• Tranh chấp về lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quáhạn.1.1.1 Thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn chưa kết thúc Về mặt lí luận, khi các bên đã thỏa thuận về lã
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ TRANH CHẤP LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Dựa trên những lí luận tổng quan về HĐTD và lãi suất cho vay trong HĐTDcũng như diễn biến của lãi suất cho vay qua các thời kì dưới sự điều hành củaNHNN ở chương 1, chương này nêu những vấn đề thực tiễn và đề xuất giải phápkhắc phục Phần 2.1 phân tích, đánh giá các tranh chấp xảy ra trong thực tiễn từ góc
độ pháp luật thực định và cách giải quyết trên thực tế của cơ quan chức năng Phần2.2 là một số kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập còn tồn tại trong thực tiễnliên quan đến vấn đề này Cuối cùng là phần tổng kết chương 2
1.1 Những vấn đề thực tiễn về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Lãi suất trong HĐTD là một trong những yếu tố quan trọng nhất mà cácTCTD sử dụng để cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh Bên cạnh những yếu tốnhư uy tín, chất lượng phục vụ hay vị trí địa lí thuận lợi thì lãi suất là mối quan tâmđầu tiên của khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn.Mức lãi suất cho vay thấp là công cụ hiệu quả để thu hút khách hàng vay vốn, tăngthu nhập cho TCTD
Việc thỏa thuận lãi suất trong HĐTD luôn chịu sự chi phối của chính sách nhànước Qua nhiều thời kì, NHNN đã đưa ra một số chính sách điều hành lãi suất chovay trong hoạt động tín dụng Những chính sách này đã tác động đến lãi suất chovay của các TCTD và là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến những tranh chấp về lãi suất
đã từng xảy ra hoặc có thể phát sinh Tranh chấp về lãi suất ít khi là nội dung chínhcủa một vụ việc, mà thông thường chỉ khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ và
vụ việc được đưa ra giải quyết tại cơ quan chức năng, những bất đồng quan điểmquanh vấn đề lãi suất mới phát sinh
Nhìn chung, các dạng tranh chấp về lãi suất có thể xảy ra trong quá trình thựchiện hợp đồng là:
• TCTD hoặc người đi vay yêu cầu điều chỉnh lãi suất khi HĐTD quy địnhlãi suất cố định và thời hạn vay vẫn còn
• Tranh chấp về mức lãi suất trong hợp đồng và cách tính lãi trong hạn
Trang 2• Tranh chấp về lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quáhạn.
1.1.1 Thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn chưa kết thúc
Về mặt lí luận, khi các bên đã thỏa thuận về lãi suất cố định trong HĐTD thìlãi suất sẽ không được điều chỉnh trong suốt thời hạn vay Tuy nhiên, pháp luậtkhông cấm điều chỉnh lãi suất trong trường hợp các bên có sự thống nhất ý chí Do
đó, tranh chấp về thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn vay chưa kết thúc chỉ xảy
ra trong hai trường hợp: một là, khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn lãi; hai
là, TCTD yêu cầu tăng lãi suất.
1.1.1.1 Khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn lãi
Trong quá trình thực hiện HĐTD, không phải bên vay luôn có khả năng trả nợgốc và lãi đúng hạn Có nhiều trường hợp do một số lí do khách quan như tai nạn,rủi ro hoặc thị trường biến động dẫn đến tình hình kinh doanh bị ảnh hưởng… nênkhách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ cho TCTD Trong những tình huốngnhư vậy thông thường khách hàng làm đơn xin giảm lãi suất hoặc miễn một phầnlãi, TCTD sẽ xem xét và chấp thuận yêu cầu này tùy thuộc vào tình hình thực tế.Thông thường TCTD sẽ chấp nhận kèm theo một vài yêu cầu Cũng có trường hợpphía đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn, khi TCTD yêu cầu nhiều lầnvẫn không thanh toán, TCTD khởi kiện ra tòa và trong quá trình hòa giải hai bên cóthỏa thuận nếu khách hàng thanh toán ngay khoản nợ gốc thì TCTD sẽ giảm lãi suấtđồng nghĩa với việc giảm một phần tiền lãi mà khách hàng phải trả hoặc miễn mộtphần lãi Vụ việc như vậy sẽ không có tranh chấp nếu hai bên thực hiện đúng nghĩa
vụ của mình, trên thực tế vẫn có tình huống khách hàng không thực hiện đúng camkết dẫn đến tranh chấp xảy ra
Trường hợp ông Nguyễn Văn M và NHTMCP P dưới đây là một ví dụ chotình huống này Ngân hàng P khởi kiện ông M vì đã không thực hiện đúng nghĩa
vụ trả nợ gốc và lãi cho khoản vay 150.000.000 đồng theo HĐTD số 102/TDG/08TGB ngày 12/02/2008 Theo biên bản hòa giải, hai bên đã thỏa thuận ngân hàng P
sẽ giảm lãi suất, giảm một phần tiền phạt chậm trả cho ông M và rút đơn khởi kiệnvới điều kiện ông M phải thanh toán 150.000.000 đồng tiền nợ gốc làm hai kì ngaysau đó Tại phiên tòa sơ thẩm, ngân hàng P cho rằng ông M chưa thực hiện đầy đủviệc thanh toán tiền nợ gốc nên ngân hàng vẫn áp dụng lãi suất cũ Ông M lại chorằng ông đã thực hiện được một kì trả nợ gốc là 75.000.000 đồng như thỏa thuận tạiphiên hòa giải nên yêu cầu ngân hàng P giảm một phần lãi suất tương ứng với phần
Trang 3ông đã trả được Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét và chấp thuận yêu cầu của ngân hàng
vì ông M chưa thực hiện đầy đủ điều kiện theo thỏa thuận nên nghĩa vụ giảm lãisuất và giảm tiền phạt chậm trả của ngân hàng P không phát sinh
Đối với những vụ tranh chấp như vậy, nguyên nhân chủ yếu thuộc về lỗi củabên vay, bởi vì nghĩa vụ giảm lãi của TCTD chỉ phát sinh khi khách hàng vay vốn
đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận
1.1.1.2 TCTD yêu cầu nâng lãi suất cho vay
