Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Đề tài tập trung vào những mục đích sau: - Nhằm gia tăng việc thu hút khách du lịch đến Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh nói riêng gó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO TRẦN LÂM
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TẠI THÀNH CỔ VÀ VĂN MIẾU DIÊN KHÁNH,
TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO TRẦN LÂM
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TẠI THÀNH CỔ VÀ VĂN MIẾU DIÊN KHÁNH,
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục luận văn 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở KHU VỰC DI SẢN VĂN HOÁ 5
1.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận phát triển du lịch ở một điểm tham quan 10
1.2.1 Một số khái niệm 10
1.2.2 Phát triển du lịch 11
1.2.3 Các điều kiện phát triển du lịch 11
1.3 Sự hấp dẫn của điểm tham quan 13
1.4 Vai trò của di sản văn hóa trong hoạt động phát triển du lịch 14
1.4.1 Di sản văn hóa trong hoạt động phát triển du lịch 14
1.4.2 Sự hấp dẫn của di sản văn hóa ở Việt Nam 18
1.5 Những vấn đề đặt ra trong việc khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch 19
1.6 Những bài học kinh nghiệm trong việc khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch 19
1.6.1 Những bài học trong nước 19
1.6.2 Những bài học ở ngoài nước 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28
Trang 4Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI THÀNH CỔ VÀ VĂN
MIẾU DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÕA 29
2.1 Khái quát về Thành cổ Diên Khánh và Văn miếu Diên Khánh 29
2.1.1 Thành cổ Diên Khánh 29
2.1.1.1 Vị trí địa lý, cảnh quan và môi trường 29
2.1.1.2 Lịch sử hình thành 30
2.1.1.3 Các giá trị của Thành cổ Diên Khánh đối với việc thu hút khách du lịch 32
2.1.2 Văn miếu Diên Khánh 35
2.1.2.1 Vị trí Văn miếu Diên Khánh 35
2.1.2.2 Lịch sử hình thành 35
2.1.2.3 Các giá trị của Văn miếu Diên Khánh đối với việc thu hút khách du lịch 36
2.2 Điều kiện phát triển du lịch tại Thành cổ Diên Khánh và Văn miếu Diên Khánh 42
2.2.1 Về yếu tố cung du lịch 42
2.2.2 Về yếu tố cầu du lịch 43
2.3 Sản phẩm du lịch tại Thành cổ Diên Khánh và Văn miếu Diên Khánh 44
2.3.1 Du lịch tham quan di tích, danh thắng 44
2.3.1.1 Các điểm tham quan chính 44
2.3.1.2 Các điểm tham quan phụ cận 45
2.3.2 Du lịch ẩm thực xứ Trầm hương tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh 47
2.3.2.1 Bánh ướt Diên Khánh 47
2.3.2.2 Nai khô Diên Khánh 48
2.3.2.3 Nem chả chợ Thành 48
2.3.3 Du lịch lễ hội 49
2.3.3.1 Lễ hội Văn Miếu Diên Khánh 49
2.3.3.2 Lễ hội Am Chúa 50
2.3.4 Du lịch làng nghề truyền thống 50
Trang 52.3.4.1 Nghề đúc đồng 50
2.3.4.2 Nghề chằm nón 51
2.3.5 Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng ở khu vực phụ cận Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh 51
2.3.5.1 Du lịch sinh thái Memento 52
2.3.5.1 Du lịch sinh thái Nhân Tâm 52
2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tại thành cổ và Văn miếu Diên Khánh 53
2.4.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ lưu trú và ăn uống 53
2.4.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vui chơi, giải trí 54
2.4.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vận chuyển du lịch 54
2.4.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dịch vụ bổ sung 56
2.5 Nhân lực du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh 57
2.6 Công tác quản lý du lịch tại thành cổ và Văn miếu Diên Khánh 58
2.6.1 Về công tác tổ chức quản lý 58
2.6.2 Quy hoạch phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh 60
2.8 Đánh giá chung về hoạt động du lịch tại thành cổ Diên Khánh và Văn miếu Diên Khánh 62
2.8.1 Về thị trường khách đến với Thành cổ và Văn Miếu Diên Khánh 62
2.8.2 Về thông tin đánh giá của du khách và các thành phần xã hội khác 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI THÀNH CỔ VÀ VĂN MIẾU DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÕA 73
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 73
3.1.1 Căn cứ pháp lý 73
3.1.1.1 Các chính sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước 73
3.1.1.2 Định hướng phát triển du lịch tại Khánh Hòa và địa phương 74
3.1.2 Căn cứ thực tiễn 78
3.2 Các giải pháp cụ thể góp phần phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh 79
Trang 63.2.1 Giải pháp phát triển thị trường, khách du lịch 79
3.2.2 Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch 80
3.2.3 Giải pháp xúc tiến, đầu tư du lịch 82
3.2.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 83
3.2.5 Giải pháp quản lý, quy hoạch du lịch 84
3.2.6 Giải pháp bảo vệ di sản văn hóa trong du lịch 86
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 96
Phụ lục 1 Bảng câu hỏi dành cho nhà quản lý và chuyên gia du lịch 96
Phụ lục 2 Bảng câu hỏi dành cho khách du lịch nội địa 98
Phụ lục 3 Bảng câu hỏi dành cho khách du lịch quốc tế 100
Phụ lục 4 Bảng câu hỏi dành cho hướng dẫn viên đã dẫn khách đến Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh 102
Phụ lục 5: Một số hình ảnh trong quá trình điền dã, tập hợp tư liệu nghiên cứu 104 Phụ lục 6: Các bia di tích trên địa bàn Thị trấn Diên Khánh 109
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND = Hội đồng Nhân dân
ICOMOS = International Council on Monuments and Sites (Hội đồng Di
tích và Di chỉ quốc tế) UBND = Ủy ban Nhân dân
UNESCO = United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.8.1.1 Bảng thống kê số lƣợng du khách tham quan Thành cồ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (giai đoạn 2015 – 2019) 63Bảng 2.8.1.2 Bảng số liệu thành phần quốc tịch du khách tham quan Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa 64Bảng 2.8.1.3 Bảng số liệu thành phần nghề nghiệp du khách tham quan tại Thành
cổ và Văn Miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa 65Bảng 2.8.1.4 Bảng số liệu độ tuổi du khách tham quan tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa 66Bảng 2.8.1.5 Bảng số liệu giới tính của khách tham quan tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa 66 Bảng 2.8.2.1 Bảng số liệu mức độ đánh giá về kiến trúc chung đối với Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa 67Bảng 2.8.2.2 Bảng số liệu khảo sát ý kiến về quy hoạch Thành cổ Diên Khánh phục
vụ du lịch 68Bảng 2.8.2.3 Bảng khảo sát ý kiến về thời gian tổ chức các hoạt động tại Thành cổ Diên Khánh phục vụ du lịch 68Bảng 2.8.2.4 Bảng số liệu khảo sát ấn tƣợng của du khách đối với Văn miếu Diên Khánh 69Bảng 2.8.2 5 Bảng số liệu khảo sát ý kiến về hoạt động quảng bá nhằm thu hút khách du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa 71
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Ảnh 5.1.1 Sơ đồ Thành cổ Diên Khánh xưa (Nguồn: Trung tâm bảo tồn di tích tỉnh
Khánh Hoà) 104
Ảnh 5.1.2 Bản đồ Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (Nguồn: Internet) 104
Ảnh 5.1.3 Bản đồ du lịch văn hóa Khánh Hòa (Nguồn: Internet) 105
Ảnh 5.1.4 Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa (Nguồn: Inetrnet) 105
Ảnh 5.1.5 Bia di tích quốc gia thành cổ Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 105
Ảnh 5.1.6 Bia Văn Miếu Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 105
Ảnh 5.1.7 Cửa Tây Thành cổ Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 106
Ảnh 5.1.8 Cửa Đông Thành cổ Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 106
Ảnh 5.1.9 Cửa Nam Thành cổ Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 106
Ảnh 5.1.10 Cửa Bắc Thành cổ Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 106
Ảnh 5.1.11 Một góc tường Thành cổ Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 106
Ảnh 5.1.12 Một góc tường Thành cổ Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 106
Ảnh 5.1.13 Một góc khuôn viên Văn miếu Diên Khánh đã được trùng tu (Nguồn: Tác giả) 107
Ảnh 5.1.14 Đạo dụ, sắc phong thời nhà Nguyễn bên trong Văn miếu Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 107
Ảnh 5.1.15 Đạo dụ, sắc phong thời nhà Nguyễn bên trong Văn miếu Diên Khánh (Nguồn: tác giả) 107
Ảnh 5.1.16 Thủ bút của Vua Gia Long trên cây đòn dông mái bên trong Văn miếu Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 108
Ảnh 5.1.17 Chính điện thờ Khổng Tử bên trong Văn miếu Diên Khánh (Nguồn: Tác giả) 108
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu, văn hoá đã trở thành một trong những chất liệu quan trọng trong việc xây dựng các mô hình sản phẩm du lịch đặc trưng hoặc là yếu tố thu hút sự quan tâm và tìm hiểu của khách du lịch trong và ngoài nước Có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau dựa trên những điều kiện hiện có về di sản văn hoá (vật thể
và phi vật thể), để tạo thành sản phẩm du lịch văn hoá vừa nhằm khai thác hiệu quả các giá trị về văn hoá, lịch sử, thẩm mỹ vừa thúc đẩy phát triển du lịch Vì vậy, các
di tích lịch sử văn hoá không chỉ là những chứng nhân của lịch sử, của những thời
