1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu xử lí vỏ bắp và bổ sung mụn dừa làm cơ chất trồng nấm hoàng kim

96 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm 5: Khảo sát ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng đa lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp.. Thí nghiệm 6: Khảo sát ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng v

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI PHÒNG NHIÊN LIỆU SINH HỌC VÀ BIOMASS - TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của ThS Trần Thị Tưởng An Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khóa luận của mình Trường Đại học Công Nghệ Thành Phố

Hồ Chí Minh không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây

ra trong quá trình thực hiện (nếu có)

TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2018

Người thực hiện

Huỳnh Ngọc Lan

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè

Đầu tiên, tôi xin cảm ơn đến Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm và các thầy cô bộ môn Khoa Công Nghệ Sinh Học – Thực Phẩm – Môi Trường đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình

để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài khóa luận của mình

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ThS Trần Thị Tưởng An – người

đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện toàn bộ đề tài khóa luận này đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tại Phòng thí nghiệm nhiên liệu sinh học và Biomass – Trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh

Xin gửi lời cảm ơn đến trại nấm 7 Yết đã cung cấp giống nấm hoàng kim cho tôi thực hiện đề tài này và chợ bắp Hóc Môn đã cung cấp cho tôi nguyên liệu trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng xin cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình – hậu phương vững chắc của tôi – đã luôn bên tôi, ủng hộ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi vững bước trên con đường học tập

Vì chưa có nhiều kinh nghiệm và thời gian có hạn nên không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp ý của quý Thầy, Cô để kiến thức của tôi ngày càng được hoàn thiện hơn và là hành trang bổ ích cho quá trình học tập và làm việc sau này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ x

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết quả đạt được 3

7 Kết cấu đồ án tốt nghiệp 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Giới thiệu về nguyên liệu vỏ bắp 4

1.1.1 Giới thiệu chung về cây bắp 4

1.1.2 Giới thiệu vỏ bắp 7

1.2 Giới thiệu nguyên liệu bổ sung mụn dừa 8

1.3 Tổng quan về nấm hoàng kim 9

1.3.1 Nguồn gốc và phân loại 9

1.3.2 Đặc điểm sinh học 10

1.3.3.Đặc điểm sinh trưởng 13

1.2.4 Giá trị dinh dưỡng 16

1.3.5 Tình hình sản xuất nấm sò 17

1.3.6 Các nghiên cứu về P.citrinopileatus trên thế giới 20

1.3.7 Các nghiên cứu về nấm sò ở Việt Nam 22

Trang 4

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Địa điểm và thời gian thực hiện đề tài 24

2.2 Đối tượng nghiên cứu 24

2.3 Nguyên vật liệu và dụng cụ thí nghiệm 24

2.3.1.Vật liệu và hóa chất 24

2.3.2.Các dụng cụ chính 25

2.3.3 Các thiết bị chính 26

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26

2.4.2 Thuyết minh sơ đồ 27

2.5 Nội dung thí nghiệm 27

2.5.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát tốc độ lan tơ, đặc điểm của tơ nấm hoàng kim trên môi trường thạch (giống cấp 1) 27

2.5.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm hoàng kim trên môi trường hạt thóc (giống cấp 2) 28

2.5.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm nước vôi đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 29

2.5.4 Thí nghiệm 4: Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ nước vôi ngâm đến tốc độlan tơ của tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 32

2.5.5 Thí nghiệm 5: Khảo sát ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng đa lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 33

2.5.6 Thí nghiệm 6: Khảo sát ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng vi lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 35

2.5.7 Thí nghiệm 7: Khảo sát ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng đa lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp bổ sung mụn dừa 36

2.5.8 Thí nghiệm 8: Khảo sát ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng vi lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp bổ sung mụn dừa 38

2.6 Xử lý số liệu 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

Trang 5

3.1 Xử lí nguyên liệu 40

3.2 Thí nghiệm 1: Khảo sát tốc độ lan tơ, đặc điểm của tơ nấm hoàng kim trên môi trường thạch (giống cấp 1) 43

3.3 Thí nghiệm 2: Khảo sát tốc độ lan, đặc điểm của tơ nấm hoàng kim trên môi trường hạt thóc (giống cấp 2) 47

3.4 Thí nghiệm 3: Khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm nước vôi đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 50

3.5 Thí nghiệm 4: Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ nước vôi ngâm đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim 52

3.6 Thí nghiệm 5: Khảo sát ảnh hưởng của vôi một số nguyên tố khoáng đa lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 54

3.7 Thí nghiệm 6: Khảo sát ảnh hưởng của vôi một số nguyên tố khoáng vi lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 57

3.8 Thí nghiệm 7: Khảo sát ảnh hưởng của vôi một số nguyên tố khoáng đa lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp bổ sung xơ dừa 60

3.9 Thí nghiệm 8: Khảo sát ảnh hưởng của vôi một số nguyên tố khoáng vi lượng đến tốc độ lan tơ nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp bổ sung xơ dừa 63

3.10 Sự so sánh nghiệm thức tốt nhất của giá thể vỏ bắp và giá thể vỏ bắp bổ sung mụn dừa 66

3.9 Một số thành phần hóa học trong mẫu vỏ bắp phơi khô 67

3.10 Một số thành phần hóa học trong mẫu mụn dừa 68

3.11 Thu hoạch nấm hoàng kim 68

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70

4.1 Kết luận 70

4.2 Đề nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: CÁC PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

PHỤ LỤC 2: SỐ LIỆU THÍ NGHIỆM

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NT: Nghiệm thức

SA: Ammonium sulfate (NH4)2SO4

DAP: Potassium dihydrogen phosphate

PGA: Potato glucose agar

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng bắp trên thế giới từ năm 1961 - 2008 5

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng bắp Việt Nam từ năm 1961 - 2009 6

Bảng 1.3 Sản lượng nấm sò tươi ở một số quốc gia và khu vực năm 1997 18

Bảng 1.4 Sản lượng nấm sò tươi ở Hoa Kỳ 1998 - 2002 18

Bảng 2.1 Các hóa chất sử dụng chính 25

Bảng 3.1 Một số thành phần hóa học của vỏ bắpphơi khô 67

Bảng 3.2 Một số thành phần hóa học của mẫu mụn dừa 68

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cây bắp 4

Hình 1.2 Các dạng lá ở cây bắp 7

Hình 1.3 Mụn dừa đã được xử lí 8

Hình 1.4 Pleurotus citrinopileatus ngoài tự nhiên 10

Hình 1.5 Đặc điểm hình thái của nấm sò 11

Hình 1.6 Chu kỳ sinh trưởng của nấm sò 12

Hình 1.7 Các giai đoạn phát triển của tai nấm 13

Hình 3.1 Xử lý nguyên liệu vỏ bắp 41

Hình 3.2 Phối trộn dinh dưỡng và trồng nấm 42

Hình 3.3 Nấm hoàng kim phân lập trên môi trường thạch 43

Hình 3.4 Tơ nấm hoàng kim cấy chuyền lần 2 trên môi trường thạch 44

Hình 3.5 Tơ nấm trên môi trường thạch nghiêng (dùng giữ giống) 45

Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng tơ nấm theo thời gian trên môi trường thạch PGA 45

Hình 3.7 Tơ nấm hoàng kim trên môi trường thạch (40X) 46

Hình 3.8 Sự sinh trưởng và phát triển tơ trên môi trường hạt 47

Hình 3.9 Tốc độ tăng trưởng của tơ nấm hoàng kim trên môi trường hạt thóc 48

Hình 3.10 Tơ nấm hoàng kim trên môi trường hạt thóc (40X) 49

Hình 3.11 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 3 50

Hình 3.12 Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp với sự ảnh hưởng của thời gian ngâm vôi 51

Hình 3.13 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 4 52

Hình 3.14 Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp với sự ảnh hưởng nồng độ ngâm vôi 53