Điều khoản về lãi suất trong HĐTD là điều khoản vô cùng quan trọng Thôngthường để hạn chế rủi ro lãi suất, TCTD không thỏa thuận lãi suất cố định với hợpđồng trung – dài hạn mà quy định trong HĐTD lãi suất cho vay tính bằng lãi suấttiền gửi cộng một biên độ và thay đổi định kì Trong một số hợp đồng vay ngắnhạn, lãi suất cho vay được thỏa thuận là lãi suất cố định trong suốt thời gian vay.Khi thị trường có những biến động khiến TCTD phải nâng lãi suất huy động để thuhút nguồn vốn trong dân cư, việc cho vay với lãi suất thấp hơn (ở những HĐTD kíkết từ trước đó nhưng vẫn trong quá trình giải ngân) so với lãi suất huy động hiệntại sẽ khiến TCTD mất đi một phần lợi nhuận Vì vậy, không ít TCTD đã yêu cầukhách hàng chấp nhận tăng lãi suất cho vay mới tiếp tục giải ngân Đây chính làtình trạng xảy ra rất nhiều trong thời gian giữa năm 2008 khi áp dụng chính sáchđiều hành lãi suất “thắt chặt” của NHNN, lãi suất huy động và lãi suất cho vay đượcđẩy lên rất cao Tình trạng này không chỉ xảy ra ở đơn lẻ một TCTD nào hay đốivới một đối tượng cụ thể nào, chính vì thế đã có những tác động to lớn đối vớingười dân tham gia vào quan hệ tín dụng Dưới đây là một vụ việc điển hình trong
số ít những vụ việc có sự phản ứng mạnh mẽ từ phía người đi vay, trong khi hầu hếtnhững vụ việc khác bên vay thường chịu thiệt thòi tăng mức lãi suất nhằm có đượckhoản vốn phục vụ nhu cầu của mình
Theo HĐTD được kí vào ngày 02/11/2007, NHTMCP X đồng ý cho ôngNguyễn Thành Kham (cư xá Chu Văn An, quận Bình Thạnh, TPHCM) vay gần 400triệu đồng, phục vụ mục đích tiêu dùng, thời hạn giải ngân tối đa đến hết ngày31/12/2008 Lãi suất cho vay là 0,88%/tháng (tương đương 10,56%/năm) và mứclãi suất này là cố định trong thời gian 12 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.Ngân hàng X đã giải ngân cho ông Kham làm hai đợt với tổng số tiền hơn150.000.000 đồng Đến ngày 12/6/2008, khi ông Kham đề nghị giải ngân hơn200.000.000 đồng còn lại thì ngân hàng yêu cầu mức lãi suất mới là 1,75% Giảithích cho điều này, lí do mà ngân hàng X đưa ra là mặt bằng lãi suất huy động tăng
Trang 4cao, lãi suất cho vay bình quân đang áp dụng là 1,75%/tháng (tương đương21%/năm) Sau đó khi có sự yêu cầu khắc phục thiệt hại do tỷ giá USD tăng đồngthời phải làm đúng như hợp đồng ban đầu về mức lãi suất cho vay từ phía kháchhàng, ngân hàng X lại đưa ra lí do chưa thu xếp được nguồn vốn giá thấp, vì Điều 2HĐTD quy định: “Theo yêu cầu của bên vay và khả năng nguồn vốn của ngânhàng, số tiền cho vay sẽ được ngân hàng giải ngân theo HĐTD kiêm khế ước nhậnnợ” Tuy nhiên, khách hàng đã kí vào khế ước nhận nợ, thể hiện sự đồng ý về lãisuất mới nên không có cơ sở để khởi kiện1.
Phân tích vụ việc trên, thời điểm Ngân hàng X yêu cầu tăng lãi suất lên1,75%/tháng là lúc NHNN đang áp dụng trần lãi suất cho vay bằng 150% lãi suất cơbản Căn cứ vào Quyết định số 1317/QĐ-NHNN quy định lãi suất cơ bản bằngđồng Việt Nam là 14%/năm áp dụng từ ngày 11/6/2008, trần lãi suất cho vay là21%/năm, tương đương 1,75%/tháng, ngân hàng X yêu cầu tăng lãi suất không vượtquá mức trần Tuy nhiên, trước đó NHNN đã có Công văn 5004/NHNN-CSTT ngày04/6/2008 quy định đối với các HĐTD kí kết trước ngày 19/5/2008, các bên tiếp tụcthực hiện những nội dung trong hợp đồng đã kí kết (phù hợp với các quy định củapháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm kí kết HĐTD đó) Như vậy ở trườnghợp trên, lẽ ra ngân hàng X phải thực hiện hợp đồng với lãi suất như đã thỏa thuậntrước đó trong HĐTD, việc tăng lãi suất là trái với quy định của pháp luật
Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp khách hàng buộc phải tăng lãi suất theoyêu cầu của TCTD Tại các buổi tiếp xúc cử tri ở huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, đã
có hàng ngàn hộ dân trên địa bàn này chất vấn các đại biểu Hội đồng nhân dân vềviệc ngân hàng lại tăng lãi suất cho vay trong khi hạn hợp đồng chưa hết Theo các
cử tri huyện Mộc Hoá, thị xã Tân An và các huyện khác trong tỉnh, khi ngân hàngtăng lãi suất (từ 1,2% lên 1,50%, có hộ lên 1,75%), thì rất nhiều hộ vay vốn còn hạnhợp đồng Tính đến ngày 10/7/2008 đã có 72% nông dân trong huyện Mộc Hóa đãphải kí điều chỉnh tăng lãi suất vay dù HĐTD với Ngân hàng Nông nghiệp và pháttriển nông thôn chưa tới hạn và trong hợp đồng thỏa thuận lãi suất cố định Chỉ cókhoảng 30 nông dân kiên quyết không chịu điều chỉnh lãi suất, họ buộc ngân hàngphải thực hiện đúng hợp đồng2 Tương tự như vậy, tại tỉnh Bến Tre, để chuẩn bị cho
1 Ái Phương (2008), Ngân hàng có quyền tự ý tăng lãi suất cho vay, Báo Pháp luật TPHCM, xem
thêm tại http://www.phapluattp.vn/news/ban-doc / view.aspx?news_id=221904
2 Khi ngân hàng ép buộc người vay điều chỉnh lãi suất (2008), Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam,
xem thêm tại http://vovnews.vn/Home/Khi-ngan-hang-ep-buoc-nguoi-vay-dieu-chinh-lai-suat/20087/ 91745.vov
Trang 5kì họp thứ 14 Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VII, Thường trực Hội đồng nhân dântỉnh Bến Tre đã phối hợp tổ chức cho đại biểu họp thảo luận tổ và tiếp xúc cử tri.Theo đó một trong những vấn đề mà người dân quan tâm là một số ngân hàng đãtăng lãi suất đối với các HĐTD đã có hiệu lực trước khi Quyết định số16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 và Công văn 5004/NHNN-CSTT ngày04/6/2008 được ban hành Điều này gây phản ứng, khó khăn từ phía các hộ vaytrong tỉnh, nhất là đối với các hộ vay nuôi thuỷ sản hiệu quả thấp ở ba huyện venbiển (huyện Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại)3.
