1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường hiện nay ở huyện đông anh, thành phố hà nội thực trạng và những vấn đề đặt ra​

95 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để đi sâu vào nghiên cứu và tập trung vào đề tài chúng chia thành những nhóm tài liệu sau: Thứ nhất các công trình liên quan đến hật giáo iệt Nam nói chung , hật giáo huyện ôn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU THẢO

VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY Ở HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU THẢO

VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY Ở HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học

Mã số: 60 22 03 09

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG:

PGS.TS TRẦN THỊ KIM OANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THÚY THƠM

HàNội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả điều tra trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4 Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 14

1.1 Một số khái niệm căn bản 14 1.2 Cơ sở lí luận về vai trò của Phật giáo đối với vấn đề bảo vệ môi trường 17 1.2.1 Cơ sở lí luận về vai trò của Phật giáo đối với vấn đề bảo vệ môi trường

tự nhiên 17 1.2.2 Cơ sở lí luận về vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường xã hội 25

Tiểu kết chương 1 34 Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH

VÀ THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 35 2.1 Một số vấn đề về môi trường tại huyện Đông Anh hiện nay 35

2.1.1 Một số vấn đề về môi trường tự nhiên 35 2.1.2 Một số vấn đề về môi trường xã hội 40

2.2 Thực trạng về vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội hiện nay 45

2.2.1 Thực trạng về vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường tự nhiên 45 2.2.2 Thực trạng về vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường xã hội 56

Tiểu kết chương 2: 62 Chương 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Ở HUYỆN ĐÔNG ANH HÀ NỘI 64 3.1 Một số vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường 64

3.1.1 Một số vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò của Phật Giáo đối với vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên 64 3.1.2 Một số vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường xã hội 70

Trang 5

3.2 Một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của Phật giáo đối với vấn đề bảo vệ môi trường ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 74

3.2.1 Khuyến nghị đối với các cấp chính quyền 74 3.2.2 Khuyến nghị đối với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Đông Anh và Tăng Ni trên địa bàn huyện 76 3.2.3 Khuyến nghị đối với các tín đồ Phật tử và người dân huyện Đông Anh 77

Tiểu kết chương 3 77 KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dựng môi trường xã hội tốt đẹp là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt Tại Việt Nam, cùng với quá trình đi lên của đất nước, vấn đề môi trường là một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, được xem là một trong những chiến lược quốc gia, được Đảng và nhà nước quan tâm sâu sắc Nhận thức được tầm quan trọng đó, các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng luôn nỗ lực hết mình, chú trọng đến vấn đề chung tay xây dựng môi trường tự nhiên và môi trường xã hội trong quá trình đồng hành cùng dân tộc Các tôn giáo, trong đó có Phật giáo đã tham gia ký kết “ Chương trình phối hợp về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020” Sau 4 năm thực hiện, đã thu được nhiều kết quả Với tinh thần nhập thế sâu sắc, Phật giáo là sợi dây liên kết vô hình tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với thiên nhiên, với cộng đồng xã hội

Về môi trường tự nhiên, đạo Phật xây dựng thói quen ứng xử với môi trường tự nhiên theo lối tích cực và lành mạnh.Với tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn và những triết lí mang tính khoa học như thập nhị nhân duyên, tứ diệu đế, nhân quả Phật giáo hình thành nên thế giới quan, giúp con người hiểu được bản chất của thiên nhiên, mối liên hệ giữa con người với tự nhiên, hướng con người đến những giá trị sống cao đẹp

Việc xây dựng môi trường xã hội cũng được Phật giáo quan tâm đặc biệt, trong Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nêu rõ phương châm hoạt động của Giáo hội: “Lý tưởng giác ngộ chân lý, hòa hợp chúng, hòa bình và công bằng xã hội của giáo lý đức Phật nhằm phục vụ Dân tộc, Tổ quốc và nhân loại chúng sinh, là tôn chỉ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo phương châm “ Đạo Pháp- Dân tộc- Chủ nghĩa Xã hội”, trên cơ sở kính ngưỡng, phụng hành Giáo pháp, giới luật Phật chế và tuân thủ Pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”[10, Tr 4] Thông qua tinh thần từ bi, coi trọng

Trang 7

mối quan hệ bình đẳng giữa con người với con người, Phật giáo hun đúc việc xây dựng môi trường xã hội một cách bền vững

Đông Anh được biết đến là mảnh đất giàu truyền thống văn hoá, gắn liền với thủ đô nghìn năm Thăng Long Hà Nội; nằm bên bờ sông Hồng, với vị trí thuận lợi nằm ở cửa ngõ thủ đô, có bề dày truyền thống lịch sử văn hoá, Phật giáo du nhập vào Đông Anh từ những ngày đầu mới hình thành, luôn đồng hành cùng với vùng đất địa linh nhân kiệt này Các thế hệ chư tôn đức tăng ni, tu sĩ, cư sĩ tại huyện luôn

nỗ lực phối hợp với các cấp chính quyền trong công cuộc vận động người dân thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau

Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, “với vị trí quan trọng của Thủ

Đô, Đông Anh là huyện đang được Trung Ương, Thành phố Hà Nội quy hoạch phát triển thành khu đô thị hiện đại phía Bắc sông Hồng, nhiều dự án về kinh tế, văn hóa- xã hội đã và đang được triển khai Các dự án này tạo cho Đông Anh có cơ hội phát triển đa dạng cả về kinh tế, văn hóa, xã hội trong những năm tiếp theo [1, Tr 266] Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đời sống nhân sinh sẽ có nhiều biến đổi theo chiều hướng ngày càng đa dạng, con người phải đối mặt với nhiều vấn đề và áp lực trong cuộc sống, môi trường cũng sẽ thay đổi tiêu cực Trước thực trạng như vậy, tinh thần nhập thế của Phật Giáo huyện Đông Anh cũng cần có những định hướng và phương thức mới Cần hạn chế những mặt tiêu cực, những vấn đề mà người ta thường thấy còn tồn tại ở Phật Giáo trước đây, phát huy những mặt tích cực theo định hướng của Đảng và nhà nước nhằm xây dựng hình ảnh Phật Giáo đứng vững trong lòng người dân huyện Với nền tảng và sức ảnh hưởng của Phật Giáo trên địa bàn huyện, cùng với sự phối hợp của Ban Trị

sự Phật Giáo Huyện Đông Anh và các Chùa trên địa bàn, Phật Giáo sẽ phát huy được vai trò và sức mạnh của mình trong vấn đề bảo vệ môi trường, đồng hành cùng tiến trình đi lên của huyện nói riêng và của nước ta nói chung

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của Phật Giáo với môi trường tại Việt Nam, tuy nhiên chưa có một công trình nào liên quan trực tiếp đến vai trò

Trang 8

của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường tại huyện Đông Anh Với những lí do trên đây, tôi chọn đề tài “Vai trò của Phật Giáo đối với việc bảo vệ môi trường hiện nay ở huyện Đông Anh Thành Phố Hà Nội, thực trạng và những vấn đề đặt ra” làm

đề tài nghiên cứu luận văn của mình Hy vọng luận văn sẽ góp phần nhỏ bé vào việc

áp dụng giáo lí Phật Giáo trong việc bảo vệ môi trường tại huyện Đông Anh nói riêng và tại Việt Nam nói chung

2 T nh h nh nghiên c u

Bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dựng môi trường xã hội tốt đẹp là một trong những vấn đề được các tôn giáo, trong đó có Phật giáo quan tâm sâu sắc Thông qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi được tiếp cận với nguồn tài liệu phong phú về Phật Giáo và vai trò của đạo Phật đối với những vấn đề này Tuy nhiên, để đi sâu vào nghiên cứu và tập trung vào đề tài chúng chia thành những nhóm tài liệu sau:

Thứ nhất các công trình liên quan đến hật giáo iệt Nam nói chung , hật giáo huyện ông nh nói riêng và quan đi m, ảnh hưởng của hật iáo đối với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội

Trước hết phải kể đến tác phẩm “ Lịch sử Phật Giáo Việt Nam” (gồm 3 tập) của tác giả Lê Mạnh Thát xuất bản vào năm 2006 [24], [25], [26], trên cơ sở tổng hợp những tài liệu và khắc phục những hạn chế lịch sử về quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu của một số công trình trước đây, tác giả đem đến cho người đọc cái nhìn tổng quát về sự xuất hiện của Phật Giáo tại Việt Nam, cách thức tiếp thu tư tưởng, sự nhận thức Phật Giáo của nhân dân và vai trò của Phật Giáo trong sự nghiệp đấu tranh và duy trì bản sắc truyền thống văn hoá Việt Nam Ngoài ra còn một số tác phẩm như “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang [34],[35];

“Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh Những công trình trên cung cấp một cách khá toàn diện về lịch sử và đặc điểm Phật giáo Việt Nam Về Phật Giáo Thăng Long Hà Nội, theo chúng tôi có liên quan mật thiết đến Phật Giáo huyện Đông Anh, có thể kể đến một số tác phẩm như “Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long” của tác giả Đỗ Quang Hưng, xuất bản năm 2010, [7] cuốn

Trang 9

sách gồm có 3 phần trong đó ở Phần 2 tác giả đã khái quát về những đặc điểm và vai trò của Phật Giáo tại Thăng Long- Hà Nội qua các giai đoạn và đúc kết lại bằng những đặc điểm của Phật Giáo Thăng Long, Hà Nội Tác giả đã nêu lên ba luận điểm quan trọng như sau: “thứ nhất, Thăng Long là nơi mà Phật Giáo Bắc Tông, bộ phận quan trọng nhất của Phật Giáo Việt Nam xuất hiện và phát triển rực rỡ với nhiều lĩnh vực có ý nghĩa tiêu biểu nhất; thứ hai Phật giáo Việt Nam nói chung sớm được Việt hóa, trở thành một bộ phận quan trọng của hệ ý thức của các nhà nước phong kiến độc lập Đồng thời có những đóng góp quyết định cho việc hình thành nền văn minh Đại Việt Trong đó, dù Phật giáo bác học hay Phật giáo dân gian đều

có vai trò riêng của mình Trong quá trình ấy, vị trí của Phật giáo Thăng Long- Hà Nội được xem là cái nôi, nơi trải nghiệm và đúc kết nhất là những thế kỉ đầu tiên của nền độc lập; thứ ba, Phật Giáo Lý- Trần là triều đại đã giải quyết mẫu mực mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị tạo nên một truyền thống Phật Giáo nhập thế tiêu biểu nhất Kinh thành Thăng Long và Phật Giáo Thăng Long cũng là nơi nuôi dưỡng và phát triển truyền thống đó” [7, Tr 93] Ngoài ra, Phật Giáo Thăng Long còn được đề cập ít nhiều trong các công trình nghiên cứu chung về Phật Giáo thời

Lý, Phật giáo Hà Nội như cuốn sách “Phật Giáo đối với tín ngưỡng của người Việt thời Trần” của tác giả Nguyễn Thúy Thơm [37], bên cạnh đó phải kể đến cuốn sách: kỷ yếu Chùa Diên Phúc với 1000 năm Thăng Long, Hà Nội, Nxb Lao Động

2010, của viện nghiên cứu truyền thống và phát triển [64], cuốn sách khái quát về

sự du nhập và phát triển của Phật Giáo tại huyện Đông Anh và một số xã trên địa bàn huyện ngược theo dòng lịch sử, đặc biệt là dưới tiều đại nhà Lý

Về các kinh kệ, tài liệu liên quan đến giáo lí và quan niệm của Phật Giáo

về xây dựng môi trường (bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội): kinh Pháp cú, kinh trường A Hàm, có những kinh đề cập đến sự răn dạy của đức Phật về xây dựng lối sống đạo đức và mối quan hệ giữa con người với con người, ngoài ra việc xây dựng nền tảng đạo đức và bảo vệ môi trường được đức Phật đề cập đến trong các kinh: kinh trung bộ, kinh trường A Hàm, kinh Trung A Hàm, Kinh Tăng Nhất Hàm, Kinh Pháp Cú, Kinh Kim Cang Trong nghiên cứu này

Trang 10

chúng tôi đề cập đến kinh điển như một thước đo để đánh giá quan điểm của đức Phật trong việc nhìn nhận mối liên hệ giữa con người với con người,con người với

tự nhiên và xã hội

Bên cạnh kinh điển đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề Phật giáo chung tay bảo vệ môi trường Tiêu biểu là các cuốn sách: Phật giáo và môi trường của tác giả Thích Nhật Từ và Thích Đức Thiện [51] Các tác giả đã thu thập từ các bài tham luận được trình bày tại hội thảo quốc tế về: “Quan điểm Phật giáo hướng đến thành tựu đạt được những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc” đã diễn ra trong ngày Đại lễ Phật Đản Vesak của Tổ chức Liên Hiệp Quốc năm 2014 (The United Nations Day of Vesak 2014) tại Việt Nam Cuốn sách này liên quan đến những khía cạnh cốt yếu của vấn đề: Hưởng ứng Phật giáo đối với việc nóng lên Toàn cầu và Bảo vệ Môi trường Các tác giả nhìn lại những chính sách trước đây và đưa ra nguyên nhân vì sao những giải pháp quá khứ không mang lại hiệu quả Tác giả Thích Giác Duyên (2012) có cuốn sách “ tìm hiểu về Phật Giáo với sự lành mạnh”

Bên cạnh đó còn một số bài viết riêng rẽ công bố trên các tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí triết học, nghiên cứu lí luận cũng đề cập nhiều đến vấn đề Phật Giáo với môi trường Về thực tiễn tại Việt Nam, có bài viết “Phật giáo với bảo vệ môi trường ở Việt nam”, tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 9 (123),

2014, tr 12- 19, Ngô Văn Trân.[31] Bài viết góp phần làm rõ giá trị của Phật Giáo của Phật giáo với bảo vệ môi trường ở Việt Nam Theo ông, tiếng nói đạo đức về môi trường của Phật Giáo Việt Nam sẽ góp phần lay chuyển tâm thức của tín đồ và quần chúng tín đồ Phật Giáo theo hướng tích cực, phù hợp với đạo đức môi trường

trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Ngoài ra, có thể kể đến bài viết “Phật giáo với mục tiêu phát tri n bền vững và bảo vệ môi trường” của Thượng tọa Thích Huệ

Thông , theo Tác giả “ cả cuộc đời Đức Phật là một nhân chứng sống động của một con người sống chan hòa, luôn tôn trọng, yêu thương muôn loài để gìn giữ và bảo

vệ sự cân bằng sinh thái Đức Phật cũng chính là một nhà lãnh đạo, tiên phong đầu

Trang 11

tiên trên thế giới nhận thức đầy đủ và đúng đắn mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời giữa vạn vật sinh linh.”

Đề cập đến vấn đề vai trò của Phật Giáo đối với môi trường xã hội phải kể đến quyển sách “đạo đức Phật Giáo với đạo đức con người Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Lan [6], góp phần nghiên cứu chuyên sâu về đạo đức Phật Giáo và sự ảnh hưởng của nó đến với đạo đức và môi trường xã hội tại Việt Nam, cuốn sách gồm 4 chương, đề cập đến những vấn đề cơ bản của đạo đức Phật Giáo, mối liên hệ giữa đạo đức Phật Giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam, và những đề xuất, giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức Phật Giáo nhằm hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay Ngoài ra những giáo

lí và tư tưởng cao đẹp của Phật Giáo cũng được thể hiện thông qua cuốn sách

“những nét văn hóa của đạo Phật” của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam [55] Chúng tôi cũng tìm hiểu về tinh thần nhập thế và sự áp dụng những giáo lí của đạo Phật vào cuộc sống hiện đại thông qua các tác phẩm: “Phật Giáo trong thời đại chúng ta” – nhiều tác giả [40], hay tác phẩm “Phật giáo nhập thế và các vấn đề xã hội đương đại” [64] của Viện Trần Nhân Tông, các tác phẩm trên đã đề cập đến sự gắn bó tốt đẹp của Phật Giáo và dân tộc thể hiện qua nhiều khía cạnh như phong tục tập quán, ngôn ngữ tư duy, duy thức học Phật Giáo và những vấn đề đặt ra nhằm phát huy nét đẹp của Phật Giáo trong quá trình xây dựng môi trường xã hội tại Việt Nam Một trong những tác phẩm thể hiện cụ thể những ảnh hưởng của Phật Giáo đối với xã hội có thể kể đến đó là: Tôn giáo trong mối quan hệ văn hoá và phát triển, Nxb Khoa học xã hội của tác giả Nguyễn Hồng Dương [32]

Để hiểu thêm cặn kẽ về những ảnh hưởng của Phật Giáo đến đời sống xã hội của người Việt Nam, chúng tôi nghiên cứu chuyên sâu về những triết lí thông qua các tác phẩm Con người với giáo lý mười hai nhân duyên, của tác giả Phạm Đình Nhân (2012) [42], Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh biên soạn, Kinh Pháp Cú Thí Dụ- Việt dịch Thích Minh Quang, Phật thuyết đại thừa

Vô Lượng Thị Trang Nghiêm bình đẳng giác kinh, Những Lời Phật Dạy- Trích Lục các bài Giảng trong Kinh điển Pali của Tỳ Khưu Bodhi

Trang 12

Thứ hai, các tài liệu nhằm tìm hi u rõ hơn về các khái niệm chuyên ngành , thực trạng các vấn đề xã hội và môi trường tại huyện ông nh

Bàn về vấn đề môi trường, trước hết phải kể đến cuốn sách: Cơ sở khoa học môi trường (2001)- NXB đại học Quốc Gia Hà Nội của tác giả Lưu Đức Hải, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường và quản lí dân số, lương thực, năng lượng và phát triển bền vững Cuốn sách sinh thái nhân văn và phát triển bền vững của GS Lê Trọng Cúc (2016), NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội Nội dung của sách đề cập đến các mối quan hệ mang tính hệ thống giữa xã hội loài người và môi trường thiên nhiên Tác giả Võ Quý có Cuốn sách Môi trường và đa dạng sinh học (2016) - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (Tuyển chọn các công trình nghiên cứu của ông) đề cập nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mang tính thời đại về môi trường và đa dạng sinh học, giúp người đọc hình dung bức tranh cụ thể về diễn biến của vấn đề môi trường ở nước ta Bên cạnh các sách còn một số bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo chuyên ngành Điển hình như bài viết: sinh thái nhân văn và phát triển bền vững: nghiên cứu ở Việt Nam của Phan Thị Anh Đào và Lê Trọng Cúc đăng trên Kỷ yếu Hội thảo Khoa học: Sinh thái nhân văn và phát triển bền vững, năm 2017 Trong đó, tác giả đi sâu vào phân tích thực trạng và giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, khủng hoảng sinh thái

tại Việt Nam

Về thực trạng các vấn đề xã hội và môi trường tại huyện Đông Anh không thể bỏ qua cuốn sách địa chí Đông Anh xuất bản năm 2016, NXB Chính Trị Quốc Gia, đây được xem như một bộ bách khoa toàn thư về Đông Anh Qua đây chúng tôi có được một cái nhìn tổng quan nhất về mọi mặt từ điều kiện tự nhiên đến kinh

tế, chính trị, văn hoá xã hội về của vùng đất giàu văn hoá ngoại thành thủ đô

Nghiên cứu cụ thể hơn về thực trạng môi sinh và xã hội tại huyện Đông Anh,

có “Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ môi trường” của Phòng Tài Nguyên và môi trường, huyện Đông Anh [45], [46] Đây là những tài liệu cung cấp một cách chính xác và cụ thể nhất các số liệu thống kê liên quan đến môi trường trên địa bàn huyện

Trang 13

Ngoài những công trình theo hai cụm chủ đề kể trên, nhằm tìm hiểu về cơ

sở lí luận cũng như, xu hướng phát triển và sự phát huy vai trò của Phật giáo trong thời gian tới, chúng tôi nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta cũng như của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trước hết phải kể đến cuốn sách “tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo được xuất bản năm 2003, cuốn sách được viết nhân hội thảo kỉ niệm

112 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh, là kết quả nghiên cứu của nhiều nhà tác giả nổi tiếng, nêu lên những vấn đề lí luận và thực tiễn rút ra từ việc nghiên cứu

tư tưởng và đường lối Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo cũng như vấn

đề đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu cuốn sách: “những điều cần biết về hoạt động tôn giáo ở Việt Nam” của tác giả Hà Văn Núi [12], tác giả đã nêu lên chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước ta về tôn giáo dựa trên việc vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta Trong đó tác giả cũng đã nêu

rõ “cần phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và vai trò tích cực, tiến bộ của các tôn giáo phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” Để có cái nhìn tổng quan và hiểu rõ cặn kẽ về cơ cấu tổ chức cũng như nguyên tắc hoạt động của các cấp Giáo hội, trong đó có Phật Giáo huyện đông Anh, chúng tôi đã tìm hiểu Hiến Chương của Giáo Hội Việt nam được thông qua lần thứ VIII, nhiệm kì 2017- 2022 Trong đó, điều 11 quy định rõ hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp quận, huyện thị xã trực thuộc, chương VII từ điều 37 đến điều 42, nêu rõ về giáo hội Phật Giáo Việt Nam cấp quận, huyện, thị xã về thành viên, các ban, cơ cấu hoạt động

Những công trình trên đây ít nhiều đều có liên quan đến đề tài nghiên cứu,

đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên một công trình nghiên cứu chuyên sâu về Phật giáo với vấn đề bảo vệ môi trường ở một vùng cụ thể (huyện Đông Anh) thì chưa có Luận văn sẽ góp phần vào lấp đầy chỗ trống trên

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên c u

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn chỉ ra thực trạng về vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội hiện nay, chỉ ra những vấn đề đặt ra, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Đông Anh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ: + Khái quát chung các vấn đề lý luận về quan niệm của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường và các vấn đề thực tiễn về những vấn đề môi trường hiện nay của huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

+ Chỉ ra thực trạng về vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường hiện nay ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

+ Chỉ ra những vấn đề đặt ra về vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội và đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường ở huyện Đông Anh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên c u

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của Phật giáo huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đối với việc bảo

vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian huyện Đông Anh, Hà Nội

- Thời gian: giai đoạn hiện nay (từ năm 2010 đến nay)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên c u

5.1 Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, các công trình nghiên cứu về tôn giáo của các Khoa học trong và ngoài nước

Trang 15

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp như: phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu liên ngành của tôn giáo học: phân tích, tổng hợp, so sánh; đặc biệt chúng tôi sử dụng phương pháp của nhân học tôn giáo (điền dã, khảo sát thực địa tại huyện Đông Anh với các công cụ chính là quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm ) để nghiên cứu đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình khoa học khảo cứu có tính hệ thống và chuyên sâu về vai trò của Phật giáo đối với đời sống người dân ở một huyện cụ thể trên lĩnh vực môi trường (bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) Khẳng định sự đóng góp của Phật giáo đối với huyện Đông Anh nói riêng, đất nước nói chung trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cung cấp những luận cứ, luận chứng cụ thể nhằm phát huy những giá trị văn hoá tôn giáo tốt đẹp, khắc phục những hạn chế còn tồn đọng trong giai đoạn hiện nay Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập tôn giáo, hoặc cho việc hoạch định chính sách của các nhà nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 Một số khái niệm căn bản

Trước khi đi tìm hi u về quan niệm của hật giáo đối với việc bảo vệ môi trường, chúng ta tìm hi u một số khái niệm căn bản

* Môi trường

Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) năm 1980 đã đưa ra khái niệm về môi trường: “môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế- xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể”

Trong tuyên ngôn của UNESCO (1981) môi trường được định nghĩa như sau

“Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống

do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người"

Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) định nghĩa: “môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội, nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ”

Bách khoa toàn thư Philip- Philip Encyclopedia 2008, trang 304 có ghi: “Môi trường có nghĩa là tổ hợp các yếu tố vật chất và sinh học xung quanh một sinh vật Môi trường bao gồm các yếu tố vô sinh (phi sinh vật) như nhiệt độ, đất, không khí

và bức xạ và hữu sinh (sinh vật) như thực vật, vi sinh vật và động vật.”

Dưới góc nhìn của một nhà khoa học môi trường nổi tiếng tại Mỹ G.Tyler Miler trong tác phẩm khoa học và môi trường cho rằng, “môi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vật hoặc một cơ thể nhất định đang sống; là mọi vật bên ngoài một cơ thể nhất định”

Trang 17

Theo tác giả S.V.Kalesnik trong tác phẩm các quy luật địa lí chung của trái đất định nghĩa "Môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người"

Trong cuốn sách “ môi trường và tài nguyên Việt Nam” đã khái lược như sau

"Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội" [xem 36]

Theo khoản 1 điều 3, luật bảo vệ môi trường do Quốc hội Việt Nam ban hành vào năm 2014: “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” [xem 47]

Theo Tác giả Võ Quang Hiền: “môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người Nó

có thể được tạo lập xung quanh con người, chi phối đời sống con người, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người” [ 66, Tr 191]

Qua đó có thể thấy được rằng, có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường Tuy nhiên, dù đứng dưới góc độ nào thì môi trường cũng do nhiều yếu tố hợp thành, trong đó có thể phân thành hai nhóm chính: một là các yếu tố sinh vật và phi sinh vật, hệ sinh thái hình nên môi trường tự nhiên, tiếp theo đó chính là các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa và mối quan hệ giữa con người với cá nhân, cộng đồng hình thành nên môi trường xã hội Trong đó, con người nằm ở vị trí trung tâm, có tác động tích cực hay tiêu cực đến môi trường cũng như bị chi phối và chịu sự tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Như vậy, về nội dung của thuật ngữ môi trường không thể hiểu hạn hẹp rằng

đó chỉ là môi trường đất đai, nước, không khí hay hệ sinh thái mà thuật ngữ này bao hàm cả trên bình diện xã hội Môi trường là không gian sống, tập hợp những yếu tố

và những mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con người, tồn tại và có sự tác động to lớn đối với hoạt động của con người trong mọi giai đoạn

Trang 18

phát triển của xã hội, bao gồm hai thành tố căn bản đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, hai yếu tố này tồn tại song song và có ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau

* Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho

ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú [xem 66]

* Môi trường xã hội

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho con người khác với sinh vật khác Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, thể thao, lịch sử xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình [44, Tr 255]

* Bảo vệ môi trường

Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác,

sử dụng hợp lý và “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.[xem 47]

* ai trò theo từ điển Tiếng Việt, vai trò là tác dụng, chức năng của ai hoặc

cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung [60, Tr 1400]

Trang 19

* ai trò của Phật iáo đối với việc bảo vệ môi trường:

Là vai trò của Phật giáo trong việc chung tay xây dựng môi trường tự nhiên sạch đẹp, môi trường xã hội văn minh được thể hiện qua những hoạt động thiết thực tại một địa bàn nhất định

1.2 Cơ sở lí luận về vai trò của Phật giáo đối với vấn đề bảo vệ môi trường

1.2.1 Cơ sở lí luận về vai trò của Phật giáo đối với vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên

ạo Phật góp phần hình thành nhận thức về thế giới quan, mối liên hệ giữa con người và thế giới tự nhiên thông qua thuyết duyên khởi

Thuyết duyên khởi hay còn có nhiều tên gọi khác nhau như nhân duyên sinh, hay còn gọi là thập nhị nhân duyên là một trong những triết lí cơ bản và nền tảng của giáo dục Phật Giáo, hình thành và phát triển thế giới quan của Đạo Phật Thuyết này chỉ rõ mọi sự vật, sự việc, hiện tượng hình thành nên thế giới đều nằm trong mối liên hệ mật thiết với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, tạo thành một chuỗi gồm 12 yếu tố, không có thành phần nào đứng lẻ loi một mình và tác động một cách riêng lẽ, độc lập mà không phụ thuộc vào các thành phần khác

Mười hai thành phần của thập nhị nhân duyên được sắp xếp theo thứ tự nhất định Trong Tương Ưng bộ Kinh khái quát “như vậy này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.” [17,Tr 244], đây gọi là duyên khởi Các yếu tố như vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử được gọi là 12 chi phần tạo nên vòng tròn “ thập nhị nhân duyên” Mỗi chi phần được xác định như một mắt xích trong sợi dây liên kết ràng buộc lẫn nhau giữa các thành phần, chúng tuân theo quy luật nhân quả, không tự xuất hiện, cũng không tự mất đi

Trang 20

Trong tác phẩm “con người với giáo lí mười hai nhân duyên”, từ việc nghiên cứu chuyên sâu và cặn kẽ về giáo lí này, tác giả Phạm Đình Nhân đã từng đề cập đến ba hình thức quán chiếu “12 nhân duyên” theo chiều thuận mà theo chúng tôi chính những phép quán chiếu này giúp chúng ta có thể hình thành nên thế giới quan của Phật Giáo từ đó đưa đến những liên hệ với việc bảo vệ môi trường Trong ba phép quán chiếu theo chiều thuận, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến phép quan sát trạng thái sinh khởi của mười hai nhân duyên từ trong quá khứ xa xôi, tức vô thủy kiếp về trước Theo đó, tác giả khẳng định: “Từ vô thủy do vô minh mê mờ, các vọng động từ từ sinh khởi tức hành Đây là nói về trạng thái của mười hai nhân duyên từ vô thủy, do vô minh vọng động tạo tác mà có thế giới và chúng sinh và cứ như thế, tiếp tục sinh khởi cho đến ngày nay và mãi mãi về sau ” [42, Tr 27] Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm cũng đã từng đề cập đến trong tác phẩm: “ Lịch Sử Phật giáo Ấn Độ” rằng: “Đức Thế tôn người đã quan sát thế giới theo hai dạng thức khác nhau, tức là hiện thực thế giới quan và lý tưởng thế giới quan Cũng theo đó, thế giới quan hiện thực được hình thành dựa trên ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) Tuy nhiên, ngũ uẩn thì nương vào nhân duyên mà kết hợp hay ly tán” [19, Tr 28]

Từ đây chúng ta có thể rút ra kết luật về sự hình thành của thế giới theo đạo Phật Nguồn gốc của con người, của mọi loài chúng sinh hữu tình và vô tình, đều dựa trên quy luật nhân duyên

Nguyên lí này thể hiện mối tương quan giữa con người với vạn vật xung quanh Nói cách khác, lý duyên khởi giúp ta thấy rõ mối tương quan sinh diệt của vạn hữu vũ trụ, không có một pháp nào có thể hiện hữu độc lập, thế giới này tồn tại như một mạng lưới “nhân duyên sinh” vĩ đại, trong đó tất cả các sự vật, sự việc, hiện tượng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong tác phẩm “ Đạo Phật và môi trường” , tác giả Thích Nhuận Đạt đã khẳng định lý duyên khởi “ cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh cho thấy mối quan hệ nội tại trong sự sinh tồn của sự vật Mối quan hệ giữa con người với con người, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên đều ảnh hưởng lẫn nhau, một sự vật hưng thịnh thì tất cả đều hưng thịnh, một sự vật suy vong thì tất cả đều suy vong Phá hoại thiên nhiên

Trang 21

và đối lập với thiên nhiên thì nhất định khiến cho nhân loại tự chuốc lấy sự diệt vong” [54, Tr 30] Con người cũng như vạn vật trong vũ trụ luôn nương tựa và ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên một bản đại hoà tấu, nếu thiếu đi một bản hòa tấu đó sẽ không toàn vẹn nhưng nếu không có tất cả thì sự tồn tại của một thứ cũng không thể, đó là lẽ dĩ nhiên Con người không thể tồn tại riêng lẽ, mà phải phụ thuộc vào thiên nhiên, sinh khởi đồng thời cùng với sự ra đời của mọi chúng sinh, nương vào thế giới tự nhiên để sinh sống và tồn tại Con người cũng không thể tự mình quyết định hay thay đổi bất cứ một quy luật tự nhiên nào của vũ trụ

Theo Phật Giáo, chỉ cần vô minh đoạn trừ thì vòng tròn nhân duyên sẽ bị phá

vỡ Như vậy, cuộc sống của con người đang đắm chìm trong sự vô minh khiến cho chúng ta bị trói buộc trong vòng biến hóa vô tận, chỉ khi nào con người đoạn trừ được vô minh thì con người mới hướng đến con đường giải thoát, giác ngộ Vì không hiểu rõ thực tướng của các pháp (con người và thế giới) mà con người luôn

đề cao cái tôi, đắm chấp vào tự ngã của mình , từ đó trở nên tham ái và chấp thủ là những động lực khiến cho những hành động của thân, khẩu, ý trở nên tiêu cực

Cái hay của giáo lí mười hai nhân duyên đó là sự kết tinh của trí tuệ và nhân bản, khi người Phật tử tại gia hay xuất gia, người am hiểu giáo lí mười hai nhân duyên, sẽ diệt trừ được vô minh và ái là cái nhân của hiện tại tạo tác cho cái quả của đời sau Chúng ta phải thấy rõ được cội nguồn của vô minh, cần phải bù đắp những

gì đã cướp đoạt của thiên nhiên bằng những hành động thiết thực dù nhỏ nhất Diệt trừ vô minh hiện tại như thế nào? Đức Phật đã từng dạy: “nhất thiết duy tâm tạo”,

có nghĩa là tất cả đều do tâm mà ra Nếu tâm ta trong sạch và sáng suốt, hạnh phúc

sẽ theo ta như bóng với hình

Phật giáo giúp con người đề cao trách nhiệm, lối sống hài hoà với thiên nhiên thông qua giáo lí nhân quả

Giáo lí nhân quả hay sự tương quan giữa nguyên nhân và kết quả là một trong những nguyên lí, làm nền tảng cơ bản của giáo dục Phật Giáo Theo đó, mọi hành động là nhân sẽ có kết quả hay hậu quả của nó Giống như vậy, mọi hậu quả đều có nhân của nó Luật ấy dạy rằng người làm việc lành, dữ hoặc vô ký sẽ

Trang 22

nhận lấy hậu quả tương đương Người lành được phước, người dữ bị khổ Hòa Thượng Tịnh Không đã từng khẳng định: “Mọi sự vật trên thế gian đều phải chịu sự chi phối của luật nhân quả Vạn vật đều giả ảo và vô thường nhưng luật nhân quả lại

là một chân lí vĩnh cữu và bất biến Nhân và quả có mối liên hệ mật thiết với nhau Nhân trở thành quả và quả này lại trở thành một nhân khác Từ chuỗi nhân quả bất tận này chúng ta có thể thấy một hành động nguyên nhân không thể kết thúc trọn vẹn và một nghiệp quả không phải là quả độc nhất Sự phối hợp nhân quả tạo ra một chu trình tàn nhẫn đó là vòng luân hồi sinh tử” [48, tr 159]

Thuyết nhân quả gần với khái niệm “nghiệp” trong Phật Giáo Theo Phật Giáo: con người là chủ nhân của nghiệp và là kẻ thừa tự nghiệp Nghiên cứu cụ thể qua các kinh điển của đạo Phật, chúng ta có thể thấy được rằng tất cả mọi loài động vật đều bị chi phối bởi nghiệp lực, nhưng lại có sinh mệnh độc lập, tự chủ giống con người, cùng chung sống trong cùng một thế giới với con người, có thể tu tập để giải thoát Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ, trải qua dòng lịch sử hơn 26 thế kỉ từ khi giáo chủ Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra Phật giáo, giáo lí của Ngài luôn thể hiện tình yêu thương đến muôn loài chúng sinh

Theo đạo Phật, nếu người nào có tâm từ sẽ được sinh về cõi lành, còn nếu ngược lại, sẽ sinh về cõi xấu, ác thú, đọa xứ, địa ngục Trong trích lục các bài giảng trong kinh điển Pali có câu: “con đường đưa đến đoản mạng là sát sinh, tàn nhẫn, hay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loại chúng sinh Nhưng ở đây, này thanh niên, có người đàn bà hay đàn ông, từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, bỏ trượng, bỏ kiếm biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sinh Do nghiệp ấy, thành đạt như vậy, thành tựu như vậy sau khi thân hoại mạng chung người ấy được sinh vào thiện thú, thiên giới”.[49, Tr 225]

Nhờ hiểu được mối tương quan giữa ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai con người nhận thức được không phải ngẫu nhiên mà ngày nay chúng ta đang phải gánh chịu những hậu quả của thiên tai, động đất, lũ lụt làm thiệt hại đến người, vật chất

và tinh thần “Mạng lưới nhân quả này đã liên kết mọi sự vật cả về thời gian lẫn

Trang 23

không gian nên không chỉ mọi sự vật tồn tại trong hiện tại lệ thuộc lẫn nhau mà tất

cả mọi sự vật trong quá khứ cũng như tương lai đều liên quan đến nhau” [6, Tr 86] Đạo Phật bồi dưỡng cho con người tình yêu thương và sự thấu hiểu những việc làm

mà mình đã gây tổn hại đối với thiên nhiên Mặt khác, với luật nhân quả là cơ sở để con người xác định hành vi, trau dồi những tư tưởng, ý niệm chân chính

Mặc dù, những nguyên tắc đạo đức hàng ngày luôn hướng thiện, và trừng trị

kẻ ác, những kẻ lợi dụng, chiếm đoạt thiên nhiên, nhưng hầu hết chúng chỉ là hành động tức thời như: xử phạt hành chính, xử phạt về dân sự mà chưa giải quyết được tận gốc rễ của vấn đề Tại một số nước phát triển, những việc làm nhỏ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường như việc xã rác bừa bãi hay khạc nhổ cũng bị xử phạt Tuy nhiên, tại một số quốc gia, việc kiểm soát những hành vi nhỏ nhặt này hầu như không có Vậy vấn đề đặt ra là làm sao để thay đổi được từ bên trong, cái mà đức Phật gọi là “ý” trong tam nghiệp: thân, khẩu, ý Ý thay đổi thì thân cũng làm những điều tốt đẹp cho môi trường, miệng nói những lời hay ý đẹp để vận động người khác cùng làm theo mình

Trong Kinh Tăng Chi II, trang 7 có câu: “con người là chủ nhân của nghiệp,

là kẻ thừa tự nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa”, mọi sự vật trên thế giới, kể cả con người tồn tại không bao giờ lìa bỏ hai chữ “ nhân quả” Cũng như vậy, từ nhận thức về mối tương quan đó, hành động của con người cần phải tích cực và phù hợp với những chuẩn mực môi trường nhất định, thậm chí là phải tích cực hơn trong việc cải tạo môi trường để tạo nên một môi trường trong lành, tốt đẹp hơn

Phật Giáo cho rằng, trên thế gian này, không có một điều gì xảy ra đối với một người mà không có nguyên nhân “Ta chỉ thấy biểu hiện trước mắt cái quả đang trổ

mà không thể thấy được tất cả các nguyên nhơn vi tế đã sinh quả ấy, vì nhơn không phải hoàn toàn phát sanh trong hiện tại mà có thể rải rác gieo trồng tự vô lương kiếp.” [ 43, Tr 297] Vì vậy, người am hiểu Phật pháp sẽ không vì tâm cầu danh cầu lợi mới làm những hành động tốt mà họ làm thực sự vì tình thương yêu, vì khởi tâm hoan hỷ, thấu hiểu được nỗi trắc ẩn của muôn vạn vật, muôn vạn chúng sinh

Trang 24

Nếu như thuyết duyên khởi khái quát nên thế giới như một mạng lưới “nhân duyên sinh” vĩ đại, nói lên mối quan hệ chặt chẽ, nương vào nhau mà tồn tại của các

sự vật, hiện tượng, thì thuyết nhân quả giúp con người điều chỉnh đạo đức, hành vi của con người “Không phải một cách ngẫu nhiên mà đức Từ phụ Thích-ca Mâu-ni lại dạy về luật nhân quả trong hầu hết các kinh điển, và mỗi lời dạy của Ngài đều hàm chứa vô số ý nghĩa, song cũng không ngoài mục làm cho tất cả chúng sinh đều nhận ra được mối quan hệ giữa nhân duyên đời trước và quả báo đời sau của mình Bởi một khi đã nhận hiểu được mối quan hệ đó, thì dù chúng ta làm việc gì, nói lời

gì, cũng đều sẽ phải nghĩ đến kết quả tốt hay xấu mà nó mang lại Như vậy sẽ tuyệt đối không có sự làm liều, nói ẩu, để rồi phải chịu hậu quả đau khổ trong hiện tại và tương lai.” [50, Tr 5]

Theo giáo lí nhà Phật, nhân nào quả nấy, không bao giờ nhân quả tương phản hay mâu thuẫn nhau Nói cách khác, nhân quả bao giờ cũng đồng một loại Một nhân không thể sinh được quả, mà phải được sự trợ giúp của nhiều duyên khác, thí

dụ, tại một số nơi con người chịu hậu quả của việc hạn hán như ngày nay không phải do một nguyên nhân mà là sự tích tụ của nhiều yếu tố như: chặt phá rừng, xây dựng nhiều nhà máy, khu công nghiệp, chất thải từ phương tiện giao thông Biết được điều đó con người đều cẩn thận trong mọi hành động của mình, chung tay vì cuộc sống của vạn vật, họ cần biết rằng hành động của họ làm ra tuy không lớn nhưng là một trong những nhân tố cấu thành sự ô nhiễm chung của xã hội Càng giảm đi nhiều nhân tố tiêu cực gây ô nhiễm môi trường thì bài toán khó của toàn xã hội sẽ trở nên đơn giản hơn

Phật giáo giúp con người hi u được nguyên nhân và tìm ra biện pháp đ hạn chế ô nhiễm môi trường thông qua giáo lí tứ diệu đế

Giáo lí Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ đế, là bài Pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết Giảng cho 5 anh em ông Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển, bao gồm bốn chân lí sự thật khổ đau của con người là Khổ- tập- diệt- đạo

Khủng hoảng sinh thái, thiên tai, lũ lụt, hạn hán, ô nhiễm môi trường là những biểu hiện của môi trường tự nhiên có liên quan chặt chẽ đến khái niệm khổ

Trang 25

đế trong chân lí "tứ đế" của đạo Phật Do những hành vi cố ý, không làm chủ được hành động của mình, làm tổn thương đến thiên nhiên mà con người phải gánh chịu những hậu quả mất cân bằng, đảo lộn cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên Khổ là gì? Là khi con người sống trên trái đất này đang phải gánh chịu những hậu quả do chính con người gây ra Không ít nơi tuy cuộc sống vật chất đầy đủ nhưng con người đang phải sống cùng với bầu không khí bị ô nhiễm trầm trọng Nạn chặt phá rừng gia tăng khiến con người phải chịu những hậu quả của lũ lụt, hạn hán, lũ quét, bão, họ phải đối mặt với những cảnh tượng thương tâm Đem đến sự an vui cho muôn loài đòi hỏi con người ý thức về giá trị bình đẳng của mọi loài sinh vật Ta cần hiểu rằng đó không chỉ là nỗi khổ của

ta mà là nỗi khổ của muôn vạn chúng sinh Những loài động vật quý hiếm đang ngày đêm bị rình rập, vì phục vụ cho lợi ích của con người mà bao chúng sinh chịu đau khổ hàng ngàn con gấu bị giam cầm để hút mật, hàng triệu cá mập bị giết để lấy vây, loài tê giác hay voi bị giết chỉ để lấy sừng, lấy ngà, nhiều động vật trở tuyệt chủng vì mất đi môi trường sống, những cánh đồng đang xanh tươi bỗng chốc trở nên tàn lụi chỉ vì nhu cầu vật chất của những kẻ muốn chiếm đoạt thiên nhiên, cướp

đi cơ hội sống của muôn loài

Giáo lí đạo Phật đã chỉ ra nguyên nhân của mọi sự khổ đau trên cuộc đời này thông qua “tập đế- nguyên nhân của khổ” – đây được xem như cội nguồn căn nguyên xuất phát từ bản thân mỗi con người, được xem như “tam độc” là tham lam, sân hận và si mê

Tâm tham tạo nền móng vững chắc cho những ham muốn dục lạc về vật chất

và tinh thần Phật giáo cho rằng mọi khổ đau của con người đều bắt nguồn từ sâu thẳm bên trong tâm thức, đó chính là lòng tham Nó làm cho con người cố bám víu vào các sự vật, sự việc, hiện tượng để đáp ứng lòng khao khát tham ái không bao giờ dừng, không bao giờ thỏa mãn Tác giả Lê Văn Tâm đã từng đề cập : “Tính tham dục ngày càng nhanh, ngày càng nhiều và ngày càng mới” đã cổ vũ và thúc đẩy sự phát triển lòng tham ái, khiến con người xa rời nếp sống tỉnh thức, xa rời và đối nghịch với thiên nhiên, đã xô con người vào sự phá hoại những nhân tố mà

Trang 26

mình dựa vào để sinh tồn và phát triển” [40, Tr 160] Nếu chúng ta chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt mà không chú ý đến việc xây dựng một nền đạo đức môi trường, hoàn thiện nhân cách và hành vi ứng xử với thiên nhiên thì sự phát triển

đó sẽ trở nên lệch lạc, không bền vững

Bên cạnh đó, những nỗi khổ của con người là do sân hận và si mê Sân hận chính là những cảm xúc giận dữ, phiền não gây ra những đau khổ thân thể và tâm trí cùng với những hành động hung hãn Chính điều đó làm cho tâm tham lam ngày càng ngự trị trong tâm thức mỗi con người, phát khởi nên những hành động trái với quy luật tự nhiên nhằm chỉ để đáp ứng “cái tôi vị kỉ” của họ

Sự thật cao quý thứ ba mà đức Phật đề cập đến đó chính là diệt đế - sự chấm dứt của khổ đau, đây được xem như là giải thoát luận hay lý tưởng luận của Phật Giáo Diệt đế hay con gọi là niết bàn, được xem như một trạng thái tối cao của hạnh phúc, an bình và tự do để trải nghiệm trong cuộc sống hiện tại này Nếu đoạn trừ lòng tham con người chẳng cần tạo ra ác nghiệp, không chịu cảnh sinh tử luân hồi Liên hệ với vấn đề bảo vệ môi trường, con người cần phải đoạn triệt được lối sống thỏa thích, phí phạm mà không biết tiết kiệm trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, sản xuất vượt quá nhu cầu cần thiết

Chân lí thứ tư đó chính là đạo đế: là con đường là phương pháp đoạn trừ đau khổ để đưa đến niết bàn, đó chính là phương thức nhằm áp dụng giáo lí Phật Giáo trong việc bảo vệ môi trường Chân lí này đòi hỏi về một trách nhiệm về đạo lí làm người, giúp hạn chế những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường, là một trong những phương châm sống của người tu học Phật pháp

Liên hệ với vấn đề đạo đế chúng tôi cũng nghiên cứu nhằm làm rõ vai trò của kinh tế học Phật Giáo đối với việc điều chỉnh thói quen của con người, tạo nên một nền kinh tế bền vững lấy phương châm và mục tiêu bảo vệ môi trường làm mục đích Trong bài tham luận: “ Phật Giáo với văn hóa tiêu dùng thời cách mạng công nghiệp” được in trong kỷ yếu hội thảo tại Đại Lễ Phật Đản VeSak Liên Hợp Quốc năm 2019, tác giả Trương Văn Chung đã từng đề cập đến ba nguyên lí của kinh tế học Phật Giáo trong đó, nguyên lí thứ ba được tác giả nhấn mạnh về vai trò của Phật

Trang 27

Giáo đó chính là hướng con người vào con đường trung đạo, đó là một trong những nhân tố quan trọng giúp con người giảm thiểu nhu cầu và tham vọng tiêu dùng thái quá trước những cám dỗ của nền kinh tế thị trường

1.2.2 Cơ sở lí luận về vai trò của Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường

xã hội

Trong kinh sách Phật giáo, ta tìm thấy nhiều quan niệm về các vấn đề của môi trường xã hội như xây dựng xã hội công bằng, văn minh; xây dựng mối quan

hệ giữa các cá nhân trong xã hội…

Phật iáo góp phần xây dựng xã hội công bằng, văn minh thông qua giáo lí bình đẳng

Sống trong một xã hội bất bình đẳng, xuất thân từ giai cấp cao quý, tuy nhiên Đức Phật chính là người đem lại triết lí bình đẳng thực sự cho nhân loại, sự bình đẳng ấy không chỉ giới hạn ở con người mà đó là sự bình đẳng đối với tất cả mọi loài chúng sinh, mối quan hệ bình đẳng giữa con người được diễn tả một cách khái quát và cụ thể thông qua mối quan hệ giai cấp và mối quan hệ nam nữ

Mối quan hệ giữa bình đẳng về giai cấp được khái quát cụ thể trong các kinh điển Phật Giáo Con người khi sinh ra không ai là cao quý hơn ai, mà theo đức Phật

là do hành vi mà con người trở thành bậc phạm trí hay kẻ bần tiện “Theo Phật giáo, mọi sai biệt trên thế giới này đều tùy thuộc vào các nhân duyên mà sinh khởi; cũng vậy, sự khác nhau về địa vị, hoàn cảnh giàu sang hay nghèo khổ, ngu dốt hoặc thông minh tất cả đều hoàn toàn do hành vi tạo tác của mỗi con người chứ không phải do tự nhiên hay được sắp đặt theo bất kỳ một thông lệ hoặc quy định nào Trên tinh thần này, sự phân chia giai cấp trở thành phi lý và vô nghĩa.” [8, Tr 10] Đức Phật dạy rằng chúng ta không nên phân biệt mình với người khác Ngài luôn có một cái nhìn cảm thông với những người chịu nhiều đau khổ, không đồng tình với quan niệm của giai cấp Bà La Môn cho rằng họ là giai cấp tối thượng còn các giai cấp khác là hạ liệt Trong kinh điển Pali, tư tưởng bình đẳng được khái quát một cách cụ thể: “ dù là người khatti- ya, vessa, sudda hay bà la môn – tất cả bốn giai cấp nếu sát sinh, lấy của không cho, có tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lời, nói ác khẩu,

Trang 28

nói lời phù phiếm, có tham tâm, có sân tâm, có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung đều sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục Ở đây, này Assalãyana, do luận

cứ gì hay do thẩm quyền gì của các bà la môn và các vị ấy lại nói: “ chỉ có giai cấp

bà la môn là tối thượng, giai cấp khác là hạ liệt là con cháu thừa tự của Phạm Thiên?”[49, Tr 188] Như vậy, bình đẳng trong đạo Phật không phải là một sự hình dung trừu tượng mà được cụ thể hóa rõ ràng, là nhịp cầu hướng con người đến chân, thiện, mỹ Dưới ánh sáng tâm linh Phật pháp, cùng cái nhìn của một đấng giác ngộ, giác tha, mọi sự phân biệt giai cấp đều trở nên vô nghĩa Trong tổ chức giáo hội của mình, Đức Phật đã dung nạp những hàng đệ tử thuộc nhiều thành phần khác nhau, không phân biệt giai cấp, nghề nghiệp hay địa vị xã hội Chữ “ Tăng đoàn” trong Phật giáo “ là tiếng gọi tắt của hai chữ “ Tăng Già” có nghĩa là “ hòa hợp chúng”, ý nghĩa là một nhóm người có tính cách hòa hợp và cùng ở chung với nhau”[8, Tr 9] Như vậy có thể thấy được điểm quan trọng và cốt yếu của các đệ tử Phật Giáo là phải sống dựa trên tinh thần hòa hợp, muốn làm được điều đó, việc cốt yếu quan trọng chính là các đệ tử của Phật phải biết san sẻ, đoàn kết, không có tâm phân biệt, kiêu ngạo, vì lợi ích chung của tập thể

Bình đẳng giữa nam và nữ là một trong những vấn đề cũng được Đức Phật quan tâm sâu sắc, ngài luôn có cái nhìn cảm thông đối với người phụ nữ Về mặt giáo đoàn, Phật giáo cho phép người nữ xuất gia, khi đã thọ đủ giới pháp thì được gọi là tỳ khiêu ny, họ được xem là một bộ phận cấu thành của tăng đoàn Phật Giáo

Về phương diện chứng đắc, người nữ nếu tu hành tinh tấn, giữ gìn giới luật, thì cũng có thể đạt đến giác ngộ, giải thoát, khi ngài A Nan hỏi Phật: "Không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình có thể chứng được quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai hay quả A la hán không?": Đức Phật đã trả lời :"Này Ananda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong pháp và luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được dự lưu quả, nhất lai quả, bất lai quả hay a la hán quả"[16, Tr 114]

Đặc biệt, giá trị của người phụ nữ được thể hiện qua tình mẫu tử thiêng liêng,

đề cao vai trò, thiêng chức của người mẹ đã sanh dưỡng, sánh vai cùng với cha

Trang 29

trong cuộc đời của con để nuôi con khôn lớn, thành người, như trong kinh “Vu Lan Báo Hiếu”

“Tình mẹ thật sâu nặng

Thương con nào nhạt phai

Quả ngọt không tiếc nuối

Nuốt đắng nào chua cay

Thương con càng sâu đậm

Sầu bi tăng thêm ngày

Miễn sao con no ấm

Đói khát chẳng nguôi ngoai” [15, Tr 36]

Trái ngược hoàn toàn với quan điểm không xem trọng nữ giới trong gia đình của đạo Bà La Môn, Phật Giáo đề cao giá trị của người phụ nữ Trong kinh Thiện Sanh, để mối quan hệ giữa vợ chồng được êm đẹp, người chồng nên lấy năm điều

mà yêu thương, tôn trọng vợ làm kim chỉ nam để đem đến giá trị hạnh phúc hôn nhân đích thực, người vợ cũng đáng được tôn trọng, yêu thương: “Một là yêu thương vợ Hai là không khinh rẻ Ba là sắm các thứ chuỗi ngọc, đồ trang điểm Bốn là tôn trọng quyền tự do cá nhân Năm là xem vợ như chính mình” [49, Tr 167] Người vợ, người mẹ hay thậm chí là con dâu không còn bị phân biệt, đối xử nữa, mà thay vào đó họ có quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả Có lẽ, hiếm có một tôn giáo nào mà sự cảm thông và tôn trọng người phụ nữ được thể hiện rõ ràng

và cụ thể như trong Phật Giáo, điều đó tạo nên giá trị yêu thương và vun đắp cho những giá trị đạo đức tốt đẹp của đạo Phật

Từ triết lí bình đẳng, Phật giáo điều chỉnh và tạo nên các mối quan hệ cân bằng trong xã hội, đó chính là một trong những nền tảng quan trọng giúp Phật giáo góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; xây dựng mối quan hệ gia đình trở nên tốt đẹp

Khi con người hiểu được sự bình đẳng trong Phật giáo và áp dụng nó vào cuộc sống thường nhật thì mọi sự phân biệt, kì thị sẽ dần tan biến từ việc phân biệt các giai cấp, thành phần xã hội, lớn hơn là phân biệt chủng tộc, quốc gia Sẽ không

Trang 30

còn tình trạng người bóc lột người, bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo, nước lớn ức hiếp nước bé, sử dụng những âm mưu thủ đoạn thôn tính lẫn nhau, không còn những cuộc đấu tranh giữa các chủng tộc, phân biệt màu da, tôn giáo Trong xã hội mỗi người có một vai trò và vị trí khác nhau, nhưng đều quan trọng và cần thiết “Tâm không còn một điểm vị kỷ, hành giả đã vượt lên khỏi mọi hình thức chia rẽ riêng tư Không bị giam hãm trong những tư tưởng hẹp hòi, không chịu ảnh hưởng của tinh thần đấu tranh giai cấp, quốc gia, chủng tộc, tôn giáo, hành giả nhìn tất cả mọi người là bạn đồng hành trong đại trùng dương mà ta gọi là đời sống muôn loại vạn vật” [43, Tr 604]

ạo Phật góp phần xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa mọi người thông qua

tứ vô lượng tâm

Tứ là bốn, vô lượng tâm là tâm rộng lớn mênh mông, phủ trùm tất cả chúng sanh, không thể nào suy lường, tính toán được càng trau dồi tâm thì nó càng rộng lớn và sự hiểu biết của ta càng phát triển Từ đó ta mới thực hiện tâm vô ngã Vô lượng tâm còn có nghĩa là đẳng tâm, là tâm bình đẳng (xem người và vật như nhau) [61, Tr 96] Tứ vô lượng tâm hay còn gọi là “từ, bi, hỉ, xả” là một trong những nền tảng cơ bản của đạo đức Phật Giáo có giá trị giáo dục sâu sắc đối với cuộc sống của con người, điều chỉnh thái độ và hành vi của người tu sĩ cũng như cư sĩ tại gia nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn

+ Tâm từ:

Giúp mọi người biết yêu quí và tôn trọng nhau hơn, không chỉ những người tốt với ta mà cả những người tạo nên nghịch cảnh cho chúng ta, tâm từ giúp cho cuộc sống trở nên hòa hợp, hạn chế các tệ nạn xã hội “ Từ vô lượng là lòng mến thương vô cùng tận của chúng ta đối với tất cả chúng sanh từ con người đến con vật, cây cỏ Lòng từ ban rải khắp tất cả thì ta sẽ tránh (vô tình) gây đau khổ cho chúng sanh và đem lại cho chúng sanh cái vui chân thật [ 61, Tr 99] Cách nhìn của mỗi chúng ta về người khác là một cái nhìn chủ quan, tâm từ hướng con người đến một cái nhìn toàn diện về người khác, biết chấp nhận những khiếm khuyết của đối phương Theo Đạo Phật hận thù không hóa giải được hận thù, chỉ có bao dung và từ

Trang 31

bi mới hóa giải được hận thù Trong Kinh Phạm võng giới bồ tát, giới đem sân, đem đánh trả đánh có ghi : “nếu Phật tử, không được đem giận trả giận, đem đánh trả đánh Nếu xuất gia bồ tát không có lòng từ bi cố báo thù , nhẫn đến cố báo thù cho trong hàng lục thân, Phật tử này phạm “Khinh Cấu Tội” [ 20, Tr 48, 49] Cốt lõi của lòng từ thực sự là cho đi không cần đền đáp

+ “Tâm Bi” :

Có thể được xem như một trong những nhân tố tỉnh thức tâm hồn của con người, giúp chúng ta thương xót trước những cảnh khổ đau của hết thảy mọi loài chúng sinh , đặc tính của tâm bi là ý thức chủ động của con người muốn giúp người khác thoát ra khỏi cảnh khổ, “bi vô thượng là lòng thương vô bờ bến trước nỗi khổ của chúng sanh Người có lòng bi không đành lòng ngồi yên trước nỗi khổ của chúng sanh Đành rằng sự đau khổ của thế nhân là cái duyên nhân quả nhưng lòng

bi không cho phép chúng ta làm ngơ” [61, Tr 119]

Thấy khổ đau mà chưa xót thương thời không phải là người có “tâm bi”, xem

đó là một bài học giúp chúng ta trưởng thành hơn, là mong muốn cho mọi người đều được hạnh phúc, thoát khỏi khổ đau Tâm bi khiến người ta không vô cảm trước những hoàn cảnh khốn khó, không tự quá đề cao cái tôi cá nhân, mà sống hòa nhập

vì người khác Giáo dục Phật giáo đưa con người đến cách phát “Tâm Bi” là liều thuốc vô cũng hữu hiệu khi mà văn bệnh “vô cảm”, “trầm cảm” trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện nay Nó được xem như một phương tiện thiết yếu hữu hiệu đem đến sự an lạc, hạnh phúc của xã hội Tâm bi chính là nhân lành của sự che chở, yêu thương Con người không có tâm bi thì xã hội sẽ trống vắng đi sự đồng cảm, cũng như thiếu vắng đi tình thương của: cha con, vợ chồng, người thân, bạn

bè, đồng nghiệp, và kể cả đối với những người xa lạ Phát khởi tâm bi trong Phật Giáo là một trong những điều không chỉ người tu học Phật pháp mà còn nhiều thành phần khác trong xã hội quan tâm Bởi lẽ, rèn luyện được tâm Bi con người sẽ tạo nên được mối quan hệ tốt đẹp, cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn, những mối quan

hệ đó không chỉ bao gồm những người thân thích mà thậm chí là cả những người lạ, người không ưa thích ta

Trang 32

+ Tâm “hỷ”:

Là một trạng thái tâm thức của chính bản thân ta, cảm thấy vui trước niềm vui của nhân thế, khi người khác đạt được thành công ta cũng cảm thấy hạnh phúc, khi đó niềm vui sẽ được nhân lên gấp nhiều lần Trong xã hội hiện đại ngày nay, tâm hỷ giúp con người tạo nên mối quan hệ hòa hợp, thúc đẩy nhau cùng phát triển, người có tâm hỷ sẽ không cảm thấy phiền não, không ganh ghét và đố kị với người khác mà cảm thấy sự thành công của người khác chính là động lực để bản thân mình cố gắng hơn Tâm hỷ còn được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác của đời sống xã hội, từ việc tán thán công đức từ thiện, bố thí, cúng dường, xây nhà của người khác, góp công sức của mình vào những công việc thiện nguyện của người khác, đồng thời phải luôn cân nhắc bản thân không “ hỷ” theo các ác pháp như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, hại người có như vậy thì xã hội sẽ ngày càng phát triển, đoàn kết, hạn chế căn bệnh ích kỉ, nhỏ nhen

+ Tâm “Xả” :

Là trạng thái của tâm thức khi đã buông bỏ những điều không tốt, không bám víu hay chấp nệ vào bất cứ điều gì, đây được xem là một trong những điều khó thực hành nhất nhưng cũng vô cùng cần thiết đối với những tín đồ Phật Giáo Nói một cách dễ hiểu, xả là cảm thấy bình thản trước sự khen chê, hay coi thường, phỉ báng, trước mọi thăng trầm của thế sự, hay nói theo cách nhân thế đó là “tâm bất biến trước dòng đời vạn biến” Đời sống của Đức Phật là một gương sáng về tâm “xả” cho những ai còn chưa biết buông bỏ, tâm còn vọng động “ Như gió thổi ngang màng lưới mà không bị vướng trong lưới, tuy sống giữa chợ người, ta không nên luyến ái những những lạc thú huyền ảo và vô thường của đời Như hoa sen từ bùn

dơ nước đục, vượt lên bao nhiêu quyến rũ của thế gian, ta phải sống trong sạch, luôn luôn yên tính và an vui” [43, Tr 62] Tâm xả có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống của con người, giúp con người giữ vững chánh kiến, tự tin không sợ hãi lo âu

và là chìa khóa giúp con người thành công trong cuộc sống, vượt qua chông gai, cám dỗ và không vướng bận vào những mối quan hệ, thị phi không đáng có

Trang 33

ạo Phật tạo nên môi trường xã hội tốt đẹp thông qua thập thiện nghiệp

Thập thiện nghiệp là một trong những chân lí của đạo Phật nhằm điều chỉnh hành vi của người học Phật và tu Phật, theo Phật giáo con người hữu phúc hay bất hạnh là tùy vào nghiệp thiện hay nghiệp ác mà bản thân họ đã tạo tác ra Mười điều công đức được đề cập đó là: bố thí, trì giới, rèn luyện tinh thần, lễ độ, phục vụ tha nhân, hồi hướng công đức, hoan hỷ với những công đức của người khác, thuyết giảng và dạy pháp, nghe pháp, trau dồi chánh kiến Làm mười thiện nghiệp trên không những đem lợi ích cho chính mình mà còn đem lại lợi ích cho những người khác tạo nên sự hài hòa trong xã hội Sau đây, chúng tôi xin được mạn phép đề cập đến một số vấn đề trong thập thiện nghiệp liên quan trực tiếp đến các Phật tử tại gia nói chung và những người trong xã hội nói riêng

+ “Bố thí”:

Hay còn được hiểu là sự cho, quyên tặng, đem cái của mình san sẻ với người khác Người học Phật và am hiểu Phật Pháp biết rằng việc bố thí nhằm tạo phước đức cho chính bản thân và gia đình mình, đó là hành động giảm thiểu lòng tham- một tâm bất thiện ngăn trở sự phát triển tâm linh Thay vì sự ích kỉ, ta nên san sẻ lợi ích cho người khác, đem hạnh phúc nhân rộng ra cho nhiều người, nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn, những số phận bất hạnh hơn Khi bố thí ta không chỉ thể hiện lòng nhân từ như một nghĩa cử cao đẹp của thân mà bằng cả tấm lòng, sự chân thành và con tim, khối óc, khi cho đi Vì sao nói như vậy? “Bố thí” trong Phật giáo không chỉ giới hạn là việc đem đến vật chất cho người khác mà sự bố thí được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm 7 hành vi được ghi chép trong nhiều kinh điển: bố thí bằng vẻ mặt, hay con gọi là “nhan thí” được thể hiện thông qua nụ cười, nét mặt vui tươi, niềm nở, chân thành với người khác; hai là bố thí bằng lời nói hay còn gọi là:

“ngôn thí” được thể hiện thông qua sự ngợi khen, khích lệ, động viên và an ủi người khác khi gặp khó khăn, hoạn nạn; ba là bố thí bằng tấm lòng hay còn gọi là “tâm thí” thể qua sự thành tâm, tấm lòng rộng mở, dùng tâm từ để đối đãi với người khác; bốn là “nhãn thí” hay còn gọi là ánh mắt, cái nhìn, nhìn người khác bằng thiện chí và thân thương, không soi mói, để ý những việc không nên để ý; năm là “thân thí” tức là việc làm, hành động của thân giúp đỡ người khác khi thấy họ gặp khó

Trang 34

khăn, sáu là “tọa thí” hay là chỗ ngồi, có nghĩa là nhường chỗ cho người khác, người già, trẻ nhỏ, người tàn tật, hiến tặng bộ phận trên thân thể mình để giúp đỡ người khác; bảy là “ phòng thí” được hiểu là cho người an nghỉ khi họ cần với tấm lòng thiết tha Từ đó ta có thể thấy được rằng bố thí trong Phật Giáo là một khái niệm bao hàm rộng lớn, đối với việc “từ thiện” ta có thể thực hiện chúng vào một thời điểm nào đó khi có đủ điều kiện về vật chất và nhân lực, còn với việc “bố thí”

có thể được thực hiện ở bất cứ một thời gian nào, bất kì một địa điểm nào, và dường như chúng cần phải được trau dồi, rèn luyện để trở thành một thói quen, một nếp sống của sự cho đi để tìm cầu hạnh phúc

Ngũ giới chính là năm nguyên tắc sống của người Phật tử tại gia, cũng là yếu tố đem lại hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội bao gồm: không giết hại mạng người, không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm, không say rượu Thực hiện ngũ giới là một trong những biểu hiện nhằm hướng đến một xã hội lí tưởng,

có giá trị đích thực đối với đời sống xã hội hiện đại, đặc biệt trong xã hội ngày nay khi sự suy thoái về đạo đức xã hội đang là một vấn đề cấp thiết, nó rèn luyện cho con người tính tôn trọng sự công bằng, tôn trọng tính mạng, tài sản, nhân phẩm của người khác, tôn trọng sự thật, biết tiết chế hành vi của mình trong đời sống hàng ngày Nếu áp dụng ngũ giới vào cuộc sống hiện đại, đời sống của mỗi

cá nhân trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình và trong một xã hội

sẽ trở nên tốt đẹp, tràn đầy sự an lạc và hạnh phúc

+ Lễ độ:

Một trong những vấn đề được Phật Giáo đề cập cụ thể đó chính là bổn phận làm người “lễ độ” đối với những bậc trên, những người lớn hơn mình Đại sư Ấn

Trang 35

Quang từng nói “cần phải làm tròn bổn phận làm người rồi mới có thể nói đến việc học Phật Nếu đối với việc hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa, liêm sỉ không làm được một việc gì, thì dù suốt ngày thờ Phật cũng vô ích, uổng công! Phật giáo bao quát cả pháp thế gian và xuất thế gian, nên đối với người làm cha làm mẹ thì nói đến lòng

từ ái; đối với người làm con làm cháu thì nói đến việc hiếu thảo, dạy mọi người phải làm tròn bổn phận của mình rồi sau mới có thể tu pháp xuất thế gian” Đạo Phật có thể được khẳng định là một trong những tôn giáo chú trọng đến nhiều mối quan hệ trong một gia đình, như quan hệ giữa vợ chồng, cha mẹ với con cái, quan hệ anh em

và với bề trên

Trong mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ, sự lễ độ được biểu hiện qua lòng hiếu thảo, sự kính yêu của con cái được thể hiện trong nhiều kinh văn vủa Phật Giáo như kinh Tịnh Phạn Vương Niết Bàn, Kinh Tâm Địa Quán, Kinh Bản Sự, Kinh Vu Lan Báo Hiếu có thể nói “lễ độ” trong Phật giáo được hiểu theo một nghĩa rộng bao gồm tâm thức đến hành động và lời nói Tâm nghĩ về điều thiện, hành động cư xử mang đến niềm vui, hạnh phúc cho cha mẹ, lời nói chất chứa sau

đó là niềm yêu thương và sự cung kính Kinh Bản Sự có nói:

“Giả sử dùng hai vai

Trọn đời cõng cha mẹ

Thường cung kính cúng dường

Chưa thể đáp ân sâu”

Từ sự lễ độ với cha mẹ, anh em, bà con, quyến thuộc, ta còn rèn luyện để lan tỏa nó đến với mọi người xung quanh, “lễ độ” là dùng tâm khiêm nhường, nhẫn nhịn, biết “kính trên nhường dưới” để mà đối đãi, kết hợp với hành động thiện ý, lời nói ân cần giúp ta phát huy được bản tính thiện lành trong tâm thức chúng ta

“Lễ độ” không chỉ là một hành vi ứng xử mà còn là lối sống, một nét văn hóa nhân văn của Đạo Phật hướng đến cho người Phật tử cũng như nhiều thành phần khác trong xã hội Nếu một người làm được, nhiều người làm được thì xã hội này sẽ trở nên có khuôn phép, không còn cảnh con cái đối xử tệ bạc với cha mẹ, anh em đối xử với nhau không bằng tình nghĩa ruột thịt, bên cạnh đó cũng hướng đến việc xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp, bớt đi những hiềm thù không đáng có

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 chúng tôi đã trình bày một số khái niệm công cụ, cũng như những vấn đề mang tính lí luận về quan niệm của Phật giáo đối với vấn đề môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Về quan niệm của Phật Giáo đối với việc bảo vệ môi trường tự nhiên: chúng tôi đã tìm hiểu giáo lí thập nhị nhân duyên, tứ diệu đế, nhân quả đây được xem như là những giáo lí căn bản, làm nền tảng cho giáo dục Phật Giáo, đã góp phần vào việc thay đổi nhận thức của con người về thế giới quan và nhân sinh quan, hướng con người đến con đường đúng đắn, an vui và hạnh phúc, có thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường tự nhiên; bên cạnh đó việc bảo vệ môi trường xã hội được chúng tôi tìm hiểu thông qua tư tưởng bình đẳng, tứ vô lượng tâm, thập thiện nghiệp những giáo lí này thể hiện tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn và triết lí sống

vị tha, yêu thương chúng sinh muôn loài, đem đến giá trị cốt lõi của triết lí đạo Phật, hướng con người đến sự rèn luyện đạo đức và trí tuệ, là nền tảng vững chắc giúp con người biết điều chỉnh thói quen ứng xử trong mọi mối quan hệ xã hội, xây dựng một cuộc sống văn minh

Muốn thay đổi thói quen, trước hết phải thay đổi nhận thức đó là lẽ dĩ nhiên, tuy nhiên đó không phải là điều đơn giản, hay nói sâu xa hơn nó phải bắt nguồn sâu thẩm bên trong từ tâm thức của con người Có thể thấy được rằng, với những triết lí mang tính khoa học và nhân văn sâu sắc, Phật Giáo có một cái nhìn toàn diện đối với vấn đề môi trường, xem trọng vấn đề bảo vệ môi trường, từ đó có vai trò to lớn trong việc chung tay bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, giúp con người thay đổi từ nhận thức đến thói quen hành động, Phật giáo giúp con người hình thành nên thế giới quan, thấy được vị trí của mình trong mối liên hệ với môi trường sinh thái, nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như thấy được mối quan hệ giữa cá nhân với mọi người xung quanh cũng như cộng đồng xã hội

Trang 37

Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH VÀ THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 2.1 Một số vấn đề về môi trường tại huyện Đông Anh hiện nay

2.1.1 Một số vấn đề về môi trường tự nhiên

Đông Anh nằm trong châu thổ ven sông Hồng thuộc đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm 23 xã, 1 thị trấn Tổng diện tích đất tự nhiên là 18.214,89 ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 10.921,46 ha, chiếm 59,96% diện tích đất tự nhiên, diện tích nhóm đất phi nông nghiệp chiếm 33,14%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,85 % (kiểm kê năm 2015 của phòng Tài Nguyên môi trường huyện Đông Anh) [46, Tr 5]

Sông Hồng, sông Cà Lồ, sông Đuống được xem là ba con sông lớn, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thủy văn của huyện, các con sông này vừa là ranh giới tự nhiên phân chia Đông Anh với các quận huyện khác của nội thành Hà Nội, với huyện Sóc Sơn, cũng là nguồn cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt chính trên địa bàn ; ngoài ra trên địa bàn huyện còn có nhiều các ao, hồ, đầm lớn

Về nền nhiệt độ, vì Đông Anh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, nên biên độ biến đổi nhiệt trong ngày khá lớn, lượng mưa trung bình năm khoảng trên 1600m, được coi là một trong những nơi mưa vừa phải ở nước ta, mưa tập trung vào mùa hè (chiếm 80 đến 90 %) [22, Tr 70] Nhưng do chịu sự ảnh hưởng chung của khí hậu

cả nước, tại huyện thường có gió mưa lớn, mùa Đông thường có bão cũng gây ra những trở ngại nhất định cho việc sản xuất và đời sống của nhân dân Trong những năm gần đây môi trường tự nhiên ở huyện Đông Anh trở thành một mối quan tâm lo ngại không chỉ của người dân nơi chịu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường mà còn

là mối quan tâm sâu sắc của các cấp chính quyền và các tổ chức trong đó có các tổ chức tôn giáo Qua nghiên cứu thực tiễn bằng cách phỏng vấn các cán bộ chuyên trách về môi trường tại một số xã trên địa bàn huyện Đông Anh đồng thời thu thập

số liệu cũng như tham khảo một số tài liệu báo cáo tổng kết của Phòng Tài nguyên

Trang 38

môi trường huyện Đông Anh, chúng tôi đưa ra một số kết luận về vấn đề môi trường trên địa bàn huyện như sau:

* Các thành phần môi trường chuy n biến theo hướng tiêu cực, đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm cao

Môi trường nước, đất, không khí tại huyện Đông Anh tuy chưa ô nhiễm đến mức trầm trọng nhưng đều có dấu hiệu ô nhiễm nhẹ Trong tương lai gần, khi Đông Anh được chọn là địa bàn quan trọng thu hút đầu tư phát triển kinh tế với các khu công nghiệp, trung tâm tài chính thương mại, du lịch, thể thao lớn các thành phần môi trường sẽ chịu nhiều sức ép

- Thực trạng môi trường nước

Một lần được trò chuyện, phỏng vấn cùng chuyên viên phòng Tài Nguyên và môi trường huyện Đông Anh chúng tôi biết được rằng, thông qua các cuộc họp và báo cáo được nêu ra tại hội nghị toàn huyện về công tác bảo vệ môi trường cho thấy, các khu vực sông và ao hồ, đầm trên địa bàn huyện Đông Anh tiếp nhận hàng ngày hàng trăm nghìn m3 nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt đô thị và nước thải từ đồng ruộng, các khu vực chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản Ngoài ra, theo Ông, một trong những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nguồn nước tại huyện đó chính là nguồn chất thải rắn sinh hoạt của các đô thị, khu dân cư, nông thôn tập trung

Theo điều tra phân tích mẫu nước thải sinh hoạt tại các kênh mương, cánh đồng và cửa ra 3 lưu vực sông Hồng, Sông Đuống và Sông Cà Lồ cho thấy: “tuy 100% các hộ gia đình đã trang bị bể tự hoại tuy nhiên lượng nước thải sinh hoạt khác tại các hộ gia đình vẫn chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn, hàm lượng các chất hữu cơ và các chất lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, gây hại đến môi trường thủy sinh, gây tắc cống nước, bồi lắng dòng kênh,

và ảnh hưởng đến tài nguyên thủy sinh.” [46; Tr 18, 19]

Dựa vào số liệu điều tra của phòng tài nguyên môi trường huyện Đông Anh, sau khi phân tích mẫu nước mặt tại các ao, đầm và các sông thu được kết quả như sau: nguồn nước mặt trên địa bàn huyện Đông Anh đang có dấu hiệu ô nhiễm, trong

đó một số sông có dấu hiệu bị ô nhiễm như sông Cà Lồ (đo tại điểm đầu xã Thụy

Trang 39

Lâm, điểm cuối xã Bắc Hồng); sông Hồng (đo tại xã Võng La) các chỉ tiêu quan trắc vượt khỏi giới hạn cho phép; ngoài ra cũng có một số sông trên địa bàn huyện các chỉ tiêu quan trắc nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn, như sông Ngũ Huyện Khê (đo điểm đầu xã Mai Lâm, điểm cuối xã Đông Hội), sông Hoàng Giang (đo trên địa bàn các xã).[46, Tr 10, 11]

Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại huyện Đông Anh là một vấn đề nan giải bởi lẽ nó để lại hậu quả cho thiên nhiên, bên cạnh đó, còn ảnh hưởng sâu sắc đến người dân địa bàn lân cận “tại một số nơi trên địa bàn các xã Mai Lâm, Dục Tú, Việt Hùng, huyện Đông Anh, Hà Nội từ nhiều năm nay tồn tại hàng chục nhà xưởng đang ngày đêm xả nước thải trực tiếp ra môi trường, làm ảnh hưởng tới cuộc sống người dân quanh khu vực, gây ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp” [xem 63]

- Thực trạng môi trường không khí

Hiện nay, khi các ngành công nghiệp ngày càng phát triển, ô nhiễm không khí là một vấn đề đáng quan tâm lo ngại đối với môi trường đô thị, khu công nghiệp

và một số làng nghề Ở huyện Đông Anh, các hoạt động chăn nuôi, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hoạt động sản xuất của làng nghề, giao thông vận tải, xây dựng đô thị, hạ tầng kĩ thuật là những nguyên nhân chính dẫn đến việc ô nhiễm không khí

Cũng theo chuyên viên phòng tài nguyên môi trường, thông qua việc điều tra, phân tích không khí tại các tuyến đường khu dân cư, tuyến đường giao thông chính, làng nghề trên địa bàn huyện Đông Anh cho thấy: không khí trên địa bàn huyện Đông Anh đang có dấu hiệu ô nhiễm, tại một số nơi, chất lượng không khí vẫn đang ổn định, theo điều tra của phòng Tài Nguyên “hiện trạng chất lượng môi trường không khí tại các làng nghề và cụm công nghiệp có chứa thành phần các khí gây ô nhiễm không khí như SO2, NO2, CO, bụi lơ lửng, tiếng ồn vẫn đang nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn so sánh” [45;Tr 15] Tuy nhiên, tại một số vùng trên địa bàn, nơi có các nhà máy và các xưởng, chất lượng môi trường không khí bị ảnh hưởng nặng nề, vì không thể hoạt động công khai vào ban ngày, các cơ

Trang 40

sở sản xuất xí nghiệp lại chuyển sang hoạt động vào ban đêm Người dân sinh sống xung quanh các khu vực ô nhiễm vẫn đang phải gánh chịu những hậu quả do các khu công nghiệp cũng như các nhà máy gây ra “Người dân ở đây cho biết, các nhà xưởng này hoạt động suốt ngày đêm Thường xuyên xả khói đồng loạt khiến cho dân chúng tôi không thể nào thở được Mùi khói lẫn với mùi hăng nồng của keo dán, của bụi gỗ khiến cho không khí quanh khu vực rất ngột ngạt và tức ngực Mỗi hôm trở gió là chúng tôi phải đóng chặt cửa không dám ra ngoài.” [xem 69]

Dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm, vi sinh vật, chất thải rắn bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí như CH4 và CO2 gây mùi hôi thối, chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung, đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp Khi vận chuyển và lưu trữ chất thải rắn phát sinh ra mùi hôi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí

Một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí có thể kể đến đó chính là hoạt động giao thông, sản xuất của các khu công nghiệp, làng nghề truyền thống đặc biệt là chạm khắc, nghề mộc không chỉ ảnh hưởng đến người lao động mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư sống ở khu vực xung quanh,ảnh hưởng rất lớn đối với sức khỏe con người, đặc biệt đối với đường hô hấp

- Về thực trạng môi trường đất

Theo kết quả thống kê của Phòng tài nguyên môi trường huyện Đông Anh, báo cáo công tác bảo vệ môi trường huyện Đông Anh năm 2016, năm 2017 cho thấy đất đai trên địa bàn huyện Đông Anh biến động theo quy luật sau: đất nông nghiệp giảm dần nhằm giải quyết đất cho các mục đích khác và cho nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đô thị; đất phi nông nghiệp tăng lên cùng với quá trình gia tăng dân số tự nhiên và sự phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, công nghiệp

và các công trình xây dựng khác; đất chưa sử dụng giảm dần do việc cải tạo nhằm đưa vào sản xuất nông nghiệp và sử dụng vào các mục đích chuyên dùng khác “Với những điều kiện phát triển kinh tế mới, xu hướng chung của huyện trong việc sử dụng đất là giảm tỉ trọng đất nông nghiệp, tăng quỹ đất cho giao thông, công nghiệp

và đô thị” [22; Tr 99]

Ngày đăng: 04/03/2021, 23:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w