1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hình ảnh người lao động trên báo chí công đoàn​

141 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 4,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mức độ đánh giá của độc giả về hình ảnh người lao động tài năng luôn tìm tòi sáng tạo trong công việc đã được thể hiện trên báo chí Công đoàn đơn vị% .... Mức độ đánh giá của độc giả về

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN VĂN VƯƠNG

HÌNH ẢNH NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN BÁO CHÍ CÔNG ĐOÀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN VĂN VƯƠNG

HÌNH ẢNH NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN BÁO CHÍ CÔNG ĐOÀN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đỗ Thị Thu Hằng Các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, phát hiện mới là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây Luận văn có sử dụng, phát triển, kế thừa một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu liên quan đến nội dung đề tài

Tác giả luận văn

Trần Văn Vương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy, cô giáo Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tôi vô cùng quý trọng, biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chân thành gửi lời tri ân đến toàn thể các thầy, cô giáo Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cám ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Đỗ Thị Thu Hằng đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Và hơn hết, trong quá trình làm luận văn, tôi

đã học tập ở cô một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn thận, tỉ mỉ và một thái độ làm việc hết mình Xin được gửi đến cô sự biết ơn và lòng kính trọng chân thành nhất

Cám ơn bạn bè và đồng nghiệp tại cơ quan báo Lao động, báo Người Lao đông và báo Lao động Thủ đô đã tạo điều kiện và cung cấp những tư liệu cho tôi trong quát trình viết luận văn

Cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tin tưởng, động viên và ủng hộ

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của Hội đồng Khoa học, của quý thầy, cô giáo cùng với sự góp ý của bạn bè đồng nghiệp

để luận văn hoàn thiện có chất lượng tốt hơn

Hà Nội, tháng 07 năm 2020

Trần Văn Vương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 17

7 Đóng góp mới của luận văn 18

8 Bố cục luận văn 18

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ VÀ HÌNH ẢNH NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN BÁO CHÍ CÔNG ĐOÀN 19

1.1 Lý luận chung 19

1.1.1 Lao động và người lao động 19

1.1.2 Hình ảnh và hình ảnh người lao động 21

1.1.3 Truyền thông đại chúng 24

1.1.4 Báo chí 28

1.1.5 Báo chí Công đoàn 29

1.1.6 Truyền thông về hình ảnh người lao động 29

1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động của báo chí 30

1.2.1 Quan điểm của Đảng về bảo vệ quyền lợi người lao động 30

1.2.2 Chính sách pháp luật của Nhà nước về quyền và lợi ích của người lao động 33

1.2.3 Chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân viên lao động của tổ chức Công đoàn Việt Nam 36

1.3 Áp dụng các lý thuyết truyền thông trong nghiên cứu đề tài 39

Trang 6

1.3.1 Lý thuyết Đóng khung 39

1.3.2 Lý thuyết Nhận thức phụ thuộc 41

1.3.3 Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự 43

1.3.4 Lý thuyết biểu tượng tương tác 45

1.4 Vai trò và yêu cầu thông tin về hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn 47

Tiểu kết chương 1: 51

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HÌNH ẢNH NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN BÁO CHÍ CÔNG ĐOÀN 52

2.1 Giới thiệu vài nét về các tờ báo của Công đoàn được chọn khảo sát 52

2.1.1 Báo Lao động 52

2.1.2 Báo Người Lao động 53

2.1.3 Báo Lao động Thủ đô 53

2.2 Nội dung và hình thức chuyển tải thông tin hình ảnh người lao động trên các tờ báo của Công đoàn thuộc diện khảo sát 54

2.2.1 Tần suất tin, bài 54

2.2.2 Nội dung hình ảnh người lao động trên các tờ báo của Công đoàn thuộc diện khảo sát 56

2.2.3 Hình thức hình ảnh người lao động trên các tờ báo của Công đoàn thuộc diện khảo sát 70

2.3 Những thành công và hạn chế trong việc thông tin về hình ảnh người lao động phản ánh trên các báo thuộc diện khảo sát 79

2.3.1 Thành công và nguyên nhân của những thành công 79

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 85

Tiểu kết chương 2: 88

CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ KHOA HỌC VỀ HÌNH ẢNH NGƯỜI LAO ĐỘNG TRÊN BÁO CHÍ CÔNG ĐOÀN TRONG THỜI GIAN TỚI 90

3.1 Những vấn đề đặt ra 90

Trang 7

3.1.1 Số lượng, tần suất các tin, bài chuyển tải hình ảnh người lao động phản ánh chưa

đồng đều, thiếu tính định kỳ 90

3.1.2 Nội dung, hình thức thực hiện thông điệp về hình ảnh người lao động chưa được đầu tư đổi mới 90

3.1.3 Những vấn đề thách thức từ phía độc giả 92

3.2 Khuyến nghị 93

3.2.1 Về phía Tổ chức Công đoàn 93

3.2.2 Đối với tòa soạn báo chí 96

3.2.3 Đối với nhà báo 104

3.2.4 Đối với các báo được khảo sát 106

Tiểu kết chương 3: 107

KẾT LUẬN 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 118

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Mô hình truyền thông của Claude Shannom 19 Hình 1.2 Mô hình Lý thuyết nhận thức phụ thuộc 37 Hình 1.3 Mô hình Thiết lập chương trình nghị sự 72

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng các tin, bài cập đến về hình ảnh người lao động trên các báo được khảo sát từ tháng 01-12/2018 55 Bảng 2.2 Nội dung thông điệp hình ảnh người lao động trên các tờ báo thuộc diện khảo sát từ tháng 01-12/2018 56 Bảng 2.3 Mức độ đánh giá của độc giả về hình ảnh người lao động tài năng luôn tìm tòi sáng tạo trong công việc đã được thể hiện trên báo chí Công đoàn (đơn vị%) 58 Bảng 2.4 Mức độ đánh giá của độc giả về hình ảnh người lao động đương đầu với những gian khó, nguy hiểm trong công việc đã được thể hiện trên báo chí Công đoàn (đơn vị%) 60 Bảng 2.5 Mức độ đánh giá của độc giả về hình ảnh người lao động gắn với những nghĩa cử cao đẹp được thể hiện trên báo chí Công đoàn (đơn vị%) 65 Bảng 2.6 Mức độ đánh giá của độc giả về hình ảnh người lao động trộm cắp, lừa đảo được thể hiện trên báo chí Công đoàn (đơn vị%) 67 Bảng 2.7 Mức độ đánh giá của độc giả về hình ảnh người lao động chưa thực hiện đúng quy định của luật Lao động được thể hiện trên báo chí Công đoàn (đơn vị%) 69 Bảng 2.8 Các thể loại báo chí được sử dụng trong việc thể hiện hình ảnh người lao động trên các báo được khảo sát từ tháng 01-12/2018 72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay, có thể nói người lao động ở nước ta đang ngày càng được khẳng định và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có một bộ phận không nhỏ người lao động thiếu rèn luyện, tu dưỡng về phẩm chất đạo đức và kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đã gây ra nhiều thiệt hại đối với kinh tế, xã hội của đất nước, vô hình đã tạo thành định kiến về hình ảnh người lao động trong suy nghĩ của người sử dụng lao động trong và ngoài nước, làm mờ đi những hình ảnh đẹp của người lao động