Có thể nói trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, sự ra đời của Công văn CSTT có ý nghĩa to lớn nhằm bảo vệ quyền lợi của người đi vay nhưng trên thực tếkhông ít TCTD đã bỏ qua quy định này Công văn này đóng vai trò như một rào cảnngăn chặn các TCTD dùng sức mạnh tài chính buộc bên vay phải “chia sẻ” khókhăn bằng việc chịu mức lãi suất cao (dù hai bên thỏa thuận lãi suất cố định), trongkhi đó TCTD lại không tăng lãi suất huy động với hợp đồng gửi tiền tiết kiệm củakhách hàng đã kí kết từ trước Ở một khía cạnh khác, Công văn 5004/NHNN-CSTTcũng có thể trở thành cơ sở để nhiều NHTM đã điều chỉnh lãi suất với HĐTD được
5004/NHNN-kí kết trước ngày 19/5/2008 vượt quá trần lãi suất cho vay tại thời điểm đó là21%/năm Sở dĩ có tình trạng này “vì trong các HĐTD cho vay trung và dài hạn,TCTD thường có thỏa thuận với khách hàng lãi suất cho vay trong hạn được điềuchỉnh định kì theo công thức bằng lãi suất tiết kiệm kì hạn 12 tháng tính theo nămtrả lãi tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ từ 3,7 đến 4,8%/năm Với mức lãisuất tiền gửi trong khoảng thời gian đó rất cao thì khách hàng phải trả lãi suất lêntới 23 – 24%/năm”4 Để khắc phục tình trạng này và thống nhất thực hiện phù hợpvới hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, ngày 15/7/2008, NHNN đã ban hànhCông văn 6399/NHNN-CSTT hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc ápdụng lãi suất theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN Theo đó, lãi suấtcho vay có điều chỉnh được thỏa thuận trong HĐTD đã kí kết kể từ ngày 19/5/2008,các TCTD ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm kí kết HĐTDtheo lãi suất cho vay có điều chỉnh nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay theoquy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN Đối với các HĐTD được kí kết
3 Nguyễn Văn Chính (2008), Một số vấn đề được cử tri, đại biểu quan tâm trước kì họp lần thứ 14
Hội đồng nhân dân tỉnh, Trang thông tin kinh tế xã hội - Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, xem thêm tại
http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=3689 &Item id=178
4 Phước Hà - Trịnh Ngọc Lan (2008), Không được điều chỉnh lãi suất cho vay quá 21%/năm, Báo
VietNamNet, xem thêm tại http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/07/793761
Trang 6trước ngày 19/5/2008, trong đó có thỏa thuận lãi suất cho vay có điều chỉnh, thì kể
từ ngày 19/5/2008, mức lãi suất cho vay có điều chỉnh cũng không được vượt quámức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN.Với việc áp dụng lãi suất trần cho vay bằng 150% lãi suất cơ bản và việcNHNN đẩy mạnh lãi suất cơ bản lên đến 14%/năm theo Quyết định số 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008, chính sách này đã ngăn chặn đà bùng nổ lạm phát, làmchậm lại hoạt động cho vay của hệ thống ngân hàng và thu hút nguồn vốn nhàn rỗitrong dân cư Bên cạnh đó, chính sách này vẫn có mặt trái nhất định, khi làm choTCTD phải đối mặt với tình trạng nợ quá hạn gia tăng Khách hàng hoặc không cókhả năng trả nợ hoặc có tiền cũng không muốn trả, vì mức lãi suất cho vay cũ chỉtối đa 12%/năm, nếu bị phạt nợ quá hạn vẫn thấp hơn lãi suất cho vay mới, thêmvào đó, trả nợ xong lại khó vay vốn trở lại bởi lãi suất đã rất cao Nếu TCTD khởikiện ra tòa án, phát mãi tài sản bảo đảm cũng rất khó khăn, trải qua nhiều thủ tục,thời gian xử lí được tài sản kéo dài trở nên khó thu hồi vốn Chính vì thế, trongkhoảng thời gian lãi suất tăng cao, số lượng các vụ tranh chấp liên quan đến việckhách hàng không trả nợ gia tăng nhanh chóng, và một trong những vấn đề thường
bị kháng cáo, kháng nghị lên cơ quan phúc thẩm là cơ chế áp dụng lãi suất nợ quáhạn và tính nợ quá hạn
Từ đó cho thấy, trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 – 2009, song songvới việc NHNN sử dụng lãi suất như một công cụ hữu hiệu để ngăn chặn lạm pháttăng cao, thì cũng có nhiều tranh chấp phát sinh Hầu hết người chịu thiệt thòi trongnhững tranh chấp đó là cá nhân, tổ chức vay vốn Có một thời gian tâm lí bất bình