Hình 3.15 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 5 ở 5 ngày 55

Hình 3.16 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 5 ở 7 ngày 55

Hình 3.17 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 5 ở 17 ngày 55

Trang 9

Hình 3.18 Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp với sự

ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng đa lượng 56

Hình 3.19 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 6 ở 5 ngày 58

Hình 3.20 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 6 ở 7 ngày 58

Hình 3.21 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 6 ớ 17 ngày 58

Hình 3.22 Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp với sự ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng vi lượng 59

Hình 3.23 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 7 ở 5 ngày 61

Hình 3.24 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 7 ở7 ngày 61

Hình 3.25 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 7 ở 17 ngày 61

Hình 3.26 Tốc độ tăng trưởng của sợi nấm hoàng kim trên giá thể với sự ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng đa lượng 62

Hình 3.27 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 8 ở 5 ngày 64

Hình 3.28 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 8 ở 7 ngày 64

Hình 3.29 Tơ nấm trên môi trường cơ chất ở thí nghiệm 8 ở 17 ngày 64

Hình 3.30 Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm hoàng kim trên giá thể với sự ảnh hưởng của một số nguyên tố khoáng vi lượng 65

Hình 3.31 Giá thể vỏ bắp và giá thể vỏ bắp bổ sung xơ dừa bổ sung vi lượng 66

Hình 3.32 Giá thể vỏ bắp và giá thể vỏ bắp bổ sung xơ dừa bổ sung đa lượng 66

Hình 3.33 Quả thể nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 68

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Tiến trình thực hiện thí nghiệm 26

Sơ đồ 3.1 Quy trình trồng nấm hoàng kim trên giá thể vỏ bắp 69

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, lượng protein có thể so với thịt, cá, giàu khoáng chất, acid amin không thay thế, vitamin,…Nấm ăn là loại thực phẩm sạch, cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể mà không gây bất lợi như đạm động vật hay đường, tinh bột thực vật

Trong những năm gần đây, nuôi trồng nấm ăn phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam, thị trường tiêu thụ nấm rộng mở lẫn trong nước và nước ngoài Nghề trồng nấm không phức tạp, nấm sinh trưởng nhanh (ngoại trừ các nấm sinh trưởng trong môi trường đặc biệt) Nguyên liệu trồng nấm phần lớn là phế thải của các ngành nông, lâm, công nghiệp với số lượng lớn, dễ kiếm, rẻ tiền và dễ sử dụng

Nước ta là một nước nông nghiệp lâu đời và là một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới trong việc sản xuất nông sản Vỏ bắp là nguồn phế phẩm nông nghiệp giàu cellulose được thải ra sau khi thu hoạch trái bắp Diện tích và sản lượng cây bắp ở Việt Nam xếp thứ hai sau cây lúa nước Vì thế lượng vỏ bắp thải ra rất lớn và hoàn toàn có thể tận dụng nguồn phế phẩm này để trồng nấm ăn – một loại nấm ăn

có giá trị dinh dưỡng cao

Nấm hoàng kim là loài nấm ăn được với hương vị và màu sắc hấp dẫn và giá trị dinh dưỡng cao Nấm hoàng kim vẫn chưa được nghiên cứu và sản xuất quy mô lớn

ở Việt Nam dù có tiềm năng rất lớn Vì vậy, “Bước đầu xử lý vỏ bắp làm cơ chất trồng nấm hoàng kim” được tiến hành nhằm tạo thêm nguồn nấm ăn phong phú, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Vì vậy, đề tài “Bước đầu xử lý vỏ bắp làm cơ chất trồng nấm hoàng kim” được tiến hành nhằm tận dụng phế phẩm vỏ bắp thành nguồn nguyên liệu để trồng nấm hoàng kim tăng khả năng đáp ứng nhu cầu nấm ăn của thị trường

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu

Năm 2011, Mohan P Singh và Vinay Kumar nghiên cứu về khả năng trồng

nấm P citrinopileatus trên các giá thể từ phế phẩm nông nghiệp và rau trái như:

rơm lúa, lá bắp cải, vỏ hạt đậu, lá súp lơ, lá củ cải Kết quả là 70% rơm lúa và 30% phế phẩm khác thì cho hiệu suất sinh học cao nhất và tiếp theo là 80 % rơm lúa và 20% phế phẩm khác Về thành phần dinh dưỡng của nấm thì hàm lượng protein, đường cao nhất khi nấm được trồng trên môi trường rơm lúa phối trộn với phế phẩm khác [19]

Năm 2012, Shweta Kulshreshtha và cộng sự nghiên cứu về việc trồng

Pleurotus citrinopileatus trên bã giấy thủ công nghiệp Những chất thải công nghiệp

này chứa nhiều cellulose và lignocellulosic có thể được sử dụng như một giá thể mới cho việc trồng nấm Trong nghiên cứu này phân tích khả năng tăng trưởng của nấm hoàng kim trên giá thể chất thải công nghiệp và sự kết hợp của chúng với rơm lúa mì cho thấy sự tăng trưởng tốt nhất trong thời gian ngắn hơn Sự kết hợp 50% rơm lúa mì và 50% bã giấy thủ công là có hiệu suất cao nhất 94,5% [20]

3 Mục đích nghiên cứu

Bước đầu xử lý vỏ bắp làm cơ chất trồng nấm hoàng kim

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhân giống cấp 1 (meo thạch) và cấp 2 (meo hạt), theo dõi tốc độ lan, quan sát đặc điểm của tơ nấm hoàng kim trên môi trường thạch PGA và môi trường hạt thóc

- Khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm nước vôi, nồng độ vôi ngâm và dinh dưỡng khoáng đến sự sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm hoàng kim trên cơ chất vỏ bắp, từ đó xây dựng quy trình trồng nấm hoàng kim trên vỏ bắp

- Khảo sát sự sinh trưởng và tốc độ lan tơ trên giá thể vỏ bắp bổ sung mụn dừa

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp được sử dụng để thu thập thông tin là thu thập thông tin được công bố trên mạng internet

- Phương pháp được dùng để thống kê tính toán là Microsoft Excel 2007

- Phương pháp nhân giống, giữ giống nấm hoàng kim

- Phương pháp khảo sát nguyên liệu: xác định hàm lượng lignin bằng phương pháp Klason, xác định hàm lượng ẩm bằng phương pháp sấy khô, hàm lượng tro bằng phương pháp nung tro

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu

- Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Giới thiệu về nguyên liệu vỏ bắp

1.1.1 Giới thiệu chung về cây bắp

Ngô, bắp hay bẹ (danh pháp hai phần: Zea mays L ssp Mays) là một loại cây

lương thực được thuần canh tại khu vực Trung Mỹ và sau đó lan tỏa khắp Châu Mỹ Bắp lan tỏa ra phần còn lại của thế giới khi có sự tiếp xúc của người Châu Âu với Châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 [32]

Bắp được gieo trồng rộng khắp thế giới với sản lượng hàng năm cao hơn bất

kỳ cây lương thực nào Trong khi Hoa Kỳ sản xuất gần một nửa sản lượng chung của thế giới thì các nước sản xuất hàng đầu khác còn có Trung Quốc, Brasil, Mexico, Argentina, Ấn Độ, Pháp, Indonesia, Nam Phi và Italia Sản lượng toàn thế giới năm 2003 là trên 600 triệu tấn hơn cả lúa và lúa mì Năm 2004, gần 33 triệu ha bắp đã được gieo trồng trên khắp thế giới với giá trị khoảng 23 tỷ USD [32]

(Nguồn: Viện nghiên cứu bắp, 2009)

Hình 1.1 Cây bắp

Trang 15

❖ Tình hình sản xuất cây bắp trên thế giới

Vào năm 1961, năng suất bắp trung bình của thế giới chỉ xấp xỉ 20 tạ/ha, thì năm 2008 tăng gấp hơn 2,5 lần (đạt 51 tạ/ha), sản lượng đã tăng từ 204 triệu tấn lên 822,712 triệu tấn (gấp 4 lần), diện tích tăng từ 104 triệu lên 161 triệu hecta (hơn 1,5 lần) [31]