Nhà báo Đức Hiển, trong cuốn sách nghiệp vụ Nhà báo điều tra, Nxb Trẻ, năm 2015 viết: “Tâm lý chung của nhà báo là muốn bài viết của mình trẻ nên hấp dẫn và thuyết phục Vì thế khi viết về cái xấu, nhiều người có quán tính tô đậm nó,

hễ xấu là xấu hết (…) Thậm chí nhà báo còn xoáy vào đời sống vợ con, gia đình của người này, người kia, của nhân vật mà họ phê phán, cố tìm những ý kiến phù hợp với khẩu vị của dư luận Những nguồn tin này dù không có giá trị chứng minh nhưng có thể khiến cho đối tượng bị phê phán thân bại danh liệt chỉ sau một bài viết” [36, tr 81] Nghiêm trọng hơn, định kiến đó còn trở thành nguyên nhân

khiến cho người lao động nước ta không được đánh giá và coi trọng nhiều trong thị trường sử dụng lao động quốc tế Vì vậy, cần có giải pháp để xây dựng hình ảnh người lao động trở lên khách quan, toàn diện trong mắt người dân và người

sử dụng lao động trong và ngoài nước

Và để làm được điều đó, ngoài các yếu tố nội lực của bản thân mỗi người lao động – những cái cốt lõi thực sự làm nên hình ảnh như: diện mạo, tính cách, năng lực, hành động, cử chỉ/thái độ, trang phục người lao động cần quan tâm đến những công cụ có thể giúp người lao động xây dựng được một hình ảnh, thương hiệu trong tâm trí người dân và người sử dụng lao động trong và ngoài nước Báo chí chính là một trong những công cụ hữu hiệu, nhất là trong thời đại

Trang 12

kỹ thuật số, báo chí đang hàng ngày, hàng giờ tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Báo chí Công đoàn là một bộ phận cấu thành từ nền báo chí cách mạng Việt Nam – là hệ thống báo chí mà đối tượng phục vụ là những người lao động nên có điều kiện nắm bắt, tìm hiểu, phản ánh, phân tích, lý giải các hiện tượng nảy sinh mới nhất trong quan hệ lao động; báo chí đấu tranh bảo vệ quyền lợi hợp pháp giữa người lao động và chủ sở hữu lao động Hình ảnh người lao động

đã được báo chí Công đoàn đưa ra cho công chúng bạn đọc xem bằng cách đưa thông tin, giải thích, bình luận chính xác, nhanh chóng, nhạy bén đã góp phần nâng cao nhận thức và hiệu quả trong lao động và xây dựng hình ảnh chuẩn mực nhất của mình đối với xã hội Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác xây dựng, tuyên truyền hình ảnh người lao động trên báo chí nói chung và báo chí Công đoàn nói riêng vẫn còn một số hạn chế nhất định Ngoài ra, ở Việt Nam hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về nội dung này

Trước thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn nhằm giúp cơ quan báo chí này nhìn nhận, đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu trong công tác này Đồng thời, giúp công chúng có cái nhìn sâu sắc, rõ nét hơn về hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn, bởi khi công chúng – người lao động khi tiếp nhận thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ chịu ảnh hưởng của các thông điệp đến việc hình thành nhận thức, hành vi và thái độ của họ

Với tất cả những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn” khảo sát từ tháng 01/2018 đến

tháng 12/2018 để làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Báo chí học làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Một số công trình nghiên cứu quốc tế liên quan đến đề tài

Cuốn Sổ tay nghiệp vụ phóng viên của Học viện Thông tin đại chúng Ấn

độ (do Hà Minh Huệ dịch, tài liệu tham khảo nghiệp vụ, Thông tấn xã Việt Nam,

Trang 13

năm 1984) đã dành riêng 1 chương viết về “Tính khách quan”, và 1 chương về

“Sự thiên lệch”, trong đó nhấn mạnh “Sự thiên lệch bắt nguồn từ (1) lợi ích quốc gia, (2) cơ cấu chính trị, (3) bản chất của nguồn tin và (4) kiến thức của “người gác cổng” hoặc người duyệt bản thảo

Cuốn Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em, Nxb Chính trị Quốc

gia, năm 2003 Tác giả Helena Thorfinn (Thuỵ Điển) nghiên cứu sâu về hình ảnh trẻ em trên các phương tiện truyền thông – từ góc nhìn đạo đức Những vấn đề được đề cập tới bao gồm: Cuộc sống thực đối lập với hình ảnh trẻ em trên các phương tiện truyền thông; hình ảnh rập khuôn về trẻ em, vấn đề đặc tả trẻ em, vấn đề sử dụng hình ảnh trẻ em như thế nào

Trong cuốn Children in the News (Trẻ em trong truyền thông), do

trường Đại học công nghệ Nanyang Singapore và Học viện Thông tin và Truyền thông Châu Á (AMIC) phát hành, (sách xuất bản bằng tiếng Anh năm 2001), trong đó tổng hợp có chọn lọc các nghiên cứu của Học viện Thông tin và Truyền thông Châu Á (AMIC) năm 1999 về việc sử dụng hình ảnh trẻ em trên các kênh truyền hình tại 13 nước Châu Á, bao gồm: Bangladesh, Trung Quốc,

Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Nepal, Pakistan, Philipine, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam Trong cuốn sách này, Giáo sư Ubonrat Siriyuvasak (nhà nghiên cứu người Thái Lan) cho rằng: Truyền thông là một trong các công cụ văn hoá xã hội, có nhiệm vụ quan tâm, chăm sóc, bảo vệ và khuyến khích sự phát triển của trẻ em, nhưng trong rất nhiều trường hợp, truyền thông đã không thực hiện được nhiệm vụ này Thay vào đó, truyền thông đã khai thác hình ảnh trẻ em một cách không tích cực, nhằm thu hút lượng khán giả đông nhất có thể, bất chấp các quyền của trẻ em Bằng cách này, truyền thông không những xâm phạm quyền riêng tư của trẻ em, mà còn chống lại định nghĩa cơ bản

về trẻ em, cũng như quyền được giao tiếp của trẻ em

Đề cập vấn đề kỹ năng nghề nghiệp của nhà báo, cuốn sách này cho rằng:

“Đó là cách miêu tả, sử dụng hình ảnh trẻ em của truyền thông được gắn liền với các yếu tố xã hội” [22, tr 49]

Trang 14

Cuốn Lao động trẻ em - Cùng nhau trao đổi thông tin do Judith Ennew và

Dominique P Plateau biên soạn từ cuốn “Child labour getting the message across (Bản quyền RWG-CL- Nhóm công tác Khu vực về lao động trẻ em 2001 – mạng lưới quy mô khu vực của các tổ chức bao gồm cơ quan của Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ khu vực và mạng lưới (dịch sang tiếng Việt Dương Nguyệt Minh) Đây là tài liệu hướng dẫn việc sản xuất và sử dụng thông tin lao động trẻ em ở Châu Á, hướng tới mục tiêu thúc đẩy các hành động chống lại việc bóc lột trẻ em, xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em Các nguyên tắc đưa thông tin và hình ảnh trẻ em trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng được mô tả khá tỉ mỉ

Mặc dù, các tác giả đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến thông tin, truyền thông về hình ảnh nhưng hầu hết các đề tài này đều được triển khai theo hướng nghiên cứu chuyên sâu vào một số yếu tố nào đó Tuy nhiên, có thể nói, chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề thông tin hình ảnh người lao động trên báo chí

2.2 Một số công trình nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến đề tài

Ở Việt Nam các vấn đề vai trò của báo chí được đề cập đến trong một số

cuốn sách, giáo trình, công trình nghiên cứu khoa học: Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn của Hà Minh Đức (1994); Truyền thông đại chúng của Tạ Ngọc Tấn; Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa, xã hội của Lê Thanh Bình (2008); Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội của Hoàng Đình Cúc (2007); Cơ sở

lý luận báo chí của Nguyễn Văn Dững (2012, 2013) các tác giả đã luận giải

một cách sâu sắc về chức năng và các nguyên tắc của hoạt động báo chí Nguyễn Văn Dững (2013) đã nêu 5 nguyên tắc báo chí bao gồm: tính khách quan, chân thật; tính khuynh hướng; tính nhân dân và dân chủ; tính dân tộc và tính quốc tế; tính nhân văn [22, tr 206-240]