đã xảy ra với chủ thể đi vay mà kí kết HĐTD trước thời điểm lãi suất cơ bản tăngcao Niềm tin vào hệ thống ngân hàng có phần giảm sút, không ít người dân tỏ rõthái độ gay gắt với cách hành xử của một số TCTD Tuy nhiên, cũng cần phải nhìnnhận vấn đề từ phía các TCTD, cuộc khủng hoảng kinh tế đã có tác động tiêu cựcđến hoạt động kinh doanh của không chỉ cá nhân, tổ chức mà bản thân các TCTDcũng gặp khó khăn trong việc duy trì lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước Để cónguồn vốn kinh doanh, các TCTD buộc đẩy mạnh lãi suất tiền gửi nhằm thu hútkhách hàng, trong khi việc giải quyết đầu ra cho nguồn vốn này cũng không đơngiản Nếu duy trì lãi suất cho vay cố định với những HĐTD trước đó, bài toán lợinhuận sẽ không thể giải quyết được Bản thân các TCTD không tự sản sinh ra tiền
để trả lãi cho khách hàng gửi tiền, khi một mặt giá trị lãi cho khoản tiền phải giảingân tiếp theo (có lãi suất thấp hơn lãi suất huy động hiện tại) thu về không đủ chitrả cho khoản lãi phải trả cho khách hàng gửi tiền; mặt khác, việc kí kết những
Trang 7HĐTD mới với lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay trước đó là vô cùngkhó khăn, vì không phải doanh nghiệp nào, cá nhân nào cũng chịu được mức lãisuất cao như vậy.
Vấn đề trên chứng tỏ rằng trong một số hoàn cảnh quy định của pháp luậtkhông được áp dụng nghiêm chỉnh trong hoạt động ngân hàng Bản chất hoạt độngngân hàng là hoạt động kinh doanh sinh lời, và lòng tin là một trong những yếu tốquyết định đến hoạt động này Với những gì đã diễn ra, mặc dù không phải lỗi chủquan từ phía các TCTD nhưng đã có ảnh hưởng tiêu cực đến suy nghĩ và niềm tincủa một bộ phận người dân đối với hệ thống ngân hàng, và hơn nữa là niềm tin vàoviệc thực thi pháp luật cũng bị tác động mạnh mẽ khi quy định của pháp luật khônghoàn toàn kịp thời và cũng không được áp dụng triệt để
1.1.2 Lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn
Hiện nay với Thông tư số 12/2010/TT-NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng
2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, TCTD được cho vay bằng đồng Việt Nam vớikhách hàng theo lãi suất thỏa thuận Trước đây cơ chế lãi suất thỏa thuận cũng từngđược áp dụng trong khoảng thời gian từ tháng 6/2002 đến tháng 5/2008 Khi chuyểnsang cơ chế trần lãi suất cho vay, nhiều TCTD với những HĐTD kí kết trước19/5/2008 lâm vào cảnh vượt quá mức trần là 150% lãi suất cơ bản Có thể thấyrằng, mỗi lần NHNN thay đổi chính sách lãi suất cho vay, những HĐTD đang cóhiệu lực cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, nhất là khi có tranh chấp xảy ra
Dưới đây là một vài vụ việc điển hình cho vấn đề này:
NHTMCP Việt Nam Thương Tín (sau đây gọi là VietBank) kiện bà PhanNgọc H (Phụ lục 1) Nội dung vụ việc như sau:
• HĐTD số 686/NHVNTT ngày 26/11/2007 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung
số 01/HĐSĐ,BS ngày 04/7/2008
• Số tiền vay 250.000.000 đồng
• Thời hạn vay là 12 tháng từ ngày 27/11/2007 đến 27/11/2008
• Lãi suất vay được tính từ ngày 27/11/2007 đến 04/7/2008 là 1,05%/tháng,
từ ngày 04/7/2008 trở đi là 1,75%/tháng Lãi suất quá hạn bằng 150% lãisuất cho vay
• Ngày 28/12/2008, bà H kí cam kết sẽ trả đủ số tiền vốn vay 250.000.000đồng và tiền lãi cho ngân hàng sau 3 tháng kể từ ngày đến hạn trả nợ Bản án sơ thẩm số 06/2009/KDTM-ST ngày 28/9/2009 căn cứ vào Khoản 1Điều 476 BLDS 2005 và Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 và
Trang 8Quyết định số 2538/QĐ-NHNN ngày 31/10/2007 về lãi suất cơ bản là 8,25%/năm,lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản, vậy lãi suất cho vay tối đa là12,375%/năm (bằng 1,03%/tháng) Ngân hàng thỏa thuận cho phía bị đơn vay mứclãi suất là 1,05%/tháng là cao hơn mức trần lãi suất cho vay Do đó, tòa điều chỉnhtính lãi trong hạn từ ngày 27/11/2007 đến 04/7/2008 là: 250.000.000 x 7 tháng 7ngày x 1,03%/tháng = 18.625.833 đồng
Song, vấn đề đặt ra là từ tháng 6/2002 đến ngày 19/5/2008 NHNN áp dụng cơchế lãi suất thỏa thuận, từ ngày 19/5/2008 trở về sau mới áp dụng mức trần lãi suấtbằng 150% lãi suất cơ bản; vụ việc ở trên HĐTD kí ngày 26/11/2007 là trước ngày19/5/2008, thỏa thuận lãi suất 1,05%/tháng kéo dài đến ngày 04/7/2008 Như vậy,trong khoảng thời gian từ ngày 19/5/2008 đến 04/7/2008 lãi suất cho vay mới caohơn 150% lãi suất cơ bản là 1,03%/tháng, nhưng tòa sơ thẩm lại xử tính lãi suất chovay trong hạn là 1,03%/tháng cho cả thời gian trước ngày 19/5/2008, bên nguyênđơn không kháng cáo phần này nên tòa phúc thẩm không xem xét đến Có thể thấyrằng đây là một sai sót của TAND tỉnh Sóc Trăng khi áp dụng hồi tố quy định hiệnhành tại thời điểm xét xử cho cả thỏa thuận trước đó vốn được điều chỉnh bằng quyđịnh khác của pháp luật và hoàn toàn hợp pháp