Trong sản xuất bắp của thế giới, Hoa Kỳ là nước sản xuất gần 50% tổng sản lượng còn lại là do các nước khác sản xuất Sản lượng bắp xuất khẩu trên thế giới trung bình hàng năm khoảng trên 80 triệu tấn Trong đó, Hoa Kỳ luôn là nước xuất khẩu chiếm trên 50%, 55 - 60% tổng số và các nước khác là số còn lại [31]

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng bắp trên thế giới từ năm 1961 - 2008

Bắp Năm Diện tích ( nghìn

❖ Tình hình sản xuất bắp ở Việt Nam

Cây bắp ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc Ở Việt Nam, bắp là loại cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa Bắp được trồng khắp nơi, từ đồng bằng đến trung du và khá nhiều ở miền núi

Từ năm 2006, năng suất và sản lượng bắp của Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt cao nhất từ trước đến nay Năm 2008, diện tích trồng bắp của cả nước đạt 1,126,000 ha, tổng sản lượng trên 4,531,200 tấn Năm 2009, diện tích đạt 1,170,900

ha, tổng sản lượng lên tới trên 5,031,000 tấn, cao nhất từ trước tới nay [31]

Trang 16

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng bắp Việt Nam từ năm 1961 - 2009

Năm Diện tích

(1000 ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

(Nguồn: Viện nghiên cứu bắp,2009)

(Nguồn: Viện nghiên cứu bắp, 2009)

Trang 17

Với diện tích và năng suất bắp hàng năm đạt hơn 1170,9 (nghìn ha) và

5031 (nghìn tấn) xếp thứ hai sau cây lúa Vỏ bắp chiếm xấp xỉ 20% khối lượng trái bắp sau khi thu hoạch Vì vậy, sản lượng vỏ bắp thải rất lớn có thể tận dụng nghiên cứu để trồng nấm

1.1.2.Giới thiệu vỏ bắp

Căn cứ vào vị trí trên thân và hình thái có thể chia lá bắp làm 4 loại:

- Lá mầm: Là lá đầu tiên khi cây còn nhỏ, chưa phân biệt được phiến lá với vỏ bọc

- Lá thân: Lá mọc trên đốt thân, có mầm nách ở kẽ chân lá

- Lá ngọn: lá mọc ở ngọn, không có mầm nách ở kẽ lá

- Lá bi: Là những lá bao bên ngoài trái bắp (vỏ bắp)

Lá bắp điển hình được cấu tạo bởi bẹ lá, bản lá (phiến lá) và lưỡi lá (thìa lìa, tai lá) Tuy nhiên có một số loại không có thìa lá làm cho lá bó, gần như thẳng đứng theo cây

Bẹ lá (còn gọi là cuống lá): Bao chặt vào thân, trên mặt nó có nhiều lông Khi cây còn non, các bẹ lá lồng gối vào nhau tạo thành thân giả, bảo vệ thân chính [31]

(Nguồn: Viện nghiên cứu bắp, 2009)

Hình 1.2 Các dạng lá ở cây bắp

Trang 18

1.2 Giới thiệu nguyên liệu bổ sung mụn dừa

Cây dừa là một biểu tượng gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của người dân Nam

bộ Đặc biệt do tính đa năng trong việc sử dụng tất cả các bộ phận của cây: từ trái dừa với xơ dừa, nước dừa, vỏ gáo dừa đến thân cây, lá cây dừa, nên cây dừa được trồng phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước, đặc biệt là vùng Nam Bộ [8]

Quả dừa khô sau khi tách vỏ cho ra hạt (là phần sọ dừa có cơm dừa, nước) và vỏ dừa Sau khi tách người ta dùng máy dập đập để tách xơ dừa và mạt dừa Phần vụn

ra như mạt cưa được gọi là mụn dừa hay mạt dừa, phần sợi được gọi xơ dừa (hay chỉ xơ dừa) [8]

Hình 1.3 Mụn dừa đã được xử lí [7]

Trong mụn dừa có 2 chất quan trọng ảnh hưởng lớn đến bộ rễ cây trồng là Tanin (chất chát có nhiều trong trà, mụn dừa,…tan trong môi trường nước) và Lignin (chất chát chỉ hòa tan trong môi trường kềm) Chất chát Tanin và Lignin đóng vai trò là cái bịt mõn bịt mọi đường hút – hít của rể cây, dẫn đến chết cây Do vậy, khi sử dụng mụn dừa ta phải xử lý 2 chất chát này khỏi mụn dừa [8]

Tùy theo công nghệ của nhà sản xuất, mục đích của người sử dụng mà có các cách xử lý dừa khác nhau Tại các nước phát triển dừa được xử lý bằng các hóa chất như NaOH… Nhằm có thể kết tủa và giảm độc tính khi thải vào môi trường [8]

Xử lí tannin và lignin ở mụn xơ dừa

- Ngâm và xả mụn dừa với nước cho giảm bớt chất chát và chất mặn, sau đó phơi ráo nước để dùng Có thể ngâm mụn dừa trong bể chứa, thời gian ngâm tối thiểu là 3 ngày, sau đó xả cho hết nước màu vàng sậm Nếu không có bể

Trang 19

chứa thì vun đống cao 1,5 - 2m, phía trên đỉnh khoét hố rộng để bơm xả nước vào, rồi định kỳ xả hàng ngày cho đến khi thấy nước rỉ ra dưới đáy đống ủ trong là được

- Ngâm mụn dừa với nước vôi trong bể chứa (có thể rắc vôi rồi tưới nước vào) theo tỷ lệ cứ 5 kg vôi pha với 200 lít nước sạch và ngâm liên tục trong thời gian từ 5 - 7 ngày sau đó xả nước chát màu đen ra khỏi bể chứa và đưa nước sạch vào xử lý từ 2 - 3 lần Khi đó có thể đem ra sử dụng [8]

Mụn dừa có các đặc tính như giữ ẩm tốt, thoáng khí giúp cây trồng hấp thu chất dinh dưỡng dễ dàng,…Vì vậy, việc bổ sung dừa vào giá thể vỏ bắp có thể sẽ giúp tăng khả năng phát triển của nấm hoàng kim và giúp hình thành quả thể tốt hơn

1.3 Tổng quan về nấm hoàng kim

1.3.1 Nguồn gốc và phân loại

1.3.1.1 Nguồn gốc và phân bố

Pleurotus citrinopileatus, nấm sò vàng (tamogitake trong tiếng Nhật) hay tên

thường gọi ở Việt Nam là hoàng kim, là một loại nấm có thể ăn được Có nguồn gốc từ miền đông nước Nga, miền bắc Trung Quốc và Nhật Bản, nấm sò vàng rất

gần với nấm P cornucopiae của châu Âu, với một số tác giả cho rằng chúng giống nhau ở cấp bậc phân loài Ở miền đông nước Nga, P citrinopileatus, chúng được

gọi là iI'mak, là một trong những loại nấm ăn được phổ biến nhất [32]

Pleurotus citrinopileatus (Singer 1942) là loại nấm ăn phổ biến với hình dáng

hấp dẫn và màu sắc vàng tươi sáng Nấm này có vị đắng và mùi khó chịu khi nấu

sơ và do đó làm nhiều người không thích Ngoài ra, mủ nấm của nấm hoàng kim rất giòn làm tăng tổn thất trong quá trình thu hoạch và đóng gói Tuy nhiên, khi được nấu chín chúng có một hương vị hấp dẫn (Stamets 2000) Các hợp chất chịu trách nhiệm về mùi vị của nấm hoàng kim là 3-octanol, 3-octanone và 1-46 octen-3-ol (Zawirska – Wojtasiak et al 2009) [9]

Nấm hoàng kim giống như các loài nấm sò khác, là một loại nấm phân hủy gỗ

Trong tự nhiên, P citrinopileatus thường phân hủy các loại gỗ cứng Bào tử lan truyền bởi Callipogon relictus, một loài bọ cánh cứng [32]