Tính khách quan và tính nhân văn khi mô tả chân dung nhân vật, hình ảnh nhân vật trong tác phẩm báo chí được đề cập đến trong nhiều giáo trình nghiệp

vụ báo chí trong nước và quốc tế Giáo trình Tác phẩm báo chí đại cương do

Trang 15

Nguyễn Thị Thoa (chủ biên) - Nguyễn Thị Hằng Thu, Nxb Giáo dục, năm 2011 cho rằng: “chân dung con người” là một trong những thành tố nội dung quan

trọng của tác phẩm báo chí “Trong tác phẩm báo chí về chân dung con người, con người là đối tượng phản ánh chính “việc” chỉ làm rõ bản chất của con người Có nhiều nhân vật cùng xuất hiện trong tác phẩm (nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm” [61, tr 50]

Hình ảnh một nhóm người, một giai tầng xã hội trên báo chí, truyền thông thường được thể hiện qua “nhân vật biểu tượng” – là nhân vật đại diện cho một

hệ giá trị, văn hoá, pháp lý, tín ngưỡng của cá nhân, nhóm, tổ chức, cơ quan,

cộng đồng, khu vực, lãnh thổ Nhạc Phan Linh (2019), trong nghiên cứu “Cơ chế xây dựng nhân vật biểu tượng trên báo chí truyền thông” [32, tr 398-407] đã

phân tích hai giai đoạn và cơ chế tạo dựng, truyền tải nhân vật trên truyền thông

Trong khuôn khổ dự án “Báo chí và Quyền trẻ em” của Khoa Báo chí,

Học viện báo chí và Tuyên truyền trong các năm từ 1998 đến 2008, nhiều giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo đã được xuất bản, trong đó đề cập đến

Quyền trẻ em và vấn đề hình ảnh trẻ em Tiêu biểu là các cuốn sách: “Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em”, Nguyễn Văn Dững chủ biên (2001, 2006), Nxb Lao Động, “ Báo chí với trẻ em”, Nguyễn Văn Dững chủ biên (2004), Nxb Lao Động; “Nhà báo với trẻ em” tác giả Nguyễn Ngọc Oanh (2014), Nxb Thông tấn Trong cuốn sách chuyên khảo “Nhà báo với trẻ em” phân tích kỹ càng quy trình

sáng tạo tác phẩm báo chí, kỹ năng nhà báo và nguyên tắc đạo đức của nhà báo khi đưa hoặc không đưa, vấn đề xử lý nghiệp vụ để đảm bảo quyền được bảo vệ, quyền tham gia của trẻ em trên báo chí

Cuốn sách Những tác động tới việc làm, đời sống của người lao động và các giải pháp hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập Thương mại Thế giới (WTO) do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xuất bản (năm 2005) Một trong

những tác động của việc gia nhập WTO mà cuốn sách đề cập đến đó là việc đẩy nhanh hơn quá trình CNH-HĐH nông thôn,sẽ có một lượng lớn lao động nông nghiệp, thanh niên nông thôn nhàn rỗi, thiếu việc làm tham gia vào hoạt động kinh

Trang 16

tế trong doanh nghiệp, các hộ gia đình, đơn vị kinh doanh cá thể có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng cách thu nhập của người lao động Cạnh trạnh khốc liệt do quá trình toàn cầu hóa kinh tế và tự do hóa thương mại đẩy nhanh tốc độ phân cực giữa các nhóm lao động khác nhau Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền lợi và địa vị xã hội giữa các nhóm lao động Chính vì vậy cần phải có những giải pháp cho Công đoàn Việt Nam để tránh các tranh chấp lao động lớn hơn về số lượng và quy mô, phức tạp hơn về tính chất khi gia nhập WTO

Còn có một số cuốn sách khác như: Sổ tay công tác Tuyên giáo Công đoàn (2010); Sổ tay tuyên truyền pháp luật (2010); Sổ tay tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công nhân lao động (2011) của Tổng Liên đoàn Lao

động Việt Nam Đây là những tài liệu cơ sở lí luận, cung cấp phương pháp tiếp cận với đối tượng công chúng là công nhân viên lao động

Ngoài ra, còn có các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp có nghiên cứu đến vấn đề này:

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học Báo chí công đoàn với việc bảo vệ quyền lợi người lao động (Khảo sát báo Lao động, Người Lao động, Lao động Thủ đô từ tháng 06/2011 đến tháng 6/2012) của Nguyễn Thị Ngọc Tú (năm

2012) Tác giả luận văn đã nghiên cứu thực trạng hoạt động báo chí Công đoàn với việc bảo vệ quyền lợi người lao động, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của báo chí Công đoàn với việc bảo vệ quyền lợi người lao động

Luận án Tiến sĩ Hoàn thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của tác giả Nguyễn Ngọc Quân (năm 1997)

Luận án đã làm rõ thêm chủ thể, nội dung và các loại hình quan hệ lao động trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và những đặc trưng cơ bản của quan hệ lao động trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam Luận án đã đi sâu vào phân tích thực trạng quan hệ lao động trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam trên cơ sở rút ra nhiều tồn tại cần phải hoàn thiện trong tương lai Tác giả cũng

đề xuất quan điểm và biện pháp nhằm hoàn thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam trong thời gian tới Tuy nhiên, luận án mới chỉ tiến hành nghiên cứu các doanh nghiệp FDI ở Hà Nội, TP HCM và Hà Tây cũ

Trang 17

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học Báo chí của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam trong việc bảo vệ lợi ích người lao động của Nguyễn Thị

Hồng Thái (năm 2004) Tác giả luận văn đã nhìn nhận một cách đúng đắn về hoạt động đấu tranh tham gia bảo vệ lợi ích người lao động của hệ thống báo chí công đoàn, qua phân tích, đánh giá thực trạng để tìm ra mặt mạnh cũng như mặt hạn chế từ đó rút ra phương pháp hoạt động, cách thức đấu tranh đạt hiệu quả cao nhất

Luận văn thạc sĩ Bảo vệ quyền lợi người lao động trong và sau quá trình

cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước của Nguyễn Xuân Vinh (năm 2005) Tác

giả luận văn đã chỉ ra trong thực tiễn những năm vừa qua việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động nói chung và quyền lợi cho người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa với các chế độ, chính sách cụ thể đã thúc đẩy vai trò đắc lực của người lao động trong sản xuất kinh doanh khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; nhằm phát triển chúng theo đúng mục tiêu, định hướng mà nhà nước đã đề ra Tuy nhiên, bên cạnh các quy định của pháp luật về chính sách nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động như hiện nay, thực tiễn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập mà chúng ta cần phải xem xét đánh giá để hoàn thiện các chính sách – pháp luật đó nhằm đảm bảo chế độ đối với người lao động

Luận văn Báo chí truyền thông Báo chí Đồng Nai bảo vệ lợi ích người lao động trong các khu công nghiệp (Khảo sát Báo Đồng Nai, Báo Lao động Đồng Nai, Đài PT-TH Đồng Nai từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 1 năm 2007) của tác

giả Đỗ Thị Hải Yến (năm 2007) Tác giả luận văn đã phân tích, đánh giá những thành công và hạn chế trong việc tuyên truyền, đấu tranh, bảo vệ lợi ích của người lao động, qua đó tìm kiếm đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của người lao động trong các khu công nghiệp thuộc địa bàn tỉnh

Luận văn Thạc sĩ Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cho người lao động chưa thành niên ở Việt Nam của Lê Thị Huyền Trang (năm 2008) Tác giả luận văn đã

nghiên cứu một cách tương tối đầy đủ, toàn diện, hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn về các quy định về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm, tiền lương

Trang 18

và thu nhập, thông qua việc phân tích, so sánh trên cơ sở sự quy định của các Công ước Quốc tế ILO, pháp luật của một số nước nhất là luật lao động Việt Nam

