em xa mua láng giềng gần” Điều này phản ánh một niềm tin mạnh mẽ của người Việt với những người hàng xóm Niềm tin này bắt nguồn từ quá trình sống chung và làm việc chung đòi hỏi sự gắn kết mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, quan niệm “giữ đất” và “trở về” vốn ăn sâu vào tiềm thức của những người nông dân, cũng là một cơ sở để mỗi người an tâm hơn từ đó gia tăng niềm tin trong quá trình xây dựng mối quan hệ, dù là mối quan hệ giữa chủ nhà với người lao động, chủ nhà với những chủ nhà khác và đặc biệt là giữa những người lao động với nhau
Trang 33Mạng lưới quan hệ là biểu hiện rõ ràng nhất của “Vốn xã hội”, tuy nhiên phân tích về mạng lưới phải được gắn kết với những giá trị và những định chế để tạo thành một thực tại - tổng thể
Đặc thù của xã hội Việt và đặc thù của đối tượng nghiên cứu ít nhiều cho thấy ưu thế của định chế như gia đình, làng xã, hội nhóm và những
“chuẩn mực phi chính thức” so với những định chế khác (“nhà nước” và “thị trường”) và những “chuẩn mực chính thức”
Những chương tiếp theo, qua những khảo sát thực tế tại không gian chung cư và quá trình khai thác điền dã với những người đang làm việc tại Khu đô thị Linh Đàm, sẽ làm rõ hơn ảnh hưởng của Vốn xã hội đối với quá trình tìm kiếm việc làm của người giúp việc gia đình
Trang 34CHƯƠNG 2
CHUNG CƯ LINH ĐÀM VÀ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
2.1 Chung cư Linh Đàm và nhu cầu về lao động giúp việc gia đình
2.1.1 Khái niệm nhà chung cư và căn hộ chung cư:
Khái niệm nhà chung cư có từ rất lâu ở cả phương Tây và phương Đông Đây là giải pháp tận dụng được tối đa quỹ đất, giải quyết được bài toán tập trung dân số ở các đô thị lớn Từ thời La Mã cổ đại, thế kỷ thứ VI trước công nguyên đã sử dụng khái niệm “nhà chung cư” (condominium), trong tiếng Latin “con” có nghĩa là “của chung” và “dominium” là “quyền sở hữu” hay “sử dụng” Ngày nay, “condominium” (được viết tắt là “condo”) là một hình thức quyền sở hữu chứ không phải là hình thức tài sản nguyên vẹn Một condominium được tạo ra dưới một khế ước về quyền sở hữu, đồng thời với việc ghi nhận khuôn viên khu đất và mặt bằng công trình trên vị trí xây dựng Các căn hộ ở được tạo ra đồng thời và nằm bên trong khuôn viên khu đất nhà chung cư
Ở Việt Nam trước đây, vào thời kỳ chiến tranh hay những năm đầu thống nhất đất nước, nhà chung cư được biết dưới một cái tên khác là: khu tập thể Các khu tập thể được xây dựng theo phương châm “nhanh, bền, tốt, rẻ”
để phục vụ cán bộ công nhân viên hưởng lương từ ngân sách nhà nước Mặc
dù có những công trình xây dựng xen kẽ, phục vụ cho cán bộ của một cơ quan, đơn vị nhưng chủ yếu các nhà ở tập thể này được xây dựng thành các khu vực quần thể riêng biệt, tạo thành các tiểu khu nhà ở như các Khu tập thể: Kim Liên, Trung Tự, Thành Công, Giảng Võ, Văn Chương
Trang 35Hình 2.1: Chung cư truyền thống Nguồn: Internet
Hình 2.2: Chung cư hiện đại Nguồn: Internet
Thiết kế của các khu tập thể này theo đúng nghĩa nhà chung cư với đầy
Trang 36phần ổn định đời sống của cư dân Dưới cơ chế bao cấp, việc sử dụng nhà ở tập thể hoàn toàn không mất tiền Nhà chung cư được coi như là giải pháp tối
ưu cho các bài toán về nhà ở của các tầng lớp lao động có thu nhập cố định ở ngưỡng từ trung bình tới thấp (như giáo viên, viên chức, công chức nhà nước…) trong điều kiện sự gia tăng dân số cơ học khiến giá đất trở nên ngày càng đắt đỏ
Hiện nay, Việt Nam đang từng bước khẳng định mình trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triểnvề kinh tế Tốc độ đô thị hoá nhanh trong khi tốc độ phát triển ở nông thôn rất chậm đã kéo theo các vấn đề xã hội như: việc làm, môi trường, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội… Vì thế, Nhà nước chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà
ở đặc biệt là phát triển nhà ở chung cư theo dự án
Đến nay đã xuất hiện nhiều mô hình nhà chung cư mới, nhiều kiểu dáng đáp ứng một phần nhu cầu ngày càng tăng lên về chất lượng của nhân dân Sự phát triển chung cư để tiết kiệm diện tích sử dụng đất, giảm giá thành xây dựng, tạo cơ hội nhà ở cho nhiều người ở các tầng lớp khác nhau, làm đa dạng hóa các loại hình nhà ở như: chung cư cao cấp và chung cư cho người thu nhập thấp, chung cư thấp tầng và chung cư cao tầng, chung cư hỗn hợp…
Sự hình thành của nhà chung cư trong các khu đô thị mới không chỉ giải quyết được chỗ ở mà còn tạo nên diện mạo mới cho đô thị văn minh với sự đồng bộ
về hạ tầng kỹ thuật, đồng bộ về cảnh quan môi trường
2.1.2 Khu đô thị Linh Đàm: vị trí và đặc điểm
Được khởi công xây dựng từ năm 1997, khu Linh Đàm vốn trước đây
là đầm lầy và ruộng trũng Đầu lối vào KĐT là Làng Đại Từ Địa phận của KĐT trải dài trên hai phường Đại Kim và Hoàng Liệt Khu đô thị mới có diện tích đất dân dụng và chia thành nhiêu khu, bao gồm: Khu dịch vụ tổng hợp và nhà ở Hồ Linh Đàm Khu nhà ở Bắc Linh Đàm Khu nhà ở Bán đảo Linh Đàm,
Trang 37Khu Bắc Linh Đàm mở rộng (X1,X2) Ngày 22/1/2009, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã chính thức ký Quyết định số 74/QĐ-BXD công nhận Khu đô thị mới Linh Đàm là Khu đô thị mới kiểu mẫu
Hình 2.3: Bản đồ Khu đô thị Bắc Linh Đàm (Nguồn: Google Map)
Tuy nhiên, ở giai đoạn tiếp theo, khu đất ở trung tâm bán đảo dự kiến xây dựng văn phòng đã bị chuyển đổi thành đất ở, trong đó tòa nhà VP3 và VP5 với hệ số chiếm đất chiều cao 33 tầng Thêm vào đó, khu đất 5ha của trung tâm dịch vụ tổng hợp kết nối giữa bắc Linh Đàm, bán đảo Linh Đàm, khu Tây nam Linh Đàm và cả khu Nam Linh Đàm trong tương lai đã nhường chỗ cho khu nhà ở giá rẻ gồm 12 tòa chung cư cao 36 – 42 tầng có ký hiệu
Trang 38bán đảo Linh Đàm, hơn gấp đôi so với dân số dự kiến trong quy hoạch đầu tiên Cho tới thời điểm hiện tại, dân số tại KĐT Linh Đàm khoảng 70.000 người, bằng quy mô dân số một khu đô thị loại 3, có 90% cư dân cư trú trong các căn hộ chung cư cao tầng
Song hành với những bổ sung về dân số là sự đa dạng của các hình thức
hỗ trợ tài chính khiến việc sở hữu nhà tại KĐT Linh Đàm trở nên dễ dàng hơn Điều này thúc đẩy nhiều cặp vợ chồng trẻ đã tham gia các hình thức mua trả góp, mua nhà dự án để sớm có thể ổn định cuộc sống Dự án HH do tập đoàn Mường Thanh (màu đỏ trên hình) hướng tới phân khúc giá rẻ Chính vì vậy đây là mục tiêu vừa sức với những gia đình trẻ mà cả vợ lẫn chồng đều là những người nhập cư tìm việc bám trụ sau khi học đại học hoặc sau quá trình buôn bán tích lũy ở thủ đô Hầu hết trong số họ đều cần đến sự hỗ trợ của cả hai bên gia đình trong quá trình hoàn thành nghĩa vụ tài chính với chủ đầu tư
Việc người nhiên cứu lựa chọn KĐT Linh Đàm làm không gian nghiên cứu xuất phát từ hai nguyên nhân chính mang tính chủ quan và khách quan
Về mặt chủ quan, do người làm luận văn cũng là cư dân cư trú tại khu đô thị này và có nhiều mối quan hệ họ hàng bạn bè nên thuận tiện hơn trong việc di chuyển và tiếp cận đối tượng trong quá trình điền dã Về mặt khách quan, KĐT Linh Đàm là một dự án lớn với một quá trình hình thành lâu dài và vẫn đang được tiếp tục phát triển chính là một trong những điển hình phản ánh xu hướng định cư tại các đô thị lớn, đặc biệt là ở Hà Nội
2.1.3 Nhu cầu về lao động giúp việc gia đình
Những thay đổi về quy hoạch tại KĐT Linh Đàm đã khiến phần lớn cư dân ở đây là những người nhập cư Bản thân những căn hộ chung cư hướng tới đối tượng khách hàng mục tiêu là những gia đình hạt nhân với một cặp vợ chồng và từ 1 đến 3 người con, vì diện tích phổ biến nằm trong khoảng 65 – 90m2, với 2 – 3 phòng ngủ và 1 – 2 nhà tắm Quá trình phỏng vấn điền dã cho