Trang 20

1.3.1.2 Phân loại sinh học

Các loài thuộc họ Pleurotus còn có tên gọi chung là nấm sò hay nấm bào ngư

Nấm sò có thể trồng quanh năm nhưng thuận lợi nhất từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau Theo Singer (1975) có tất cả 39 loài và chia làm 4 nhóm Trong đó

có 2 nhóm lớn:

Nhóm ưa nhiệt trung bình (ôn hòa) kết quả thể ở nhiệt độ 10 - 20oC

Nhóm ưa nhiệt kết quả thể ở nhiệt độ 20 - 30oC Nấm hoàng kim là loài thuộc nhóm này

Độ ẩm cơ chất trồng nấm 60 - 65%, độ ẩm không khí > 80%

Cơ chất trồng nấm và nước tưới cần pH 6,5 - 7,0

Ánh sáng: Không cần thiết trong thời kì nuôi sợi, khi nấm hình thành quả thể cần ánh sang khuếch tán

Độ thông thoáng: Cần thiết trong giai đoạn nuôi sợi, nồng độ CO2 ≤ 0,03% Dinh dưỡng: Sợi nấm sò sử dụng trực tiếp nguồn Cellulose của cơ chất Có thể sử dụng thêm phụ gia giàu chất đạm, khoáng trong giai đoạn xử lí nguyên liệu

Ở Việt Nam, nấm sò chủ yếu mọc hoang dại và có nhiều tên gọi khác nhau: nấm sò, nấm hương trắng hay chân ngắn (miền bắc), nấm dai (miền nam), nấm bình

cô, Oyster Mushroom Việc nuôi trồng nấm này bắt đầu khoảng hơn 40 năm trở lại đây với nhiều chủng loại [6]

Trang 21

Nấm sò có đặc điểm chung là tai nấm dạng phễu lệch, mọc thành cụm tập trung, mỗi cánh nấm bao gồm ba phần: mũ, phiến và cuống nấm (hình 1.5)

Chu trình sống bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính nảy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng sơ cấp và thứ cấp, kết thúc bằng việc hình thành cơ quan sinh sản là tai nấm Tai nấm lại sinh đảm bào tử và chu trình sống liên tục (hình 1.6)

1 Mũ nấm 2 Phiến nấm 3 Cuống nấm 4 Hệ sợi nấm

Hình 1.5 Đặc điểm hình thái của nấm sò [6]

Quả thể nấm phát triển qua nhiều giai đoạn dựa theo hình dạng tai nấm mà

có tên gọi cho từng giai đoạn (hình 1.6):

- Dạng san hô: quả thể mới tạo thành, dạng sợi mảnh hình chùm

- Dạng dùi trống: mũ mới xuất hiện dưới dạng khối tròn, còn cuống phát triển cả về chiều ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ nấm khác nhau không bao nhiêu

- Dạng phễu: mũ mở rộng, trong khi cuống còn ở giữa (giống cái phễu)

- Dạng bán cầu lệch: cuống lớn nhanh một bên và bắt đầu lệch so với vị trí trung tâm của mũ

- Dạng lá lục bình: cuống ngừng tăng trưởng, trong khi mũ vẫn tiếp tục phát triển, từ bìa mép thẳng đến dợn sóng

Trang 22

Hình 1.6 Chu kỳ sinh trưởng của nấm sò[6]

Từ giai đoạn phễu sang bán cầu lệch, nấm có sự thay đổi về chất (giá trị dinh dưỡng tăng), còn từ giai đoạn phễu lệch sang dạng lá lục bình nấm có sự nhảy vọt

về khối lượng (trọng lượng tăng, sau đó giảm dần) Vì vậy thu hái nấm nên lựa chọn tai nấm vừa chuyển sang dạng lá lục bình [6]

Nhóm nấm sò thuộc nhóm phá hoại gỗ, sống chủ yếu hoại sinh, mặc dù một

số loài có đời sống ký sinh Phần lớn cơ chất dùng trồng nấm sò đều chứa nguồn cellulose Tuy nhiên đa số trường hợp lượng cellulose bao giờ cũng thấp hơn 50% còn lại là lignin, hemicellulose và khoáng

Đối với nấm sò là loài có khả năng sử dụng lignin mạnh nhờ enzyme laccase, nhất là thời gian khởi đầu của việc tạo quả thể nấm Thí nghiệm của Zadrazil (1980)

cho thấy hầu hết các cơ chất nuôi trồng nấm sò (P florida và P.cornucopiae) đều có

sự giảm lignin một cách đáng kể [6]

Trang 23

Hình 1.7 Các giai đoạn phát triển của tai nấm [6]

a Dạng san hô b Dạng dùi trống c Dạng phễu

d Dạng bán cầu lệch e Dạng lá lục bình

1.3.3 Đặc điểm sinh trưởng

1.3.3.1 Yếu tố dinh dưỡng

Nấm nói chung và các loại nấm ăn nói riêng chủ yếu sống dị dưỡng nhờ có

hệ men phân giải tương đối mạnh, giúp chúng có thể sử dụng các dạng thức ăn phức tạp như chất xơ, chất đường, bột, chất gỗ,… Với cấu trúc dạng sợi, tơ nấm len lỏi sâu vào trong cơ chất (rơm rạ, cưa, gỗ…) hấp thụ thức ăn để nuôi toàn bộ cơ thể nấm

❖ Chất đạm

Chất đạm cũng là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu được ở nấm Ở gỗ mà nấm thường mọc, hầu như rất nghèo đạm Vì vậy, để mọc nấm tốt cần có thêm nguồn đạm thích hợp

Nguồn đạm hữu cơ bổ sung trong trồng nấm sò ở các dạng như bánh dầu, bã đậu nành

Trang 24

Nguồn đạm vô cơ dùng trong trồng nấm như phân urea, phân sunphat amon (SA), diamon phosphat (DAP)

Nhiều thí nghiệm bổ sung muối nitrat, muối ammonium và urea cho thấy tơ nấm tăng trưởng tốt nhất trên nguyên liệu có thêm urea Bột đậu nành cũng là nguồn bổ sung rất tốt cho nấm sò

❖ Chất khoáng và vitamin

Các vitamin để hệ sợi nấm phát triển: Vitamin B1, B6, H

Các chất khoáng đa lượng: Nấm cần được cung cấp một số nguyên tố khoáng

đa lượng như phốt pho (P), kali (K), canxi (Ca), lưu huỳnh (S), magie (Mg),… Ví

dụ như: phân lân cung cấp phốt pho, phân kali cung cấp nguyên tố kali, hoặc phân hỗn hợp NPK cung cấp cả đạm, phốt pho và kali

Các nguyên tố vi lượng như: sắt (Fe), kẽm (Zn), mangan (Mn), bor (Bo)… Nấm sò cần thành phần các nguyên tố vi lượng với một tỷ lệ rất nhỏ nhưng không thể thiếu được

❖ Nước

Nấm sò cần nước rất lớn trong quá trình sinh trưởng và phát triển, nước chiếm 80 - 85% tổng trọng lượng Nếu thiếu nước, quả thể sẽ cằn cỗi, thậm chí teo cứng lại, nhẹ cân và rất dai Nếu thừa nước, quả thể sẽ vàng nhũn và rũ xuống

Nguồn nước tưới phải sạch, nếu nước quá bẩn sẽ lây nhiễm các mầm bệnh cho nấm, làm ức chế sự phát triển của quả thể, thậm chí làm chết quả thể

Nguồn nước tưới không bị nhiễm phèn hoặc nhiễm mặn Nếu không quả thể hình thành sẽ bị dị dạng như bông cải, teo đầu, khô cứng hoặc bị chết non

Nếu dùng nước máy thì phải để bay hết mùi clo [28]

1.3.3.2 Yếu tố môi trường

Ngoài yếu tố dinh dưỡng từ các chất có trong nguyên liệu trồng nấm sò thì sự tăng trưởng và phát triển của nấm có liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, pH, nồng độ O2 và CO2,…