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị Việc làm cho người lao động ở tỉnh Hòa Bình hiện nay của Dương Quốc Thắng (năm 2015) Tác giả

luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận về việc làm; vị trí và vai trò, tầm quan trọng của việc làm nói chung; phân tích thực trạng việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, đánh giá những mặt đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân những hạn chế đó Từ đó, chỉ ra phương hướng, những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề việc làm cho người lao động ở tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị Vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay của Phạm Quang Huy (năm 2017).Tác giả luận văn trên cơ sở nghiên cứu lý

luận và phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam, chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân của nó, đề xuất các phương hướng, giải pháp tăng cường vai trò nhà nước trong quản lý lao động người nước ngoài tại các doanh nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong và ngoài nước trong công cuộc xây dựng

và phát triển đất nước

Nhìn chung, các công trình, bài nghiên cứu trên đã bước đầu đề cập một

số vấn đề về người lao động trên các phương diện thông tin đại chúng Đây sẽ là những cơ sở lý luận và cơ sở tham khảo cho đề tài nghiên cứu của tác giả Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vai trò của báo chí trong công tác tuyên truyền hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn Do đó, lựa chọn đề tài “Hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn” sẽ là vấn đề nghiên cứu mới mẻ, mang tính thực tiễn cao

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, luận văn nhận diện, phân tích, đánh giá hình ảnh người lao động trên các tờ báo công

Trang 19

đoàn, từ đó, đề xuất một số kiến nghị về vấn đề này trên báo chí Công đoàn trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện nhiệm vụ sau đây:

- Phân tích và làm rõ hệ khái niệm liên quan đến đề tài và cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

- Khảo sát, phân tích thực trạng nội dung và hình thức các tin, bài phản ánh hình ảnh người lao động trên các tờ báo công đoàn thuộc diện khảo sát

- Đề xuất kiến nghị về nghiệp vụ báo chí cho xây dựng hình ảnh và truyền thông hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn của 03 báo được chọn khảo sát: báo Lao động, báo Người Lao động, báo Lao động Thủ đô trong thời gian một năm (từ tháng 01/2018- 12/2018)

Sở dĩ các báo được khảo sát báo Lao động, báo Người Lao động, báo Lao động Thủ đô với các lý do sau:

Thứ nhất, cả ba tờ báo trên đều là các tờ báo có số lượng phát hành và số lượng độc giả lớn, bao gồm cả người dân thủ đô và các tỉnh thành trong cả nước

Thứ hai, các báo này có số lượng tin, bài về hình ảnh người lao động được cập nhập thường xuyên

Thứ ba, phóng viên viết cho tờ báo này là những nhà báo, phóng viên được đào tạo bài bản, được học qua các trường lớp về báo chí; các phóng viên năng động, trau dồi kinh nghiệm thực tiễn từ cuộc sống nên chất lượng tin, bài khá cao Các vấn đề mà các báo chuyển tải đều có giá trị thực tiễn, tính thông tin cao và có hàm lượng tri thức lớn

Trang 20

Do vấn đề hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn quá rộng nên tác giả luận văn sẽ chỉ tập trung vào các nội dung:

Về hình ảnh đẹp của người lao động bao gồm: hình ảnh người lao động tài năng luôn tìm tòi sáng tạo trong công việc; hình ảnh người lao động đương đầu nguy hiểm, gian khó; hình ảnh người lao động gắn với những nghĩa cử cao đẹp

Về hình ảnh chưa đẹp của người lao động như: hình ảnh người lao động trộm cắp, lừa đảo; hình ảnh người lao động chưa thực hiện đúng quy định của luật Lao động

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận là văn dựa vào phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lao động và truyền thông về lao động; lý luận báo chí truyền thông và lý luận xã hội học truyền thông đại chúng Ngoài ra, luận văn còn kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả về những thế mạnh và hạn chế của báo chí

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của các khoa học

xã hội như:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sưu tầm, hệ thống các văn bản,

tài liệu có liên quan đến đề tài được công bố trước đó làm cơ sở lý luận và xây dựng khung lý thuyết để triển khai vấn đề

- Phương pháp phân tích nội dung thông điệp: Phân tích nội dung là kỹ

thuật nhằm mô tả, với mức độ khách quan cao nhất, rõ ràng nhất, chính xác nhất những thông điệp được đề cập trong một thời gian và không gian nhất định Tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích nội dung được thể hiện trong các tin, bài về hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn

Trang 21

- Phương pháp điều tra xã hội học: Để tiến hành phương pháp này, tác giả

sử dụng bảng hỏi anket để thu thập thông tin từ độc giả - những người tiếp nhận tác phẩm về hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn Với 200 bảng hỏi, tác giả lựa chọn mẫu theo cụm 3 tỉnh, thành là Hà Nội, Bắc Ninh và Thái Nguyên theo yếu tố vùng miền và dân cư Kết quả tổng số 200 phiếu phát ra, thu

về được 180 phiếu hợp lệ (đạt 90%)

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về

vấn đề nghiên cứu, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 03 nhóm đối tượng sau:

Nhóm nhà lãnh đạo Liên đoàn lao động: Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Nhóm các nhà quản lý báo chí: Tổng Thư ký toà soạn báo Lao động, Tổng Biên tập báo Người Lao động, báo Lao động Thủ đô

Nhóm các nhà phóng viên chuyên trách theo dõi mảng đề tài người lao động tại các báo Lao động, báo Người Lao động, báo Lao động Thủ đô

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đây là công trình đầu tiên cấp độ luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn Đề tài góp phần làm rõ diện mạo, nội dung và hình thức về hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn

Luận văn có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu, sinh viên, học viên các chuyên ngành báo chí và những ai quan tâm

Trang 22

7 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn là một công trình khoa học về cách thức thực hiện những thông tin về hình ảnh người lao động, góp phần nhất định vào việc nâng cao hiệu quả thông tin về hình ảnh người lao động trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung và báo chí Công đoàn nói riêng

động trên báo chí Công đoàn trong thời gian tới

Trang 23

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÁO CHÍ VÀ HÌNH ẢNH NGƯỜI

LAO ĐỘNG TRÊN BÁO CHÍ CÔNG ĐOÀN

Các Mác viết: “Lao động không những tạo ra của cải để nuôi sống con người mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể lực

và trí lực Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động

đó, con người làm thay đổi tự nhiên, đồng thời quá trình đó cũng làm thay đổi bản tính của chính mình” [47, tr 226]

Lao động là nguồn gốc và động lực phát triển xã hội Đồng chí Lê Duẩn

khẳng định: “Lao động bao giờ cũng là nguồn sống của xã hội Xã hội nô lệ tồn tại trên lao động thặng dư của người nô lệ; xã hội phong kiến tồn tại trên địa bàn tô do nông dân tạo ra; xã hội tư bản, trên giá trị thặng dư do vô sản tạo ra Chủ nghĩa xã hội là sự thay thế lao động làm thuê bằng sức lao động cho mình, cho xã hội do mình làm chủ Đó là sự thay đổi vĩ đại nhất trong lịch sử loài người” [48, tr 35]

Ở nước ta, thời kỳ CNH-HĐH, lý luận về lao động được hiểu theo các cách sau: Lao động là phương thức tồn tại của con người những lợi ích con người phải được coi trọng Lao động là biểu hiện bản chất còn lợi ích là vấn đề nhạy cảm nhất của con người, là nhân tố thấm sâu, phức tạp trong quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội Lao động được xem xét dưới dạng năng suất, chất lượng và hiệu quả, là thước đo về số lượng, chất lượng, tính tích

Trang 24

cực và trách nhiệm lao động Bất kỳ hình thức lao động nào của cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, nếu đáp ứng được yêu cầu xã hội, tạo ra sản phẩm hoặc công dụng nào đó, thực hiện lợi ích, đảm bảo nuôi sống mình và có thể đống góp cho xã hội một phần lợi ích thì đó là lao động có ích; lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước

Người lao động với tư cách là chủ thể của hoạt động lao động có thể là một người nhưng cũng có thể là nhiều người Khi chủ thể là nhiều người thì mỗi

cá nhân được phân công một nhiệm vụ cụ thể và cùng hướng đến một mục đích chung nhằm tạo ra một sản phẩm cụ thể nào đó để đáp ứng nhu cầu nhất định của cá nhân và xã hội

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Người lao động là người bỏ công sức ra

để làm việc gì đó” [78, tr 132]

Theo điều 6 của Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam thì “Người lao động là những người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng” [43, tr 5]

Đề tài nghiên cứu xác định: người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động, thường là nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết

Trang 25

1.1.2 Hình ảnh và hình ảnh người lao động

- Hình ảnh

Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về hình ảnh Trong đó, thuật ngữ hình ảnh có nguồn gốc từ tiếng latinh “Imago” và có quan hệ mật thiết với từ la tinh khác là “Imatari” – dùng để chỉ sự mô phỏng, phỏng theo

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Nxb Từ điển Bách khoa, năm 2011, định nghĩa: “hình ảnh là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí” [71, tr 571]

Còn Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000 định nghĩa: “hình: dáng bên ngoài, ảnh: hình thu được”, hình ảnh là đường nét màu sắc, dung mạo của người hay vật được phản chiếu vào trong trí óc” [72, tr

832]

Hình ảnh là một bức hình, tấm ảnh, hay hình ảnh thứ ghi lại hay thể hiện/tái tạo được cảm nhận thị giác, tương tự với cảm nhận thị giác từ vật thể có thật, do đó mô tả được vật thể đó Hình ảnh có thể có hai chiều, như thể hiện trên tranh vẽ trên bề mặt phẳng, hoặc ba chiều, như thể hiện trên tác phẩm điêu khắc hoặc hologram Hình ảnh có thể được ghi lại bằng thiết bị quang học – như máy ảnh, gương, thấu kính, kính viễn vọng, kính hiển vi do con người tạo ra, hoặc bởi các cơ chế tự nhiên, như mắt người hay mặt nước

Hình ảnh có thể dùng theo nghĩa rộng, thể hiện bản đồ, đồ thị, nghệ thuật trừu tượng Với nghĩa này, hình ảnh có thể được tạo ra mới hoàn toàn, thay vì ghi chép lại, bằng cách vẽ, tạc tượng xuất hiện trong suy nghĩ của con người, tương

tự như trí nhớ

Như vậy, với cách hiểu này thì hình ảnh chính là dạng văn bản thông tin thu gọn Khi con người không thể xử lý những văn bản có dung lượng lớn, sẽ sử dụng các phương án rút gọn của nó Bất kỳ hình ảnh nào với tư cách một văn bản nhỏ có thể được phát triển thành một văn bản lớn khi cần Khác với cách hiểu thông thường về các văn bản bằng lời, hình ảnh là một văn bản được xây

Trang 26

dựng bằng tất cả các kênh (kênh hình ảnh, kênh hành vi…) được coi như một thao tác rút gọn hoặc mở rộng văn bản Theo đó, việc điều chỉnh hình ảnh trong nhiều trường hợp là việc thay thế những điểm thị giác (hoặc đặc điểm khác) không bản chất thành những đặc điểm mang tính quan trọng hơn trong cách nhìn nhận của một hình ảnh đó

Chúng ta cố gắng thể hiện bản thân mình ở phương diện tốt đẹp nhất khi nhấn mạnh những đặc điểm này hay đặc điểm khác của cá nhân Chúng ta làm điều đó một cách vô thức, đặc biệt là trong những tình huống như lần đầu làm quen với một người mà ta mong họ có cảm tình với mình Một nhà nghiên cứu từng khẳng định: Hình ảnh của cá nhân bạn là bức tranh nhỏ về bạn, ảnh của mình giống như quảng cáo Một bức tranh nhỏ bên ngoài như một lời hứa, rằng bản chất chúng ta cũng như sự thể hiện bên ngoài vậy Mỗi người trong số chúng

ta gắn các chuẩn mực ứng xử nhất định với những mẫu người tương ứng

Có thể nói rằng, hình ảnh quy tụ một cách cô đọng nhất bản chất con người, các tổ chức và quốc gia Một chân lý đơn giản là xây dựng hình ảnh của mình chính xác bao nhiêu thì việc giao tiếp sẽ càng có hiệu quả bấy nhiêu Tạo dựng hình ảnh hiện nay là cần thiết đối với mọi đất nước, mọi tổ chức, mọi cá nhân, mọi nghề nghiệp

Trong triết học, hình ảnh được coi là kết quả của sự phản ánh khách thể đối tượng vào ý thức của con người Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng Ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm phán đoán

và suy luận Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan, về mặt nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan

Ở khía cạnh khác, hình ảnh còn được xem là ngôn ngữ biểu tượng, tức là dùng ngôn ngữ hình ảnh để nói lên một vấn đề nào đó Do vậy, hình ảnh được xem như một tiếng nói, một cảm xúc, một thể loại ngôn ngữ biểu tượng, giúp cho công chúng hình tượng rõ hơn về nội dung, ý đồ của tác giả

Hình ảnh là khoa học, là nghệ thuật mô phỏng hoặc mô tả về một đối tượng nhất định Hình ảnh là những hình dung về con người, đồ vật, tổ chức được hình

Trang 27

thành trong nhận thức của công chúng với sự giúp đỡ của quan hệ công chúng, quảng cáo hoặc tuyên truyền Có thể nói rằng, hình ảnh quy tụ một cách cô đọng nhất bản chất con người, hiện tượng, sự vật Hình ảnh là ấn tượng chung mà một người, tổ chức hay sản phẩm giới thiệu đến công chúng

Trong luận văn này, thực chất hình ảnh người lao động trên báo chí là chân dung của họ được phản ánh trên báo chí Nó bao gồm: đặc điểm nhân khẩu xã hội học, đặc điểm thể chất, trí tuệ, nhân cách, tương ứng với hành động, thái độ, cảm xúc, văn hoá ứng xử được thể hiện thông qua các tác phẩm báo chí Báo chí Công đoàn có công chúng mục tiêu là người lao động, vì vậy, hình ảnh người lao động được đưa như thế nào sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hấp dẫn, độ tin cậy và hiệu qủa tiếp cận, tiếp nhận của công chúng mục tiêu của tờ báo

Ảnh báo chí là một loại hình có đặc điểm khác các loại hình nhiếp ảnh khác Mục đích của ảnh báo chí là thông tin sự kiện Muốn sự kiện có sức hấp dẫn người đọc, hình ảnh trong ảnh báo chí phải thật như “cái thật” đang diễn ra từ cuộc sống hàng ngày Độc giả không muốn nhìn thấy sự gượng ép trong cách thức thể hiện, nhìn thấy sự bố trí, sắp xếp lại cái thật Bức ảnh phải là tấm gương của cuộc sống thật vốn có Cái thật này phải được chọn lọc qua kiến thức, trí tuệ của người làm báo nên chọn cái gì đưa vào ảnh

- Hình ảnh người lao động

Dựa trên những khái niệm phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng hình ảnh người lao động trên báo chí công đoàn được xác định thông qua tất cả các yếu tố mang tính thông tin Nói cách khác, hình ảnh người lao động trên báo chí công đoàn chính là sự nhìn nhận, ấn tượng, cảm xúc và đánh giá của cộng đồng về người lao động thông qua các thông tin mà báo chí nói chung và báo chí công đoàn nói riêng thể hiện ra, cho dù họ có hay không có chủ định Cần phải nhấn mạnh rằng mỗi đối tượng khác nhau sẽ có mối quan tâm và cách nhìn nhận khác nhau đối với hình ảnh người lao động