Tương tự, TAND tỉnh Sóc Trăng giải quyết tranh chấp HĐTD giữa nguyênđơn cũng là VietBank và bà Trần Thị Hoàng A và ông Võ Minh T (Phụ lục 2)
• HĐTD số 739/NHVNTT ngày 14/12/2007 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung số01/HĐSĐ,BS ngày 04/7/2008
• Số tiền vay 120.000.000 đồng
• Thời hạn vay 12 tháng từ ngày 14/12/2007 đến 14/12/2008
• Lãi suất từ 14/12/2007 đến 04/7/2008 là 1,05%/tháng, từ ngày 04/7/2008trở đi là 1,75%/tháng
• Bà A và ông T đã trả lãi cho VietBank từ ngày vay đến ngày 14/9/2008 vàchưa thanh toán nợ gốc
Trong quá trình giải quyết, tòa cấp sơ thẩm lại chấp nhận mức lãi suất hai bênthỏa thuận trước ngày 19/5/2008 và cả từ ngày 19/5/2008 đến 04/7/2008 lãi suấtthỏa thuận này cao hơn 150% lãi suất cơ bản như vụ án thứ nhất nhưng tòa lạikhông xem xét
Ở cả hai vụ việc, ngày 04/7/2008 phía bị đơn và ngân hàng có kí hợp đồngđiều chỉnh lãi suất mới là 1,75%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật vì tạithời điểm đó, lãi suất cơ bản là 14%/năm Do đó, lãi trong hạn tính từ ngày05/7/2008 được chấp nhận với mức lãi suất là 1,75%/tháng
Trang 9Từ hai vụ việc trên cho thấy khi xem xét những tranh chấp mà có thời gianthực hiện hợp đồng diễn ra trong khoảng thời gian có sự thay đổi của quy định phápluật, cơ quan giải quyết cần xem xét về hiệu lực của văn bản áp dụng trong từnggiai đoạn để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên đương sự.
Bên cạnh đó, ngoài mức lãi suất trong hạn, cách thức tính lãi cũng là mộttrong những vấn đề gây phát sinh tranh chấp Không phải mọi TCTD đều có cáchtính lãi đúng quy định, việc tính lãi sai có thể dẫn đến lãi suất trung bình mà kháchhàng phải chịu cao hơn nhiều lần so với lãi suất thực tế
Đơn cử trường hợp tháng 12/2009, TAND quận Gò Vấp (TPHCM), xử sơthẩm vụ tranh chấp HĐTD giữa NHTMCP T với khách hàng L.Đ.H5 Diễn biến vụviệc như sau: tháng 02/2008, ông H kí hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của ngânhàng T., thỏa thuận trong hợp đồng hàng tháng ông H có trách nhiệm thanh toántoàn bộ dư nợ tối thiểu cho ngân hàng trước ngày đến hạn Sau khi được cấp thẻ tíndụng hạn mức 15.000.000 đồng, ông H đã rút gần 14.500.000 đồng để tiêu xài.Tháng 4/2008, ông H thanh toán được khoảng 1.500.000 đồng cho ngân hàng.Tháng 7/2009, ngân hàng khởi kiện, và hai bên thỏa thuận ông H trả góp mỗi tháng2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ Tại tòa, đại diện ngân hàng xác định số tiền nợ
cả gốc lẫn lãi của ông H tính đến ngày xét xử là gần 40.000.000 đồng Trongtrường hợp hai bên hòa giải được, ngân hàng sẽ giảm cho ông H hơn 8.500.000đồng tiền phí vượt hạn mức và một phần phí thanh toán trả chậm Số nợ còn lại ông
H phải thanh toán làm ba lần trong vòng hai tháng kể từ ngày hòa giải thành.Ngược lại, ông H không đồng ý hòa giải bởi cho rằng ngân hàng tính lãi quá cao và
đề nghị tòa xem xét
Tòa sơ thẩm cho rằng ngân hàng tính lãi không đúng như thỏa thuận trongHĐTD Cụ thể, theo hợp đồng, tiền lãi được tính trên số tiền khách hàng rút kể từngày rút tiền nhưng thực tế ngân hàng lại tính lãi theo từng tháng trên số dư cuối kìcủa tháng trước (gồm nợ gốc, lãi tháng trước và các khoản phí phải trả của thángtrước) Đây là cách tính lãi cộng dồn nên từ số nợ gốc ban đầu chỉ hơn 14.000.000đồng, sau 22 tháng, số nợ cả gốc lẫn lãi đã lên gần đến 40.000.000 đồng Như vậy,lãi suất áp dụng theo cách tính này là khoảng 8%/tháng, cao hơn rất nhiều so vớiquy định pháp luật về cách tính lãi suất theo thỏa thuận giữa TCTD đối với kháchhàng (thời điểm một số NHTM áp dụng lãi suất cao nhất sau khi tính cả các chi phí
5 Hoàng Yến (2009), Tính lãi suất “trên trời”, Báo Pháp luật TPHCM, xem thêm tại
http://www.phapluattp.vn /2009122711504885p1063c1016/tinh-lai-suat-tren-troi.htm
Trang 10là 23 – 24%/năm như đã trình bày ở phần 2.1.1.2) Bên cạnh đó, theo hợp đồng thìsau 90 ngày kể từ ngày lập bản thông báo giao dịch, nếu chủ thẻ không thanh toán,thanh toán không đủ số tiền tối thiểu thì toàn bộ số dư nợ của chủ thẻ là nợ quá hạn
và áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo quy định của ngân hàng Tính từ cuối tháng5/2009 là đã quá 90 ngày ông H không thanh toán đủ số tiền tối thiểu nên ngânhàng phải có trách nhiệm chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn, nhưng ngânhàng vẫn tiếp tục tính lãi suất theo cách cộng dồn lãi, phí vào nợ gốc Tòa xác địnhlại tiền lãi và các khoản phí phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa haibên chỉ là 21.000.000 đồng
Rõ ràng việc tính lãi cộng dồn là hoàn toàn sai so với quy định của pháp luật,xâm phạm đến lợi ích của người đi vay Khác với vụ việc này, trường hợp dưới đây
có nội dung lãi suất xảy ra tranh chấp nhưng nguyên nhân lại không phải lỗi trongcách tính lãi từ phía TCTD
Vụ việc Ngân hàng Công thương Việt Nam (sau đây gọi là VietinBank) kiệnCông ty TNHH thương mại Đại Hỷ (sau đây gọi là công ty) có nội dung như sau:
• Chi nhánh Ngân hàng Công thương tỉnh Sóc trăng và công ty TNHHthương mại Đại Hỷ kí HĐTD số 32/HĐTD ngày 03/02/2004
• Số vốn vay 2.000.000.000 đồng
• Lãi suất vay là 0,85%/tháng Đến này 03/02/2006 hai bên kí phụ kiện hợpđồng điều chỉnh lãi suất là 0,95%/tháng, đến ngày 18/7/2006 tiếp tục kí phụkiện hợp đồng điều chỉnh lãi suất là 1,1%/tháng
VietinBank yêu cầu công ty trả tiền nợ gốc và tiền lãi chưa trả Phía công tyĐại Hỷ cho rằng phải tính lãi theo lãi suất cơ bản của NHNN quy định, đồng thờiyêu cầu tính lại phần lãi suất mà công ty đã trả vượt quá mức lãi suất cơ bản củaNHNN quy định và khấu trừ vào số tiền vốn vay
Trang 11TAND tỉnh Sóc Trăng xem xét vào thời điểm công ty vi phạm hợp đồng làngày 03/6/2007, căn cứ theo Quyết định số 1143/QĐ-NHNN ngày 29/5/2007 thìvào thời điểm vi phạm hợp đồng mức lãi suất cho vay không được vượt quá1,03%/tháng Xét thời điểm thỏa thuận của hợp đồng mức lãi suất 0,85%/tháng, sau
đó điều chỉnh là 1,1%/tháng, nhưng tính bình quân mức lãi suất bị đơn đã trả chonguyên đơn không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố nên khôngchấp nhận yêu cầu của bị đơn Căn cứ vào Khoản 5 Điều 474 và Khoản 1 Điều 476BLDS 2005, tòa xác định mức lãi suất là 1,03%/tháng
Từ tranh chấp trên có thể thấy rằng khi giải quyết vụ việc này, tòa sơ thẩmkhông xem xét thỏa thuận lãi suất trên từng thời điểm so với quy định của pháp luật
mà lại chia bình quân lãi suất trong toàn thời gian thực hiện để xác định tính hợppháp của thỏa thuận lãi suất Với cách xác định bằng lãi suất bình quân như vậy,phía bị đơn phải chịu thiệt Rõ ràng đây là một cách xác định lãi suất không đúngvới quy định của pháp luật
Tóm lại, tranh chấp về lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn tập trung ở
ba vấn đề:
Một là, cơ quan xét xử không nhất quán khi vừa áp dụng trần lãi suất cho vay
bằng 150% lãi suất cơ bản cho cả giai đoạn được phép thỏa thuận lãi suất trướcngày 19/5/2008; vừa không áp dụng mức trần với thỏa thuận lãi suất trong giai đoạn
từ 19/5/2008 về sau
Hai là, tranh chấp lãi suất do TCTD tính lãi cộng dồn gây thiệt hại cho khách
hàng
Ba là, cơ quan xét xử chia bình quân lãi suất trong thời gian vay để xác định
tính hợp pháp của thỏa thuận lãi suất trong từng giai đoạn tương ứng với từng cơchế điều hành lãi suất của NHNN
Từ các vấn đề này, tác giả sẽ đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế và khắcphục ở phần 2.2
1.1.3 Lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn
Lãi suất nợ (gốc) quá hạn là một trong những nội dung thường xảy ra tranhchấp nhiều nhất trong hoạt động tín dụng Trên thực tế việc áp dụng cách tính lãisuất nợ quá hạn còn nhiều vấn đề chưa được rõ ràng Như đã trình bày ở phần1.2.2.2, hiện nay trong pháp luật Việt Nam có hai quy định không thống nhất vềcách thức tính lãi suất quá hạn Theo đó, có nhiều tranh chấp xảy ra về cách tính lãisuất nợ quá hạn mà nhiều bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị vì lí do này
Trang 12Trên thực tế, cơ quan tài phán không hoàn toàn cũng nhất quán trong quá trình giảiquyết Việc áp dụng quy định của pháp luật chuyên ngành hay quy định của BLDScũng chứng tỏ không ít sự lúng túng của cơ quan có thẩm quyền.
Một số vụ việc cụ thể như sau có thể chứng minh rằng việc áp dụng pháp luậtvẫn còn nhiều bất cập khiến quyền lợi của các bên tranh chấp bị ảnh hưởng
Trở lại với vụ việc VietBank và bà Phan Ngọc H ở trên Về lãi suất nợ quáhạn, TAND tỉnh Sóc Trăng tuyên từ 28/11/2008 đến 28/9/2009 áp dụng Quyết định
số 2024/QĐ-NHNN ngày 26/8/2009 lãi suất cơ bản là 7%/năm, lãi suất quá hạn là10,5%/năm, bằng 0,875%/tháng Do đó lãi quá hạn là 250.000.000 x 11 tháng x0,875% = 24.062.500 đồng
Tương tự, bản án số 07/2009/DS-ST ngày 06/10/2009 giữa VietBank với bà
A và ông T., TAND tỉnh Sóc Trăng cũng tuyên áp dụng lãi suất nợ quá hạn là150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố vào thời điểm xét xử sơ thẩm là 7%/năm(theo Quyết định số 2232/QĐ-NHNN ngày 24/9/2009)
Ở cả hai vụ việc này, VietBank đều kháng cáo về việc áp dụng lãi suất nợ quáhạn VietBank cho rằng theo Khoản 2 Điều 11 của Quy chế cho vay ban hành kèmtheo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, lãi suất quá hạn phải được xác địnhbằng 150% lãi suất trong hạn trong hợp đồng là 150% x 1,75%/tháng Tòa phúcthẩm TANDTC tại TPHCM xét xử phúc thẩm cho rằng việc áp dụng quy định củaBLDS 2005 là hợp pháp và không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tại bản án số56/2010/KDTM-PT và 57/2010/KDTM-PT cùng ngày 08/4/2010
Khác với hai vụ việc trên, trong vụ “Ly hôn và tranh chấp tài sản” sau đây, cơquan chức năng lại đưa ra cách giải quyết ngược lại Ông Trịnh Xuân B và bà LêThị Thanh N kí với NHTMCP Á Châu (sau đây gọi là ACB) hai HĐTD
• Hợp đồng thứ nhất PHT.CN.01080907 ngày 10/9/2007 và HĐTD trung, dàihạn số 29900799 ngày 10/9/2007, nợ vốn 1.744.447.000 đồng nợ gốc và lãi146.533.546 đồng
• Hợp đồng thứ hai PHT.CN.01171107 ngày 19/11/2007 và HĐTD trung, dàihạn số 32276929 ngày 20/11/2007, tổng số tiền 633.326.000 đồng nợ vốn
và 34.075.314 đồng nợ lãi
Bản án sơ thẩm số 61/2009/HNST ngày 31/12/2009 của TAND quận 10(TPHCM) tuyên tiền lãi của ACB sẽ được tính tiếp tục kể từ ngày 01/01/2010 vớimức lãi suất cơ bản theo quy định của NHNN trên tổng số dư nợ gốc thực tế chođến khi trả hết nợ gốc căn cứ vào BLDS 2005 Sau đó ACB kháng cáo cho rằng ông
Trang 13B., bà N phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn từ 01/01/2010 đếnngày trả dứt nợ Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM chấp nhận kháng cáo củaACB.
Có thể thấy rằng cùng một tình tiết và cùng Tòa phúc thẩm TANDTC nhưngcách thức giải quyết vụ việc lại khác nhau, tương ứng với hai cách tính lãi suất quáhạn Cách thứ nhất theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 thì lãi suất quáhạn được tính không vượt quá 150% lãi suất cơ bản Trong khi đó cách tính thứ haicăn cứ vào pháp luật chuyên ngành là Khoản 2 Điều 11 Quyết định số1627/2001/QĐ-NHNN lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất trong hạn.Khi áp dụng quy định về lãi suất nợ quá hạn của BLDS, người bị thiệt hại sẽ làTCTD, vì lãi suất cho vay trong hạn luôn cao hơn so với lãi suất cơ bản của NHNNquy định
Ngoài ra, tranh chấp không chỉ xảy ra ở việc tính lãi suất nợ quá hạn theo lãisuất cơ bản hay lãi suất trong hạn, mà còn tranh chấp ở việc xác định thời điểm bắtđầu áp dụng lãi suất nợ quá hạn lẫn thời điểm kết thúc
Trong tranh chấp giữa VietBank và bà A., ông T như đã trình bày ở trên,TAND tỉnh Sóc Trăng tuyên tuyên lãi suất quá hạn được tính đến ngày thi hành ánxong Tuy nhiên, cũng do TAND tỉnh Sóc Trăng xét xử bản bán số 06/2009/DS-STngày 28/9/2009 giữa nguyên đơn cũng là VietBank và bà Phan Ngọc H., TANDtỉnh Sóc Trăng lại áp dụng lãi suất nợ quá hạn từ ngày phát sinh nợ quá hạn cho đếnngày ra bản án Trong khi đó tại khoản 3, phần I Thông tư liên tịch số 01/TTLTgiữa Tòa án nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộtài chính về việc xét xử và thi hành án về tài sản ngày 19/6/1997 quy định tòa ánphải ra quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán khoản tiền lãi kể
từ ngày giao dịch cho đến khi thi hành án xong Do đó, nội dung này bị ngân hàngkháng cáo lãi suất nợ quá hạn với khoản nợ gốc của bà H phải được áp dụng từthời điểm phát sinh nợ quá hạn cho đến khi thi hành án xong mới đảm bảo quyềnlợi của nguyên đơn Kháng cáo được Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM chấpnhận và sửa bản án sơ thẩm
Trong vấn đề này không phải do pháp luật quy định không chặt chẽ mà doviệc áp dụng pháp luật của TAND tỉnh Sóc Trăng không nhất quán Không chỉTAND tỉnh Sóc Trăng có quyết định trái với quy định của pháp luật mà TANDquận 12 (TPHCM) cũng ra quyết định trái luật, nhưng nội dung có sự khác biệt
Trang 14Bản án số 162/2009/DS-ST ngày 16/7/2009 của TAND quận 12 về tranh chấpgiữa nguyên đơn là ACB và ông Nguyễn Tuyển Q tuyên kể từ ngày nguyên đơn cóđơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa giao đủ số tiền còn nợ thì hàng tháng bịđơn còn phải trả thêm cho nguyên đơn số tiền lãi theo lãi suất cơ bản do NHNNcông bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán Như vậy thờigian phát sinh lãi suất nợ quá hạn tính từ ngày nguyên đơn có yêu cầu thi hành án.Thêm vào đó trong vụ việc này TAND quận 12, TPHCM đã áp dụng Khoản 2 Điều