Trang 25

❖ Nhiệt độ

Nấm sò mọc được ở biên độ nhiệt độ tương đối rộng Ở giai đoạn ủ tơ, một

số loài cần nhiệt độ từ 20 - 30oC, một số loài khác cần từ 27 - 32 oC, thậm chí 35oC

như loài P.tuber-regium Nhiệt độ thích hợp để ra quả thể ở một số loài cần từ 15 -

25oC, số loài khác cần từ 25 - 32oC

❖ Độ ẩm

Độ ẩm rất quan trọng đối với sự phát triển tơ và quả thể của nấm Trong giai đoạn tăng trưởng tơ, độ ẩm nguyên liệu yêu cầu từ 50 - 60%, còn độ ẩm không khí không được nhỏ hơn 70% Ở giai đoạn tưới đón nấm ra quả thể, độ ẩm không khí tốt nhất là 70 - 95% Ở độ ẩm không khí 50%, nấm ngừng phát triển và chết, nếu nấm ở dạng phễu lệch và dạng lá thì sẽ bị khô mặt và cháy vàng bìa nụ nấm Nhưng nếu độ ẩm cao trên 95%, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống [6]

❖ pH

Cơ chất khi chế biến thường có những biến đổi về pH Đối với nấm sò, khả năng chịu đựng sự dao động pH tương đối tốt, pH môi trường có giảm xuống 4,4 hoặc tăng lên 9 thì tơ nấm vẫn mọc được Tuy nhiên, pH thích hợp đối với hầu hết các loài nấm sò trong khoảng 5 - 7 pH thấp làm quả thể không hình thành và ngược lại pH quá kiềm tai nấm bị dị hình [6]

❖ Ánh sáng

Ở thể sợi nấm nuôi ngoài sáng không tốt bằng nuôi trong tối, yếu tố này chỉ cần thiết trong giai đoạn ra quả thể Cụ thể là trong giai đoạn mọc quả thể cần có ánh sáng nhẹ, khoảng 200 - 300 lux (ánh sáng khuếc tán – ánh sáng phòng) nhằm kích thích nụ nấm phát triển Giai đoạn phát triển quả thể cần ánh sáng khoảng từ

300 - 500 lux để thỏa mãn yêu cầu làm quả thể lớn lên Còn ánh sáng yếu thì lượng

gốc nấm ít, chân nấm dài ra, mũ hẹp, hình dạng không bình thường [4]

❖ Nồng độ O2, CO2

Đặc biệt quá trình nảy mầm của bào tử và tăng trưởng của tơ nấm có liên quan đến nồng độ CO2 phải giảm và lượng O2 tăng lên Không khí phải được lưu thông tốt, nồng độ CO2 giai đoạn ra quả thể không vượt quá 1% Nếu nồng độ CO2

Trang 26

cao sẽ có hại cho sự sinh trưởng của quả thể, mũ nấm sẽ bị hẹp lại trong khi chân nấm dài ra, dẫn đến nấm bị biến dạng, quả thể vàng và thối Vì vậy nhà trồng nấm

cần có độ thông thoáng vửa phải, nhưng phải tránh gió lùa trực tiếp [4]

1.2.4.Giá trị dinh dưỡng

Nấm sò có mùi thơm của quả hạnh, vị ngọt và giòn của bào ngư Nấm sò tươi

là tốt nhất khi còn non, khi nấm già, thịt trở nên cứng rắn do gỗ hóa và hương vị trở nên chát và khó chịu Đông y cho rằng nấm sò có vị ngọt, tính ấm, công năng tán hàn và thư cân

Dinh dưỡng của nấm sò rất cao không kém hơn dinh dưỡng các sản phẩm từ động vật Hàm lượng protein chiếm tới 33 - 43% khi nấm sò dưới dạng sinh khối khô Nấm sò giàu các chất khoáng và các acid amin tan trong nước, các acid amin không thay thế như lysine, tryptophan, các acid min chứa nhóm lưu huỳnh Ngoài ra chúng còn chứa một lượng lớn các vitamin quan trọng được nhiều nhà dinh dưỡng học quan tâm nghiên cứu, nhằm đánh giá vai trò của nấm như nguồn thực phẩm cho con người

Nấm P.citrinopileatus chứ 85,90 - 87,37% độ ẩm, 22,84 - 26,01% protein thô,

2,59 - 3,23% chất béo thô, 7,76 - 9,06% tro và 63,77 - 65,58% tổng carbohydrate trên cơ sở trọng lượng khô [4]

Ngoài giá trị cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, tất cả các loại nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa các bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột, tăng cường khả năngmiễn dịch của cơ thể, phòng các bệnh tim mạch, giải độc và bảo vệ tế bào gan

Nhiều nghiên cứu cho thấy nấm sò cùng một số nấm ăn khác có tác dụng chống ung thư Tác dụng chống ung thư của nấm sò do sự hiện diện của lovastatin trong tai nấm, tập trung ở phiến nấm và đặc biệt ở bào tử nấm, chứa đến 2,8% so với trọng lượng khô Có thể chiết xuất chất này từ nấm sò để chế ra thực phẩm chức năng và chế thuốc làm giảm cholesterol Nấm sò tươi thường là nấm hoang dã, mặc

dù nó cũng có thể được trồng trên rơm rạ và các loại vật liệu khác Thường có hương thơm của hồi do sự hiện diện của benzaldehyde

Trang 27

Với các kết quả nghiên cứu dược lý, ở nấm sò còn được phát triển được chất kháng sinh, gọi là pleurotin Chất này ức chế hoạt động của vi khuẩn Gram dương

(Robin và cộng sự, 1947) và kháng cả tế bào ung thư… Bên cạnh đó, Yoshioka và cộng sự (1975) cũng tìm thấy hai polysaccharide có tính năng kháng ung bướu Cả

hai chất này đều có nguồn gốc là glucose Trong đó, chất được biết nhiều nhất, bao gồm 69% β (1-3) glucan, 13% galactose, 6% mannose, 13% uronic acid [6] Các nghiên cứu khác về nấm tươi có tác dụng làm giảm thiểu đối với cholesterol và đường máu cho kết quả khả quan

Đồng thời nấm còn chứa nhiều acid folic hơn cả thịt và rau rất cần cho những người bị thiếu máu Riêng về hàm lượng chất béo và tinh bột ở nấm thì thấp, phù hợp cho những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, cao huyết áp

Trong tự nhiên nấm sò tươi có tiết ra chất kháng tuyến trùng và giun tròn Do

đó khi ăn nấm sò còn có tác dụng phòng ngừa giun, sán rất tốt

1.3.5.Tình hình sản xuất nấm sò

1.3.5.1 Trên thế giới

Nấm sò được nuôi trồng rộng rãi trên thế giới Trung Quốc là nước sản xuất nấm sò lớn nhất trên thế giới với hơn 85% tổng sản lượng nấm sò trên thế giới (bảng 1.3)

Khu vực Bắc Mỹ và châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp Những nơi sản xuất nấm có công suất lên đến hàng trăm tấn/năm được cơ giới hóa cao từ khâu xử lý nguyên liệu đến khâu thu hái chế biến đều do máy móc thực hiện Sản xuất nấm ngày càng được cơ giới hóa, tự động hóa và trở thành một ngành kinh

tế mạnh trên thế giới, được xếp hạng là ngành sản xuất thứ ba trong sản xuất nông nghiệp ngoài trồng trọt và chăn nuôi

Trang 28

Bảng 1.3 Sản lượng nấm sò tươi ở một số quốc gia và khu vực năm 1997

Bảng 1.4 Sản lượng nấm sò tươi ở Hoa Kỳ 1998 – 2002

Trang 29

như Phúc Kiến coi nấm là cây làm giàu Phúc Kiến có khoảng 4 triệu người chuyên trồng nấm (chiếm trên 10% dân số)