Cần chú ý rằng cho dù người lao động không có ý thức xây dựng hình ảnh,

dù ít dù nhiều, cộng đồng vẫn có cái nhìn về người lao động

Trang 28

Có nhiều yếu tố tác động đến hình ảnh người lao động mà chúng ta có thể chia chúng làm 2 phần: (1) những yếu tố nội tại của người lao động như: văn hóa, bản sắc của người lao động, hoạt động truyền thông, thái độ của người lao động; (2) những yếu tố bên ngoài mà người lao động khó có thể kiểm soát được như: hình ảnh ngành, hiệu ứng truyền miệng trong công chúng, báo chí hình ảnh này giúp xây dựng uy tín

Như vậy, hình ảnh người lao động được phản ánh trong luận văn này là sự nhìn nhận, ấn tượng, cảm xúc và đánh giá của cộng đồng về người lao động thông qua các thông tin mà người lao động thể hiện ra

Khái niệm hình ảnh người lao động trên báo chí Công đoàn chính là hình ảnh trong ấn tượng, suy nghĩ của con người Hình ảnh người lao động trên báo chí công đoàn là kết quả của những bài báo phản ánh, được khắc họa và được lưu giữ, để lại ấn tượng trong tâm trí của công chúng Vì vậy, hình ảnh người lao động trên báo chí công đoàn được tác giả luận văn đi sâu nghiên cứu về khía cạnh hình tượng, ấn tượng, suy nghĩ của công chúng về người lao động hiện nay

cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực

1.1.3 Truyền thông đại chúng

- Truyền thông

Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “Commumicare” có nghĩa là biến

nó thành thông thường, chia sẻ truyền tải Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu

Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2008, truyền thông được hiểu dưới góc độ động từ: “Truyền thông là truyền dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định như mở rộng mạng lưới truyền thông đến từng cơ sở” [71, tr 206]

Truyền thông thường được xem xét như một quá trình truyền đạt thông tin, thực hiện qua ngôn ngữ hoặc các cử chỉ, điệu bộ hoặc các hành vi biểu lộ cảm xúc, vì thế mà một số nhà nghiên cứu đã phân biệt truyền thông với hai loại hình

Trang 29

là truyền thông bằng ngôn ngữ (verbal) và truyền thông không bằng ngôn từ

(non-verbal) Khái niệm truyền thông có thể được định nghĩa như sau: “Truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người” [37, tr 32]

Như vậy, về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung dựa trên nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi hoạt động truyền thông diễn

ra Qúa trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông

Về mục đích,truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng

Hình 1.1 Mô hình truyền thông của Claude Shannom

Trong đó:

S: Ai (Source/Sender): Đây là yếu tố khởi xướng việc thực hiện truyền

thông Yếu tố khởi xướng có thể là một nhóm người hoặc một tổ chức truyền thông mang nội dung thông tin muốn được trao đổi đến với người/nhóm người/tổ chức khác

M: Thông điệp (Message): Là yếu tố thứ hai của quá trình truyền thông

Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ người truyền thông đến đối tượng tiếp nhận thông qua: tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử

Trang 30

chỉ biểu đạt của con người Thông điệp chính là tâm tư, tình cảm, mong muốn, hiểu biết, ý kiến, đòi hỏi, kinh nghiệm sống, văn bản pháp luật được mã hóa theo hệ thống kí hiệu nào đó Hệ thống kí hiệu này được cả người truyền và người nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu

C: Kênh (Channel): Là phương tiện mà người truyền sử dụng để truyền

tải nội dung đến người nhận Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể của mỗi loại phương tiện để chia kênh truyền thông thành các loại hình khác nhau

R: Người nhận (Recceiver): Là người/nhóm người/tổ chức tiếp nhận thông

điệp trong quá trình truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên

cơ sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của người nhận

E: Hiệu quả (Effect): Là sự thay đổi hành vi, nhận thức và hành động của

đối tượng truyền thông trước một tình huống nào đó của cuộc sống sau khi có thông điệp truyền thông

F: Phản hồi (Feedback): Truyền thông là quá trình hai chiều Phản hồi

được hiểu là sự tác động ngược trở lại của thông tin từ phía người tiếp nhận đối với người truyền tin Phản hồi là phần tử cần thiết để điều khiển quá trình truyền thông, làm cho quá trình truyền thông được liên tục từ nguồn đến đối tượng tiếp nhận và ngược lại Nếu không có phản hồi, thông tin chỉ một chiều và mang tính

áp đặt

N: Nhiễu (Noise): Luôn tồn tại trong quá trình truyền thông Đó là hiện

tượng thông tin truyền đi bị ảnh hưởng bởi các điều kiện của tự nhiên và xã hội, phương tiện kỹ thuật gây ra sự sai lệch hay kém chất lượng về nội dung thông tin cũng như tốc độ truyền tin Do vậy, nhiễu là hiện tượng cần được coi như một hiện tượng đặc biệt trong quá trình lựa chọn kênh để xây dựng nội dung thông điệp Các dạng nhiễu có thể có như vật lý, cơ học, luân lý, tôn giáo Mặt khác, nhiễu luôn được coi là quy luật của quá trình truyền thông, nếu biết xử lý nhiễu

sẽ tăng thêm hiệu quả cho quá trình truyền thông

Như vậy, để hoạt động truyền thông đạt được hiệu quả mong muốn, cần đặc biệt lưu ý đến hiện tượng nhiễu trong quá trình lựa chọn kênh để xây dựng

Trang 31

nội dung thông điệp Đồng thời người truyền thông điệp phải hiểu rõ đặc điểm của từng nhóm đối tượng nhận thông điệp, để từ đó đưa ra những nội dung dễ hiểu, dễ sử dụng cho người nhận và lựa chọn được phương tiện truyền thông phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm thỏa mãn được các nhu cầu của người nhận thông điệp Xác định hiệu quả của một quá trình truyền thông căn cứ vào mức độ biến đổi về nhận thức, thái độ, hành vi của người nhận thông điệp

- Thông điệp truyền thông

Thuật ngữ “thông điệp” được sử dụng như một khái niệm then chốt trong khoa học báo chí - truyền thông

Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thể bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí tự Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới,

“thông điệp” phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kỳ ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó

Về cơ bản, cấu trúc thông điệp có 2 lớp: lớp bên ngoài và lớp bên trong Ở hình thức thể hiện, thông điệp bao gồm: lời nói, hình ảnh, cỡ chữ, kí tự tức là những tín hiệu học mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt, nghe thấy được bằng tai Còn phương thức truyền tải chính là các phương tiện như: báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử Vào những năm 60 của thế kỷ XX, GS Herbert Marshall McLuhan người Canada nổi tiếng về lý thuyết truyền thông đã đưa ra biểu thức: phương tiện truyền thông là thông điệp Với tuyên bố này, ông nhấn mạnh, các kênh khác nhau, không chỉ về mặt nội dung, mà còn liên quan đến cách truyền tải, đánh thức và làm thay đổi suy nghĩ và giác quan của chúng

Lớp bên trong chính là nội dung thông tin mà đối tượng tiếp nhận có thể đọc hiểu và thay đổi trong ý thức, hành vi Bản chất nội dung luôn bị chi phối bởi tính mục đích của chủ thể sáng tạo ra tức là sẽ có động cơ hoặc ý định sâu xa của tác giả

Theo GS Mindy McAdam, khoa Báo chí, trường Đại học Tổng hợp Florida

- cựu Biên tập viên tờ báo The Washington Post của Mỹ, một bài viết hay thì phải

Trang 32

đáp ứng được các tiêu chí: thuyết phục chúng ta về một điều gì đó; làm chúng ta thắc mắc về điều gì đó mà chúng ta vẫn đinh ninh; thúc giục chúng ta hành động; khai sáng chúng ta mang lại nhận thức mới; gây xúc động; kết nối tính nhân văn của chúng ta; các con số có thể làm thành bài viết hay tuyệt không? Như vậy, có nghĩa

là nếu thông tin mang tính chất trung tính thì thông điệp lại nhấn mạnh đến tính chủ thể và mục đích phát tin, tức là chú ý đến đối tượng tác động

Từ những quan điểm trên, theo tác giả luận văn thì thông điệp là giá trị thông tin cốt lõi được diễn đạt bằng nhiều hình thức ngôn ngữ mà người gửi muốn chuyển tải đến người nhận Thông điệp thường thể hiện một cách cô đọng, giản lược, khái quát, mang ý nghĩa nhất định đối với người nhận

1.1.4 Báo chí

Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, năm 2012 có định nghĩa “Báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến phát triển theo từng ngày và có tác động chi phối đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng đến nay, chưa có sự thống nhất ở mức độ tương đối về khái niệm này, thậm chí trong các sách, giáo trình chính thức bằng tiếng Việt, kể cả tiếng nước ngoài cũng chưa thấy đưa ra khái niệm báo chí là gì, báo chí và thông tin báo chí có những đặc điểm cơ bản nào để có thể nhận diện rõ hơn về bản chất

và cơ chế hoạt động” [21, tr 53] Tuy nhiên, quan niệm về báo chí có nhiều

quan điểm khác nhau:

Báo chí trong quan niệm của dân gian: Trong xã hội Việt Nam ngày

trước, báo chí nhiều khi được ví, được coi như “thằng mõ”; là người mách lẻo, thóc mách, đưa chuyện, là người hóng hớt “thằng mõ” trong xã hội Việt Nam trước đây là người đưa tin có tính chất công báo, làm nhiệm vụ loan báo cho dân lang biết những gì đã, đang và sắp xảy ra [21, tr 54]

Dưới góc độ báo chí - truyền thông Việt Nam thì “thằng mõ” được xem là một trong những dạng thức “người đưa tin” cổ xưa và sơ khai” [21, tr 54]

Ở khía cạnh khác, báo chí được hiểu là phương tiện thông báo, thông tin

về những việc mới diễn ra hàng ngày cho nhiều người biết Báo chí là phương

Trang 33

tiện thông tin thời sự, phương tiện giao tiếp xã hội; là diễn đàn cung cấp, trao đổi, chia sẻ thông tin công khai

Ở góc độ tiếp cận từ lí thuyết, báo chí được coi là “những tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định kì, đều đặn” [21, tr 54]

Theo nghĩa hẹp, báo chí được hiểu bao gồm báo và tạp chí; theo nghĩa rộng bao gồm các loại hình báo chí: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Báo chí chính là một bộ máy để tìm hiểu thông tin, phổ biến và phân tích tin tức, là những cơ quan ngôn luận, cung cấp thông tin và ý kiến về mọi vấn đề Báo chí là tên gọi chung của các thể loại thông tin đại chúng

1.1.5 Báo chí Công đoàn

Báo chí Công đoàn là cơ quan ngôn luận của tổ chức Công đoàn, là diễn đàn dân chủ của công nhân viên chức lao động, là một bộ phận cấu thành nên nền báo chí Việt Nam Tính đến nay, báo chí Công đoàn có 5 báo in: báo Lao

động, báo Người Lao động, báo Lao động Nghệ An, báo Lao động Đồng Nai; hơn 70 tạp chí và bản tin; 28 trang thông tin điện tử công đoàn các cấp Ngoài ra, còn có chương trình phát thanh, truyền hình “Lao động và Công đoàn” trên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), đài truyền hình Việt Nam (VTV), chương trình truyền hình “Công đoàn Việt Nam” trên Đài truyền hình Thông tấn

1.1.6 Truyền thông về hình ảnh người lao động

Tổng hợp và xâu chuỗi các khái niệm trên cùng với nghiên cứu lý thuyết thực tiễn, tác giả luận văn xin đưa ra khái niệm truyền thông về hình ảnh người lao động như sau:

Truyền thông về hình ảnh người lao động trên báo chí là một hình thức truyền thông gián tiếp bằng hình ảnh, ngôn ngữ và hiển thị chữ, với nội dung ngắn gọn, súc tích, thuyết phục về vấn đề người lao động Nó xuất phát từ những nhà thiết kế thông điệp (cụ thể là các nhà báo, phóng viên, biên tập viên) cùng với đội ngũ chuyên gia về lĩnh vực quản trị nhân lực (lãnh đạo các cơ quan báo

Trang 34

chí, lãnh đạo các bộ, ngành liên quan trực tiếp đến người lao động và chuyển tải tới cộng đồng nói chung và người lao động nói riêng trên báo chí, nhằm cung cấp những thông tin về hình ảnh người lao động trên báo chí, tác động vào tư tưởng, tình cảm cộng đồng

Truyền thông về hình ảnh người lao động trên báo chí là sự kết hợp đa phong cách giữa nội dung và hình thức Cùng một số nội dung nhưng có rất nhiều phong cách thể hiện khác nhau Ví dụ cùng một nội dung nói về hình ảnh người lao động là những người có kiến thức chuyên môn thì có rất nhiều cách thể hiện khác nhau về ý tưởng, kết cấu và bố cục, nhưng đa số các thông điệp về nội dung này thường có một điểm chung là mang tính phổ biến những thành quả, sáng tạo của người lao động trong quá trình thực hiện công việc của mình

1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về chức

năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động của

báo chí

1.2.1 Quan điểm của Đảng về bảo vệ quyền lợi người lao động

Suốt cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có mục đích là phấn đấu vì độc lập, tự do của Tổ Quốc và hạnh phúc của nhân dân Trong Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 02/09/1945, Người trích dẫn Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ

(1776): “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ

những quyền không ai có thể xâm phạm được” Với cương vị là lãnh tụ của

Đảng, Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Người nhấn mạnh: Mọi đường lối, chính sách đều chỉ nhằm đem lại quyền lợi cho dân; việc gì có lợi

cho dân, dù nhỏ cũng hết sức làm Người tâm niệm: “Phải làm cho dân có ăn,

phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành Những nhu cầu và lợi ích thiết thực đó vẫn đang được đặt ra trong quá trình thực hiện dân chủ hóa ở Việt Nam khi chúng ta thực hiện nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay” [41, tr 179]

Trang 35

Là chính đảng của giai cấp công nhân, đại diện duy nhất cho lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc; là đảng sinh ra từ một dân tộc

bị áp bức, từ phong trào yêu nước và phong trào công nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam qua mỗi giai đoạn lịch sử đều đưa ra nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định, nâng cao đời sống nhân dân, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc (lợi ích căn bản lâu dài và lợi ích trực tiếp) lên

hàng đầu Chương trình tóm tắt của Đảng ta (năm 1930): “Đảng giải phóng

công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư bản không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi giai cấp công nhân và nông dân cho giai cấp khác” [41, tr 22]

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần II (1951): Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một Chính

vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam

Nghị quyết số 167/NQ-TW, Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày

21/09/1967 đề ra nhiệm vụ: “Phải hết sức chăm lo đời sống và bảo vệ sức

khỏe của công nhân, viên chức với khả năng của mình Việc chăm lo đời sống

và bảo vệ sức khỏe của công nhân, viên chức hiện nay chủ yếu là thực hiện nghiêm chỉnh những chế độ và chính sách đã ban hành, bổ sung hoặc sửa đổi những cái không hợp lí, giải quyết tốt vấn đề phân phối và vận động quần chúng tự tổ chức tốt đời sống của mình Đảng và Nhà nước cần có nhiều biện pháp tích cực và thiết thực nhằm giải quyết tốt các vấn đề đó đồng thời phải