Trang 39thấy hầu hết các hộ gia đình đều có trẻ con và những cặp vợ chồng có người thân ở cùng (thường là bà nội hoặc bà ngoại) thể hiện một tâm thức khác hẳn
so với những cặp vợ chồng không nhận được sự hỗ trợ này Những nhu cầu
về lao động giúp việc gia đình về cơ bản xuất phát từ những yếu tố thiết yếu sau đây:
Nhu cầu trông trẻ nhỏ
Tình huống khó khăn nhất mà các cặp vợ chồng trẻ phải đối mặt là giai đoạn con nhỏ sau khi người vợ hết thời gian nghỉ thai sản 06 tháng Nếu không có sự hỗ trợ của người thân thì họ ở một thế kẹt rất khó khăn và việc thuê người giúp việc gia đình gần như là bắt buộc Câu chuyện của chị Nguyễn T L (25 tuổi, quê Ninh Bình), hiện đang cư trú tại tổ 37 (nay là tổ
13) KĐT Linh Đàm mở rộng là tình huống điển hình: “Nhà em còn ruộng
Mẹ em làm hàng seo nên ngoài việc tự nuôi lợn, mổ và bán lẻ ngoài chợ thì
bố mẹ em còn nhập lại để đi trả cho một số quan ăn ở quê Số lượng cũng không nhiều, lời lãi chả bao nhiêu nhưng nếu nghỉ làm là mất mối làm ăn Người khác sẽ lấy mất mối ngay Mẹ chồng em thì bị tiểu đường biến chứng, hai mắt rất yếu nên không thể trông trẻ dù rất thương em Đợt vợ chồng em mua nhà thì bố mẹ cũng cắm cả sổ đỏ nhà ở quê cho ngân hàng để hỗ trợ Ông bà cũng lo mất nhà Con em mới 6 tháng tuổi nên các nhà trẻ không nhận Thường các nhà trẻ có sớm cũng chỉ nhận trẻ 12 tháng, có sớm thì cũng phải 10 tháng Nhận trẻ bé tuổi quá các cô phải bế không quản được lớp Cũng thương con và xót tiền khi thuê người lắm nhưng không biết làm thế nào” (Tài liệu thực địa)
Khi khảo sát những thông tin về những trung tâm giới thiệu việc làm có cung cấp dịch vụ môi giới người giúp việc gia đình trên Facebook, chị L không ngạc nhiên chút nào nhưng tỏ ra ngần ngại Đồng thời, cô cũng cho
Trang 40biết là chồng và cả hai bên phụ huynh đều không đồng tình việc thuê người qua môi giới
Những khảo sát thực tế tại các cơ sở trông trẻ cho thấy một câu chuyện khó khăn từ phía những người quản lý Mức học phí cao hơn đối với trẻ ít tháng không đủ bù cho rủi ro khiến giáo viên (các cô trông trẻ) nghỉ việc Ngay cả những nơi nhận trẻ 10 tháng tuổi (cá biệt có 1 nơi nhận 6 tháng tuổi) cũng hạn chế số lượng mỗi trẻ bé tuổi ở các lớp và tùy thuộc vào số lượng trẻ đang có ở lớp đó Động cơ lớn nhất khiến các quản lý chấp nhận việc trông trẻ nhỏ, ngoại trừ những lợi ích kinh tế, là hi vọng các phụ huynh truyền tai nhau
về sự nhiệt tình của nhà trường để nhanh chóng lấp đầy các lớp học Nếu căn
cứ theo các quy định của pháp luật, các nhà trẻ có nghĩa vụ nhận trẻ từ 03 tháng tuổi Tuy nhiên, rất hiếm nhà trẻ chấp nhận độ tuổi này, ở KĐT Linh Đàm là không hề có
Các cặp vợ chồng trẻ có con nhỏ có một sự lựa chọn thay thế trong tình huống này là gửi con về quê cho ông bà nội ngoại trông Những cặp vợ chồng không lựa chọn giải pháp này có những lý do rất cụ thể:
- Sự gắn bó tình cảm bố mẹ - con và kiến thức về việc nuôi con bằng sữa mẹ ở những năm đầu là những lựa chọn được ưu tiên Vì vậy, nếu giải quyết được các vấn đề về chi phí, người mẹ luôn ưu tiên lựa chọn giữ con bên mình
- Sự tự trọng của những cặp vợ chồng trẻ vốn là niềm tự hào trong mắt dòng họ và chòm xóm Việc có thể bám trụ ở thủ đô và mua được nhà chung
cư không phải là việc dễ dàng và làm được việc này đem lại một “hào quang” khá lớn cho cả vợ lẫn chồng Chính vì vậy, đôi lúc bản thân họ cảm thấy ái ngại khi gửi con về quê và để bà con chòm xóm nhìn thấy việc đó
- Sự thiếu thống nhất giữa hai bên gia đình thông gia khiến cho việc gửi
về bên nào cũng không thể hài hòa được mọi chuyện Tình huống hai bên gia