Những năm 1960 vùng lãnh thổ Đài Loan xuất khẩu nấm đạt 100 triệu USD/năm và lấy việc phát triển sản xuất nấm làm đột phá trong ngành nông nghiệp Hàn Quốc, Đài Loan,… đang nhập khẩu cưa, rơm rạ, thân lõi bắp từ VN và họsản xuất nấm đạt giá trị gần 10 tỷ USD/năm, xuấtkhẩu nấm đến hơn 80 quốc gia

Kinh nghiệm phát triển nấm ở Trung Quốc và Hàn Quốc là ngay từ những năm 1980, Chính phủ đầu tư kinh phí nhập khẩu công nghệ và thiết bị hiện đại từ các nước phát triển như Mỹ, Hà Lan,… để công nghiệp hóa ngành sản xuất nấm Xu thế phát triển sản xuất nấm đang chuyển dịch đến các nước nông nghiệp trong đó có Việt Nam vì là nơi có nhiều nguồn nguyên liệu để trồng nấm do quá trình sản xuất nông nghiệp và công nghiệp nhẹ tạo ra, đồng thời cũng là nước có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ [24]

1.3.5.2 Ở Việt Nam

Mỗi năm nước ta sản xuất được trên 250,000 tấn nấm tươi các loại, chủ yếu

là nấm rơm, mộc nhĩ, nấm sò, nấm mỡ, linh chi… tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 100 triệu USD/năm, chủ yếu là nấm rơm muối và đóng hộp, mộc nhĩ khô, nấm

mỡ tươi và muối [24]

Nấm sò đã được trồng tại Việt Nam khoảng hơn 25 năm nay, trên nhiều nguồn vật liệu khác nhau Do nấm sò có nhiều loài với khả năng kết quả thể trên miền nhiệt độ rộng từ 15 - 35oC nên được trồng phổ biến trên cả nước và trồng quanh năm Sản lượng nấm sò ở nước ta đạt khoảng 60 tấn/năm [24] Hiện tại thị trường có nhiều loại nhưng hai loại nấm sò xám và trắng (nguồn giống Nhật Bản) là được ưa chuộng Nấm sò hoàng kim chưa được sản xuất với quy mô lớn mà chỉ được sản xuất nhỏ lẻ với số lượng ít dưới dạng bịch phôi nấm cho các đối tượng khách hàng muốn trồng nấm ăn tại nhà

Hiện nay đã có nhiều nông dân Việt Nam thoát nghèo nhờ việc trồng nấm sò

Mô hình trồng nấm sò đã được nhân rộng ra nhiều nơi như: Đồng Nai, Bến Tre, Củ Chi, Bình Thuận, Vĩnh Long, An Giang, Bình Dương, Đà Lạt, Đồng Tháp,…

Trang 30

Không những giúp người dân thoát nghèo, việc trồng nấm sò đúng quy trình và theo

mô hình lớn còn có thể giúp một số doanh nhân biết cách đầu tư làm giàu nhanh chóng Điển hình ở Long An, nghề trồng nấm được hình thành khá sớm, tập trung tại các huyện: Bến Lức, Thủ Thừa, Châu Thành, Mộc Hoá Sản lượng nấm rơm đạt

400 tấn/năm, nấm sò 36 tấn/năm, nấm linh chi 2 tấn/năm

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mục tiêu đến năm 2020 sản xuất khoảng 150,000 tấn nấm các loại, chiếm khoảng 20% tổng sản lượng nấm cả nước, giá trị hàng hóa đạt 5,000 tỷ/năm, trong đó xuất khẩu đạt tối thiểu 100 - 120 triệu USD/năm Dự kiến tỷ lệ sản phẩm chủ lực như sau: nấm rơm 30%, nấm mộc nhĩ 30%, nấm sò 30%, nấm mỡ 5%, nấm đùi gà 4%, nấm dược liệu 1% [27]

1.3.6 Các nghiên cứu về P.citrinopileatus trên thế giới

Năm 2011, Fredrick Musieba và cộng sự đã phát hiện sự xuất hiện lần đầu

tiên của nấm Pleurotus citrinopileatus ở rừng Kakamega, kenya trên các khúc gỗ cây Antiaris toxicaria, polyscias fulva và Ficus thoningii Nấm Pleurotus citrinopileatus ở rừng Kakamegacó tai nấm với đường kính 10 - 15 cm, lồi, nhờn

khi còn non và tươi, màu vàng nhạt, rìa liền đều khi còn non và nhăn khi già đi, thân ngắn dài 1,5 cm, phiến nấm rộng, màu sáng hơn tai nấm, bào tử có vách mỏng, nhẵn,

hình trụ Kết quả cho thấy nấm Pleurotus citrinopileatus thuộc giới nấm ngành nấm

đảm, lớp nấm tản, bộ nấm tản họ nấm bào ngư chi bào ngư [13]

Năm 2011, Mohan P Singh và Vinay Kumar nghiên cứu về khả năng trồng

nấm P citrinopileatus trên các giá thể từ phế phẩm nông nghiệp và rau trái như:

rơm lúa, lá bắp cải, vỏ hạt đậu, lá súp lơ, lá củ cải Kết quả là 70% rơm lúa và 30% phế phẩm khác thì cho hiệu suất sinh học cao nhất và tiếp theo là 80% rơm lúa và 20% phế phẩm khác Về thành phần dinh dưỡng của nấm thì hàm lượng protein, đường cao nhất khi nấm được trồng trên môi trường rơm lúa phối trộn với phế phẩm khác [19]

Năm 2011, Maira Carabajal và cộng sự nghiên cứu sự tương tác giữa

Pleurotus ostreatus và Pleurotus citrinopileatus trong một giá thể ảnh hưởng đến

sản xuất enzyme ligno-cellulolytic, làm tăng giá trị năng suất và thay đổi đặc tính

Trang 31

hình thái của quả thể thu được với 3 mẫu không gian khác nhau (một loại nấm ở phần trên của túi và phần thứ hai ở phía dưới, mô hình không gian đối diện, và rải

rác trong mỗi túi) Kết quả là P ostreatus ở phần trên của túi, P citrinopileatus ở

phần dưới của túi là hiệu quả sinh học đạt cao nhất lần lượt là 95,3% và 67,6% Quả thể nấm của mỗi loại có tai nấm không thay đổi, phần thân nấm ngắn lại Các hoạt động tế bào và xylanolytic phát hiện tăng đáng kể nhưng đồng canh tác không kích thích sản sinh enzyme ligninolyic [17]

Năm 2012, ShwetaKulshreshtha và cộng sự nghiên cứu về việc trồng

Pleurotus citrinopileatus trên bã giấy thủ công nghiệp Những chất thải công nghiệp

này chứa nhiều cellulose và lignocellulosic có thể được sử dụng như một giá thể mới cho việc trồng nấm Trong nghiên cứu này phân tích khả năng tăng trưởng của nấm hoàng kim trên giá thể chất thải công nghiệp và sự kết hợp của chúng với rơm lúa mì cho thấy sự tăng trưởng tốt nhất trong thời gian ngắn hơn Sự kết hợp 50% rơm lúa mì và 50% bã giấy thủ công là có hiệu suất cao nhất 94,5% [20]

Năm 2014, một nghiên cứu được thực hiện bởi Ghada M Medany đã nói

rằng nấm Pleurotus citrinopileatuscó thể là một nguồn thực phẩm tuyệt vời với thành phần dinh dưỡng và các thành phần chống oxy hóa P.citrinopileatus chứa

85,90 - 87,37% độ ẩm, 22,84 - 26,01% protein thô, 2,59 - 3,23% chất béo thô, 7,76

- 9,06% tro và 63,77 - 65,58% tổng carbohydrate trên cơ sở trọng lượng khô Ngoài

ra, Rushita và cộng sự đã tuyên bố rằng, P citrinopileatus có hoạt tính trị đái tháo

đường tuyệt vời và do đó có tiềm năng lớn như một thành phần trong các sản phẩm

tự nhiên hỗ trợ điều trị sức khỏe [14]