đề cao vai trò làm chủ quần chúng để tự đảm đương lấy một phần Phê phán nghiêm khắc những biểu hiện thiếu quan điểm giai cấp trong việc phục vụ đời sống công nhân, viên chức” [41]

Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) xác định: “Công đoàn cùng với Nhà

nước chăm lo giải quyết các vấn đề thiết thực về đời sống, về phúc lợi tập thể,

về điều kiện lao động, học tập, nghỉ ngơi đảm bảo những quyền lợi chính đáng của công nhân, viên chức ” [41]

Trang 36

Đại hội Đảng lần VI (1986) chủ trương tăng cường xây dựng các luật nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của công nhân, vừa khuyến khích đầu tư phát triển, vừa hạn chế bất công xã hội Từng bước nhận thức rõ vai hơn về nhiều hình thức phân phối: theo lao động, theo nguồn vốn đóng góp vào sản xuất kinh doanh Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII, Ban chấp hành Trung ương

Đảng đề ra phương pháp xây dựng giai cấp công nhân: “Tổ chức tốt việc

đào tạo và nâng cao học vấn, trình độ nghề nghiệp cho công nhân; khuyến khích công nhân tự học tập nâng cao trình độ mọi mặt Đẩy mạnh công tác giáo dục đào tạo, đặc biệt là đào tạo tại nơi làm việc, đào tạo gắn liền với lao động, sản xuất, bảo đảm đến năm 2000 hầu hết công nhân đều có trình độ văn hóa từ phổ thông cơ sở trở lên, có kỹ năng nghề nghiệp cần thiết Tạo thêm việc làm, cải thiện điều kiện lao động”

Nghị quyết Đại hội Đảng lần VIII (1986): “Để phát triển sức sản xuất

cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột, sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm, bảo vệ lợi ích của công nhân lao động”

Điều lệ Đại hội Đảng lần thứ X (2006): “Khuyến khích doanh nghiệp tư

nhân là người Việt Nam và người nước ngoài đầu tư sản xuất kinh doanh theo pháp luật là chủ trương đúng đắn của Đảng ta Vấn đề đặt ra là phải hạn chế mức độ bóc lột bằng quy định và chính sách của Nhà nước và chủ doanh nghiệp, bảo đảm quyền lợi của người lao động, đời sống người lao động ngày càng được nâng cao, xử lí đúng đắn quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp”

Đại hội Đảng lần thứ XI (2001): “Sửa đổi, bổ sung các chính sách,

pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cải thiện điều kiện ở, làm việc để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân”

Trang 37

1.2.2 Chính sách pháp luật của Nhà nước về quyền và lợi ích của người lao động

Quyền của người lao động được quy định chủ yếu trong Hiến pháp năm

2013, Bộ luật Lao động 2012, Luật Việc làm 2013, Bảo hiểm xã hội 2014, Luật Công đoàn 2012, Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật trên và các quyền khác được quy định trong Thỏa ước lao động, nội quy lao động của các doanh nghiệp Ngoài ra, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi,

bổ sung 2017) và Bộ luật Dân sự 2015 cũng có các quy định nhằm đảm bảo quyền của người lao động Điều này cho thấy, pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động tồn tại ở nhiều văn bản luật khác nhau mà cụ thể nhất là tại Bộ luật Lao động 2012 Xem xét về quyền của người lao động trong các văn bản quy phạm pháp luật cho thấy, nội dung bảo đảm quyền của người lao động bằng việc ghi nhận các quyền cụ thể của người lao động thông qua quy định tại Khoản

1, Điều 5 Bộ luật Lao động 2012, đây được xem là quy định nền tảng cho các chế định trong pháp luật lao động nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc bảo vệ người lao động, cụ thể như sau:

Bảo đảm việc làm cho người lao động: Điều 23 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDDHR) quy định: “Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp” [57, tr 2]

Tại Việt Nam, Khoản 1, Điều 35 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” Đây là một trong những quyền con người quan trọng nhất trong lĩnh vực lao động Điểm a, Khoản 1, Điều 5 Bộ luật Lao động 2012 quy định người lao động có quyền:

“Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử Theo đó, việc tuyển dụng người lao động được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận và tự định đoạt của các bên theo nguyên tắc của thị trường và pháp luật Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức Dịch vụ việc làm, doanh nghiệp cho thuê lại lao

Trang 38

động để tuyển người lao động; người lao động có quyền trực tiếp thỏa thuận với người sử dụng lao động hoặc đăng ký tại tổ chức Dịch vụ việc làm để tìm kiếm việc làm Ít nhất 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức dịch vụ việc làm hoặc doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải thông báo công khai về nhu cầu tuyển lao động Nội dung thông báo bao gồm: Nghề, công việc, trình độ chuyên môn, số lượng cần tuyển; loại hợp đồng dự kiến giao kết; mức lương dự kiến; điều kiện làm việc cho từng vị trí công việc ” (Điều 5 Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 16/01/2014 Quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm)

Bảo đảm quyền được hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên

cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động: được bảo hộ lao động, làm việc

trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể Để đảm bảo quyền của người lao động về tiền lương tại Khoản 3, Điều 90 Bộ luật Lao động 2012 có

quy định: “Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau”

Hay để bảo vệ quyền lợi của người lao động khi không được trả lương đúng thời hạn pháp luật lao động có quy định Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Lao động 2012, mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ Mức lương tối thiểu này dựa trên các điều kiện về kinh tế và xã hội của địa phương cũng như mức bình quân trên thị trường lao động

Bên cạnh đó, người lao động được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động Cụ thể, tại các Điều 133,

137, 138 Bộ luật Lao động 2012 quy định các bên tham gia phải có trách nhiệm

Trang 39

đảm bảo an toàn nơi làm việc và yêu cầu mọi doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo quy định của pháp luật

về an toàn lao động, vệ sinh lao động Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động 2012 có các quy định để bảo vệ quyền của người lao động về nghỉ ngơi Cụ thể, người lao động được nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể

Bảo đảm quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật: yêu cầu và tham gia đối

thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động

Bộ luật Lao động 2012 quy định, người lao động làm việc trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động Công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn 2012 Theo đó, công đoàn cơ sở được thành lập ở cấp độ doanh nghiệp và tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp của cấp cơ sở Các tổ chức Công đoàn cấp trên cơ sở có quyền và trách nhiệm vận động người lao động gia nhập công đoàn, thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; có quyền yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương tạo điều kiện và hỗ trợ việc thành lập công đoàn cơ sở Nghiêm cấm các hành vi cản trở, gây khó khăn trong việc thực hiện quyền công đoàn; phân biệt đối xử hoặc có hành vi gây bất lợi đối với người lao động vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn; sử dụng biện pháp kinh tế hoặc biện pháp khác gây bất lợi đối với tổ chức và hoạt động công đoàn; lợi dụng quyền công đoàn để

vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của

cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân

Bảo đảm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật: Căn cứ vào Điều 37 Bộ luật Lao động 2012, đối với loại hợp

đồng lao động không xác định thời hạn, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần nêu lý do Bên cạnh đó, Điều 39 Bộ

Trang 40

luật Lao động 2012 quy định trường hợp không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, như: Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Lao động 2012; người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý; lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật Lao động 2012; người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; nghĩa vụ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Bảo đảm quyền đình công của người lao động: Quyền đình công của

người lao động được công nhận theo quy định của Bộ luật Lao động 2012 Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động

Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta đều coi trọng nhiệm vụ chăm lo, cải thiện, nâng cao đời sống, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân nói chung, người lao động nói riêng trong đó có giai cấp công nhân Đó là cơ sở, căn cứ để đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

1.2.3 Chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân viên lao động của tổ chức Công đoàn Việt Nam

- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức Công đoàn Việt Nam

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh về mọi mặt; đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị

và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động

Ngày đăng: 04/03/2021, 22:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w