305 BLDS 2005 về trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ là không phùhợp, lẽ ra TAND quận 12 phải áp dụng Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 hoặc Khoản
2 Điều 11 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
Hầu hết các quyết định không phù hợp với quy định về thời điểm áp dụng lãisuất nợ quá hạn của tòa án cấp sơ thẩm đều bị kháng cáo lên tòa cấp phúc thẩm vàbản án sơ thẩm đều bị sửa Thực trạng áp dụng quy định pháp luật tại cơ quan xét
xử vẫn còn nhiều thiếu sót mặc dù quy định đã rất rõ ràng, cụ thể Từ đây đặt ra vấn
đề về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ Tòa án Tuy nhiên, đó không phải vấn đềpháp lý nên trong phạm vi khóa luận này, tác giả không nghiên cứu sâu hơn
Bên cạnh đó, tranh chấp còn có thể phát sinh từ sự bất đồng quan điểm giữahai bên đương sự về thời điểm bắt đầu tính lãi quá hạn Trong phần 1.2.2.2, tác giả
đã trình bày về thời điểm chuyển khoản nợ từ nợ trong hạn sang nợ quá hạn theopháp luật hiện hành chính là khi khoản nợ vay không được trả đúng hạn, đượcTCTD đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơcấu lại thời hạn trả nợ thì số dư nợ gốc của HĐTD đó là nợ quá hạn Tuy vậy,không phải lúc nào pháp luật cũng được các bên nhận thức đầy đủ
Điển hình cho vấn đề này là vụ án giữa VietinBank và công ty TNHH thươngmại Đại Hỷ Công ty này kháng rằng trong số tiền lãi 633.268.927 đồng mà công ty
đã trả đến tháng 6/2007 ngân hàng có tính lãi suất quá hạn không đúng TheoHĐTD kí ngày 02/4/2004 thời hạn vay là 60 tháng (04/02/2004 đến 04/02/2009) do
đó phải tính lãi trong hạn đối với số dư nợ từ tháng 02/2004 đến 02/2009, nhưng từtháng 02/2004 đến tháng 6/2007, ngân hàng đã tính nhiều khoản lãi theo lãi suấtquá hạn Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM xét xử phúc thẩm VietinBank chorằng tất cả các khoản tính lãi nguyên đơn đã tính theo chính xác cam kết trong
HĐTD, cụ thể có thỏa thuận “khi đến thời hạn hoặc kì hạn trả nợ (gốc và lãi) mà
bên B không trả được nợ và không được bên A chấp thuận gia hạn hoặc điều chỉnh thời hạn, kì hạn nợ (gốc và lãi) thì bên A được quyền trích từ tài khoản bên B để thu nợ, nếu tài khoản tiền gửi tại thời điểm đó không còn số dư thì bên A chuyển dư
Trang 15nợ (gốc, lãi) sang nợ quá hạn theo quy định của Ngân hàng Công thương Việt Nam” Tòa phúc thẩm bác kháng cáo của công ty Đại Hỷ, giữ nguyên bản án sơ
thẩm
Đối với vụ việc giữa VietinBank và công ty TNHH thương mại Đại Hỷ, nếu
bị đơn có sự nghiên cứu kĩ lưỡng hơn về quy định của pháp luật thì sẽ không khángcáo ở vấn đề này trong khi lại bỏ qua phần có lợi cho mình (tòa sơ thẩm chia bìnhquân lãi suất trong hạn để xác định tính hợp pháp của thỏa thuận lãi suất) dẫn đếnphí phạm thời gian và tiền bạc trong quá trình tố tụng
Vấn đề tiếp theo là trong quy định của pháp luật hiện nay, không được phéptính lãi quá hạn trên khoản nợ lãi quá hạn, vì như vậy là “lãi chồng lãi”, hay nóicách khác là “lãi mẹ đẻ lãi con”, sẽ gây bất lợi cho bên đi vay Mặc dù vậy, phápluật lại cho phép TCTD phạt chậm trả đối với khoản nợ lãi quá hạn Theo Khoản 2Điều 13 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
đã được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN thì việc phạtchậm trả đối với khoản nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay do hai bên thỏa thuận trên cơ
sở quy định của pháp luật Có quan điểm cho rằng sử dụng chế tài phạt chậm trả làmột cách “lách luật” của các TCTD thay vì áp dụng lãi suất quá hạn với khoản nợlãi quá hạn vốn không được pháp luật cho phép, vì cách tính phạt chậm trả lãi quáhạn hầu như không khác gì chế tài lãi suất nợ quá hạn đối với khoản lãi trễ hạn6.Pháp luật đã quy định rất rõ ràng về chế tài phạt chậm trả, nghĩa là trao cho cácTCTD quyền được đảm bảo về quyền lợi khi khách hàng chậm thực hiện nghĩa vụ
Do đó, theo quan điểm của tác giả thì các TCTD phạt chậm trả đối với khoản nợgốc và nợ lãi trễ hạn hoàn toàn không phải là “lách luật” Không chỉ trong hoạtđộng tín dụng, mà Điều 306 Luật Thương mại 2005 cũng quy định về quyền yêucầu tiền lãi do chậm thanh toán Theo quy định của Luật thương mại thì phải xácđịnh “lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán” làm cơ
sở xác định tiền lãi phạt chậm trả, khác với quy định tại Khoản 2 Điều 305 BLDS
2005 là theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thờiđiểm thanh toán
Trở lại vụ việc giữa VietBank và bà A., ông T ở trên, phía VietBank yêu cầu
bị đơn thanh toán lãi trong hạn từ 15/9/2008 đến 14/12/2008 và lãi phạt chậm trả lãi
3 kì (tháng 10, 11, 12/2008) với lãi suất phạt là 150% lãi suất trong hạn nhân với số
6 Lương Thị Hoàng Phương (2009), Vai trò của pháp luật trong việc giải quyết nợ quá hạn tại
NHTM của Việt Nam, Đại học Luật TPHCM, tr.50