Năm 2016, A G Rosnina và cộng sựnghiên cứu tạo ra các giống lai P citrinopileatus với kết cấu cuống bào tử vững chắc hơn để tạo điều kiện thu hoạch

và giảm nguy cơ thiệt hại trong quá trình đóng gói và mùi ít hăng để cải thiện khả

năng chấp nhận tiêu thụ của P citrinopileatus thông qua việc giao phối giữa các loài nuôi cấy đơn bào P citrinopileatus và P pulmonarius Kết quả là một loại

nấm chất lượng cao có thể thu được thông qua việc lai tạo các loài tạo ra những mong muốn Các giống lai được sản xuất trong nghiên cứu này có mùi thơm ít gây

Trang 32

khó chịu và cho năng suất cao hơn, xét về tổng trọng lượng của cơ thể quả tươi và hiệu quả sinh học, so với chủng bố mẹ Phân tích phân tử cho thấy tương đồng di

truyền cao giữa các giống lai và P citrinopileatus [9]

1.3.7 Các nghiên cứu về nấm sò ở Việt Nam

Năm 2012, Nguyễn Phương Hạnh và Chu Thị Thu Hà nghiên cứu ứng dụng trồng nấm sò trên bã dong Thành phần bã dong rất giàu cellulose (90%), tinh bột (5%) và có cả nitơ, photpho, kali tương ứng với 0,5%, 0,11% và 0,16%, độ ẩm của

bã dong là 80% Kết quả cho thấy năng suất trồng nấm sò đạt 60 - 100% vào mùa thu, xuân với thời gian thu hoạch kéo dài khoảng một tháng Nhưng vào mùa hè năng suất thấp hơn, chỉ có 10 - 25% và thời gian thu hoạch ngắn (10 - 15 ngày) [3]

Năm 2013, Nguyễn Duy Lâm và Vũ Thị Nhị nghiên cứ sản xuất giống nấm

sò Pleurotus florida dạng lỏng nhằm thay thế dạng hạt truyền thống Chọn ra môi

trường nhân giống thích hợp nhất là GPYR (glucose 30 g, pepton 2 g, cao nấm men 2g, cám gạo 25 g) Các thông số nuôi cấy lỏng thích hợp là pH 6, tốc độ lắc 200v/ph, thời gian ươm nuôi 6 ngày Thời gian sản xuất giống bằng thiết bị lên men quy mô

10 lít/mẻ là 4 ngày Tỷ lệ cấy giống (có sinh khối 3,2 mg/ml) thích hợp nhất là 3 - 4% cho giá thể mạt cưa khối lượng 250 - 1800 g/túi Thời gian bảo quản giống dạng lỏng tốt nhất ka2 30 - 40 ngày kể từ khi được sản xuất Kết quả trồng nấm với giá thể mạt cưa cho thấy giống nấm lỏng không làm giảm sản lượng nấm và hiệu suất sinh học Không những thế, sử dụng giống lỏng đã tiết kiệm được 20,5% thời gian pha sợi và 18% tổng thời gian trồng nấm [4]

Năm 2015, Lê Vĩnh Phúc và các cộng sự đã so sánh một số loại cơ chất tiềm

năng trống nấm bào ngư xám (Pleurotus sajor – caju) ở đồng bằng sông Cửu Long

như: cưa, bã mụn, trấu, dừa và rơm Kết quả thí nghiệm cho thấy tơ lan nhanh nhất

và thu hoặc nấm sớm nhất ( 26 ngày sau khi cấy tơ) trên cơ chất trấu Rơm và dừa

là 2 cơ chất có tơ nấm lan chậm và thời gian thu hoạch muộn (41 - 43 ngày sau khi cấy tơ) Bã mụn cho năng suất bịch phôi cao nhất là 359,2g, cưa cao su là 305,23 g, trấu là 288,8g, rơm là 224,2g và thấp nhất là dừa 99,1g Phần trăm khối lượng khô của nấm bào ngư cao nhất trên cơ chất cưa cao su (10,2%) và bã mụn 10%, các

Trang 33

nghiệm thức còn lại thấp hơn dao động từ 8,4 - 8,8% Hiệu quả sinh học của nấm bào ngư trên cơ chất cưa và trấu tương đương nhau (34%) [7]

Năm 2016, Lưu Minh Loan và Mạch Phương Thảo đã có bước đầu nghiên

cứu xử lý lõi bắp làm cơ chất nuôi trồng nấm sò trắng (Pleurotus florida) Trong

nghiên cứu đã khảo sát sự sinh trưởng của hệ sợi, sự hình thành quả thể của nấm sò trên 2 loại cơ chất là lõi bắp nghiền mịn và lõi bắp băm nhỏ Kết quả cho thấy lõi bắp nghiền mịn với tỷ lệ phối trộn dinh dưỡng 2% (cám gạo) là công thức tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm sò Trong khi đó lõi bắp băm nhỏ vẫn cho năng suất nhưng kết quả kém hơn [5]

Trang 34

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian thực hiện đề tài

Địa điểm thực hiện: Các thí nghiệm được bố trí tại Phòng thí nghiệm Nhiên Liệu Sinh Học và Biomass, trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh

Đề tài được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2018

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Giá thể vỏ bắp để trồng nấm hoàng kim (Pleurotus citrinopileatus)

2.3 Nguyên vật liệu và dụng cụ thí nghiệm

2.3.1 Vật liệu và hóa chất

Vỏ bắp được thu gom từ chợ bắp Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh

Mụn dừa được mua ở cửa hàng bán cây cảnh hạt giống đường Thành Thái, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh

Nấm hoàng kim mua từ trại nấm 7 Yết, địa chỉ: 2/73, ấp Tân Lập, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh

Môi trường và hóa chất (bảng 3.1) sử dụng:

- Môi trường PGA (môi trường phân lập và nhân giống cấp 1): dịch chiết khoai tây (thu dịch chiết từ 200 g khoai tây), glucose (20 g), agar (20 g), nước cất (1000 mL)

- Môi trường hạt thóc (môi trường nhân giống cấp 2): thóc, cám gạo (10%), cám bắp (5%)

- Môi trường nuôi trồng ra quả thể: vỏ bắp, xơ dừa, cám bắp (3%), cám gạo (5%), KH2PO4 (0,1%), MgSO4(0,1%), (NH4)2SO4 (0,1%)

Trang 35

Bảng 2.1 Các hóa chất sử dụng chính

Làm blank UV-vis

2 Nước cất Từ máy cất nước 2 lần Pha môi trường PGA

Pha hóa chất

Sát trùng

12 Acid lactic Trung Quốc Pha lactophenol

Trang 36

2.3.3 Các thiết bị chính

- Tủ sấy (Trung Quốc)

- Tủ cấy vô trùng (hãng JICA –

Đo tốc độ lan

Quả thể

Trồng Cấy meo

Dinh dưỡng Nồng độ vôi

Đo thành phần hóa học

vỏ bắp: độ

ẩm, tro, lignin

Đo tốc độ lan tơ, quan sát tơ nấm

Nhân giống cấp 2

Giữ giống ở

40C

Nhân giống cấp 1

Vỏ bắp Phôi nấm

Mụn dừa

Trang 37

2.4.2 Thuyết minh sơ đồ

Phôi nấm sau khi mua về được phân lập trên môi trường PGA Sau nhiều lần cấy chuyền được giống nấm hoàng kim thuần, sau đó giống nấm được giữ giống trong ống thạch nghiêng môi trường PGA ở nhiệt độ 40C Tiến hành nhân giống từ cấp 1 sang môi trường hạt thóc (cấp 2) Quan sát và đo tốc độ lan tơ nấm hoàng kim

cả 2 môi trường cấp 1 và cấp 2

Vỏ bắp được thu gom về một phần được đo thành phần hóa học (đo hàm lượng ẩm bằng phương pháp sấy, đo hàm lượng lignin bằng phương pháp Klason, hàm lượng tro bằng phương pháp nung tro)mang đi xử lý bằng phương pháp ngâm vôi, sau đó phối trộn với mụn dừa theo tỉ lệ 1:1 và bổ sung dinh dưỡng theo các thí nghiệm Giá thể được ủ và nuôi trồng trong điều kiện độ ẩm cao (70 - 90%) và nhiệt