kỳ thịnh suy đã qua mà bản thân nó là những thông điệp của thời gian, có khả năng
tự “nuôi sống” và tự “bảo tồn” nếu biết khai thác một cách hợp lý, bền vững nhằm mục đích phục vụ du lịch
Những năm gần đây, Việt Nam có những cố gắng trong việc khai thác các giá trị di sản văn hoá, trong đó có các di tích lịch sử văn hóa để phục vụ phát triển
du lịch Điều đó vừa giúp thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa góp phần quảng bá các giá trị, bản sắc văn hoá Việt Nam đến với bạn bè quốc tế thông qua hoạt động du lịch Tuy vậy, vấn đề khai thác hợp lý và hiệu quả các giá trị của di tích lịch sử văn hoá trong du lịch còn có nhiều vướng mắc vì nhiều lý do khác nhau làm cho việc phát triển du lịch vẫn còn ở chừng mực nào đó, chưa tương xứng với tiềm năng và bề dày lịch sử, văn hoá phong phú, đa dạng của đất nước hiện có
Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh là hai trong số rất nhiều di tích lịch sử, kiến trúc lịch sử văn hoá nổi tiếng của tỉnh Khánh Hoà nói riêng và của đất nước Việt Nam nói chung đã và đang được sử dụng khai thác vào hoạt động du lịch Thành cổ Diên Khánh - một quần thể kiến trúc quân sự được hình thành trong lịch sử giao tranh của vương triều Tây Sơn – Nguyễn Ánh cho đến nay đã 225 năm, với nhiều giá trị về lịch sử, khảo cổ và kiến trúc mỹ thuật Và Văn miếu Diên Khánh, một địa chỉ văn hoá lâu đời của con người đất Khánh Hoà với sự tự hào về truyền thống hiếu học, tôn
sư trọng đạo của người xưa chứa đựng rất nhiều các giá trị nhân văn
Hai di tích kể trên đều là những di dản có giá trị đối với vùng đất Khánh Hoà, rất cần được bảo vệ và được công chúng biết đến rộng rãi Dẫu vậy, trong
Trang 11những năm qua ngành văn hoá có nhiều nỗ lực trong công công tác bảo tồn, gìn giữ
và phát huy các giá trị những kết quả đạt được vẫn ở mức khiêm tốn Và một trong những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản là phát triển du lịch nhưng đến nay vấn đề này vẫn còn đang bị bỏ ngỏ, cũng chưa có một nghiên cứu cụ thể nào nhằm phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh
Do vậy, việc Nghiên cứu phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên
Khánh, tỉnh Khánh Hòalà một việc làm có tính cấp thiết Đó cũng chính là lý do
tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu này cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung vào những mục đích sau:
- Nhằm gia tăng việc thu hút khách du lịch đến Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh nói riêng góp phần phát triển du lịch Khánh Hoà nói chung;
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lí luận về phát triển du lịch văn hoá của một điểm tham quan;
- Khảo sát thực trạng, phân tích đặc điểm và đánh giá các điều kiệnphát triển
du lịchThành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà
- Đề xuất định hướng và giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Sự hấp dẫn của các giá trị di sản tại Thành cổ và
Văn miếu Diên Khánh đối với khách tham quan
Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn lãnh thổ : Toàn bộ Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, thuộc
huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà
Giới hạn nội dung :
Chỉ nghiên cứu sự hấp dẫn (giá trị) của các di sản văn hóa đối với khách mà
họ có thểtham quan khi đến Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh
Giới hạn thời gian : từ 2015 đến 2019, giải pháp đến năm 2030
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu thứ cấp
Phương pháp này thực hiện nhằm nghiên cứu, xử lí tài liệu trong phòng dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và từ thực tế Tổng quan tài liệu có được, kế thừa từ những nghiên cứu có trước, sử dụng các thông tin đã được kiểm nghiệm, cập nhật những vấn đề trong và ngoài nước Vì vậy đây là phương pháp thường được sử dụng trước tiên và khá phổ biến, đóng vai trò cơ sở, điều kiện cần thiết để phục vụ trong các đề tài nghiên cứu khoa học Các số liệu được thu thập từ kết quả điều tra hoạt động du lịch hàng năm và một số cuộc điều tra khác
từ Phòng Văn hoá Xã hội huyện Diên Khánh từ năm 2015 đến 2019; số liệu chính
thức của Sở Du lịch Khánh Hoà; từ các trang thông tin điện tử chuyên ngành
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này đòi hỏi bảng hỏi phải được thiết kế sẵn với chủ yếu là các câu hỏi có đáp án sẵn lựa chọn Phương pháp này yêu cầu người thiết kế bảng hỏi có kiến thức sâu về chuyên môn, am hiểu địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập hoặc phân tích dữ liệu Tuy nhiên, do lượng khách bình quân đến điểm tham quan Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh chỉ từ 50-150 khách/ngày là số lượng không nhiều nên tác giả chỉ chọn mẫu điều tra khảo sát với 140 phiếu nhằm vào 3 đối tượng chủ yếu là khách
du lịch (100 phiếu bao gồm 80 khách nội địa và 20 quốc tế); 20 phiếu dành cho Hướng dẫn viên đã đưa khách đến tham quan du lịch tại Thành cổ và Văn Miếu Diên Khánh; 20 phiếu là dành cho chuyên gia là cán bộ quản lý ngành du lịch thuộc một số
cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu về định lượng trong mối quan hệ chặt chẽ về mặt định tính của các hiện tượng và quá trình, đối chiếu với quá trình phát triển du lịch Phương pháp toán thống kê được vận dụng nghiên cứu trong luận văn này để xác định hiện trạng hoạt động du lịch thông qua các chỉ tiêu phát triển ngành cơ bản Về mặt nghiên cứu các vấn đề di sản văn hoá, du lịch văn hoá phương pháp này hỗ trợ xử lí các thông tin để xây dựng mô hình phù
hợp cho nhiệm vụ đã đặt ra
Trang 13Phương pháp thực địa
Công tác thực địa có mục đích cơ bản là kiểm tra, chỉnh lí và bổ sung những tư liệu, đối chiếu và lên danh mục cụ thể từng đối tượng nghiên cứu, sơ bộ đánh giá các yếu tố cần thiết cho việc xây dựng các yếu tố hợp phần của mô hình tổ chức quản lý,
khai thác phát triển du lịch ở Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà
5 Bố cục luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm phát
triển du lịch ở khu vực di sản văn hoá
Chương 2.Thực trạng phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên
Khánh, tỉnh Khánh Hòa
Chương 3 Một số giải pháp phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên
Khánh, tỉnh Khánh Hòa
6 Đóng góp của luận văn
Đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa” đã đạt được kết quả mà mục tiêu đã đề ra:
Một là: đề tài đã nghiên cứu và khái quát được một số vấn đề lý luận liên
quan đến nội dung đề tài như là: các khái niệm công cụ về di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, phát triển du lịch, điểm du lịch…để làm công cụ cho vấn đề khai thác di sản văn hóa vào hoạt động phát triển du lịch;
Hai là: đề tài đã khảo sát, nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch tại Thành
cổ và Văn miếu Diên Khánh từ khi được công nhận là di tích lịch sử, di tích lịch sử văn hóa cho đến nay, qua đó đưa ra một số đánh giá về những thành tựu đạt được cùng những hạn chế của hoạt động du lịch tại đây;
Ba là: đề tài đã đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo tồn, quản lý, tôn
tạo và gìn giữ phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa để khai thác một cách có hiệu quả các di tích lịch sử văn hóa để phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở KHU VỰC DI SẢN VĂN HOÁ 1.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu
Thành cổ Diên Khánh là một di tích lịch sử cấp quốc gia, và để được công nhận điều đó thì phải có những cứ liệu cụ thể trong suốt tiến trình hình thành và tồn tại trên suốt hơn 200 năm Có nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực: sử học, khảo cổ, văn hóa, địa lý quan tâm nghiên cứu Địa danh cũ của Diên Khánh vốn
tên là phủ Diên Ninh được chép trong Phủ Biên tạp lục (Lê Quý Đôn) Đến năm
1742, phủ Diên Ninh đổi tên thành Phủ Diên Khánh và cho đến năm 1793 được Nguyễn Ánh cho xây dựng thành được gọi tên là Thành Diên Khánh từ đó Kể từ sau, các nhà viết sử, viết sách địa lý thường nhắc đến thành Diên Khánh trong các
tài liệu như: Đại Nam thực lục (Quốc sử quán Triều Nguyễn); Đại Nam Nhất Thống Chí (Quốc sử quán Triều Nguyễn); Phương Đình Dư địa chí (Nguyễn Văn Siêu) Việt sử: xứ Đàng Trong Cuộc Nam tiến của dân tộc (Phan Khoang), Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim), Non nước Khánh Hòa (Nguyễn Đình Tư) hoặc là Xứ Trầm Hương (Quách Tấn) Về sau này, để phục vụ cho công tác nghiên cứu, bổ sung cứ
liệu để bảo tồn và phát huy giá trị thành cổ vào các mục đích khác nhau trong đó có
có ý tưởng phát triển du lịch mà một số nhà nghiên cứu đã khai thác trên nhiều thể
loại các đề tài phong phú: Thành cổ Diên Khánh trong lịch sử (Nguyễn Huyền Linh); Thành Diên Khánh (Nguyễn Thị Hồng Tâm); Vua Gia Long và người Pháp (Thụy Khuê), Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn Khánh Hòa (Nguyễn Đình Đầu); Địa chí Khánh Hòa (UBND tỉnh Khánh Hòa); Thành Vauban ở Việt Nam (Tôn Đại
và Phạm Tấn Long)
Cách Thành cổ không xa khoảng 3km là Văn miếu Diên Khánh, có lẽ tài liệu
sớm nhất nói về Văn miếu Diên Khánh là “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” của
Lê Quang Định, về sau này Văn miếu Diên Khánh cũng được Quách Tấn (1969) đề cập đến trong cuốn Xứ Trầm Hương Do lịch sử hình thành và tồn tại trải qua các
biến cố thăng trầm bởi chiến tranh trong nhiều thời kỳ, cùng với thiên tai, lại trải qua nhiều giai đoạn phục dựng nên bài viết nghiên cứu chuyên sâu về Văn miếu Diên Khánh không nhiều, chỉ mang tính chất tư liệu lịch sử, địa lý, khảo cổ có thể
Trang 15phải kể đến những bài viết sau này như: Văn miếu Diên Khánh (Nguyễn Thị Hồng Tâm), Văn miếu Diên Khánh (Nguyễn Man Nhiên), Tìm hiểu Văn miếu Diên Khánh (Phạm Phú Viết và Võ Nhân)
Trên thế giới, đã có rất nhiều nhà nghiên cứuquan tâm, đánh giá và làm rõ mối quan hệ tương quan giữa di sản, di tích lịch sử văn hoá đến sự phát triển du lịch Richard (1996) đã coi mối tương quan giữa du lịch và di sản văn hoá như là đồng nhất, gắn bó với nhau cùng tồn tại Quan điểm này được ông kết nói với nối với công ước của UNESCO, đồng thờiđưa ra các thông tin về khách du lịch văn hoá
và di sản cũng như giải thích những xu thế hiện tại và hướng đi tương lai của loại hình du lịch này Nhưng Poria (2001) cũng có cách tiếp cận mới mẻ hơn so với những quan điểm hiện có về du lịch di sản văn hoá bằng việc nghiên cứu hoạt động
và nhận thức của khách du lịch tại điểm đến Mặt khác, khi nhấn mạnh tầm quan trọng của cảnh quan địa phương, cụ thể là các di sản văn hoá, lịch sử phải được quy hoạch và làm lại, hay nói cách khác là trùng tu, tôn tạo thì mới có thể khai thác tốt được là chủ đề mà hai tác giả Teo và Yeoh (1997) theo đuổi để làm sáng tỏ Bên
cạnh đó, Tiêu đề cuốn sách "Di sản, Du lịch và Xã hội" của Herbert (1995) đã cho
thấy một cách tiếp cận rộng hơn cho vấn đề này, mặc dù nó có giá trị lớn về mặt chuyên ngành đối với người quản lý di sản hơn là người hành nghề du lịch vì nó liên quan đến thăm dò khái niệm di sản và mối liên hệ phức tạp với du lịch
Có thể thấy, các tác giả phương Tây và phương Đông có sự nhìn nhận và đánh giá rất cao các giá trị của di sản, di tích lịch sử văn hoá đối với sự phát triển du lịch.Họ đặt mối quan tâm của mình vào di sản văn hoá như một thước đo các giá trị sống của mỗi một con người, coi việc giữ gìn các giá trị di sản trong mối tương quan với hoạt động khai thác du lịch như là vấn đề then chốt, cần phải bảo vệ di sản
mà cũng phải có trách nhiệm quyền lợi của mỗi bên liên quan Đó cũng là quan điểm của Boniface và Fowler (1993) viết về di sản và du lịch Thực sự, dù đứng trên quan điểm nhìn nhận nào về mối quan hệ giữa di sản văn hoá và phát triển du lịch thì cũng cho thấy đây là một chủ đề nóng mà rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu một cách toàn diện
Trang 16Ở Việt Nam,việc phát triển du lịch dựa trên các giá trị di sản, di tích lịch sử văn hoá hiện nay đang được khai thác nhiều và cũng là xu thế chung của thế giới bởi tận dụng được những nguồn lực có sẵn, cộng với sự đa dạng văn hoá ẩm thực, làng nghề truyền thống tại địa phương Đó là những nét chấm phá tạo nên những hoạt động du lịch sôi nổi như tham quan, học tập, nghiên cứu, thẩm định các giá trị chân – thiện – mỹ…Do đó, việc nghiên cứu các giá trị di tích lịch sử văn hoá phục
vụ phát triển du lịch và khai thác du lịch văn hoátrong vòng 5 năm trở lại đây đã có
nhiều đề cập đến thông qua các hội nghị, hội thảo khoa học như:
+ Hội thảo khoa học “Di sản văn hóa với chiến lược phát triển bền vững”(2017);Hội thảo “Quản lý Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam” (2014); Hội thảo “Du lịch có trách nhiệm và Di sản văn hóa” (2015);Hội thảo “Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa và hình ảnh điểm đến du lịch tại các tỉnh miền Trung” (2015); Hội thảo “Quản lý và khai thác di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập” (2017) Nhìn chung, qua các cuộc hội thảo, tuy tên gọi có sự khác nhau
và nội dung hướng tới nhiều mục đích cụ thể nhưng đều xoay quanh những chủ đề
cơ bản về việc quản lý, bảo tồn di sản văn hoá, hướng đi và giải pháp khai thác các giá trị của di sản văn hoá vào hoạt động du lịch Dù ít dù nhiều, cũng nên ghi nhận
sự nỗ lực của các bên liên quan trong việc định hướng phát triển; nhưng điều đáng nói hơn là trong xu hướng gần đây người ta bắt đầu chú ý đến việc khai thác di sản văn hoá trong hoạt động du lịch một cách bền vững và có trách nhiệm
Bên cạnh đó, là một số nghiên cứu, luận văn chú ý và đề cập đếnvấn đề khai thác di sản văn hoá phục vụ du lịch như:
+ Lê Thị Minh Quế (2009), Khai thác di sản văn hóa quan họ Bắc Ninh phục
vụ phát triển du lịch; Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội;
+ Nguyễn Thị Sao (2012), Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể tại Hải Dương;Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội;
+ Nguyễn Thị Anh Tú (2016), Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở Nam Định;Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội;
Trang 17+ Lê Thị Thanh Thuỷ (2015), Khai thác di sản văn hóa Triều đại Tây Sơn phục
vụ phát triển du lịch Bình Định;Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội;
+ Đường Ngọc Hà (2012), Khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục
vụ du lịch tại Hà Nội cũ - Thực trạng và giải pháp;Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội;
Tựu chung, ở các luận văn, luận án của các tác giả đã rất nỗ lực đi vào tập trung nghiên cứu và đánh giá các giá trị di sản văn hoá trong đó chủ yếu là các di tích lịch sử còn hiện diện, chỉ ra được những thế mạnh hiện có tuỳ theo từng đặc thù của địa phương hoặc vùng lãnh thổ; đồng thời phân tích thực trạng và đề ra giải pháp làm sao đó khai thác một cách tốt nhất, hiệu quả nhất vào hoạt động du lịch đối với từng địa phương cụ thể Và có điểm hạn chế chung là tất cả đều chỉ nêu ra được giải pháp nhưng chưa đưa ra được các yếu tố bền vững để tối ưu hóa các giải pháp này
Trước đây, Thành cổvà Văn miếu Diên Khánh được ghi chép nhiều lại trong
các cuốn chính sử và địa chí của nước ta như Đại Nam nhất thống chí (thời Nguyễn), Phương Đình dư địa chí (thời Nguyễn) cho đến thời hiện đạinhư Việt sử:
xứ Đàng Trong Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam (Phan Khoang), Xứ Trầm Hương (Quách Tấn)…đều có những mô tả khá chi tiết nhưng những ghi chép đó
đều ngắn gọn và mang tính chất biên niên sử hoặc dư địa chí được trình bày rải rác
về các giải pháp bảo tồn trong một số bài tham luận gần đây tại “Hội thảo khoa học bảo tồn và phát huy giá trị Thành cổ Diên Khánh năm 2018”do Sở Văn hóa, Thể
thao tỉnh Khánh Hòa tổ chức cũng chỉ dừng lại ở một vài mức độ gợi ýban đầu một
Trang 18số giải pháp, còn phần cụ thể hóa các giải pháp đó như thế nào thì chưa được sâu và
kỹ hoặc có tính ứng dụng cao
Về phương diện khai thác du lịch, Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh cũng được đưa vào một số trang thông tin quảng cáo tour với dung lượng và thông tin còn rất sơ sài và chỉ có tính chất khái quát, chung chung
Như vậy, việc nhìn nhận Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh dưới góc độ du lịch học vẫn chưa đươc thấu đáo Với đề tài nghiên cứu này, tác giả hy vọng đóng góp được phần nào khoảng trống nghiên cứu trên
Nhìn chung, những nghiên cứu về Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh đa dạng về thể tài lịch sử, văn học, địa lý mang dưới dạng tư liệu, biên khảo nhưng lại
có một vị trí rất quan trọng và có giá trị trong việc xác lập quan điểm về lịch sử hình thành vùng đất Khánh Hòa trong những buổi đầu những cư dân Đại Việt trên đường Nam tiến đứng chân và tiếp biến, hỗn dung văn hóa với những người dân Chàm bản địa nơi đây
Nhìn từ góc độ du lịch, Khánh Hòa vốn là nói nổi tiếng với loại hình du lịch nghỉ dưỡng nhưng cũng có rất nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, nghệ thuật và khảo cổ như là chất liệu quan trọng tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù thu thút sự quan tâm của khách du lịch Trong đó, Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu
Theo khảo sát của tác giả, cho đến thời điểm này thì chưa có một công trình nào nghiên cứu về phát triển du lịch tại Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan sẽ được trình bày ở phần sau Tuy nhiên, để
đa dạng hóa loại hình sản phẩm du lịch, tạo thế cạnh tranh trên thị trường khách du lịch nên Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh cũng được các hãng lữ hành, đại lý du lịch công bố trên các website riêng của mình để giới thiệu những nét đặc sắc, các giá trị của 2 di tích này Những thông tin cơ bản về Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh được các công ty khai thác chủ yếu từ các website như:
https://ditichkhanhhoa.org.vn; baokhanhhoa.vn; baodulich.net.vn; cùng nhiều các
website của riêng các công ty, đại lý lữ hành khác
Trang 191.2 Cơ sở lý luận phát triển du lịch ở một điểm tham quan
1.2.1 Một số khái niệm
Tài nguyên du lịch:Luật Du lịch (2017) quy định: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên
du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa
Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch
Điểm tham quan là nơi có tài nguyên du lịch mà khách du lịch trong ngày tới thăm với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch đó
Di sản văn hoá
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về di sản văn hoá, điều đó phụ thuộc vào cách nhìn nhận và quan điểm của mỗi một cá nhân, tổ chức hoặc quốc gia và vùng lãnh thổ Theo UNESCO, Di sản văn hóa là di sản của các hiện vật vật lý và các thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay xã hội được kế thừa từ các thế hệ trước, đã duy trì đến hiện nay và dành cho các thế hệ mai sau Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa (như các tòa nhà, cảnh quan, di tích, sách, tác phẩm nghệ thuật, và các hiện vật), văn hóa phi vật thể (như văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ và kiến thức)
và di sản tự nhiên (bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học) Đối với Việt Nam, khái niệm di sản đã được định nghĩa một cách khái quát trong Luật Di sản (2013): “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”;
Di tích lịch sử văn hoá
Như vậy, ta có thể thấy rằng di sản văn hoá vật thể bao gồm nhiều thành tố có giá trị về mặt văn hoá còn hiện diện như đã được định nghĩa ở trên Và, di tích lịch sử văn hoá là một trong các thành tố đó, đồng thời cũng được định nghĩa như sau: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”
Du lịch văn hoá
Trang 20Theo Luật du lịch (2017), du lịch văn hoá được định nghĩa là: là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại
1.2.2 Phát triển du lịch
Hiểu theo cách thông thường, phát triển du lịch là sử dụng các động lực kinh
tế, văn hoá, xã hội nhằm kích thích các hoạt động đầu tư, xúc tiến, khai thác du lịch
để hướng tới việc thu lại lợi nhuận, gia tăng thu nhập từ du lịch, phát triển kinh tế -
xã hội Nhưng ngày nay, câu chuyện phát triển du lịch được nhìn nhận không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế trước mắt mà còn dành việc phát triển này cho các thế hệ tương lai về sau được kế thừa và thụ hưởng các giá trị của việc khai thác du lịch mang lại Vì vậy, sau khi điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện hiện thực tế, Luật du lịch (2017)đã phát triển khái niệm “phát triển du lịch” gắn liền với yếu tố
“bền vững”“Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về
du lịch trong tương lai”
1.2.3 Các điều kiện phát triển du lịch
Khi nghiên cứu sự phát triển du lịch tại một điểm, vùng, tuyến du lịch thì việc làm trước tiên là phải xem xét các điều kiện phát triển du lịch Đó là cơ sở để xác định, đánh giá về mức độ phát triển và là cơ sở để đưa ra các giải pháp, định hướng đúng đắn trong tương lai hoặc trong một giai đoạn nhất định
1.2.2.1 Điều kiện chung
Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội: du khách chỉ có thể yên tâm
thực hiện các hành vi, hoạt động du lịch tại những nơi có điều kiện an ninh chính trị
ổn định, không xảy ra các biến động, bất trắc ảnh hưởng đến kế hoạch du lịch cũng như các giá trị về vật chất và tinh thần Đồng thời, việc an toàn xã hội cũng thúc đẩy
du khách tham gia nhiều hơn các hoạt động trong khi đi du lịch, không có cảm giác bất an, lo lắng bởi du lịch vốn là đi hưởng thụ, trải nghiệm các giá trị
Điều kiện kinh tế:nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát
triển của ngành kinh tế du lịch Do kinh tế du lịch là kinh tế tổng hợp chịu sự tác
Trang 21động của nhiều thành phần kinh tế khác trong xã hội nên chịu sự ảnh hưởng rất lớn
Nó quyết định đến một số yếu tố để phát triển kinh tế du lịch bao gồm: sự đồng bộ
về đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất phục vụ du lịch; mức độ chi tiêu của du khách trong chuyến đi du lịch; sự lựa chọn chuyến đi hay sản phẩm du lịch
Thời gian rỗi: đây là một điều kiện quan trọng bởi con người không thể đi du
lịch nếu không có thời gian gian rỗi Thời gian rỗi quyết định đến việc lựa chọn kéo dài thời gian chuyến đi, lưu trú, phương tiện di chuyển hay là sự lựa chọn các sản phẩm du lịch
Điều kiện giao thông vận tải: đây là một trong những nhân tố chính quyết
định đến sự phát triển du lịch Bản chất hoạt động du lịch là sự di chuyển liên tục, vì vậy sự đồng bộ về hạ tầng giao thông và phương tiện vận chuyển ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn chuyến đi du lịch (có thể nhằm rút ngắn thời gian di chuyển, đảm bảo về mặt sức khoẻ, đảm bảo chất lượng hoạt động tham quan tại một
số điểm du lịch) Sự đa dạng các loại đường giao thông cũng như phương tiện vận chuyển giúp du khách có nhiều sự chọn lựa trong hoạt động du lịch
1.2.2.2 Điều kiện riêng
Môi trường tự nhiên: đây là một yếu tố rất quan trọng hình thành nên tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình (quyết định đến sự đa dạng và cảnh đẹp tại địa phương đó); khí hậu (những nơi có khí hậu ôn hoà thường thu hút được nhiều khách du lịch, hoạt động du lịch cũng đa dạng); thực vật (đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên cảnh quan xung quanh, sự đa dạng về số lượng và chủng loại các loài như rừng, có nhiều hoa, thảm thực vật đặc trưng ); động vật (một trong những
Trang 22yếu tố có thể góp phần thu hút khách du lịch); các nguồn nước khoáng (đây là yếu tố không thể thiếu trong việc hình thành sản phẩm loại hình du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh )
Giá trị văn hoá, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế: có ý nghĩa đặc trưng, là yếu tố thu hút sự quan tâm và là động lực thúc đẩy các hoạt động du lịch của
du khách tại điểm tham quan Trên thực tế, động lực thúc đẩy du khách thực hiện chuyến đi đến điểm du lịch là yếu tố “lạ”, cảm thụ những cái mà họ chưa từng được biết đến hoặc có giá trị nhất định đối với đời sống vật chất cũng như tinh thần nên những yếu tố này luôn được xem như là lực hút du khách
Sự sẵn sàng đón tiếp du khách: được thể hiện ở 3 nhóm điều kiện chính đó là
vế tổ chức nhân lực (số lượng và chất lượng, trình độ tay nghề qua đào tạo của những người đang làm việc trong ngành du lịch, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự hài lòng
và đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch của du khách, quyết định một phần đến việc lựa chọn quay trở lại lần hai ), về kỹ thuật (đảm bảo về các nhu cầu ăn, lưu trú, đi lại tương xứng với số tiền mà du khách bỏ ra, đồng thời quyết định đến việc du khách có lựa chọn lưu trú lại qua đêm tại điểm quan quan hay không ); về kinh tế (sự phát triển kinh tế kéo theo sự phát triển về mọi mặt trong đời sống và ngược lại, kinh tế ảnh hưởng đến đời sống dân cư, thái độ đón tiếp du khách trong các hoạt động
du lịch, thông thường trình độ phát triển kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng gắn liền với tư duy, nhận thức của người dân bản địa nếu đời sống của họ được hưởng lợi và nâng cao từ chính các các hoạt động du lịch này)
1.3 Sự hấp dẫn của điểm tham quan
Như vậy, như phần khái niệm đã nêu ở trên chúng ta có thể hiểu là một điểm
du lịch có nhiều điểm tham quan Nhiều nơi muốn xây dựng hình ảnh những điểm tham quan một cách đặc sắc, đa dạng nhằm mục đích lưu giữ chân du khách ở lại lâu
để có điều kiện tiêu dùng những sản phẩm du lịch, tìm hiểu, nâng cao nhận thức về mọi mặt đời sống của cộng đồng địa phương
Điểm tham quan càng nhiều, càng đa dạng và đặc sắc càng thu hút được đồng đảo du khách trong và ngoài nước Đồng thời, các hãng lữ hành có cơ sở để xây dựng, làm mới hoặc thiết kế đa dạng các chương trình du lịch phục vụ du khách bởi
Trang 23thị hiếu của du khách vô cùng phong phú Có thể phân loại các điểm tham quan theo những tiêu thức của phân loại điểm đến du lịch và cũng có thể rộng hơn, nhưng về cơ bản như sau: điểm tham quan là các di tích lịch sử, điểm tham quan là công trình văn hóa, điểm tham quan là các công viên chuyên đề, điểm tham quan là những làng nghề truyền thống, điểm tham quan là các công trình nghệ thuật, điểm tham quan là những nơi mua sắm của khách du lịch, điểm tham quan là những nơi chữa bệnh hoặc phục hồi sức khỏe…
Nhưng điều quan trọng nhất là phải làm nổi bật tính hấp dẫn của điểm tham quan, ngoài những yếu tố “phần cứng” đã nói ở trên để hấp dẫn khách du lịch thì chúng ta còn phải tính đến việc đảm bảo các nguyên tắc khi quy hoạch và tổ chức các điểm tham quan theo tiêu chí cơ bản như: lưu giữ khách tham quan ít nhất từ 3 - 5giờ; đảm bảo cho khách có thể xem, ngắm, nhìn và chiêm ngưỡng; đảm bảo cho khách có thể nghe, tạo ra những ấn tượng và cảm xúc; đảm bảo cho khách có thể mua quà lưu niệm để nhớ mãi nơi đã đến tham quan
1.4 Vai trò của di sản văn hóa trong hoạt động phát triển du lịch
1.4.1 Di sản văn hóa trong hoạt động phát triển du lịch
Với một quốc gia có bề dày về văn hoá, lịch sử như Việt Nam thì đi bất cứ nơi đâu cũng điều thấy có sự hiện diện của các di sản văn hoá với mật độ và cấp độ khác nhau Di sản văn hoá được coi như là thành tố quan trọng trong việc hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng thu hút du khách trong và ngoài nước, do đó
có một vị trí nhất định trong sự phát triển du lịch hiện nay và trong tương lai Bởi
vậy, Nguyễn Phạm Hùng (2017) có nhận định rằng:“…trong ngành du lịch, di sản văn hoá là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng bậc nhất” Vì vậy, đánh giá được
vai trò và tầm quan trọng của di sản văn hoá đối với sự phát triển du lịch giúp cho những người khai thác du lịch, khách du lịch, cơ quan quản lý du lịch có cái nhìn bao quát và tổng thể hơn, có hướng đi rõ ràng hơn
Việc định vị vai trò của di sản văn hóa giúp những người làm du lịch xác định được hiện chúng đang nằm ở đâu trong không gian hoạt động du lịch, đồng thời có ý nghĩa nhất định trong việc định hướng khai thác trong tương lai Ở đây có thể chỉ ra vai trò của di sản văn hóa ở các phương diện cụ thể như sau:
Trang 24Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định thị trường du lịch.Bởi thị
trường du lịch rất đa dạng, phong phú do thị hiếu của khách hàng và không phải nơi nào cũng có được sự đa dạng tài nguyên hay sản phẩm du lịch hoặc chỉ có một hay vài di sản giá trị nhất định đối với một thị trường khách nào đó Ví dụ như thị trường khách du lịch Á Đông gồm các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan rất quan tâm đến loại hình du lịch văn hóa trong đó có hệ thống di sản văn hóa Vì vậy mà dòng khách thị trường này luôn có một sự quan tâm rất lớn từ các đơn vị khai thác du lịch trong việc xác định, lựa chọn thị trường mục tiêu để quảng
bá, khai thác hoạt động du lịch
Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định các tài nguyên du lịch Tài
nguyên du lịch chỉ thực sự có giá trị khi nó được khai thác và sử dụng đúng mục đích, việc nó có tồn tại hay không tồn tại hoặc duy trì dưới dạng nào, được haykhông được nhiều người quan tâm biết đến,tùy thuộc vào mức độ đóng góp của
nó trong hệ thống tài nguyên du lịch, nếu không thì theo thời gian cũng sẽ bị mai một hoặc bị biến đổi dưới một dạng khác Điều đó mất đi các giá trị cốt lõi và tài nguyên du lịch có phong phú đa dạng hay không tùy thuộc vào các biểu hiện trên nhiều mặt của di sản văn hóa
Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định các dịch vụ du lịch thích hợp Nếu hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa lấy di sản văn hóa làm trọng tâm khai
thác thì các dịch vụ du lịch kèm theo phải phù hợp với bối cảnh khai thác du lịch tại
di sản văn hóa đó, nó giúp cho không gian du lịch được cô đọng, đúng chủ đề và mục đích tham quan Việc này góp phần đảm bảo tính hệ thống trong trạng thái cảm nhận giá trị di sản của du khách khi đi du lịch mà không làm hỗn tạp, pha loãng không gian, tạo ra sự nhàm chán, chắp vá và hiện tượng một đi không trở lại của du khách đối với điểm đến
Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định các sản phẩm du lịch đặc thù Bản chất của sản phẩm du lịch được cấu thành bởi 2 yếu tố bao gồm tài nguyên
du lịch (tài nguyên du lịch văn hóa và tài nguyên du lịch tự nhiên) và dịch vụ du lịch Sản phẩm văn hóa thì có nhiều nhưng không phải cái nào cũng có tính độc đáo,
giá trị để đảm bảo yếu tố “lạ” và “duy nhất” để trở thành sản phẩm du lịch văn hóa
Trang 25đặc thù đem vào khai thác hiệu quả Chính vì vậy mà yếu tố sản phẩm du lịch đặc thù mang lại lợi thế cạnh tranh cho các địa phương đang khai thác du lịch
Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định các thương hiệu, hình ảnh
du lịch Nhìn từ phương diện văn hóa mà nói, theo Từ Chi thì “những gì không phải
tự nhiên đều là văn hóa” nhưng không phải cái nào cũng có thể trở thành di sản văn
hóa bởi để đạt được sự công nhận đó phải đảm bảo các điều kiện và quy định của Luật di sản Có nhiều quốc gia di sản văn hóa được định hình như một thương hiệu đảm bảo, hình ảnh du lịch nhận diện rộng rãi trên bình diện quốc tế và đôi khi nó trở thành biểu tượng văn hóa quốc gia đem lại nhiều lợi ích trọn vẹn trong hoạt động du lịch và khu đền tháp Ăng kor Wat ở Campuchia là một ví dụ điển hình
Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định bản sắc văn hóa Việt trong kinh doanh du lịch (kiến trúc, điêu khắc, hội họa, trang trí…giao tiếp, ứng xử văn hóa…trong kinh doanh du lịch Con người tạo ra di sản văn hóa là điều không thể
bàn cãi, những do đặc điểm tự nhiên nơi cư trú cũng như quá trình tiếp biến, hỗn dung văn hóa…mà tạo nên những nét riêng biệt, không thể lẫn lộn mà thành ra cái gọi là bản sắc văn hóa Ở Việt Nam cũng vậy, với đặc thù đa dạng về địa hình, phong phú về các sắc tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục, tập quán…mà các di sản văn hóa được tạo ra luôn luôn có sự khác biệt từ cấu trúc đình chùa, đền tháp, nghệ thuật điêu khắc dân gian…hay cho đến ngay văn hóa ứng xử trong các hoạt động du lịch cũng mang đầy bản sắc vùng miền, địa phương
Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định chất lượng văn hóa trong du lịch Hoạt động tham quan hay sử dụng sản phẩm du lịch văn hóa thông qua các di
sản văn hóa còn hiện diện của du khách luôn có những yêu cầu rất cao không thể cân đo đong đếm được mà phải đo lường bằng sự hài lòng, thỏa mãn của du khách sau chuyến tham quan Sở dĩ phải nói đến điều này bởi sự khó tính của thị trường
du khách đối với sản phẩm du lịch văn hóa khi người đi tham quan họ đã tìm hiểu thông tin, nghiên cứu rất kỹ và muốn tìm hiểu thêm các giá trị của di sản văn hóa Hay nói cách khác, chất lượng văn hóa trong du lịch phụ thuộc vào tầm vóc và giá trị của di sản văn hóa
Trang 26Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định các điểm du lịch Như trên
đã đề cập về điểm du lịch, bản thân di sản văn hóa là sản phẩm văn hóa và đồng thời là tài nguyên du lịch văn hóa có giá trị để khai thác vào hoạt động du lịch Các yếu tố nội tại để trở thành một di sản văn hóa bao gồm giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học…chính là những điểm nội bật tạo nên sự hấp dẫn du khách Một điểm du lịch
có được khách quan tâm, biết đến hay không chính nhờ những giá trị văn hóa này, đồng thời đó cũng chính là những nội dung cơ bản để hình thành nên thương hiệu
nhận diện điểm đến
Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định tuyến du lịch Trong một
không gian lãnh thổ, vùng hay địa phương có thể có nhiều di sản văn hóa, đó là một lợi thế lớn để các nơi đem vào khai thác du lịch Nhưng nếu chỉ khai thác với tư cách là một điểm du lịch duy nhất thì sản phẩm du lịch không khỏi đơn điệu mà phải có tính kết nối, liên hoàn trở thành một tuyến điểm đặc sắc Mặc dù cái tinh thần văn hóa có thể như nhau,nhưng nội dung có sự khác biệt và bổ sung các giá trị cho nhau để du khách có dịp đối chiếu, thẩm định, đánh giá không gian văn hóa Điều đó tạo cho du khách có một cảm hứng nhất định trong việc có tiếp tục quảng
bá, giới thiệu cho bạn bè, người thân về sản phẩm du lịch này hay không
Di sản văn hóa góp phần quan trọng quyết định quy hoạch phát triển du lịch
Sự hiện diện của di sản văn hóa góp phần làm đa dạng sản phẩm du lịch văn hóa ở mỗi địa phương nhưng nó cũng bị chi phối bởi những điều kiện được quy định trong Luật di sản Để khai thác nó có hiệu quả đòi hỏi phải có sự quy hoạch phát triển một cách khoa học theo hướng bền vững thể hiện tầm nhìn cho tương lai nhưng không làm mất đi các giá trị cốt lõi tự thân làm nên nét đặc sắc của di sản văn hóa đó Bởi lẽ ai cũng biết rằng việc khai thác tối đa hiệu quả về lợi ích kinh tế
mà không chú ý đến yếu tố bền vững sẽ phá vỡ đi không gian, cảnh quan, kiến trúc hài hòa của một quần thể di sản văn hóa, điều đó vừa vi phạm Luật di sản lại vừa mất đi sự thiện cảm cùng giá trị văn hóa đối với du khách Khi thực hiện quy hoạch phải hết sức chú ý vấn đề này
Trang 271.4.2 Sự hấp dẫn của di sản văn hóa ở Việt Nam
Mỗi di sản dù là tự nhiên hay văn hóa cũng đều có những nét đặc thù và hấp dẫn khác nhau tạo nên bức tranh sống động khi đưa vào khai thác hoạt động du lịch
Theo Phan Huy Xu và Nguyễn Võ Văn Thành (2018): “ đây là nguồn tài nguyên đặc biệt mà trên cơ sở đó, chúng ta sẽ xây dựng những sản phẩm du lịch đặc thù về
di sản để thu hút khách ngoài những tài nguyên khác mà chúng ta có được” Thực
tế cho thấy, trong 27 di sản thế giới đã được công nhận, Việt Nam có 24 di sản thế giới có thể được xếp vào nhóm di sản văn hóa bao gồm: 5 di sản văn hóa vật thể, 12
di sản văn hóa phi vật thể, 6 di sản tư liệu và 1 di sản hỗn hợp (vừa tự nhiên, vừa
văn hóa) trong đó có thể kể ra tiêu biểu như: Quần thể di tích cố đô Huế, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Đô thị Hội An, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội và Thành nhà Hồ là 5 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận mà
mỗi di sản đều có một nét riêng, độc đáo và hấp dẫn Đó là còn phải kể thêm nhóm
di sản tư liệu– một dạng di sản của văn hóa vật thể bao gồm như Mộc bản triều Nguyễn, Bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê và Mạc, Mộc bản kinh Phật thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm, Châu bản triều Nguyễn, Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế và Mộc bản trường học Phúc Giang (Hà Tĩnh) Ngoài ra, UNESCO công nhận một di sản hỗn hợp hay còn gọi là di sản kép đầu tiên ở Việt Nam là Quần thể danh thắng Tràng An
Ngoài những di sản thế giới ra, Việt Nam còn có rất nhiều di tích được Nhà
nước công nhận là Di tích cấp quốc gia như di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ
thuật, danh lam thắng cảnh, di tích khảo cổ Chỉ tính riêng các di tích quốc gia đặc biệt sau 9 đợt xếp hạng thì cả nước có tới 105 di tích được công nhận Thêm vào đó
là 164 bảo vật quốc gia cũng là dạng tài nguyên văn hóa vật thể du hút khách du lịch với những nét đặ thù riêng
Nếu có kế hoạch khai thác hợp lý nguồn di sản văn hóa (bao gồm di sản thế giới, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia, di tích cấp tỉnh và địa phương ) này thì chúng ta có thể xây dựng được những sản phẩm du lịch rất đặc thù, hấp dẫn về mặt văn hóa mà không nhiều quốc gia trên thế giới có được
Trang 281.5 Những vấn đề đặt ra trong việc khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch
Việc khai thác di sản văn hoá nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng trong phát triển du lịch ngày nay luôn luôn phải tính toán kỹ lưỡng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng Thị trường du khách ngày một đa dạng, thị hiếu du khách phong phú do đó cũng có sự khác biệt nhất định trong tâm lý du lịch, nếu không biết khai thác đúng cách sẽ dẫn đến những bất cập kéo theo những hệ luỵ khôn lường liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, vấn đề phát triển du lịchmột cách bền vững Vì vậy, Nguyễn Phạm Hùng (2017) cho rằng, khai thác di sản văn hoá trong phát triển du lịch phải quan tâm một số vấn đề có tính nguyên tắc sau:
a) Cân bằng lợi ích văn hoá và lợi nhuận kinh tế
b) Phát triển du lịch bền vững, khai thác kết hợp tái đầu tư
c) Sự tham gia và trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh du lịch
d) Sự tham gia và trách nhiệm của cộng đồng trong kinh doanh và bảo tồn văn hoá
e) Kết hợp các lĩnh vực văn hoá xã hội khác nhau trong kinh doanh du lịch f) Giáo dục ý thức bảo vệ Di sản văn hoá trong kinh doanh du lịch (chính quyền, cư dân, người khai thác, du khách…)
Để đảm bảo việc thực hiện khai thác di sản văn hóa trong du lịch theo hướng bền vững, đồng thời đảm bảo được tính nguyên tắc đã nêu ở trên đòi hỏi những đối tượng hoạt động trong lĩnh vực du lịch phải thực sự khách quan, cầu thị, hài hòa với nhau và cùng nhìn về một hướng; điều đó mới đảm bảo được sự toàn vẹn về mặt lợi ích giữa các bên mà di sản văn hóa cũng được đầu tư, tôn tạo tiếp tục nuôi dưỡng cho sự phát triển của hoạt động du lịch
1.6 Những bài học kinh nghiệm trong việc khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch
Trang 29động An Tôn thời Trần), thành Tây Giai (vì ở phía Tây thuộc địa phận thôn Tây Giai), Thạch thành (tòa thành xây dựng bằng đá), thành Nội (vòng thành quan trọng bên trong La Thành) thuộc địa phận 2 xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tòa thành là một chứng tích kỳ vĩ và duy nhất về lịch sử và văn minh Đại Việt (cuối thế kỷ 14- đầu thế kỷ 15)
Ngày 27 tháng 6 năm 2011, sau 6 năm đệ trình hồ sơ, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Hiện nay, nơi đây đã được Thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt
Về công tác tổ chức, quản lý, quy hoạch du lịch
Chính phủ Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý bảo vệ khu di sản thông qua quyết định công nhận di tích Thành nhà Hồ là di tích quốc gia năm 1962 Cũng trong năm 2007, chính quyền tỉnh đã ban hành Quy chế quản lý và bảo vệ khu di tích Hội đồng Di sản Quốc gia, với thành viên là các chuyên gia lịch sử, khảo cổ học, văn hóa và bảo tồn di sản thường xuyên tư vấn cho Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch trong việc chỉ đạo các vấn đề liên quan đến kế hoạch nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản Đây là một trong những điều kiện tiên quyết có tính chất quyết định trong việc định hương ứng xử với di sản văn hóa trong các hoạt động tương lai, đặc biệt trong khai thác du lịch và còn nhấn mạnh vai trò giữa các bên có liên quan như:
Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục di sản và Hội đồng Di sản Quốc gia) với các nội dung: Bảo vệ di sản Thành nhà Hồ trong khuôn khổ phát triển bền vững; Giám sát việc thực hiện kế hoạch quản lý và thông qua các chương trình hoạt động của Trung tâm Bảo tồn đối với khu vực di sản Thành nhà Hồ và vùng đệm; Đề xuất các quy định pháp lý cần thiết, các văn kiện chính sách và các chuẩn mực thực hành để mang lại hiệu quả cho kế hoạch quản lý; Thông qua hoặc từ chối các dự thảo quy hoạch phát triển cấp nhà nước và các kế hoạch lớn khác; Thông qua các dự án nghiên cứu, trên cơ sở ý kiến tư vấn của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ;
Đối với chính quyền địa phương mà cụ thể ở đây là tỉnh Thanh Hóa thực hiện xây dựng kế hoạch quản lý di sản Thành nhà Hồ và vùng đệm sẽ thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 30- Giám sát sự hoạt động của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ
- Thông qua hoặc từ chối tất cả các kế hoạch phát triển cấp tỉnh trong khu vực di sản Thành nhà Hồ và vùng đệm
- Bổ nhiệm nhân sự Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ
- Quyết định các hoạt động khẩn cấp để đối phó với thiên tai và hiểm họa, đặc biệt là trong trường hợp có hỏa hoạn, bão lụt và lở đất
- Quyết định các đề xuất về trưng bày, thuyết minh và các công trình phục vụ
du lịch của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ;
- Phát huy vai trò của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà ở các mặt chủ yếu: thực hiện các hoạt động về quản lý, bảo tồn và bảo vệ khu di sản được đề cử theo nguyên tắc hàng ngày Trung tâm Bảo tồn Di sản đóng vai trò chủ phối hợp với các cơ quan và tổ chức có liên quan trong và ngoài nước để thực hiện các chương trình của kế hoạch quản lý
- Phối hợp và tư vấn cho UBND huyện Vĩnh Lộc trong việc quản lý việc sử dụng đất trong khu vực bảo vệ thuộc vùng 1, phê duyệt các công trình xây dựng hoặc sửa chữa cần có giấy phép trong vùng đệm
- Giám sát mọi hoạt động trong vùng 1
- Phối hợp với các cán bộ văn hóa xã, huyện và các chủ sở hữu di tích kiểm soát
và giám sát điều kiện của các di tích và tác động của các thay đổi trong vùng đệm
- Thực hiện việc làm hồ sơ, đăng kí và quản lý các hiện vật khảo cổ học và các hiện vật sưu tầm
- Quản lý, hối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức và thực hiện tất cả các dự án nghiên cứu tiến hành trong vùng 1 và vùng đệm của khu di sản,
- Giám sát tính hiệu quả của kế hoạch quản lý trong việc bảo vệ di tích
Về công tác quy hoạch phát triển du lịch tại Thành nhà Hồ
Từ khi chưa được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, ngày 03/02/2004, Thành nhà Hồ đã được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt Quy hoạch chi tiết Khu du lịch Thành nhà Hồ tại Quyết định số 292/QĐ - CT với mục tiêu xây dựng khu du lịch Thành nhà Hồ và phụ cận nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài
Trang 31nguyên, phát triển các sản phẩm du lịch, làm cơ sở xây dựng các dự án đầu tư vào
khu du lịch Thành nhà Hồ và các danh thắng phụ cận
* Địa điểm quy hoạch
Nằm trên địa phận thuộc 2 xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh hoá; cách thành phố Thanh Hoá 44 km
* Phạm vi qui hoạch
Ranh giới: Phía Bắc và phía Nam là đất nông nghiệp; Phía đông giáp quốc lộ
45; Phía tây giáp khu dân cư thôn Xuân Giai
* Qui mô diện tích: 15,6 ha với các khu chức năng sau:
Khu A: Khu chức năng đón tiếp, hướng dẫn du khách và dịch vụ công cộng
(diện tích 4,7 ha)
Khu B: Khu chức năng trung tâm văn hoá, lễ hội và các trò chơi dân tộc
(diện tích 3,8 ha)
Khu C: Khu chức năng nhà nghỉ, khách sạn, dịch vụ nghỉ ngơi, ăn uống, tổ
chức các trò chơi trong nhà; sân chơi thể thao hiện đại với diện tích 3,3 ha
Khu D: Khu Công viên văn hoá nhà Hồ (diện tích 3,8 ha)
Cơ quan quản lý dự án là Sở Văn Hoá,Thể thao và Du lịch Thanh Hoá với
tổng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng 78,8 tỉ đồng
Sau khi Thành nhà Hồ được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, ngày
26/8/2013 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1495/QĐ-TTg phê duyệt
nhiệm vụ Quy hoạch tổng thể bảo tồn, phát huy giá trị di tích Thành nhà Hồ và
vùng phụ cận gắn với phát triển du lịch
Mục tiêu quy hoạch là bảo tồn, tôn tạo di tích Thành nhà Hồ nhằm bảo tồn
vững chắc, tôn vinh giá trị nổi bật toàn cầu của khu di tích Thành nhà Hồ là Di sản
Văn hóa Thế giới và xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử đặc biệt của khu
vực Bắc Trung Bộ Quy hoạch có quy mô khoảng 5.078,5ha, gồm vùng lõi và vùng
đệm, trong đó vùng lõi rộng 155,5ha và vùng đệm rộng 4.923ha
Phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch được xác định theo ranh giới được
UNESCO công nhận, bao gồm khu vực di tích Thành nhà Hồ và vùng phụ cận thuộc
địa bàn các xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Thành, Vĩnh
Trang 32Phúc, Vĩnh Khang, Vĩnh Ninh và Thị trấn Vĩnh Lộc, thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Ranh giới nghiên cứu được xác định: phía Bắc giáp chân núi bên kia Thổ Tượng, phía Nam giáp bờ bên kia sông Mã và sông Bưởi, phía Đông giáp chân núi bên kia núi Hắc Khuyển và phía Tây giáp chân núi bên kia núi Ngưu Ngọa
Quyết định cũng nêu rõ, cần khảo sát, đo vẽ và đánh giá hiện trạng di tích; nghiên cứu các tư liệu thư tịch và hồ sơ khảo cổ, hoàn thiện hồ sơ hệ thống di tích; hiện trạng quản lý di tích; tình hình kinh tế - xã hội và du lịch; xác định cấu trúc quy hoạch, kiến trúc cảnh quan khu vực Thành nhà Hồ và vùng phụ cận; nghiên cứu các
tư liệu thư tịch và hồ sơ khảo cổ; dự báo phát triển và xác định các chỉ tiêu kinh tế -
xã hội khu vực quy hoạch trong quá trình quản lý tài sản; định hướng quy hoạch không gian bảo tồn, hạ tầng kỹ thuật bảo tồn và phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch…
Trong quá trình thực hiện quy hoạch cần kiến nghị về việc điều chỉnh mở rộng hoặc thu hẹp các khu vực bảo vệ di tích Xác định các vùng cảnh quan thiên nhiên cần phải bảo vệ để không ảnh hưởng đến di tích; các khu vực cho phép xây dựng mới; các khu vực hạn chế kiểm soát phát triển Riêng về xây dựng phân khu chức năng, cần đề xuất cơ cấu phân khu chức năng xây dựng, gồm các khu vực bảo tồn di tích; khu dân cư đô thị - nông thôn; khu vực phát triển các chức năng công cộng, dịch vụ du lịch; vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên phù hợp với các định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di tích, phù hợp với các định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Lộc nói riêng, tỉnh Thanh Hóa nói chung
Về công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tại Thành nhà Hồ
Những năm gần đây, công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch tại Thành nhà
Hồ được chú trọng và làm tương đối hiệu quả Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà
Hồ đã tăng cường các hoạt động quảng bá với nhiều hình thức phong phú, sinh động và đa dạng để có thể đưa được thông tin du lịch đến với du khách bằng nhiều kênh, nhiều nguồn để du khách tham khảo như: internet với trang thông tin điện tử
www.thanhnhaho.vn; sách báo là những cuốn “Thành nhà Hồ Thanh Hóa” do Viện
Khảo cổ học biên soạn với ngôn từ ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu, hình ảnh đẹp, rõ
nét, cuốn “Thành nhà Hồ - Di sản Thế giới” do nhóm cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di
Trang 33sản Thành nhà Hồ biên soạn Hai cuốn sách nói trên đều được biên soạn theo 2 hai thứ tiếng: tiếng Việt và tiếng Anh, có dung lượng từ 80-180 trang đã đưa ra giá trị nổi bật toàn cầu và các tiêu chí được UNESCO ghi nhận là Di sản Thế giới cùng nội dung: khẳng định và giải trình rõ những giá trị nổi bật toàn cầu của di sản Thành nhà Hồ, mô tả được những di tích phụ cận mang tính chất lịch đại và đồng đại có liên quan đến vùng kinh đô cổ Tây Đô
Ngoài ra, để hỗ trợ cho công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch cho Thành nhà Hồ, các cấp chính quyền địa phương còn cho ra những loại hình ấn phẩm
CD – Video, album ảnh, tờ rơi, tờ gấp, pano, áp phích đa dạng nhiều chủng loại để tăng tính hiệu quả trong công tác tiếp thị du lịch
Một số kết quả đạt được trong hoạt động du lịch tại Thành nhà Hồ
Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa (2019): với những nỗ lực từ chính quyền địa phương, đặc biệt là phía Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành Nhà Hồ, 6 tháng đầu năm 2019, trung tâm đã đón, tiếp và giới thiệu về di sản Thành Nhà Hồ cho 91.590 lượt khách tham quan (tăng 45% so với cùng kỳ năm 2018), trong đó khách trong nước 87.105 (chiếm 95 %), khách quốc tế 4.485 lượt người (chiếm 5%) tăng 26% so với cùng kỳ năm 2018
1.6.2 Những bài học ở ngoài nước
Bài học về phát triển du lịch tại quần thể di tích Angkor, Campuchia
Năm 2018, Campuchia đã đón tiếp 6,2 triệu lượt du khách nước ngoài, trong
đó có 2 triệu lượt du khách Trung Quốc, với tổng doanh thu đạt 4,35 tỷ USD Đến tháng 11/2019 nước này đã đón 4,81 triệu lượt du khách nước ngoài trong giai đoạn
từ tháng 1-9/2019, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2018
Hồi giữa tháng 10/2019, tạp chí du lịch danh tiếng Conde Nast Traveler đã đưa Campuchia vào danh sách 20 quốc gia nên đến du ngoạn nhất trong năm tới Như vậy, chưa đầy một tháng sau khi Vương quốc Campuchia tăng ba bậc từ
vị trí 101 lên 98 về Chỉ số Cạnh tranh Du lịch và Lữ hành (TTCI), quốc gia này được tạp chí Conde Nast Traveler đánh giá cao hơn trong năm 2020 sau khi không lọt Top 20 năm 2019
Trang 34Có được thành công trên do Campuchia đã xác định rõ di tích lịch sử-văn hoá là sản phẩm du lịch trọng điểm, nên đã có những chính sách bảo tồn tích cực,
khoa học và hữu hiệu cho phát triển du lịch
Với quần thể Angkor – Di sản văn hoá thế giới do UNESCO xếp hạng, công tác bảo tồn, quản lý được thực hiện một cách chuyên nghiệp và có tính bền vững cao Những ngôi đền trong khu Angkor Wat bị thực vật xâm lấn, nhất là loại cây cổ thụ có tên gọi là cây Tung Khi rễ cây Tung phát triển đến đâu, nó sẽ đâm thủng những viên gạch và sập mái, tường Thế nhưng, thay vì trát ximăng hay những vật liệu hiện đại để tạo sự kết dính bền vững như nhiều công trình ở Việt Nam, các
chuyên gia tại Campuchia chỉ dùng gạch, gỗ chống đỡ, xếp gọn những tảng đã bị sập lại trong lúc tạm thời chưa có biện pháp phục chế hữu hiệu Cách làm này đã
giữ nguyên được kiến trúc cổ của Angkor trong nhiều năm qua mà không bị “làm mới”, không bị lai tạp
Sau khi Angkor được công nhận là Di sản thế giới, lượng khách du lịch đổ về tăng mạnh mỗi năm Có thời điểm khách đến Angkor chiếm 40% tổng lượng khách quốc tế đến Campuchia Tuy nhiên, ngay khi có cảnh báo của UNESCO về đe doạ xuống cấp Angkor vì khách tham quan quá đông, ngành du lịch Campuchia ngay lập tức nghiên cứu và thực hiện biện pháp kiểm soát và hạn chế khách du lịch Năm
2003, khách vào đền Angkor Wat chỉ được tối đa 300 khách mỗi lượt và thời gian tham quan chỉ kéo dài tối đa 2 giờ đồng hồ Đến nay, các biện pháp hạn chế khách vẫn tiếp tục được nghiên cứu và đề xuất để đối phó với nhu cầu tham quan không ngừng tăng lên hằng năm Việc phát triển các khu du lịch biển tại các hòn đảo và thị trấn Kép thuộc Sihanoukville ngoài mục đích khai thác tài nguyên du lịch biển còn nằm trong chủ trương giãn khách khỏi Angkor, hướng khách du lịch những sản phẩm du lịch khác để giảm sức ép cho di sản
Việc quy hoạch đô thị để phát triển du lịch bền vững được chính phủ Campuchia thực hiện gắt gao Các khách sạn quanh khu Angkor ở Siem Riep không được phép cao quá 3 tầng, bất kể đó là khách sạn 4 sao hay 5 sao Tất cả các phố
mặt tiền đều được quy hoạch tổng thể và tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn về kiến
Trang 35trúc, chỉ giới xây dựng Thậm chí, các tuyến phố cổ, phố cũ nằm trong khu vực bảo tồn và các nhà phải sơn cùng một màu
Khi Campuchia phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng hàng loạt các tuyến đường giao thông mới để phục vụ cho du lịch, một quy định được ban hành là tất cả các cây cầu cổ phải giữ nguyên Người ta chấp nhận làm đường vòng xa hơn và tốn kém hơn để giữ lại những cây cầu bằng đá ong, đá cẩm thạch và không có phương tiện cơ giới đi qua những cây cầu này Nhờ thế mà rất nhiều cầu cổ có từ thế kỷ thứ
IX, X ở Campuchia đã trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn, đặc biệt là cây cầu 1300 tuổi mang tên KampongKdei (nằm cách Siem Riep 65km về phía Nam) Bảo tồn di sản để phát triển du lịch bền vững chỉ là một trong những quan điểm du lịch, chính sách du lịch hiệu quả của Campuchia Đất nước của nụ cười Bayon này còn thực thi nhiều giải pháp đáng để các quốc gia khác học tập trong việc thúc đẩy du lịch
Có thể kể đến những tiêu chí bắt buộc với một Hướng dẫn viên du lịch tại
Angkor Những hướng dẫn viên được hành nghề ở đây đều phải trải qua những khoá đào tạo bài bản từ chính UNESCO hoặc những địa chỉ dạy nghề có uy tín đã được Nhà nước thừa nhận Và dĩ nhiên, giá thuê hướng dẫn viên không thể rẻ, tối
thiểu là 30USD/ngày Chính vì quy định khắt khe này mà hiện nay Angkor thiếu rất nhiều hướng dẫn viên song không vì thế mà cơ quan quản lý di tích này nới lỏng điều kiện trình độ
Vé tham quan Angkor cũng là một điều thú vị Với khách quốc tế, giá vé được phân định theo thời gian tham quan: trong ngày là 37 USD, 3 ngày là 62 USD
và 7 ngày là 70 USD cũng là mức giá tối đa áp dụng cho cả tuần hay cả tháng Mức giá này thể hiện quan niệm: nếu bạn yêu Angkor đến mức thăm nó tới 3 ngày liền chưa chán thì bạn đượ giảm dần theo độ dài thời gian tham quan tại đây Cách làm này không chỉ tạo tâm lý được tiếp đón của du khách mà còn kích thích du khách ham muốn khám phá, tìm hiểu sâu kỹ về quần thể di tích vĩ đại này Khách càng tìm hiểu sâu, nền văn hoá - lịch sử Campuchia càng được quảng bá rộng và đó là cách quảng bá, xúc tiến tại chỗ tốt đến không thể tốt hơn
Trang 36Chính phủ Campuchia cũng thực hiện một loạt các chính sách về du lịch như
tổ chức hàng loạt chương trình quảng bá, xúc tiến tại các quốc gia châu Á, Âu, Mỹ; cải thiện hệ thống đường sá, phát triển nhiều điểm du lịch sinh thái tại các tỉnh miền sâu, miền xa phía Bắc; đơn giản hoá thủ tục xuất nhập cảnh như cấp visa ngay tại các cửa khẩu, sân bay, miễn visa cho một số quốc gia; bố trí cảnh sát du lịch tại tất
cả các điểm du lịch… Tất cả những chính sách này đã tạo ra hình ảnh mới về một Campuchia thân thiện, cởi mở, sẵn sàng chào đón và cực kỳ chuyên nghiệp
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh là những di tích văn hóa nghệ thuật, kiến trúc và khảo cổ có tiềm năng phát triển du lịch nhưng hoạt động du lịch ở đây vẫn chưa thực sự trở mình mạnh mẽ do chưa tìm được hướng đi phù hợp bởi nhiều lý
do Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá kinh nghiệm thành công trong thực tiễn công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản, di tích văn hóa đối với sự phát triển du lịch của các quốc gia và tỉnh thành có ý nghĩa lớn trong việc rút ra bài học, đem áp dụng vào điểm du lịch Thành cổ và Văn miếu Diên Khánh để có thể phát triển tương xứng với những tiềm năng vốn có của chúng.Tại Việt Nam, du lịch di sản đã và đang phát triển ở nhiều địa phương với nhiều cách khai thác khác nhau trong những năm gần đây Điều này thu hút sự quan tâm chú ý rất lớn đối với du khách trong và ngoài nước, cho thấy sự đóng góp tích cực của hoạt động du lịch văn hóa đối sự phát triển chung của ngành du lịch Việt Namtrong quá trình hướng tới trở thành điểm đến của nhiều thị trường khách du lịch lớn trên thế giới
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI THÀNH CỔ VÀ
VĂN MIẾU DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA 2.1 Khái quát về Thành cổ Diên Khánh và Văn miếu Diên Khánh
2.1.1 Thành cổ Diên Khánh
2.1.1.1 Vị trí địa lý, cảnh quan và môi trường
Thành cổ Diên Khánh nằm cách TP Nha Trang chừng 10km về phía Nam, địa phận khóm Đông Môn, thị trấn Diên Khánh Vùng đất xanh um cây trái này
đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử, lưu lại trong lòng người nhiều giai thoại khó quên
Thành chiếm diện tích khoảng 36.000m2 Tường thành hình lục giác dài 2.693m, 6 cạnh không đều nhau
Trên mỗi cạnh, tường thành lại chia ra nhiều đoạn nhỏ, uốn lượn nên các góc thành không nhô hẳn ra mà vẫn bảo đảm quan sát được hai bên Tường thành đắp đất cao chừng 3m50, mặt ngoài tường thành hơi dựng đứng Mặt trong có độ thoải
và được đắp thành hai bậc, tạo một đường vận chuyển thuận lợi ven thành
Bên ngoài thành là hào nước sâu khoảng 3 - 4m, có đoạn sâu tới 5m Bề rộng mặt hào cũng không đều nhau, tại các góc thành thường hẹp hơn (chừng 15m) và rộng nhất là trước các cổng thành, chừng 40m, lòng hào thường xuyên đầy nước từ sông Cái dẫn vào Bên ngoài hào nước đắp một đường đi - gọi là đường ngoài hào
để tuần tra, vận chuyển, nhân dân gọi là đường quan phòng
Đặc biệt, mặt Bắc thành giáp sông Cái thường bị xói mòn vào mùa mưa lụt
do nước thượng nguồn tràn về, dâng cao, chảy xiết nên những người xây thành đã trồng nhiều cây gỗ sao - một loại cây có khả năng giữ đất chống xói mòn, sụt lở Sao trồng thành hàng dày, nên nhân dân thường gọi là Hàng Sao Sau đó, sao phát triển thành bãi chi chít và tới nay bị hủy hoại nhiều chẳng còn mấy nhưng tên Hàng Sao vẫn giữ nguyên
Khi xây dựng xong (1793) thành Diên Khánh có 6 cửa (cổng), 6 cạnh tường thành Hiện nay chỉ còn lại 4 cửa: Đông, Tây, Tiền (Nam), Hậu (Bắc) Năm 1823, cửa Tả và cửa Hữu đã bị lấp, tới nay không còn dấu vết gì, tuy vậy ta có thể dự đoán hai cổng cũng nằm trên hai cạnh tường thành Tây Nam và Đông Nam
Trang 39Theo khảo cứu của Thụy Khuê (2017) thì hai người trực tiếp đắp thành được ghi trong Đại Nam liệt truyện là Tôn Thất Hội và Vũ Viết Bảo Còn người thiết kế, chỉ huy việc đắp thành cho đến giờ không thấy ai nhắc đến
2.1.1.2 Lịch sử hình thành
Cùng với Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) và kinh thành Huế, Thành Diên Khánh (Khánh Hòa) là ba thành cổ còn tương đối nguyên vẹn so với kiến trúc ban đầu ở nước ta Trong đó, thành Diên Khánh từng có một vị trí chiến lược quan trọng
ở Nam Trung bộ, nơi lưu dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng
Năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Hùng Lục hầu cầm quân đánh dẹp quân Chiêm, nhân đó lấy đất từ phía Đông sông Phan Rang đến đầu địa giới Phú Yên đặt làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh Nhận thấy phần đất này liền núi, cạnh sông, gần biển, Hùng Lục hầu cho thiết lập đồn lũy để tăng cường phòng thủ Năm 1690, phủ Thái Khang đổi tên là phủ Bình Khang Năm 1742 lại đổi tên là phủ Diên Ninh thành phủ Diên Khánh
Năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn khởi binh đánh bại quân của chúa Nguyễn,
mở rộng căn cứ ở Bình Định rồi tiến vào phía Nam, chiếm thành Diên Khánh làm lỵ
sở của dinh Bình Khang
Năm 1775, sau khi đánh bại quân của Tống Phúc Hiệp chỉ huy, quân Tây Sơn chiếm lại Phú Yên, Bình Khang, Diên Khánh và mở rộng vùng kiểm soát vào tận Bình Thuận Năm 1792, vua Quang Trung băng hà, nhà Tây Sơn suy yếu dần Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng Võ Tánh và nguyễn Văn Trương đem quân đánh chiếm Diên Khánh Sau khi đẩy lùi quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh quyết định xây dựng thành Diên Khánh thành căn cứ quân sự vững chắc để duy trì vùng kiểm soát của mình Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn có ghi
“Năm Quí Sửu (1793), đại binh tiến đánh Tây Sơn ở Quy Nhơn Khi trở về vua nghỉ chân ở Diên Khánh, xem xét địa thế, nhân chỗ đồn cũ đắp thành đất, mở sáu cửa, mỗi cửa đều có lầu, bốn góc thành đều có núi đất Ngoài thành có hào, ngoài hào
có xây lũy chắn ngang Các cửa thành đều có xây cầu đi qua, trước thành, sau thành đều có núi sông bảo vệ, thật là một nơi hiểm trở vô cùng…” Thành Diên
Khánh ra đời từ đó
Trang 40Năm 1794, nhà Tây Sơn phái tướng Trần Quang Diệu đem quân vào tấn công thành Diên Khánh nhưng không đạt được mục đích.Thành Diên Khánh vẫn nằm trong tay quân chúa Nguyễn và trở thành lỵ sở của nhà Nguyễn tại dinh Bình Khang, sau đó dinh Bình Khang đổi thành Bình Hòa (năm 1803) rồi Khánh Hòa (năm 1832)
Năm 1858, thực dân Pháp đem quân xâm lược nước ta Đến năm 1885, phong trào Cần Vương bùng nổ Tại Khánh Hòa, ông Trịnh Phong cùng các ông Lê Nghị và Trần Đường cùng các sĩ phu đứng lên chiêu tập quân sĩ hưởng ứng hịch Cần Vương, chọn Thành Diên Khánh trở thành Tổng hành dinh của quân Cần Vương Khánh Hòa
Năm 1886, quân Pháp từ Nam Kỳ kéo ra, đổ bộ lên Nha Trang và diễn ra các trận chiến ác liệt với nghĩa quân Cần Vương tại đây, Thành Diên Khánh trở thành chiến địa giữa đôi bên và cuối cùng rơi vào tay Pháp
Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Khánh Hòa, hàng ngàn quần chúng cách mạng tiến vào thành Diên Khánh khởi nghĩa và giành chính quyền Lần đầu tiên trong lịch sử, thành Diên Khánh trở thành trụ sở chính quyền cách mạng, chính quyền của nhân dân
Tháng 9 năm 1945, Pháp trở lại xâm lược, kháng chiến bùng nổ, các cơ quan lãnh đạo của tỉnh Khánh Hòa, sở chỉ huy Mặt trận Nha Trang và nhiều cơ sở quân y, quân giới, cơ khí, vận tải dời về thành Diên Khánh, thành lập tổng hành dinh của cuộc kháng chiến chống Pháp tại Khánh Hòa Cuối tháng Giêng năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp (là đặc phái viên của Chính phủ được Bác Hồ giao nhiệm vụ kiểm tra tình hình chiến trường ở Nam Trung bộ) đã triệu tập một cuộc họp tại nội thành Diên Khánh để truyền đạt chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” của Trung ương Đêm ngày 01 tháng 2 năm 1946, đơn vị giải phóng quân cuối cùng rút khỏi thành Diên Khánh, đánh dấu thắng lợi của 101 ngày đêm giữ mặt trận Nha Trang Từ đó thành Diên Khánh bị thực dân Pháp chiếm đóng
Pháp thua rút quân về nước, đất nước Việt chia làm 2 miền sau hiệp định Giơ
ne vơ Tháng 4 năm 1975, kết hợp với lực lượng chủ lực, lực lượng vũ trang và