1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sinh kế của lao động di cư người việt nam tại thị trấn luangnamtha, tỉnh luangnamtha​

120 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm qua, Luangnamtha đã có sự chuyển mình mạnh mẽ với những chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài với các khu kinh tế, đặc khu kinh tế như đặc khu kinh tế Boten, chiến lược phát

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

PHANH TOUNKHAMMAI

SINH Ủ ĐỘNG I Ư NGƯỜI VI T N TẠI TH TRẤN U NGN TH

T NH U NGN TH NƯỚ H N À

LUẬN VĂN THẠ SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

PHANH TOUNKHAMMAI

SINH Ủ ĐỘNG I Ư NGƯỜI VI T N TẠI TH TRẤN U NGN TH

PGS.TS Nguyễn Văn Sửu

Người hướng dẫn khoa học

TS Lâm Minh Châu

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

Hà Nội, ngày…… tháng……năm 2020

Tác giả

Phanh TOUNKHAMMAI

Trang 4

ỜI Ả ƠN

Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy, cô giáo trong Khoa Nhân học và Phòng Đào tạo đã giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình học tập, nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lâm Minh Châu- người đã gợi mở những ý tưởng đầu tiên của luận văn và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn đúng với mục tiêu đề ra

Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Chính quyền thị trấn cũng như huyện Luangnamtha; các cô chú, anh chị em cũng như cộng đồng người Việt Nam di cư tại quê hương mới trên đất Lào thân yêu đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này tại địa phương

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày……tháng……năm 2020

Tác giả

Phanh TOUNKHAMMAI

Trang 5

Ụ Ụ

Trang

ỜI Đ N

LỜI CẢ ƠN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC TỪ VI T TẮT 4

DANH MỤC BẢNG, HÌNH 5

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

5 Nguồn tài liệu của luận văn 16

6 Phương pháp nghiên cứu 17

7 Đóng góp của luận văn 20

8 Kết cấu của luận văn 21

HƯƠNG 1: TỔNG QU N VỀ Đ BÀN VÀ ỘNG ĐỒNG NGHIÊN ỨU 22

1.1 Khái quát lịch sử di cư của người Việt sang Lào 22

1.1.1 Thời kỳ phong kiến Nhà Nguyễn 23

1.1.2 Thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp 25

1.1.3 Thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ 28

1.1.4 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay 30

1.2 Địa bàn nghiên cứu: Thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha 32

1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 32

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34

Trang 6

1.3 Cộng đồng lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha,

tỉnh Luangnamtha 39

Tiểu kết chương 1 44

HƯƠNG 2: CÁC HOẠT ĐỘNG SINH K 45

2.1 Các phương thức sinh kế truyền thống 46

2.2 Các phương thức sinh kế mới 52

2.3 Thu nhập và mức sống 57

2.3.1 Thu nhập 57

2.3.2 Mức sống 59

Tiểu kết chương 2 62

HƯƠNG 3: Á Y U TỐ TÁ ĐỘNG Đ N SINH K 63

3.1 Các nguồn lực 63

3.1.1 Nguồn vốn con người 63

3.1.2 Nguồn vốn vật chất 64

3.1.3 Nguồn vốn tự nhiên 65

3.1.4 Nguồn vốn xã hội 65

3.2 Chính sách của Nhà nước Lào và Chính quyền địa phương tỉnh Luangnamtha về quản lý và hỗ trợ đối với lao động di cư người Việt Nam tại Lào 67

3.2.1 Chính sách của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đối với lao động di cư người Việt Nam tại Lào 67

3.2.2 Chính sách quản lý và hỗ trợ của Chính quyền địa phương đối với lao động người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha 75

3.3 Chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với lao động người Việt Nam di cư tại Lào 78

Tiểu kết chương 3 81

Trang 7

HƯƠNG 4: NHỮNG THUẬN LỢI HÓ HĂN VÀ ỘT SỐ GIẢI

PHÁP H NGƯỜI ĐỘNG VI T N I Ư 82

4.1 Thuận lợi 82

4.2 Khó khăn 84

4.3 Một số giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha 90

K T LUẬN 97

TÀI LI U THAM KHẢO i

PHỤ LỤC vi

BẢN ĐỒ VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ HÌNH ẢNH VỀ THỊ TRẤN LUANGNAMTHA vi

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM DI CƯ TẠI THỊ TRẤN LUANGNAMTHA ix

CÂU HỎI PHÒNG VẤN xvi

Trang 8

NH Ụ Á TỪ VI T TẮT

Chữ viết tắt Cụm từ đầy đủ

CHDCND : Cộng hoà Dân chủ Nhân dân CHXHCN : Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa NDCM : Nhân dân cách mạng

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

1 Bảng 1.1 Thống kê dân số tại thị trấn Luangnamtha

2 Bảng 1.2 Thống kê lao động người nước ngoài tại thị

trấn Luangnamtha giai đoạn 2015-2019 38

4 Bảng 1.3 Thống kê lao động người Việt Nam có thẻ

lao động trong thị trấn Luangnamtha 39 Bảng 1.4 Thống kê nghề nghiệp của lao động di cư

người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha giai đoạn 2015-2019

43

5

Bảng 2.1 Thống kê nghề nghiệp hiện tại của lao

động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha năm 2019

45

6

Bảng 2.2 So sánh tỷ lệ giữa phương thức sinh kế

truyền thống và phương thức sinh kế mới của người lao động Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha

52

7

Bảng 2.3 Tỷ lệ phân hóa phương thức sinh kế mới

của người lao động Việt Nam tại tỉnh Luangnamtha

53

Bảng 2.4 Thu nhập trung bình/tháng của người lao

động Việt Nam tại Luangnamtha theo các nhóm ngành nghề

57

8 Bảng 2.5 Mức thu nhập của người lao động Việt

Trang 10

9

Bảng 3.1 Khảo sát tiêu chí nguồn vốn xã hội của

người lao động di cư Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha

65

11 Hình 1.1 Vị trí địa lý của thị trấn Luangnamtha, tỉnh

12 Hình 2.1 Cơ cấu ngành nghề của người lao động

Việt Nam trước khi di cư sang Lào 49

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh kế ổn định đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu hiện nay của con người Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển và nâng cao đời sống của con người Tuy nhiên, không phải lúc nào người lao động

cũng tìm kiếm được sinh kế phù hợp cho mình tại nơi “chôn nhau cắt rốn”

Hệ quả là di dân (migration) vì mục đích kinh tế đã trở thành một hiện tượng

tất yếu trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của bất cứ quốc gia nào

Trong lịch sử Việt Nam đã chứng kiến nhiều cuộc di dân lớn nhỏ do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ việc khai hoang lấn biển, mở mang bờ cõi

từ thời đầu dựng nước, cho đến các cuộc di dân có tổ chức với các kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước Theo số liệu của Tổ chức Di cư quốc

tế (IMO) lấy từ nguồn dữ liệu của Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và

xã hội (UN DESA), từ năm 1990 đến năm 2015 có 2.558.678 người Việt

Nam di cư ra nước ngoài, hầu hết đến hai nhóm nước: các nước phát triển (tại Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc); và các nước trong khu vực Đông Nam Á, gần gũi nhất như Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, đặc biệt là Lào

Với khoảng 2.337,459km đường biên giới chung (trong đó đường biên giới trên bộ là 2.026,667km, đường biên giới trên sông, suối là 310,792km),

địa thế “núi tựa núi”, “lưng tựa lưng” đã tạo nên mối quan hệ láng giềng

thân thiện lâu đời giữa hai nước Việt Nam - Lào Trong lịch sử, Lào là mảnh đất thuận lợi cho người Việt đến sinh sống Bước sang thế kỷ XXI, người

Việt Nam di cư sang Lào phần lớn là vì mục đích kinh tế Theo Báo cáo Điều tra - Khảo sát lực lượng lao động Lào năm 2017 của Cục Thống kê Quốc gia

Lào (2018), hiện có 80.000 người Việt Nam sinh sống tại Lào [33, tr.51], trong đó có khoảng 13.000 lao động di cư người Việt Nam tại Lào, phục vụ

Trang 12

trong nhiều ngành, từ thủy điện, xây dựng, lâm sản, đến đồn điền cao su, khai khoáng… [39, tr.3]

Luangnamtha (Tiếng Lào: ຫລວງນ ້ຳທຳ, nghĩa là "Xứ sở cọ đường" hoặc

"Xứ sở sông xanh") là một tỉnh nằm ở phía bắc quốc gia Lào, có biên giới với

Vân Nam - Trung Quốc ở phía bắc, bang Shan - Myanmar về phía tây bắc, giáp các tỉnh Oudomxay về phía đông và tỉnh Bokeo về đông nam, phía tây nam Tỉnh có diện tích 9.325 km2, bao gồm 05 huyện (Muang): Luangnamtha, Nalae, Viengphoukha, Sing và Long, được chia thành 367 bản với khoảng 34 nghìn hộ gia đình [37, tr.11] Những năm qua, Luangnamtha đã có sự chuyển mình mạnh mẽ với những chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài với các khu kinh tế, đặc khu kinh tế như đặc khu kinh tế Boten, chiến lược phát triển kinh tế công nghiệp, du lịch, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng với các khu đô thị hiện đại đang được xây dựng, đã thu hút một lượng lớn lao động di cư người nước ngoài, trong đó có di cư Việt Nam đến làm ăn sinh sống tại thị trấn Luangnamtha - trung tâm của huyện cũng như của tỉnh Theo thống kê của Phòng Lao động và Phúc lợi xã hội huyện Luangnamtha, tổng số lao động người nước ngoài có thẻ lao động trong thị trấn Luangnamtha trong giai đoạn từ năm 2015 - 2019 là 3.085 lượt người, trong đó, lao động người Việt Nam là 671 lượt người, chiếm gần một phần tư (¼) tổng số lao động nước ngoài có thẻ lao động trong thị trấn [22, tr.1]

Đối với người lao động Việt Nam di cư đến làm ăn sinh sống tại thị trấn Luangnamtha, họ phải thích nghi với sự khác biệt về môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa tín ngưỡng, cũng như những tác động của chính sách quản lý đối với người nước ngoài di cư của chính quyền sở tại Điều này không những tác động tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội tộc người, mà còn tác động đến các mối quan hệ quốc tế, hợp tác phát triển giữa Việt Nam với nước bạn Lào

Trang 13

Có thể nói, vấn đề di cư và sinh kế của người lao động di cư đang là vấn

đề có ý nghĩa xã hội và thực tiễn to lớn, cần được quan tâm nghiên cứu, nhằm làm rõ thực trạng và những tác động của nó đối với cả nơi xuất cư và nhập cư; trên cơ sở đó gợi ý giải pháp khả thi cho công tác quản lý đối với vấn đề di cư

tự do, hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực của di cư; cải thiện sinh kế cho người lao động di cư, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đoàn kết và hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia, dân tộc trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

Từ góc độ nhân học, việc nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung, sinh kế của người lao động di cư Việt Nam nói riêng, nhằm nhận diện vấn đề một cách tổng thể từ lịch sử di dân và định cư cho đến nguồn lực sinh kế, hoạt động kinh tế, biến đổi trong sinh kế và vai trò của họ trong mối bang giao Việt Nam – Lào trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Nó góp phần nâng cao nhận thức về cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại Lào, giúp nhân dân hai nước hiểu biết về văn hóa, lối sống của nhau, thông qua đó, vun đắp cho mối tình hữu nghị Việt Nam – Lào ngày càng bền vững hơn

Xuất phát từ những nhận thức trên, tôi đã lựa chọn đề tài “ inh kế của lao động di cư người iệt Nam tại thị trấn Luangnamtha, t nh Luangnamtha, nước D ND Lào” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Các nghiên cứu về di dân và di dân người Việt tại Lào

Việc nghiên cứu vấn đề di cư cũng như về đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng người Việt ở nước ngoài từ lâu đã nhận được sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước ở nhiều ngành khoa học: kinh tế học lao động, nhân học, quốc tế học, khu vực học, quan hệ quốc tế Tuy nhiên, mỗi khoa

Trang 14

học tiếp cận và giải quyết vấn đề di cư quốc tế theo quan điểm chuyên ngành

và tuỳ thuộc vào bối cảnh của từng quốc gia, hay phạm vi quốc tế

Dưới góc độ nhân học, tác giả đã thực hiện tìm hiểu và thống kê các công trình nghiên cứu về về di dân và di dân người Việt tại Lào Kết quả cho thấy, hệ thống các công trình về sinh kế của lao động di cư người Việt Nam tại nước ngoài, trong đó có Lào, có thể được chia thành các nhóm như: các công trình nghiên cứu về lý thuyết di cư, sinh kế bền vững; các công trình nghiên cứu liên quan đến sinh kế của người lao động di cư Việt Nam; các công trình nghiên cứu liên quan đến sinh kế của lao động di cư người Việt tại Lào Trong đó, sinh kế của lao động di cư người Việt Nam tại Lào mới chỉ được đề cập đến như là một khía cạnh trong các công trình nghiên cứu về quá trình di dân, định cư của người Việt tại Lào và những biến đổi trong đời sống

cộng đồng người Việt tại Lào như: Trần Trọng Đăng Đàn (1997), Người Việt Nam ở nước ngoài, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Trần Đình Lưu (2004), Việt kiều Lào – Thái với quê hương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Promana – Thawatchai (2007), Việc di cư của người Việt Nam đến định cư tại thị xã Savannakhet từ năm 1893-1945, in trong cuốn “Việt Nam: đất nước con người và văn hóa”, Istitute of Asia Pacific Studies, Srinakharinwirot

University xuất bản; Nguyễn Hào Hùng (2007), Tài liệu lưu trữ thời kỳ thuộc

địa Pháp liên quan đến đề tài – Cộng đồng người Việt ở Lào, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007, tr.71-78; Vũ Thị Vân Anh (2007), Nguyên nhân

và các đợt di dân của người Việt đến Lào, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,

số (2), tr.37-43; Nguyễn Duy Thiệu, Amthilo Latthanhot (2007), Bước đầu tìm hiểu luật pháp và chính sách của Chính phủ Lào đối với người nước ngoài

và người Việt Nam tại Lào, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007, tr.63-71; Phạm Đức Thành (2007), Vai trò kinh tế của người Việt tại Lào, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2007, tr.19-26…

Trang 15

Đặc biệt, cần phải kể đến công trình “Di cư và chuyển đổi lối sống: Trường hợp Cộng đồng người Việt ở Lào” do tác giả Nguyễn Duy Thiệu chủ

biên (2008), Nxb Thế giới Công trình này đã chỉ ra sáu (06) vấn đề chính trong di cư và chuyển đổi lối sống trong cộng đồng người Việt ở Lào là: Nguyên nhân và các đợt di dư chính của người Việt đến Lào; những chuyển đổi trong phương thức kiếm sống và trong đời sống vật chất của cộng đồng người Việt tại Lào; những chuyển đổi trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt tại Lào; chuyển đổi bản sắc văn hóa trong nhóm hôn nhân chồng Lào vợ Việt; nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao thoa văn hóa Việt – Lào; bước đầu tìm hiểu luật pháp và chính sách của Chính phủ Lào đối với người nước ngoài và người Việt Nam tại Lào Đây là những nội dung vô cùng quý báu giúp tác giả xác định được những vấn đề cần tập trung nghiên cứu khi thực hiện đề tài

Nhìn vào tổng thể tư liệu mà tác giả có điều kiện tiếp xúc và khai thác cho thấy, những nghiên cứu chuyên sâu về sinh kế (nghề nghiệp, phương thức kiếm sống) và những chuyển đổi trong đời sống vật chất của cộng đồng lao động di cư người Việt tại Lào chưa nhiều Không thể phủ nhận rằng, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp khá chi tiết đầy đủ về những khía cạnh khác nhau xung quanh vấn đề di cư, đời sống kinh tế - xã hội, chuyển đổi trong phương thức kiếm sống và trong đời sống vật chất của lao động di cư người Việt Nam tại Lào và sự hội nhập của họ tại Lào, là những nguồn tư liệu quý báu giúp tôi có thể bổ sung, hoàn thiện luận văn của mình một cách tốt nhất Tuy nhiên, về vấn đề sinh kế và giải pháp cải thiện sinh kế của lao động di cư người Việt Nam tại Lào vẫn còn là mảng đề tài đòi hỏi những đầu tư nghiên cứu hoàn chỉnh trong thời gian tới

Trên cơ sở kế thừa kết quả của những công trình đi trước, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về lịch sử di cư của lao động người Việt Nam dưới góc độ

Trang 16

nhân học tại một địa điểm cụ thể là: thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha Tác giả sẽ tập trung tìm hiểu đặc điểm của những người lao động; những chuyển đổi trong phương thức kiếm sống, đời sống vật chất cũng như những nguồn lực tác động đến sinh kế của họ tại đây nhằm bổ khuyết cho những nghiên cứu đã có về cộng đồng người Việt tại Lào nói chung và nghiên cứu

về sinh kế của lao động di cư người Việt Nam tại Lào nói riêng Đồng thời, chỉ ra những khó khăn, thách thức mà lao động di cư người Việt Nam tại Lào phải đối mặt khi muốn tại dựng và phát triển sinh kế Trên cơ sở đó, luận văn

sẽ cung cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch địch chính sách có những giải pháp cụ thể nhằm tạo cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần cho cộng đồng người Việt Nam di cư tại Lào, giúp đỡ họ ổn định cuộc sống và định cư; giảm thiểu tới mức thấp nhất sự bất ổn về an ninh trật

tự, xung đột có thể xảy ra giữa dân di cư và dân bản địa; từ đó, góp phần giúp quan hệ giữa Việt Nam và Lào ngày càng tốt đẹp và bền chặt hơn

2.2 Một số khái niệm và lý thuyết

Những khái niệm chính được sử dụng trong luận văn có mối liên hệ logic và hệ thống, để tập trung vào nội dung nghiên cứu sinh kế của lao động

di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha, nước CHDCND Lào, cụ thể:

- Di dân (Migration):

Di dân (sự di cư của con người) có thể hiểu là sự chuyển dịch của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác trong thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Nói cách khác, di dân là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất định

Trang 17

Năm 1958, Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa về di cư như sau: “Di cư

là một sự di chuyển từ một đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc là một sự di chuyển với khoảng cách tối thiếu quy định Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di dân xác định và được đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên” [5, tr.15]

- Sinh kế (Livelihood):

Khái niệm về sinh kế thường xuyên được sử dụng và trích dẫn trong các nghiên cứu đều dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers R and Conway G.R (1992), trong đó, sinh kế, theo cách hiểu đơn giản nhất, là phương tiện

để kiếm sống Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers R and Conway G.R

về sinh kế là: “sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện kiếm sống của con người” [26, tr.6]

Dựa trên khái niệm của Chambers R and Conway G.R., Scoones I

(1998) đã định nghĩa sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” [34, tr.5]

Năm 2001, Cơ quan phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID) đưa ra khái niệm về sinh kế để hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, theo

đó, sinh kế “bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người” [28, tr.5] Khái niệm này về cơ bản tương

đồng với khái niệm sinh kế của Chambers R and Conway G.R (1992) và Scoones I (1998)

Như vậy, sinh kế có nghĩa là nghề nghiệp hoặc việc làm và cũng có nghĩa là con đường để kiếm sống Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống

- Khung sinh kế bền vững (DIFD):

Trang 18

Theo Chambers R and Conway G.R (1992), sinh kế chỉ bền vững

(sustainable livelihood) khi nó có thể đương đầu và phục hổi sau những cú

sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn [25, tr.21] Dựa trên nền tảng nghiên cứu điển hình của Chambers R and Conway G.R., đã có rất nhiều sự điều chỉnh cho khái niệm sinh kế bền vững Tựu chung lại, sinh

kế bền vững có thể hiểu là sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên

Khung sinh kế bền vững DFID là một công cụ trực quan hoá được DFID xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ XX nhằm tìm hiểu các loại hình sinh

kế Mục đích là giúp người sử dụng nắm được những khía cạnh khác nhau của các loại hình sinh kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề khó khăn hay những yếu tố tạo cơ hội Khung sinh kế bền vững đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế đó là: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế; (iii) kết quả sinh kế; (iv) các quy trình về thể chế và chính sách;

và (v) bối cảnh bên ngoài [25, tr.24] Sinh kế chịu sự tác động của mấy vấn đề chính, đặc biệt là các nguồn lực và môi trường chính sách

3 Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu của luận văn là tìm hiểu các sinh kế chính của lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha nói riêng, tại Lào nói chung; các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của lao động di cư người Việt Nam như các nguồn lực, chính sách của Chính phủ Lào cũng như Chính quyền địa phương về quản lý và hỗ trợ đối với lao động di cư người Việt Nam

Trang 19

tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha Từ đó, luận văn muốn chỉ ra những thuận lợi, thách thức trong tạo dựng phát triển sinh kế của lao động di

cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha và đề xuất một số giải pháp cải thiện sinh kế phù hợp với cộng đồng người này

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu này, Luận văn đã thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Phác dựng lịch sử di cư, đặc điểm cộng đồng lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha

- Phân tích sự bảo lưu phương thức kiếm sống truyền thống và phát triển phương thức kiếm sống mới của lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha

- Làm rõ đời sống kinh tế, đời sống vật chất của lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha và những vấn đề phát sinh

- Chỉ ra được các nguồn lực/yếu tố tác động đến sinh kế của lao động di

cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha

- Hệ thống hóa chính sách của Chính phủ Lào và chính quyền địa phương Luangnamtha đối với lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha cũng như chính sách của Chính phủ Việt Nam đối với lao động Việt Nam di cư tại Lào

- Chỉ ra những thuận lợi cũng như thách thức, khó khăn cho lao động di

cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha trong tạo dựng và phát triển sinh

kế tại nơi đây

- Đề xuất các giải pháp thích hợp để cải thiện sinh kế của lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha

Trang 20

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Sinh kế của lao động người Việt Nam đang làm ăn, sinh sống tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha, nước CHDCND Lào

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha

- Về thời gian: Giai đoạn 5 năm trở lại đây (từ năm 2015 đến 2019)

nhưng có sự liên hệ với thời gian trước đó

5 Nguồn tài liệu của luận văn

Để hoàn thành luận văn, tôi dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu sau:

- Nguồn tài liệu gốc: Thư tịch cổ, những báo cáo, văn bản hành chính của Pháp lưu trữ tại các Phòng lưu trữ tài liệu của Pháp ở Đông Dương; những văn bản, Nghị định, chính sách chính thức của Đảng và Nhà nước, của

Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài; một số văn bản chính sách của phía CHDCND Lào đối với cộng đồng người Việt Nam trên lãnh thổ nước này; các thiết chế, quy định của cộng đồng người Việt ở Lào

- Nguồn tài liệu tham khảo: Bao gồm các cuốn sách, các bài viết đã công

bố trên các tạp chí, công trình đề tài nghiên cứu về người Việt Nam ở Lào đã được xuất bản; các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về cộng đồng người Việt Nam trên các lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, nhân học; các công trình khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các báo cáo trong các hội thảo, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành; các cuốn hồi ký, nhật ký, ghi chép (được xuất bản hoặc chép tay) của các thế hệ người Việt Nam đã và đang sinh sống ở Lào; các bài báo điện tử, các website có liên quan đến đề tài

Trang 21

- Tài liệu điền dã: Tác giả đã thực hiện một số chuyến điền dã tại các khu vực có đông lao động người Việt Nam làm ăn, sinh sống tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha Kết quả của những chuyến đi này, thông qua qua những câu chuyện, buổi phỏng vấn, điều tra bằng bảng hỏi đã cung cấp tài liệu quan trọng nhất về thực trạng đời sống kinh tế, đời sống vật chất của cộng đồng lao động người Việt Nam tại đây, phác họa rõ nét nhất từ chính những người trong cuộc về sự hội nhập, chuyển đổi trong phương thức sinh kế và thực trạng đời sống vật chất của lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được triển khai trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác -

Lê nin, quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, của Đảng và Nhà nước Lào đối với ngoại kiều, người nước ngoài, người Việt Nam tại Lào

Để giải quyết những nhiệm vụ do đề tài luận văn đặt ra, chúng tôi dựa vào các phương pháp chủ yếu là:

(1) Điền dã dân tộc học/nhân học:

Đây là phương pháp đặc thù của nhân học; là quá trình nhà nghiên cứu phải hòa nhập vào cộng đồng đó, để làm cách nào xóa mờ một cách tối đa khoảng cách giữa nhà nghiên cứu và cộng đồng nghiên cứu Lý tưởng nhất là khiến họ chấp nhận như mình là một thành viên của cộng đồng Đề làm được điều này bản thân tôi sẽ phải cùng ăn, cùng ở và cùng làm với cộng đồng, tham gia càng nhiều, càng tốt vào cuộc sống của người dân Tuy nhiên, với khoảng thời gian không nhiều, việc khiến họ chấp nhận tôi như một thành viên của cộng đồng là một thách thức không hề đơn giản Tuy nhiên, tôi có thể cố gắng chiếm thiện cảm và tạo dựng lòng tin ở một mức độ mà họ có thể tâm sự một cách thoải mái nhất có thể Vì nhiều khi chính những người không

Trang 22

quá thân thiết như tôi lại là những người có mà họ có thể dễ dàng bộc lộ những suy nghĩ mà bình thường không dám nói ra cho những người biết quá

Qua số liệu thu thập được từ bảng hỏi tôi sẽ chọn ra được các đối tượng thông tin viên tiềm năng có thể cung cấp cho tôi những thông tin quan trọng cho nghiên cứu của mình để tiến hành phỏng vấn sâu

Trên cơ sở kế hoạch nghiên cứu, tôi đã thực hiện một số chuyến điền

dã đến thị trấn Luangnamtha để nghiên cứu, xem xét, khảo sát đời sống sinh kế của lao động người Việt Nam tại đây với lịch cụ thể như sau:

- Tháng 9/2019, tôi đã liên hệ với Văn phòng Chính quyền huyện Luangnamtha, Phòng Lao động và Phúc lợi xã hội huyện Luangnamtha để thu thập được những thông tin ban đầu về địa bàn nghiên cứu, các báo cáo thống

kê về số lượng của lao động nước ngoài có thẻ lao động (trong đó có lao động người Việt Nam) tại địa bàn nghiên cứu Kết quả cho thấy, số lượng người lao động Việt Nam di cư tại thị trấn Luangnamtha khá đông, chiếm khoảng 21,75% tổng số lao động người nước ngoài có thẻ lao động tại đây và sẽ còn tăng mạnh cùng với sự phát triển kinh tế công nghiệp, dịch vụ nơi đây cũng

Trang 23

như sự mở rộng hoạt động của đặc khu kinh tế Boten Những thông tin ban đầu này chính là cơ sở ban đầu cho việc nghiên cứu đề tài và xây dựng đề cương nghiên cứu

- Tháng 12/2019, tôi đã trở lại nơi đây, liên hệ với các cơ quan hữu quan như Phòng Lao động và Phúc lợi xã hội huyện Luangnamtha; Ban chỉ huy an ninh huyện Luangnamtha; Phòng Đăng ký gia đình huyện Luangnamtha và đã thu thập được những thông tin cụ thể hơn về cơ cấu lao động về giới tính, độ tuổi, nguồn gốc xuất cư; nghề nghiệp trước khi sang Lào, nghề nghiệp hiện tại… của cộng đồng người lao động Việt Nam đang làm ăn, sinh sống tại thị trấn Những số liệu này cho thấy sự chuyển biến về hoạt động sinh kế của người lao động di cư Việt Nam trong hoàn cảnh mới

- Tháng 01/2020, tôi tiếp tục về thị trấn Luangnamtha, nhờ sự trợ giúp của Bản trưởng, Già làng, tôi đã đi sâu vào các khu vực có đông người lao động Việt Nam sinh sống, thực hiện điều tra bằng bảng hỏi để tiến hành thu thập thông tin về nghề nghiệp, mức thu nhập trung bình/tháng, mức sống, các khoản chi tiêu chủ yếu, lý do lựa chọn ngành nghề mới hay tiếp tục ngành nghề truyền thống, những thuận lợi, vướng mắc khi thực hiện các nghề nghiệp này của những lao động di cư người Việt Nam tại nơi đây

- Tháng 3/2020, trên cơ sở xử lý những dữ liệu đã thu thập được, tôi đã xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn và tiếp tục quay trở lại đây, thực hiện phỏng vấn sâu một số trường hợp thông tin viên tiềm năng về nguyên nhân di

cư đến thị trấn Luangnamtha, nghề nghiệp cũ, nghề nghiệp hiện tại, lý do lựa chọn nghề nghiệp, thu nhập, mức sống, các yếu tố tác động đến nghề nghiệp của họ cũng như mong muốn của họ trong việc phát triển sinh kế tại đây Trong số những người được phỏng vấn, có những người lao động đã sang làm việc lâu dài tại đây và những người mới sang làm việc trong thời gian chưa lâu, với các ngành nghề đa dạng khác nhau Việc thực hiện phỏng vấn chuyên

Trang 24

sâu này để thấy được hiện trạng, các yếu tố tác động đến sinh kế của người lao động Việt Nam tại đây (các nguồn lực, chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương) cũng như mong muốn của họ trong vấn đề sinh kế

- Tháng 5/2020, đây là lần cuối cùng tôi đến địa bàn nghiên cứu để bổ sung tư liệu và chỉnh sửa, hoàn thiện luận văn

(3) Thu thập tài liệu thứ cấp:

Bao gồm các bài báo cáo, các luận văn, luận án, các bài nghiên cứu, đặc biệt là các bài nghiên cứu về người Việt Nam di cư tự do sang Lào và sự hội nhập đời sống của người Việt Nam di cư tự do ở Lào (đặc biệt là công trình

“Di cư và chuyển đổi lối sống: Trường hợp Cộng đồng người Việt ở Lào” do

tác giả Nguyễn Duy Thiệu chủ biên năm 2008) làm cơ sở khoa học và rút kinh nghiệm cho bản thân để hoàn thiện đề tài của mình một cách tốt nhất Cùng với đó, chúng tôi còn kết hợp thêm phương pháp lịch sử và phương pháp logic, nhằm phục dựng một cách khách quan và toàn diện về sự hình thành, quá trình phát triển và một số nhận xét về cộng đồng người Việt ở Lào Ngoài ra, để hoàn thành luận văn, chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành khác như: Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích đối chiếu, so sánh,…

7 Đóng góp của luận văn

Với đề tài “ inh kế của lao động di cư người iệt Nam tại thị trấn Luangnamtha, t nh Luangnamtha, nước D ND Lào”, tôi hy vọng kết quả

của Luận văn này sẽ góp phần cung cấp tư liệu một cách có hệ thống về hiện trạng đời sống thực tế về đời sống kinh tế (phương thức kiếm sống, thu nhập, tiêu dùng); các nguồn lực tác động đến sinh kế của lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha; chính sách của Nhà nước và Chính quyền địa phương đối với lao động người Việt Nam tại đây; từ đó, giúp cho mọi người, đặc biệt là hai Chính phủ Việt Nam và Lào hiểu rõ hơn về các vấn đề liên

Trang 25

quan đến người lao động Việt Nam di cư tại Lào, để có thái độ ứng xử hoặc

có các chính sách thích hợp đối với cộng đồng người này

Cùng với đó, những kết quả nghiên cứu của Luận văn về sự di cư và chuyển đổi trong phương thức sinh kế và đời sống vật chất của cộng đồng lao động di cư người Việt Nam tại thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha đã phác họa một cách tổng quát những vấn đề nảy sinh trong quá trình tạo dựng, phát triển sinh kế và hội nhập đời sống kinh tế của lao động người Việt Nam tại đây, là cơ sở để hoạch định chính sách, quản lý nhà nước đối với lao động

di cư người Việt Nam tại Lào, hạn chế tới mức thấp nhất xung đột có thể xảy

ra, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc Việt Nam, các bộ tộc Lào, tăng cường giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc

Kết quả luận văn còn góp phần nâng cao nhận thức về cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại Lào, giúp nhân dân hai nước hiểu biết về đời sống kinh tế, văn hóa, lối sống của nhau, thông qua đó, vun đắp cho mối tình hữu nghị Việt Nam – Lào ngày càng bền vững hơn

Ngoài ra, công trình này là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan hữu quan, các học giả và những người quan tâm đến vấn đề cộng đồng người Việt Nam ở Lào

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 04 chương sau:

hương 1: Tổng quan về địa bàn và cộng đồng nghiên cứu;

hương 2: ác hoạt động sinh kế;

hương 3: Các yếu tố tác động đến sinh kế;

hương 4: Những thuận lợi, khó khăn và một số giải pháp cho người lao động Việt Nam di cư

Trang 26

HƯƠNG 1: TỔNG QU N VỀ Đ BÀN VÀ ỘNG

ĐỒNG NGHIÊN ỨU

1.1 hái quát lịch sử di cư của người Việt sang ào

Với khoảng 2.337,459km đường biên giới, địa thế núi tựa núi, lưng tựa lưng, lại có những điểm tương đồng nhất định về văn hóa, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, do vậy, từ ngàn đời nay nhân dân các dân tộc của Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào đã qua lại giao lưu, làm ăn, buôn bán, thậm chí định cư tại nước bạn Lược lại lịch sử di cư của người dân đất Việt sang Lào cho thấy, có hai nguyên nhân chính dẫn tới việc người Việt Nam di

cư sang làm ăn, sinh sống tại đất bạn là: (1) Chiến tranh và các yếu tố chính trị; (2) Lý do kinh tế

Việc lược sử quá trình di cư này cũng cho thấy, quá trình di dân của của người Việt đã diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước với nhiều đợt di cư lẻ khác nhau, nhưng chỉ có một số đợt thiên di theo số đông,

trước hết có lẽ đó là các đợt thiên di để tránh “bình Tây sát đạo” dưới thời vua

Tự Đức (1823-1883), tiếp đến là các đợt thiên di dưới thời Vua Hàm Nghi

(1870-1947) khi phong trào “Cần ương” của vị vua này thất bại, nhằm tránh

thực dân Pháp đàn áp mà một bộ phận quân khởi nghĩa đã chạy sang Lào; và cuối cùng có thể kể tối các đợt thiên di do người Pháp đứng ra tổ chức khai thác thuộc địa ở Đông Dương từ 1893 tới 1945 Đây có thể coi là giai đoạn đầu tiên bắt đầu quá trình di dân lâu dài tạo thành các cộng đồng người Việt tại Lào Còn lại các đợt thiên di khác chỉ diễn ra theo những nhóm nhỏ, lẻ tẻ, trong thời gian rất lâu dài, mà lý do chính của các đợt thiên di chủ yếu là do Việt Nam đất hẹp người đông, nông dân thiếu đất canh tác lại thường xuyên đối phó với thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh và sưu cao thuế nặng của các chính quyền cai trị nên họ tới Lào nơi đất rộng người thưa để tìm kế sinh

Trang 27

nhai Lược sử quá trình di cư của người Việt, có thể chia thành 04 đợt di cư chính là: (1) Thời kỳ phong kiến Nhà Nguyễn; (2) Thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp; (3) Thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; (4) Thời kỳ sau năm 1975 đến nay

1.1.1 Thời kỳ phong kiến Nhà Nguyễn

Mặc dù đợt thiên di đông của người Việt thời phong kiến nổi bật nhất vào là thời kỳ nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, nhưng không thể phủ nhận rằng, từ thời xa xưa, người Việt đã di cư lẻ tẻ tới Lào Theo thư tịch cổ ghi chép đầu tiên về quan hệ Việt – Lào là từ năm 550 dưới thời nước Vạn Xuân của nhà Tiền Lý Khi đấy, bị quân Lương đàn áp,

Lý Nam Đế buộc phải lánh nạn và anh ruột của Vua là Lý Thiên Bảo đã chạy sang Lào lập căn cứ chống giặc ngoại xâm [19, tr.49] Tiếp đó, trong suốt thời

kỳ phong kiến, người Việt thiên di tới Lào trong một thời gian lâu dài mặc dù chủ yếu là các đợt thiên di lẻ tẻ

Trong thời kỳ phong kiến Nhà Nguyễn, người dân Việt đã di cư ồ ạt tới Lào là do bối cảnh lịch sử giai đoạn này với nhiều nguyên nhân từ chính trị, tôn giáo đến điều kiện sinh kế khiến người dân đất Việt phải ròi bỏ quê hương

để di cư sang Lào tìm kế sinh nhai

Thứ nhất, về tôn giáo, giai đoạn đầu của triều Nguyễn, vua Gia Long không cấm đạo để “trả ơn” do Pháp đã giúp đỡ trong quá trình lên nắm

quyền Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các giáo sĩ Pháp, hàng loạt các

Dụ cấm đạo được ban hành, bắt đầu từ Dụ cấm đạo thứ nhất của vua Minh

Mạng vào tháng 2/1825, và đỉnh điểm hà khắc nhất vào thời vua Tự Đức

(1823-1883) Các Dụ cấm đạo Thiên Chúa ban hành vào các năm 1848, 1851

và 1857 đã làm phát động phong trào cấm và giết đạo trên cả nước khiến nhiều linh mục bị sát hại, nhiều nhà thờ và các xóm đạo bị đốt phá… Dưới chính sách tàn bạo này, nhiều người Công giáo đã buộc phải bỏ xóm, bỏ làng

Trang 28

ra đi để giữ đạo Họ chủ yếu là từ các làng đạo miền Bắc và Trung Bộ chạy sang các nước láng giềng như Lào và Thái Lan Bởi lẽ ở xứ hoa Chămpa này các đạo và tôn giáo khác nhau không có nhiều sự hiềm khích và ngăn cách, mọi người được hành lễ và theo đuổi đức tin của mình một cách tự nguyện, tự

do và ít bị sức ép cũng như ràng buộc mang tính lễ nghĩa hình thức Những người Việt Nam chạy nạn tới đây, tạo nên các cộng đồng đi đạo Điển hình là

ở Trung và Nam Lào với các nhà thờ ở Thakhek – Khammouane, thị xã Savannakhet, Pakxe -Champasack

Thứ hai, về chính trị, thời kỳ này, hàng loạt cuộc nổi dậy chống triều

đình và các cuộc khởi nghĩa của nông dân cũng như các cuộc khởi nghĩa

chống Pháp nổ ra khắp nơi, tiêu biểu là phong trào “Cần ương” bắt đầu từ

năm 1885, kéo dài được trên 10 năm đến năm 1896 thì bị thực dân Pháp đàn

áp dập tắt Cuộc khởi nghĩa thất bại khiến vua Hàm Nghi bị bắt nên một số người trong nhóm ủng hộ theo vua Hàm Nghi chống Pháp trong phong trào

“Cần ương” đã phải chạy sang Lào tránh nạn để tránh sự tàn sát Các cuộc

lánh nạn diễn ra khắp nơi Tại Bắc Kỳ, nghĩa quân của Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Tí… sau nhiều năm chiến đấu ngoan cường thì bộ phận chạy sang Trung Quốc, bộ phận chạy sang Lào Tại Nam Kỳ, các nghĩa quân trước kia theo Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân… chống Pháp từ hồi năm 1860 đến 1880 về sau đã chạy xuyên rừng trốn qua Hạ Lào Từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh… một số nghĩa quân của Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Cầm Bá Thước… sau 10 năm kháng chiến kiên cường cũng đã rút qua Lào Những người Việt sang lánh nạn tại Lào đầu tiên tập trung sinh sống ở khu vực Xieng Wang (tiếng Việt: Xiềng Vang) tỉnh Khammouane của Lào

Thứ ba, về kinh tế - xã hội, trong thời kỳ này, dù đã có những biện pháp

ngăn ngừa và khắc phục thiên tai nhưng cũng không ngăn nổi tình trạng hạn

Trang 29

hán, lụt lội hầu như năm nào cũng xảy ra, nhất là khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Trung Bộ Đặc biệt, nạn đê vỡ lụt lội liên tiếp xảy ra thời vua Tự Đức, ví dụ đê sông Hồng ở Khoái Châu (Hải Hưng) bị vỡ liên tiếp 10 năm liền, biến cả một vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ thành bãi lầy hoang vắng, nông dân đói khổ phải bỏ làng đi khắp nơi Những tai họa liên tiếp xảy

ra đã làm bần cùng hóa người nông dân và khiến cuộc sống của họ trở nên khốn khó Không chỉ thiên tai, mất mùa, bệnh dịch cũng hoành hành dữ dội ở nhiều tỉnh trong cả nước đặc biệt là bệnh tả, chết nhiều người

Thêm vào đó, chính sách tô thuế của triều Nguyễn rất nặng nề, không những nộp thuế đất, thuế thân đánh vào dân đinh cũng rất cao Triều Nguyễn thu 1 quan tiền tương đương với 14 xu một suất đinh Đến thời thực dân Pháp, người Bắc Kỳ còn phải đóng 50 xu còn người Trung Kỳ là 30 xu, sau đó thuế đinh còn tăng lên 2 đồng rưỡi đối với Bắc Kỳ và 2 đồng đối với Trung Kỳ tương đương với 1 tạ gạo thời giá bấy giờ Ngoài ra, chế độ lao dịch thời Nguyễn rất lạc hậu và hà khắc Hàng năm người dân phải đi làm lao dịch không công cho chính quyền 60 ngày Có những năm số ngày phải đi lao dịch tăng gấp đôi để phục vụ nhu cầu xây dựng các thành lũy, lăng mộ, dinh thự… của vua quan Hàng loạt sưu cao thuế nặng được đặt ra, chế độ tô thuế, lao dịch nặng nề, bệnh dịch, thiên tai thường xuyên xảy ra dẫn đến mất mùa khiến nông dân càng lâm vào tình trạng đói khổ, buộc nhiều người Việt phải chạy sang Lào để tìm kế sinh nhai, tập trung ở miền Trung và Nam Lào

Đây có thể coi là giai đoạn đầu tiên bắt đầu quá trình di dân lâu dài tạo thành các cộng đồng người Việt tại Lào

1.1.2 Thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp

Trong thời kỳ này, số lượng người Việt sang Lào đã tăng lên nhanh chóng do hai nguyên nhân chính: (1) Thực dân Pháp điều động đưa sang và

Trang 30

(2) Di dân tự phát Nhiều dòng người Việt Nam di cư đã đổ sang Lào, tập trung ở các tỉnh miền Trung và Nam Lào

Thứ nhất, di dân do thực dân Pháp điều động và đưa sang:

Trong một thời kỳ dài từ 1858 đến năm 1896, Thực dân Pháp tiến hành xâm lược và bình định Đông Dương Từ năm 1899, nước Lào – xứ Ai Lao bị thực dân Pháp sáp nhập vào Liên Bang Đông Dương Lào vốn là nơi đất rộng, người thưa, núi và cao nguyên chiếm phần lớn diện tích của đất nước, nhưng

do nhân lực tại chỗ quá thiếu, mãi sau chiến tranh thế giới thứ nhất 1918), Pháp mới bắt đầu tổ chức khai thác xứ Lào với phương hướng sử dụng nhân lực của các xứ khác trong Đông Dương thuộc Pháp Chính quyền thực dân đã trưng tập, tuyển mộ phu xây dựng ở các công trường giao thông, phu đồn điền, hầm mỏ từ Việt Nam đến Lào ngày càng đông Đồng thời, để phục

(1911-vụ quá trình đẩy mạnh khai thác thuộc địa ở Lào, thực dân Pháp cũng đã đưa nhiều người Việt sang làm công chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa ở Lào Trong cơ chế chính quyền thuộc địa thì cao nhất là người Pháp còn dưới

đó hầu hết là người Việt Đến năm 1937, người Việt vẫn chiếm đến 47% số vị trí công chức cao cấp người bản xứ trong bộ máy chính quyền thuộc địa tại Lào (ngoại trừ Luang Prabang)

Thứ hai, di dân tự phát:

Sang thập niên thứ hai của thế kỷ trước (1920), khi hoàn tất ba con đường xa lộ vượt Trường Sơn nối Lào và Việt Nam thì việc di cư sang Lào dễ dàng hơn, cùng với đó là cơ hội có công ăn việc làm của người Việt và sự thuận tiện trong việc đi lại khi thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa xứ Lào là những nhân tố quan trọng tạo ra những luồng di cư đông đảo của người Việt sang Lào trong thời Pháp thuộc của những người thợ thủ công, công nhân nông nghiệp, nhà buôn đã tự phát rời khỏi làng bỏ sang lập nghiệp tại Lào Hơn nữa, thời kỳ những năm 1931-1932, lúc bấy giờ Việt

Trang 31

Nam đang bị Pháp khủng bố trắng, người Việt hoạt động chống Pháp trốn sang Lào tản mát trong các bản, mường Lào dựa vào sự che dấu, đùm bọc, nuôi nấng của nhân dân các bộ tộc Lào rất đông, số bị Pháp truy lùng cuối cùng bị bắt giữ tại Lào cũng không ít Những năm 1931-1932, số tù nhân người Việt trong những nhà tù của Pháp ở Lào đông hơn rất nhiều so với tù nhân là người Lào Đến những năm 1941 đến tháng 3 năm 1945, Pháp – Nhật thỏa hiệp cai trị liên bang Đông Dương, số dân nghèo ở Việt Nam tiếp tục tìm đến Lào để kiếm sống ngày càng nhiều [4, tr.33-39]

Xuất phát từ các lý do trên, khiến cho số lượng người Việt di cư sang Lào trong giai đoạn này tăng lên nhanh chóng Vào năm 1910, số lượng người Việt ở Lào chỉ là 4.000 người; năm 1925 thì số lượng người Việt là 14.000 thì đến năm 1932, số lượng người Việt Nam tại Lào đã tăng lên thành 22.600; đến năm 1943, số lượng người Việt ở Lào đã tăng lên 44.500 người Theo nghiên cứu của tác giả E Pietrantoni tại 6 thành phố của Lào: Thủ đô Vientiane (Viêng Chăn), Kinh đô Luang Prabang bấy giờ, Thakhek, Savannakhet, Pakxe, Xieng Khouang, thì vào năm 1943, trong tổng số cư dân 51.150 người có đến 30.300 là người Việt [36] Thậm chí, tại Thakhek, trong tổng 8.000 người dân có đến 80% là người Việt Nam, người Lào chỉ chiếm 10%, người Hoa chiếm 4%, còn lại là các dân tộc khác; tại Savannakhet, trong số 5.500 dân cư nơi đây thì người Việt chiếm tới 72%, người Lào và người Hoa chiếm 10% dân số; tại Viêng Chăn trong tổng 23.000 người dân, thì người Việt chiếm 53%, người Lào chiếm 40%, người Hoa chiếm 4% [36] Trong giai đoạn này, đa số người Việt tại Lào là nhân dân lao động, cuộc sống của họ ở nơi đất khách quê người cũng rất cực khổ với đồng lương ít ỏi

và làm việc trong điều kiện vệ sinh hết sức tồi tệ, bị chính quyền thực dân phân biệt đối xử Vì thế, những người lao động Việt và sau này cả một bộ phận tầng lớp viên chức, binh lính người Việt ở Lào khi được Đảng Cộng sản

Trang 32

Đông Dương giác ngộ, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Ai Lao đã tham gia sôi nổi vào các hoạt động đấu tranh chống Pháp ở Lào Họ đã giữ vai trò quan trọng trong việc giúp nhân dân Lào khởi nghĩa, giành chính quyền khi Nhật đầu hàng Đồng minh vào năm 1945, tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng dân tộc vào năm 1975

Có thể nói, trải qua các giai đoạn di dân đến thời kỳ này, các cộng đồng Việt kiều ở Lào đã dần được hình thành và ổn định và vẫn duy trì được nhiều

bản sắc vốn có của quê nhà Những người Việt này có thể coi là “người Việt cũ” bởi do các lý do chiến tranh, chính trị khiến nhiều người không còn định

cư ở chỗ đầu tiên mà đã di cư sang nơi khác trong phạm vi nước Lào hoặc

sang nước thứ ba, và cũng có nhiều bộ phận người có thể tạm gọi là “người Việt mới” di cư sang Lào trong những thời kỳ gần đây hơn từ thời Lào và Việt

Nam cùng chóng Pháp và chống Mỹ cho đến ngày giải phóng và xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay

1.1.3 Thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Thứ nhất, tại thời kỳ chống thực dân Pháp, dù vẫn có những đợt di cư từ

Việt Nam sang Lào nhưng người Việt tại Lào lại giảm mạnh

Trong thời kỳ này, nhiều người Việt do chiến tranh ở Việt Nam bùng nổ khi Pháp tái chiếm Đông Dương từ tay quân Đồng Minh, phải chạy sang Lào Một số khác sang Lào làm ăn hoặc đi chơi, thăm họ hàng bị mắc kẹt lại do cuộc chiến của Pháp tại Đông Dương

Hơn nữa, việc người Việt sang Lào tăng còn do trong những năm 1948

-1950, lần lượt được cử sang Lào giúp bạn xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng kháng chiến

Tuy nhiên, trong thời kỳ này, các dân thường người Lào và cả người Việt (phần lớn là Việt Kiều) đã bị giết hại Vì vậy, hàng nghìn người Việt ở Lào vượt sông Mê Kông thoát sang Thái Lan để tránh cuộc càn quét trả đũa

Trang 33

của Pháp Tại thời điểm đó, ước đoán có khoảng 50.000 người bỏ Lào sang tỵ nạn trên đất Thái sau khi tướng Marcel Alessandri điều quân đội lên tái lập nền bảo hộ của Pháp Sau này, khoảng 10.000 người sau đó hồi hương nhưng 40.000 vẫn lưu lại đất Thái vì sau đó tân chính phủ của Vương quốc Lào độc lập thay đổi quyền công dân, liệt nhóm người này là ngoại kiều, không phải quốc tịch Lào nên không cho phép họ về đất Lào Số lượng người Việt tại Lào

vì vậy giảm nhiều [3, tr.27]

Thứ hai, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ từ năm 1954-1975:

Phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp, một lần nữa, quân đội hai nước Việt-Lào đoàn kết giúp đỡ nhau quyết tâm kháng chiến chống Mỹ xâm lược Theo yêu cầu của Chính phủ kháng chiến và Mặt trận Neo Lào Ít-xa-la, tháng 8- 1954, Bộ Quốc phòng Việt Nam cử Đoàn 100 cố vấn quân sự sang giúp quân dân Lào đấu tranh vì hòa bình, trung lập và hòa hợp dân tộc (1954-1959) Tiếp đó, những

năm 1960-1968, khi Mỹ thực hiện “Chiến tranh đặc biệt” ở Lào, Bộ Quốc

phòng Việt Nam lần lượt cử các Đoàn: 959, 463, 565 chuyên gia quân sự và các Đoàn: 335, 766, 866, 763, 968 Quân tình nguyện sang giúp bạn xây dựng lực lượng, chiến đấu bảo vệ căn cứ Trung ương và các khu căn cứ, vùng giải phóng của Lào Vào cuối thập niên 1960 tình báo Hoa Kỳ ước định có khoảng 40.000 quân Bắc Việt tại Lào Trong số đó 25.000 điều hành việc xâm nhập vào Nam qua ngả đường mòn Hồ Chí Minh Những năm 1973-1975, theo yêu cầu của cách mạng Lào, một bộ phận Quân tình nguyện Việt Nam ở lại giúp quân và dân Lào bảo vệ vùng giải phóng, chống âm mưu, thủ đoạn phá hoại hiệp định của Mỹ và chính quyền Viêng Chăn cũng như giành chính quyền về tay nhân dân Lào khi thời cơ cách mạng chín muồi, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân

Trang 34

dân 30 năm ở Lào với sự thành lập nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào vào

ngày 02/12/1975

Do bối cảnh lịch sử, trong thời kỳ này, nhiều lực lượng phe phái nổi lên nên cuộc sống của người dân Lào nói chung và bà con Việt kiều ở Lào cũng

có nhiều xáo trộn và ảnh hưởng, không được hưởng cuộc sống yên bình, làm

ăn yên ổn bởi họ phải chạy giặc, tản cư trốn tránh mong tìm con đường sống

1.1.4 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay

Sau năm 1975, cả Lào và Việt Nam hoàn toàn giải phóng, bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng các nước anh em Do lo ngại chính quyền mới, do hoàn cảnh lịch sử hoặc lý do chính trị, một lượng lớn người dân Việt Nam đã tới Lào định cư hoặc tiếp tục đi sang Thái Lan định cư ở đó hoặc ở nước thứ ba, điều này đã khiến lượng người Việt Nam di cư đến Lào tăng mạnh

Từ năm 1977, khoảng 7.000 sinh viên Lào được cử sang Việt Nam học tập, nhiều người trong số này đã kết hôn với người Việt Nam và khi quay về Lào, họ đã mang theo gia đình Việt Nam của họ Điều này cũng tạo nên làn sóng người Việt Nam di cư đến Lào mới

Từ năm 1986, cả Việt Nam và Lào đều bước vào thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế đã tạo ra những động lực nhất định tạo nên những trào lưu di cư mới của người Việt sang Lào ngày một gia tăng Thời kỳ này, người Việt sang Lào chủ yếu vì lý do kinh tế

Trước hết, họ sang theo con đường chính thức, đó là việc các cán bộ, công nhân Việt Nam sang làm việc tại Lào Theo bản báo cáo năm 2016 của Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam sang Lào (AVIL) thì có khoảng 13.000 lao động người Việt tại Lào, phục vụ trong nhiều ngành nghề khác nhau từ thủy điện, xây dựng, lâm sản, đến đồn điền cao su và khai khoáng [12]

Trang 35

Ngoài ra, một lượng lớn người Việt Nam di cư tự do đến Lào để tìm kiếm công ăn việc làm theo mùa vụ, những người thuộc loại này đang ngày một gia tăng cùng với quá trình phát triển kinh tế của Lào đặc biệt là ở những vùng quê nghèo miền Trung Việt Nam, nơi có đường biên giới khá dài tiếp giáp với Lào Những người di cư tự do hầu hết đều không có giấy tờ và chịu nhiều rủi ro trong quá trình di dân như bị trục xuất về nước Điều này được thể hiện phần nào qua lời kể của những người trong cuộc đã từng trải qua: “…

Em quê ở Ngọc Lâm, Quảng Bình… Em sang đây từ năm lên 13 từ những năm 85-86 cơ… ồi đấy do quê mất mùa… với lại gia đình cũng nghèo đói quá nên sang đây… thích thì đi tự do thôi,… chẳng có giấy tờ gì đâu… Đợt đấy nhiều người sang cả gia đình đấy những do không có giấy tờ… Lào họ đuổi về hết, đuổi nhiều người về Việt Nam rồi… hồng em người Việt nhưng

có quốc tịch rồi nên em được ở lại Lào đây…” [19, tr.84-85]

Điều này khiến cho người dân Việt trên đất Lào ngày một tăng cao Dù không có số liệu thống kê chính thức, nhưng theo thông tin từ Dự án Joshua Project, hiện có khoảng 80.000 người Việt sống tại Lào và có đến 117.000 người nói tiếng Việt tại Lào [29] Xuất phát từ các yếu tố lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, hiện nay có 5 trung tâm người Việt tập trung cư trú tại Lào là Pakxe (Champasak), Savannakhet, Thakhek (Khammouane), Viêng Chăn và

cố đô Luang Prabang Trải qua quá trình lịch sử như vậy, cộng đồng người Việt Nam tại Lào đã được hình thành qua nhiều thế hệ, bao gồm phân thành

ba bộ phận: một bộ phận (chiếm số lượng không nhiều) đã trở thành người Lào, mang quốc tịch Lào; một bộ phận được công nhận là Việt Kiều, hưởng quy chế Việt kiều được cư trú và làm ăn sinh sống tại Lào; bộ phận khác bởi nhiều lý do chưa có đầy đủ các quy định để trở thành Việt kiều và những người mới đến Lào làm ăn theo mùa vụ

Trang 36

Kiều bào Việt Nam ở Lào hiện có được một mái nhà chung là Tổng hội Người Việt Nam tại Lào, đặt dưới sự quản lý của Trung ương Mặt trận Lào xây dựng đất nước Những năm qua, cộng đồng người Việt tại Lào luôn phát huy bản chất cần cù, khéo léo vốn có trong sản xuất, đồng thời thúc đẩy hoạt động kinh doanh Ở một số địa phương có đông người Việt, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đạt nhiều kết quả đáng khích lệ Nhiều doanh nghiệp của kiều bào Việt đã trở thành những đơn vị kinh tế chủ lực của một số tỉnh, thành phố, có nhiều hoạt động xã hội giúp địa phương xóa đói, giảm nghèo, được các cấp chính quyền tin cậy và hoan nghênh

1.2 Địa bàn nghiên cứu: Thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha

1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Thị trấn Luangnamtha (tiếng Lào: ) nằm tại thung lũng Luangnamtha, nằm bao quanh trên bờ sông Nam Tha, và ý nghĩa của tên là

"Khu vực (luang) xung quanh các sông Tha (Nam Tha)"

Thị trấn Luangnamtha thuộc Muang (huyện) Luangnamtha - một trong năm muang của tỉnh Luangnamtha Huyện Luangnamtha có diện tích 230.400

ha, miền núi chiếm 75%, nằm phía Đông Bắc của tỉnh Luangnamtha (tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của Lào), phía Bắc giáp với biên giới Trung Quốc; phía đông giáp với tỉnh U Đôm Xay; phía Tây giáp với hai Muang của tỉnh là Muang Sing và Muang Long; phía; phía Nam giáp với hai Muang của tỉnh là Muang Viengphoukha và Muang Na Le [22]

Trang 37

Hình 1.1 Vị trí địa lý của thị trấn Luangnamtha, tỉnh Luangnamtha

(Nguồn: ăn phòng hính quyền huyện Luangnamtha, t nh Luangnamtha)

Về khí hậu, nhìn chung thị trấn có khí hậu nóng khô, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa và chia thành 2 mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (có nhiều mưa gây nắng nóng, có những ngày nhiệt độ lên trên 40oc); mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau (thời tiết mát ấm và đôi khi hay gây ra hạn hán kéo dài)

Với những đặc điểm khí hậu như vậy đã gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp của thị trấn Trước đây, thị trấn còn có một diện tích lớn để sản xuất lúa và phát triển các cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu các loại; chăn nuôi bò, lợn và các loại gia cầm Nhưng hiện nay, cùng sự phát triển

Trang 38

kinh tế công nghiệp, du lịch, diện tích này dần bị thu hẹp, thay thế vào đó là các công xưởng, nhà cửa, khu dịch vụ

Luangnamtha có một diện tích đất rừng khá lớn, với trữ lượng gỗ vào tầm trung bình cả nước, thảm thực vật rừng rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây gỗ, trong đó có nhiều loại gỗ quý như: lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu tạo điều kiện phát triển kinh tế lâm nghiệp, trồng rừng nguyên liệu gắn với chế biến, cây công nghiệp dài ngày (cao su), cây ăn quả, phát triển chăn nuôi đại gia súc và phát triển kinh tế trang trại tổng hợp Vùng núi của thị trấn cũng là địa phương nắm giữ trữ lượng mỏ đồng, mỏ than, tạo điều kiện cho các công ty trong nước và cho phép công ty nước ngoại nhượng bộ đầu tư khai thác dài hạn Tỉnh còn có các mỏ vàng, nước khoáng và các mỏ khác, trữ lượng khá lớn nhưng chưa có điều kiện điều tra đầy đủ và khai thác Ngoài ra, Luangnamtha có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như: Nhà sàn Tay Lừ kong, khu doanh trại Pháp Đặc biệt, Khu Bảo tồn Đa dạng sinh học Quốc gia Nam Ha và có nhiều loài động, thực vật quý hiếm được ghi vào sách

đỏ Lào và thế giới Đây là những khu rừng nguyên sinh quý hiếm không chỉ đối với Luangnamtha mà với cả nước, rất có giá trị về nhiều mặt: sinh thái, khoa học và tham quan du lịch

Những điều kiện tự nhiên trời phú này đã tạo điều kiện cho Thị trấn Luangnamtha phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và du lịch

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Về kinh tế:

Thị trấn Luangnamtha nằm tại thung lũng Luangnamtha - đơn vị trung tâm của huyện cũng như của tỉnh, có đường Quốc lộ 13 qua các tỉnh phía Bắc xuống Thủ đô Viêng Chăn, đường Quốc lộ R3, có cửa khẩu Quốc tế Boten với Trung Quốc, thị trấn Luangnamtha có điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế trong nước cũng như với nước ngoài Ngoài ra, về văn hóa truyền

Trang 39

thống, có nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, giàu chất dân gian như: lễ hội Tháp Pum Púc, Tháp Luangnamtha ở huyện Luangnamtha, lễ hội tháp Xiêng Tưng ở Mường Sinh, lễ hội Bun Bằng Phay (Pháo thăng thiên), Bun Xuổng Hưa (đua thuyền); nhiều làn điệu dân ca như Khắp Tai Đăm, Khắp Tay Lừ

Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển, cùng với các kế hoạch phát triển địa phương, các dự án thu hút đầu tư nước ngoài xây dựng cơ sở hạ tầng với đặc khu kinh tế Boten đã giúp thị trấn phát triển vượt bậc Qua hơn 30 năm đổi mới, thị trấn Luangnamtha đã vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn: tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và phát huy tác dụng, bộ mặt nông thôn được đổi thay, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng lên một bước, số hộ đói nghèo giảm dần, số hộ giàu tăng lên, kinh tế trang trại phát triển khá mạnh; các khu, cụm công nghiệp đang từng bước phát huy tác dụng; hệ thống chính trị từ cấp huyện đến bản được xây dựng củng cố hoạt động ngày càng hiệu quả, quốc phòng - an ninh được giữ vững

Về cơ cấu kinh tế của thị trấn, ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 52,65%, dịch vụ chiếm 30%, còn nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 17,35% Tốc

độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn từ 2017 - 2019 của thị trấn là 7,2%/năm Trên địa bàn thị trấn có 8 cơ sở chế biến nông, lâm, hoạt động và hàng chục công ty, xí nghiệp tham gia sản xuất chế biến và kinh doanh hàng nông, lâm Trên 120 cơ sở chế biến của tư nhân, phân bố ở hầu khắp các địa phương gắn với vùng nguyên liệu và thu mua nông sản hàng hoá

do nông dân sản xuất ra [42, tr.3]

Hệ thống giao thông của thị trấn đã được đầu tư, nâng cấp đáng kể, các đường liên bản cũng đã được sửa chữa, xây dựng Hiện nay 95% số bản của thị trấn có điện lưới quốc gia, chỉ còn một số bản nằm vùng sâu, vùng xa trên

Trang 40

núi vẫn chưa có điện ổn định phục vụ sản xuất và đời sống, vì hạ tầng yếu kém; 100% bản đã phủ sóng phát thanh, truyền hình; 100% bản có lắp điện thoại, tăng 38% so với năm 2010, đến nay đã có 56 máy/100 hộ dân, vượt 22 máy so với năm 2010 [42, tr.5] Trong những năm gần đây, với tư cách là một thị trấn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của vùng, Luangnamtha đã được chú trọng đầu tư Đặc biệt, Chính quyền huyện Luangnamtha hướng tới xây dựng thị trấn Luangnamtha thành thành phố

thông minh “ mart ity” trên cơ sở ứng dụng công nghệ 5G và nền tảng công

nghệ hiện đại để tạo thành điểm nhấn với hi vọng thúc đẩy sự phát triển toàn diện trên các mặt kinh tế - xã hội, góp phần đưa đất nước Lào từng bước hiện đại hóa

Nhìn chung, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế ở thị trấn Luangnamtha hiện này đều tích cực tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, từng bước

đi sâu phát triển theo phương thức phân phối sản phẩm theo quy luật kinh tế cung - cầu của thị trường với nhiều loại hình doanh nghiệp thương mại, mở cửa tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và nước ngoài đến địa bàn đầu tư Tiềm năng phát triển này của địa phương chính là cơ hội và động lực để mở rộng các loại hình lao động và nâng cao thu nhập của lao động địa phương lẫn lao động di cư tại địa bàn

* Về dân cư:

Sự thuận lợi về địa hình, cũng như sự phát triển kinh tế, hạ tầng giao thông cũng là những nguyên nhân khiến cho khiến cho dân cư tập trung đông đúc tại địa bàn này Cụ thể:

Bảng 1.1 Thống kê dân số tại thị trấn uangnamtha năm 2019

Địa giới Số bản Số hộ gia đình Dân số Số lao động

Tổng Nữ Tổng Nữ

Toàn huyện 78 11.395 59.504 29.461 15.876 7.993

Ngày đăng: 04/03/2021, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w