độ thích hợp (20 - 300C) Đo tốc độ lan tơ khi ủ và nuôi trồng nấm và so sánh giữa các nghiệm thức Thu hoạch nấm khi tai nấm còn non và không để quá già

2.5.Nội dung thí nghiệm

2.5.1 Thí nghiệm 1: Theo dõi tốc độ lan tơ, đặc điểm của tơ nấm hoàng kim trên môi trường thạch (giống cấp 1)

2.5.1.1.Bố trí thí nghiệm

Phân lập nấm trên đĩa petri

Cấy chuyền 2 lần, mỗi lần 4 đĩa

Thạch nghiêng dùng giữ giống, sử dụng 3 ống thạch nghiêng

2.5.1.2.Cách tiến hành

Môi trường thạch là môi trường dùng để nhân giống cấp 1 trong sản xuất và cũng là môi trường dùng để giữ giống, ở đây là môi trường PGA Meo thạch ngoài việc cung cấp chất dinh dưỡng dễ hấp thụ cho nấm còn tiện cho việc quan sát tơ nấm sinh trưởng phát triển và quan sát các mầm tạp nhiễm

Pha môi trường PGA phân lập nấm hoàng kim

Làm môi trường thạch nghiêng trong ống nghiệm và thạch đĩa trên đĩa petri Thao tác phân lập:

Mọi thao tác phải được thực hiện trong tủ cấy vô trùng Các bước thực hiện:

Trang 38

- Sát trùng bề mặt quả thể nấm bằng cồn 70o Rửa lại bằng nước cất vô trùng

- Dùng dao gọt một lớp mỏng (lưỡi dao chỉ gọt một đường không quay lại để tránh nhiễm trùng) Tiếp tục gọt cho đến khi được một miếng mô nấm đã sạch lớp bẩn bên ngoài Dùng kẹp đưa vào ống thạch nghiêng và thạch đĩa Đem ống nghiệm và đĩa thạch đã cấy ủ ở nhiệt độ phòng và ánh sáng khuếch tán nhẹ Theo dõi sự phát triển của mẫu cấy sau 2 ngày Loại bỏ các mẫu bị nhiễm khuẩn và nấm mốc Tiếp tục ủ trong 5 ngày sau đó cấy chuyền sang ống thạch nghiêng và thạch đĩa mới Sau 2 lần cấy chuyền, thu được giống nấm thuần khiết làm giống cấp 1

Giữ giống cấp 1 bằng cách bảo quản lạnh ở nhiệt độ 4oC khi tơ nấm phát triển gần đầy ống thạch nghiêng

2.5.1.3.Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Quan sát sự sinh trưởng, màu sắc và mật độ tơ nấm

Đo tốc độ lan tơ trên môi trường thạch đĩa ở lần cấy chuyền thứ 2, ghi nhận kết quả mỗi ngày kể từ khi sợi nấm bắt đầu bám vào bề mặt môi trường

Quan sát tơ nấm dưới kính hiển vi bằng cách làm tiêu bản không nhuộm màu

và tiêu bản nhuộm màu

Cấy chuyền giống từ môi trường thạch sang môi trường hạt

Thao tác cấy giống cấp 2:

Trang 39

Mọi thao tác thực hiện trong tủ cấy vô trùng

- Mở nút bông và giữ nút bông của chai môi trường cấp 2 bằng kẽ tay út và

áp út, hơ miệng chai môi trường trên ngọn lửa đèn cồn, chỉ mở nút bông quanh ngọn lửa đèn cồn và ở tư thế nằm ngang, quay miệng về hướng ngọn lửa

- Dùng dao cắt một phần thạch trong đĩa giống cấp 1 và chuyển phần giống

đó sang chai môi trường cấp 2 Lật úp miếng thạch để tơ dễ lan trên môi trường mới Đậy nút bông lại Nuôi ủ tơ ở nhiệt độ phòng

2.5.2.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

Quan sát sự sinh trưởng, màu sắc và mật độ tơ nấm

Đo tốc độ lan tơ kể từ khi tơ nấm bung ra và bám vào môi trường cho đến khi ăn trắng toàn bộ chai

Quan sát tơ nấm dưới kính hiển vi 40X bằng cách làm tiêu bản không nhuộm màu và tiêu bản nhuộm màu

NT1: Ngâm nước vôi trong thời gian 24 giờ

NT2: Ngâm nước vôi trong thời gian 48 giờ

NT3: Ngâm nước vôi trong thời gian 72 giờ

2.5.3.2 Phương pháp thực hiện

❖ Xử lý nguyên liệu

Nguyên liệu vừa thu gom về, trích một phần mẫu đem phân tích một số thành phần hóa học của vỏ bắp sau đó đem xử lý với nước vôi 1% với thời gian như các NT1, NT2, NT3 Phải phơi khô nguyên liệu vì nguyên liệu tươi thường còn dinh dưỡng thích hợp với nấm mốc phát triển có thể gây nhiễm bịch phôi Nguyên liệu tươi làm nước vôi khó ngấm vào nguyên liệu làm giảm hiệu quả xử lý, làm cho

Trang 40

nguyên liệu bị hỏng, thối rữa gây mùi khó chịu Vỏ bắp phơi khô sau khi ngâm sẽ

có màu xanh vàng và có mùi thơm nhẹ của bắp không bị chua bới quá trình lên men

Nước đưa vào xử lý phải là nước sạch, không dùng nước bẩn, nước nhiễm phèn, nhiễm mặn Lượng nước vôi ngâm phải đủ để ngập bề mặt nguyên liệu

Nguyên liệu sau khi xử lý với nước vôi được vớt ra, vắt bớt lượng nước thừa, chất thành đống, phủ nilon và ủ trong một tuần Trong quá trình ủ cần đảo đống ủ mỗi 3 ngày một lần

❖ Xay nguyên liệu

Nguyên liệu sau khi ủ mang đi xay nhuyễn như mạt cưa để dễ dàng bổ sung chất dinh dưỡng, cho nguyên liệu vào bịch phôi và nuôi ủ tơ nấm dễ dàng hơn

❖ Phối trộn dinh dưỡng và đóng bịch phôi

Nguyên liệu sau khi ủ nên phối trộn nguyên liệu với các thành phần dinh dưỡng khác Trước khi trộn dinh dưỡng cần làm ẩm nguyên liệu Ẩm độ của nguyên liệu vào khoảng 65 - 70%, nghĩa là nếu nắm nguyên liệu trong tay bóp thì nguyên liệu sẽ kết khối và có nước đủ ứa ra kẽ tay là được Nếu nước chảy thành dòng là

ẩm quá, nếu không thấy nước ứa ra là khô quá

Trộn đều dinh dưỡng (5% cám gạo + 3% cám bắp + 0,1% SA + 0,1% DAP + 0,1% MgSO4) vào nguyên liệu sau khi ủ, kiểm tra lại độ ẩm trước khi đưa vào bịch Cho nguyên liệu vào túi PE chịu nhiệt, nén chặt vừa phải Làm nút cổ cho túi, dùng bông gòn không thấm làm nút gòn, dùng giấy bao bên ngoài nút Nên đóng túi đồng loạt cho đến hết nguyên liệu, không để thừa nguyên liệu qua đêm Mỗi túi chứa khoảng 360 - 400g nguyên liệu Khử trùng các bịch nguyên liệu bằng nồi hấp khử trùng với nhiệt độ 130oC trong 60 phút Túi hấp xong phải có mùi thơm, không bị chua do lên men, nút bông chặt, không bị ướt Để nguội 24 giờ rồi tiến hành cấy giống

Ngày đăng: 04/03/2021, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm