1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CỦA NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

43 292 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Các Dịch Vụ Của NHTMCP Công Thương Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 441,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, du lịch và dịch vụ trong phạm vi Việt Nam.Trải qua hơn hai mươi năm xây dựng và trưởng thành, NHTMCPCT đã vượt qua nhiều

Trang 1

THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CỦA NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

2.1 Khái quát về ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank)

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam được thành lập dựa trên cở sở của Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) cho phép hệ thống ngân hàng của Việt Nam được hoạt động theo mô hình ngân hàng hai cấp, tách biệt hoạt động quản lý và điều tiết vĩ mô tiền tệ và hoạt động kinh doanh tiền tệ Theo đó, phân thành NHNN (NHTW) vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý tiền tệ, tín dụng ngân hàng, tỷ giá đảm bảo tính ổn định giá trị của đồng bản tệ, một cấp khác là các NHTM trực tiếp hoạt động kinh doanh và chịu sư chi phối và quản lý của NHNN

Được thành lập từ 01/07/1988 trên cơ sở Vụ tín dụng công nghiệp và Vụ tín dụng thương nghiệp tại NHNN trung ương và các phòng tín dụng công thương nghiệp tại các tỉnh, thành phố, thị xã, quận huyện Tháng 10/1990, Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh ngân hàng, HTX tín dụng và công ty tài chính có hiệu lực thi hành, đánh dấu bước phân định rõ chức năng của NHNN và ngân hàng kinh doanh Đến 14/11/1990, chủ tịch HĐBT đã ký quyết định số 402 thành lập NHCT ( nay là ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam), khẳng định NHCT là một NHTM có các thành viên là các chi nhánh hạch toán phụ thuộc, một pháp nhân hạch toán độc lập Công tác quản trị và điều hành được đổi mới, thực hiện vai trò quản lý, điều hành tập trung về Trụ sở chính, đồng thời phát huy lợi thế và vai trò chủ động của chi nhánh trong khuôn khổ phân cấp, uỷ quyền của Ban lãnh đạo Tiếp theo đó NHTMCPCT được thành lập lại theo quyết định số 402/QĐ-NH5 ngày 27/03/1993 và số 285/QĐ-NH5 ngày 21/09/1996 của Thống đốc NHNN Việt nam Ngày 21/09/1996, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số QĐ 90/TTg ngày 07/03/1994 quy định chức năng nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh của NHTMCPCT theo mô hình Tổng công

Trang 2

các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, du lịch và dịch vụ trong phạm vi Việt Nam.

Trải qua hơn hai mươi năm xây dựng và trưởng thành, NHTMCPCT đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đi tiên phong trong cơ chế thị trường, phục vụ và góp phần tích cực thực hiện đường lối chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đồng thời không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên, khẳng định được vị trí là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu ở Việt Nam Để có được những thành công với các bước phát triển, tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều thành tựu to lớn trên mọi mặt hoạt động kinh doanh cung ứng dịch vụ ngân hàng, phát triển đồng đều cả kinh doanh đối nội và kinh doanh đối ngoại, hệ thống công nghệ ngân hàng tiên tiến, có uy tín với khách hàng trong nước và quốc tế, NHTMCPCT cũng trải qua ít nhiều thăng trầm phát triển cùng kinh tế đất nước NHTMCPCT đã góp phần đắc lực trong việc thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam trước sức ép của Hội nhập kinh tế khu vực, đặc biệt là Hội nhập kinh tế toàn cầu

Trước đây, NHTMCPCT là ngân hàng 100% vốn sở hữu của Nhà nước, vốn điều lệ ban đầu là 2.100 tỷ VND - theo điều lệ về tổ chức và hoạt động của NHTMCPCT Ban hành kèm theo quyết định số 135/QĐ-HĐQT-NHCT ngày 18/11/2002 của HĐQT NHTMCPCT Năm 2006, căn cứ vào mức độ hoàn thành tiến độ Đề án cơ cấu lại NHTMCPCT, Chính phủ đã duyệt cấp bổ sung vốn điều lệ cho NHTMCPCT, đưa tổng mức vốn cấp của Chính phủ lên 4.050 tỷ VND, tăng cường năng lực tài chính cho ngân hàng

Ngày 23/09/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1359/QĐ-TTg phê duyệt phương án cổ phần hoá NHTMCPCT với tên gọi Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

Từ khi thành lập NHTMCPCT luôn chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin đổi mới hoạt động ngân hàng theo hướng hiện đại để không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ và cung cấp nhiều tiện ích, dịch vụ

Trang 3

với các doanh nghiệp cùng ngành khi Việt Nam tham gia mạnh mẽ vào các quan hệ quốc tế.

- Năm 1993, áp dụng thanh toán liên ngân hàng qua máy vi tính (chuyển tiền tập trung đối chiếu phân tán) và chương trình quản trị điều hành kinh doanh đảm bảo toàn

hệ thống lên được bảng tổng kết tài sản tóm tắt hàng ngày

- Năm 1995 tham gia hệ thống SWIFT và ứng dụng chương trình thanh toán quốc

tế Là ngân hàng thương mại đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng chương trình thanh toán điện tử (quá trình thanh toán, hạch toán, quản lý điều hành vốn tập trung được xử lý hoàn toàn tự động), phục vụ chuyển tiền tức thời cho khách hàng

- Năm 1996 cân đối chi tiết toàn hệ thống được thực hiện hàng ngày phục vụ điều hành vốn kinh doanh, nối mạng thanh toán với Sở giao dịch NHNN Năm 1997, nối mạng thanh toán với một số ngân hàng thương mại

- Năm 2000, khai trương hệ thống Website đầu tiên trong các NHTM

- Tháng 5 năm 2002 là thành viên tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của NHNN

- Năm 2006 đã triển khai sử dụng thành công chương trình hiện đại hoá ngân hàng

và hệ thống thanh toán (INCAS) đến toàn bộ các chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch của NHTMCPCT trong phạm vi cả nước

- Tháng 07 năm 2007, NHTMCPCT đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp Chứng nhận Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Vietinbank và logo Trong năm 2007, NHTMCPCT cũng đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Vietinbank và logo tại 40 quốc gia trên thế giới

- Năm 2007, NHTMCPCT được trao tặng nhiều giải thưởng và danh hiệu lớn như Giải thưởng “Sao Vàng Đất Việt” (lần thứ 4 liên tiếp), giải thưởng “Thương hiệu mạnh”,

“Cúp vàng Thương hiệu và Nhãn hiệu” (lần thứ 2 liên tiếp), “Cúp vàng Vì sự tiến bộ

xã hội và phát triển bền vững”, “Cúp vàng ISO 2007”, Giải “Cầu vàng Việt Nam - The Best Banker 2007” Tổng giám đốc NHTMCPCT cũng vinh dự đón nhận danh hiệu “Nhà quản lý giỏi”, “Doanh nhân tiêu biểu”, “Doanh nhân tâm tài” trong năm này

- Ngày 12 tháng 11 năm 2007, NHTMCPCT bắt đầu triển khai phần mềm Chuyển tiền kiều hối mới trên phạm vi toàn quốc Đây là phần mềm hiện đại do NHTMCPCTVN

tự nghiên cứu và phát triển, được tích hợp hoàn toàn với hệ thống Hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán của NHTMCPCTVN (INCAS), góp phần đưa

Trang 4

NHTMCPCT trở thành NHTM hàng đầu ở Việt Nam cung cấp Dịch vụ chuyển tiền kiều hối chất lượng cao

- Năm 2007, NHTMCPCT vinh dự được Nhà nước tặng thưởng: 01 Huân chương Lao động hạng Nhất, 05 Huân chương Lao động hạng Nhì, 15 Huân chương Lao động hạng Ba và 50 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho tập thể và cá nhân

- Ngày 09 tháng 01 năm 2008, NHTMCPCT được vinh dự bình chọn là một trong 5 Ngôi sao kinh doanh 2007 do Báo Thế giới và Việt Nam (Bộ Ngoại giao) lần đầu tiên phối hợp với Tạp chí Nhà kinh tế thuộc Tập đoàn Truyền thông The Economics (Anh) tổ chức

- Ngày 16 tháng 01 năm 2008, Thống đốc NHNN ký Quyết định số 196/QĐ-NHNN chấp thuận cho NHTMCPCTVN được thay đổi tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh

và tên viết tắt bằng tiếng Anh thành Vietinbank

- Ngày 23 tháng 02 năm 2008, NHTMCPCT được chứng nhận đạt danh hiệu “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ được hài lòng nhất năm 2008” do người tiêu dùng bình chọn qua cuộc điều tra lần đầu tiên do Báo Sài Gòn Tiếp thị tổ chức

- Ngày 03 tháng 03 năm 2008, NHTMCPCT vinh dự được đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì của Chủ tịch nước trao tặng nhân kỷ niệm 20 năm “Xây dựng và phát triển”

- Ngày 29 tháng 03 năm 2008, lần thứ 3 liên tiếp NHTMCPCTVN đạt danh hiệu

“Thương hiệu mạnh Việt Nam”

- Ngày 01 tháng 04 năm 2008 thành lập Sở giao dịch III theo quyết định số HĐQT-NHTMCPCT1

106/QĐ Ngày 19 tháng 04 năm 2008, NHTMCPCT vinh dự nhận giải thưởng Cúp vàng “Vì

sự nghiệp cộng đồng” do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam, Hiệp hội các DNVVN Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân v.v tổ chức; Tổng Giám đốc Phạm Xuân Lập vinh dự là một trong hai đại biểu ngành ngân hàng được trao tặng Cúp “Lãnh đạo doanh nghiệp xuất sắc” năm 2008

- Ngoài ra cũng trong năm 2008, NHTMCPCT còn được trao tặng Giải thưởng “Sao vàng Thủ đô 2008” trao cho sản phẩm thẻ E-Partner; Cup vàng “Thương hiệu - Nhãn hiệu” lần III; Giải thưởng “Cúp Vàng ISO lần thứ IV – 2008” do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức bình chọn và trao tặng Chủ tịch HĐQT Phạm Huy Hùng được

Trang 5

vinh dự nhận giải “Doanh nhân tâm tài lần II” và giải “Doanh nhân tiêu biểu Việt Nam Vàng”

- Năm 2008, NHTMCPCT vinh dự được đón nhận thêm 2 Huân chương Lao động hạng Nhì, 36 Huân chương Lao động hạng Ba, 108 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho tập thể và cá nhân

- Trong năm 2008, NHTMCPCT được nhận “Giải thưởng chất lượng quốc tế” - International Star Award (ISAQ) tại Thụy Sỹ, trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được nhận vinh dự này

- Tính từ năm thành lập (1988) đến nay NHTMCPCT đã được tặng thưởng: 01 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 01 Huân chương Độc lập hạng Ba, 04 Huân chương Lao động hạng Nhất, 22 Huân chương Lao động hạng Nhì, 121 Huân chương Lao động hạng Ba, 01 Huân chương Chiến công hạng ba, 03 tập thể được tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới”, 333 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 08 Cờ thi đua của Chính phủ, 20 Cờ Thi đua của Thống đốc NHNN và hàng ngàn bằng khen của Thống đốc và các bộ, ban, ngành v.v

Bộ máy tổ chức và quy mô hoạt động

Bộ máy tổ chức hoạt động kinh doanh của NHTMCPCT là một thể thống nhất gồm Trụ sở chính tại 108 Trần Hưng Đạo - Hà Nội, 03 Sở giao dịch tại Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh và các chi nhánh tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước Tuy mô hình quản lý tập trung, thực hiện sự điều hành chỉ đạo tại Trụ sở chính nhưng vẫn phát huy tính tự chủ của mỗi chi nhánh trong khuôn khổ kế hoạch và các cơ chế, quy chế được phân cấp, phân quyền cụ thể NHTMCPCT cung cấp hầu hết các dịch vụ ngân hàng với mạng lưới rộng khắp và tập trung vào các ngành trọng điểm của quốc gia, khu công nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngoài trụ sở chính và 03 Sở giao dịch, NHTMCPCT đến nay đã có 138 chi nhánh, 185 phòng giao dịch, 428 điểm giao dịch và quỹ tiết kiệm tại các trung tâm kinh tế và các khu vực công thương nghiệp phát triển trong cả nước Có quan hệ đại lý với 850 ngân hàng trên khắp toàn cầu và có thể đi bằng điện Swift có gắn mã khoá tới 19.000 ngân hàng và chi nhánh toàn cầu NHTMCPCT còn

có các Trung tâm công nghệ thông tin, Trường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, Công ty cho thuê tài chính, Công ty chứng khoán, Công ty bảo hiểm Châu Á, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, đồng sáng lập và là cổ đông chính trong Indovina Bank và Công ty Chuyển mạch tài chính Quốc gia (Banknet) Là thành viên chính thức của Hiệp

Trang 6

hội các Ngân hàng Châu á, Hiệp hội các ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội Thanh toán Viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu SWIFT, Hiệp hội thẻ Visa, Master, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Các Tổ chức Tài chính cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ APEC.

Tính đến ngày 31/12/2008, tổng số lao động của NHTMCPCT là 14.334 người,

được phân loại như sau:

Bảng 2.1: phân loại lao động tại thời điểm 31/12/2008

+ Lao động không xác định thời hạn 11.590 80,86% + Lao động có thời hạn từ 1 - 3 năm 1.808 12,61%

+ Tại chi nhánh, Công ty trực thuộc và

đơn vị sự nghiệp khác

13.558 94,59%

Bảng 2.2: mạng lưới hoạt động của NHTMCPCT

Đơn vị: địa điểm

(Nguồn: báo cáo thường niên NHTMCPCT)

NHTMCPCT đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống các cơ chế, quy chế về tổ chức và hoạt động kinh doanh, nghiệp vụ, quản trị điều hành nội bộ Cơ cấu tổ chức của NHTMCPCT được thể hiện qua mô hình sau:

Trang 7

BIỂU ĐỒ 2.2: MÔ HÌNH TỔ CHỨC

Trang 8

P nh ch TC Đị ế

P C/ti n NT ề

P QL n CVợ Đ

P QL RR TT và tác nghiệp P QL CN &TT P Ti n t KQề ệ

Trang 9

Hiện tại Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc đang chịu trách nhiệm về mọi quyết định quan trọng trong hoạt động và đề ra chiến lược kinh doanh Các chi nhánh chịu trách nhiệm về các nhiệm vụ được đề ra với mức độ chủ động hợp lý Trụ sở chính đóng vai trò là tham mưu những các công việc cho Ban lãnh đạo.

Kết quả kinh doanh của NHTMCPCT

Sự chuyển dịch và tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và ổn định của kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua khẳng định sự tin tưởng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào thị trường Việt Nam, đặc biệt việc phát hành thành công trái phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế của Việt Nam đánh dấu những bước tiến quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của quốc gia này

Là một NHTM có thị phần chiếm gần 1/6 ngành ngân hàng, hoạt động của NHTMCPCT

đã góp phần và có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế nói chung của cả đất nước Với những thành công đạt được trong suốt năm năm qua, và cùng với chiến lược phát triển toàn diện của NHTMCPCT đến năm 2015 với mục tiêu xây dựng NHTMCPCT thành một NHTM chủ lực hiện đại, hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao, an toàn, bền vững, tài chính lành mạnh, có kỹ thuật công nghệ cao, kinh doanh đa năng, mở rộng và phát triển các dịch vụ, nghiệp vụ kinh doanh bán lẻ, chất lượng nguồn nhân lực và quản trị ngân hàng đạt mức tiên tiến, có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ ở Việt Nam

Bên cạnh đó, NHTMCPCT tiếp tục triển khai, cơ cấu lại tổ chức bộ máy từ hội sở đến các chi nhánh theo hướng chuyên sâu, khép kín mọi hoạt động nghiệp vụ theo hướng nhóm khách hàng, chuyển dịch theo hướng khai thác và phát huy giá trị lợi thế của NHTMCPCT so với các NHTM khác Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTMCPCT trong 6 năm gần đây đã chứng tỏ những bước đi đúng đắn và thận trọng của cán bộ nhân viên NHTMCPCT

Bảng 2.3: thu nhập và chi phí của NHTMCPCT giai đoạn 2003 - 2008

Đơn vị: tỷ đồng

Trang 10

Với mạng lưới chi nhánh rộng khắp toàn quốc, sản phẩm tiền gửi ngày càng đa dạng, đem lại nhiều tiện ích cho người gửi tiền, tổng nguồn vốn huy động của NHTMCPCT luôn tăng trưởng qua các năm.

Trong giai đoạn 2004 - 2007 và đặc biệt bước vào năm 2008, thị trường tiền tệ đã

có nhiều biến động về lãi suất trong nước và quốc tế, lạm phát và cạnh tranh giữa các TCTD trong nước về huy động vốn đã ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của các NHTM nói chung và NHTMCPCT nói riêng Mặc dù môi trường đầy thách thức, NHTMCPCT đã thành công trong việc tăng cường các hoạt động huy động vốn bằng

Ch tiêu ỉ N m ă

Trang 11

cách áp dụng chiến lược huy động vốn với quan điểm đảm bảo hoạt động kinh doanh song song với việc tuân thủ các quy định hiện hành.

Năm 2007 - 2008, để xác lập thị phần và tăng trưởng nhanh, đáp ứng cân đối thanh khoản, các ngân hàng thương mại cổ phần mới thành lập đã đẩy lãi suất huy động vốn lên rất cao, tác động xấu đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng NHTMCPCT đã thực hiện nhiều giải pháp giữ ổn định và phát triển nguồn vốn như: năng động điều chỉnh lãi suất

và kỳ hạn phù hợp với diễn biến thị trường, tăng cường tiếp thị, cung cấp gói sản phẩm (tiền gửi, tín dụng, thanh toán quốc tế, ), khai thác nhiều kênh huy động vốn, thiết kế sản phẩm huy động vốn linh hoạt, đổi mới tác phong giao dịch, đặc biệt đã khai trương thêm 46 điểm giao dịch mẫu có thiết kế qui chuẩn mang thương hiệu NHTMCPCT.Nguồn vốn huy động của NHTMCPCT bao gồm:

 Tiền gửi thanh toán của Kho bạc Nhà nước và các TCTD khác;

 Vay từ NHNN;

 Tiền gửi có kỳ hạn và vay từ các TCTD khác;

 Tiền gửi của khách hàng và các khoản phải trả khách hàng: tiền gửi của khách hàng là nguồn huy động vốn lớn nhất, chiếm trên 70% nguồn vốn huy động của Ngân hàng

 Các nguồn vốn vay khác

Tính đến 31/12/2008, tổng nguồn vốn huy động của NHTMCPCT là 181.254 tỷ đồng, tăng 29.795 tỷ đồng so với năm 2007, tỷ lệ tăng 19,67%, chiếm 11% thị phần toàn ngành ngân hàng

Biểu đồ 2.3: cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTMCPCT

(Nguồn: báo cáo tài chính NHTMCPCT năm 2008)

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 58.812 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 47% tổng nguồn vốn huy động và tăng 6,3% so với năm 2007

Trong cơ cấu tiền gửi của các tổ chức kinh tế: tiền gửi của các doanh nghiệp quốc doanh là 47.531 tỷ đồng, tăng 8.883 tỷ đồng (25,4%) so năm trước, tiền gửi từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt 8.486 tỷ đồng, tăng 4.081 tỷ đồng (93%) so với năm trước, tiền gửi từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 2.795 tỷ đồng, tăng 1.476 tỷ đồng (gấp 2 lần) so với năm trước Tiền gửi của doanh nghiệp có thời hạn ổn định chiếm từ

30 - 35%/ tổng nguồn vốn huy động

Tiền gửi của dân cư đến cuối năm 2008 đạt 60.061 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 48%

V n t i tr ố à ợ 22%

Khác 4,1%

Ti n g i c a KH ề ử ủ 69%

Trang 12

tổng huy động và tăng 9% so với năm 2007 Trong đó tiền gửi tiết kiệm có tính ổn định dài hạn đạt 54.388 tỷ đồng, chiếm 43% tổng vốn huy động và tăng 5,8% so với năm trước Phát hành công cụ nợ với số dư 5.673 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 4,5% tổng vốn huy động, và tăng 54% so với năm 2007 (Nguồn: Công ty chứng khoán SSI).

Bảng 2.4: nguồn vốn huy động của NHTMCPCT

(ii) Tiền gửi dân cư 60.061 55.060 52.773

Trong đó: + Tiền gửi tiết kiệm 54.388 51.388 44.595

Trong đó nội tệ: 40.202 39.515 32.172 + Phát hành công cụ nợ 5.673 3.672 8.178 Trong đó nội tệ: 4.323 85 4.715 (iii) Tiền gửi của các đối tượng khác 6.221 6.222 6.267

(Nguồn: báo cáo tài chính NHTMCPCT năm 2006 - 2008 )

Cơ cấu kỳ hạn có sự thay đổi theo hướng hiệu quả hơn, so với năm 2007 tiền gửi không kỳ hạn tăng 20,5%, tiền gửi có kỳ hạn tăng 13,6%, tuy nhiên nguồn vốn trung dài hạn (trên 1 năm) chiếm tỷ trọng 25,5% tổng vốn huy động và tỷ trọng bị giảm thấp hơn

so với năm 2007 là 0,7% Trong năm 2008, NHTMCPCT đã thực hiện thành công các đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi dài hạn và

kỳ phiếu

Trang 13

HỘI SỞ SỞ GIAO DỊCH

Bảng 2.5: cơ cấu tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn

Tiền gửi không kỳ hạn

Trong đó: nội tệ 29.35426.095 22.00024.342

Tiền gửi có kỳ hạn (gồm cả phát hành công cụ nợ)

Trong đó: nội tệ 83.30065.758 56.28273.338

(Nguồn: báo cáo tài chính NHTMCPCT năm 2008)

Với qui mô tăng trưởng và cơ cấu nguồn vốn hợp lý, đã khẳng định sự phát triển

đa dạng các sản phẩm nghiệp vụ huy động vốn của NHTMCPCT phù hợp với thị hiếu của người gửi tiền và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường

Để đạt được những kết quả trên đây, một số giải pháp hiệu quả đã được NHTMCPCT thực hiện triển khai trong những năm vừa qua, đã ngày càng thu hút, duy trì được các khách hàng tư nhân cá thể, các tổ chức kinh tế, cụ thể:

 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn: sự khác biệt mới được tạo ra thông qua các hình thức tiết kiệm ngắn trung, dài hạn, tiết kiệm dự thưởng bằng cả đồng nội tệ và ngoại tệ, phát hành chứng chỉ tiền gửi dài hạn, kỳ phiếu, đã đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khác hàng Ngoài ra, các hình thức tiết kiệm bậc thang mà theo đó người gửi tiền được trả lãi theo thời gian thực gửi đã tạo ra sự khác biệt rõ rệt có tính cạnh tranh cao đối với các dịch vụ huy động vốn của các NHTM khác Tiếp tục phát huy và triển khai các hình thức huy động tiết kiệm bằng vàng, tiết kiệm trả lãi trước, trả lãi định kỳ, lãi nhập gốc, trả lãi cuối kỳ, đã phản ánh được sự coi trọng của NHTMCPCT đối với dịch vụ này

 Áp dụng lãi suất linh hoạt, các chi nhánh được phép đàm phán, thỏa thuận với khách hàng

về lãi suất tiền gửi dựa trên tình hình lãi suất trên thị trường, bảo đảm hiệu quả hoạt động đối với chi nhánh và lợi ích tối đa của khách hàng

 Chính sách Marketing đã được chú trọng phát triển và qua đó đã phân tích, định hướng phát triển, cung ứng các hình thức huy động vốn trong từng thời kỳ khác nhau, đồng thời ngày các khuyếch trương hình ảnh của NHTMCPCT, mở rộng thị phần và phạm vi hoạt động ngân hàng

 Tiếp tục nâng cao cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ khách hàng, thực hiện chương trình hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán với mục đích tạo ra nhiều tiện ích mới cho khách hàng

 Mở rộng mạng lưới hoạt động, nâng cấp các chi nhánh cấp 1, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, thực hiện triển khai các điểm giao dịch mẫu đồng bộ trên khắp mọi miền đất nước

đã tạo những thuận lợi và tiện ích tối đa đối với các khách hàng khác nhau

Trang 14

HỘI SỞ SỞ GIAO DỊCH

 Công tác giao dịch (front office) được chú trọng và đổi mới phong cách giao dịch, giảm thiểu các thủ tục hành chính, tạo sự thông thoáng đã góp phần thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với NHTMCPCT

 Quản trị rủi ro ngân hàng đối với dịch vụ huy động vốn đã được chú trọng đáng kể, góp phần đảm bảo tăng trưởng và hiệu quả đối với công tác này thông qua sự thay đổi cả về số lượng và cơ cấu nguồn vốn huy động, quy mô hoạt động của ngân hàng như sau:

o Tăng trưởng về số lượng: tại thời điểm khi mới thành lập 1988, nguồn vốn huy động đạt 497,725 tỷ đồng trong đó, nội tệ 487,556 tỷ đồng, ngoại tệ (qui VNĐ) 0,169 tỷ đồng Đến hết năm 2008, nguồn vốn huy động thay đổi vượt bậc đạt 181.254 tỷ đồng, tăng 29.795 tỷ đồng so với năm 2007, tỷ lệ tăng 19,67%, chiếm 11% thị phần toàn ngành ngân hàng

o Thay đổi tỷ trọng cơ cấu nguồn huy động: có sự thay đổi cả về cơ cấu và phương thức gửi tiền phù hợp với nhu cầu của người gửi, đồng thời đã đa dạng được các loại tiền gửi, kỳ hạn gửi

o Tăng về quy mô: Nếu so sánh với giai đoạn kể từ khi thành lập đến nay cho thấy tại thời điểm năm 1998, NHTMCPCT chỉ có một văn phòng đại diện, 2 trụ sở giao dịch

32 chi nhánh cấp I, 42 chi nhánh cấp 2, 23 phòng giao dịch, 502 quỹ tiết kiệm thì tính đến thời điểm này đã có 2 Văn phòng đại diện (1 Văn phòng đại diện Miền Nam, 01 Văn phòng đại diện Miền Trung, 03 Sở giao dịch, 140 chi nhánh, 188 phòng giao dịch,

428 điểm giao dịch và quỹ tiết kiệm tại các tỉnh thành phố trên toàn quốc

2.2.2 Dịch vụ tín dụng

Hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính và đóng góp chủ yếu đối với lợi nhuận của NHTMCPCT trong những năm vừa qua Tuy nhiên, dịch vụ tín dụng của NHTMCPCT hiện nay vẫn chủ yếu là các dịch vụ tín dụng truyền thống, đơn điệu, thiếu tính liên kết với nhau, cũng như liên kết với các dịch vụ khác để tạo ra các gói sản phẩm hàm chứa nhiều giá trị gia tăng, không tạo được sự khác biệt nhằm thu hút được mạnh mẽ các đối tượng khách hàng tiềm năng

Quảng bá, tiếp thị khuyếch trương sản phẩm, chăm sóc và phục vụ khách hàng cũng còn

có những hạn chế nhất định, các chi nhánh hầu như chỉ quan tâm đến dư nợ, số tiền cho vay và lãi suất cho vay mà chưa nhìn nhận hết nhu cầu của khách hàng nhằm cung cấp sản phẩm trọn gói phù hợp và hiệu quả

Trang 15

Kết quả hoạt động kinh doanh tín dụng của NHTMCPCT được thể hiện qua các số liệu sau:

Biểu đồ 2.4: cơ cấu dư nợ cho vay của NHTMCPCT

5% Nông, lâm, ngư nghiệp12%Khác

10%Xây dựng2%Khách sạn, nhà hàng8%Vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc8%Hoạt động phục vụ cá nhân & cộng đồng8%Sản xuất & phân phối điện, khí đốt và nước

21%Thương nghiệp, đồ dùng cá nhân và tiêu dùng26%Công nghiệp chế biến & khai thác mỏ

(Nguồn: báo cáo tài chính NHTMCPCT năm 2008)

Dư nợ cho vay nền kinh tế đến 31/12/2008 là 120.752 tỷ đồng, tăng 18.561 tỷ đồng so với năm 2007, tỷ lệ tăng 18,2% và đến nay thị phần tín dụng của NHTMCPCT chiếm 11% ngành ngân hàng Dư nợ cho vay bằng nội tệ chiếm tỷ trọng 82,5%, có số

dư 99.620 tỷ đồng, tăng 15.312 tỷ đồng so với năm trước, tỷ lệ tăng 18% Dư nợ ngoại

tệ quy VNĐ đạt số dư 21.132 tỷ đồng, tăng 3.249 tỷ đồng so với đầu năm, tỷ lệ tăng 18% Tỷ lệ cho vay trung dài hạn trong tổng dư nợ chiếm tỷ lệ 38%

KH l n c a VIETINBANK - Vietnam Airlines ớ ủ

Trang 16

Bảng 2.6: cơ cấu cho vay tại NHTMCPCT

(Nguồn: báo cáo tài chính NHTMCPCT 2006 - 2008)

Về cơ cấu dư nợ cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn chiếm tỷ trọng 37,9%; dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 41,8%; dư nợ cho vay cá nhân

và hộ gia đình chiếm 20,3%

Hoạt động kinh doanh chính của NHTMCPCT là cung cấp tín dụng cho khách hàng là doanh nghiệp Từ hoạt động tín dụng truyền thống là cho vay công nghiệp, thương nghiệp, NHTMCPCT đã mở rộng sản phẩm tín dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ, và đầu tư phát triển NHTMCPCT không chỉ chú trọng đến các doanh nghiệp lớn có các dự án trọng điểm, an toàn, có hiệu quả và có khả năng trả nợ tốt, mặt khác để phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế, NHTMCPCT cũng rất chú trọng phát triển sản phẩm tín dụng đối với khối các DNVVN

Các khách hàng lớn của NHTMCPCT bao gồm các Tập đoàn và Tổng Công ty như: tập đoàn Dầu khí Quốc gia (Petro Việt Nam), Vietnam Airline, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Tổng Công ty Lương thực Miền Bắc, Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Vinaconex, Tổng công ty Xăng dầu (Petrolimex), Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam,… Trong năm

2007 - 2008, NHTMCPCT đã thẩm định và ký kết cấp tín dụng cho 23 dự án lớn với tổng số tiền cam kết là 10.858 tỷ đồng Trong đó, NHTMCPCT làm đầu mối thu xếp cho vay đồng tài trợ cho nhiều dự án, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế quốc gia như: dự án vệ tinh viễn thông Vinasat tổng vốn đầu tư 108 triệu USD, dự án xi măng Bỉm Sơn tổng vốn đầu tư hơn 4.000 tỷ đồng, 4 dự án thủy điện lớn của Tập đoàn Điện lực Việt Nam,… NHTMCPCT đã

Trang 17

dự án nhà máy thủy điện Sesan 3,… và nhiều dự án mua tàu của Tổng Công ty Hàng Hải, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy, Tập đoàn Dầu khí quốc gia.

DNVVN hiện đang là nhóm khách hàng mục tiêu của NHTMCPCT, chiếm khoảng 80% số lượng khách hàng doanh nghiệp của NHTMCPCT với dư nợ chiếm trên 40%

dư nợ toàn hệ thống Với định hướng phát triển nhóm khách hàng này, ngay từ năm

2003, NHTMCPCT đã thành lập bộ phận chuyên trách phục vụ khách hàng DNVVN xuyên suốt từ Trụ sở chính tới các chi nhánh Đồng thời NHTMCPCT cũng rất chú trọng việc phát triển sản phẩm dịch vụ phù hợp với các DNVVN Ngoài các sản phẩm dịch vụ áp dụng với mọi đối tượng khách hàng, bằng nguồn vốn tự huy động hoặc kết hợp với các nguồn vay quốc tế, NHTMCPCT đã thiết kế tới 9 chương trình tín dụng cho DNVVN Dư nợ của các Chương trình này khoảng 1.100 tỷ đồng, chất lượng nợ rất tốt NHTMCPCT thực hiện chính sách không phân biệt đối xử đối với mọi qui mô doanh nghiệp, loại hình, thành phần kinh tế Bên cạnh đó, để thu hút và giữ vững các khách hàng tốt, NHTMCPCT đã thực hiện nhiều hoạt động hỗ trợ triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ phi tài chính như cung cấp thông tin, tư vấn, đào tạo, tổ chức hội nghị, hội thảo, hỗ trợ khách hàng DNVVN tham gia các sự kiện v.v miễn phí cho DNVVN Ngân hàng đã khai thác nhiều nguồn vốn ưu đãi của các tổ chức trong và ngoài nước như SMEDF, JIBIC, KFW,… phối kết hợp với nguồn vốn thương mại của NHTMCPCT thiết kế nhiều sản phẩm tín dụng giành riêng cho DNVVN NHTMCPCT

là NHTM duy nhất được lựa chọn quản lý 2 quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho DNVVN

và là ngân hàng có website riêng phục vụ đối tượng khách hàng này (http://www.NHTMCPCT.vn/sme) Với nỗ lực phát triển khách hàng DNVVN, NHTMCPCT được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Cục Phát triển DNVVN - Bộ KHĐT, các đối tác, các tổ chức trong và ngoài nước như Bộ Tài chính, NHNN, Hiệp hội DNVVN,… ghi nhận là tổ chức luôn đi tiên phong trong phục vụ các DNVVN NHTMCPCT hiện là đại diện Việt Nam duy nhất ký kết thoả thuận với các tổ chức tài chính APEC vì sự phát triển của DNVVN, đồng thời tham gia Ban chấp hành và ký Thoả thuận hợp tác với các Hiệp hội DNVVN Việt Nam, Hiệp hội các DNVVN Công thương để tạo tiền đề phát triển nhóm khách hàng này

Trong những năm vừa qua, NHTMCPCT đặc biệt quan tâm mở rộng thị phần tín dụng bán lẻ, triển khai mới thêm 3 chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp vừa và

Trang 18

nhỏ: JIBIC giai đoạn 2, cho vay và bảo lãnh các dự án tiết kiệm hiệu quả năng lượng, bảo vệ trẻ em, nguồn vốn nước ngoài được sử dụng rất hiệu quả (tổng số dư tín dụng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng nguồn vốn nước ngoài là 1.000 tỷ đồng) Bên cạnh việc cung cấp tín dụng, các sản phẩm này còn kèm theo các dịch vụ phi tài chính như đào tạo doanh nghiệp, tư vấn lập dự án, cung cấp thông tin dịch vụ kiểm toán năng lượng Đây chính là cơ sở để thu hút khách hàng cũng như tạo sự gắn bó của các khách hàng tốt.

Đối với khách hàng cá nhân, trong năm 2008 NHTMCPCT đã phát triển đa dạng các sản phẩm như cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán trên sàn giao dịch chính thức, cho vay mua nhà dự án, cho vay mua ô tô tiêu dùng, hợp đồng đại lý với Công

ty Bảo hiểm Quốc tế Mỹ AIA cung cấp sản phẩm kết hợp tín dụng - bảo hiểm Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, đây chưa phải là lĩnh vực kinh doanh trọng tâm trong chiến lược tín dụng của NHTMCPCT

Chất lượng tín dụng tiếp tục được cải thiện và đổi mới cơ cấu theo hướng đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn, hiệu quả hơn:

+ Tỷ lệ nợ xấu (nợ nhóm 3, 4,5):

1,08% < mục tiêu dưới 3%;

+ Tỷ lệ cho vay có tài sản đảm bảo:

72,67% < mục tiêu 75%;

+ Tỷ lệ cho vay trung dài hạn: 38% < giới hạn 40%

Với quyết tâm chuyển biến mạnh mẽ chất lượng tín dụng, ngay từ đầu năm NHTMCPCT đã chỉ đạo và thực hiện mọi biện pháp kiên quyết giảm nợ nhóm 2, thu hồi nợ xấu NHTMCPCT thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phân tích nợ theo định lượng và định tính, tiến dần đến việc phân loại nợ theo chuẩn mực quốc tế Thực hiện nhiều biện pháp

xử lý nợ hữu hiệu, đặc biệt giải quyết có kết quả những khoản nợ tồn đọng nhiều năm, nhờ đó NHTMCPCT đã lành mạnh được tài chính, tạo nguồn lực để chủ động kinh doanh hiệu quả hơn

Trang 19

2.2.3 Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong những năm vừa qua đã có những chuyển biến tích cực cả về chiều sâu và chiều rộng Tốc độ tăng trưởng trung bình từ 10 - 20%/năm, doanh số mua bán ngoại tệ của các chi nhánh trong toàn hệ thống NHTMCPCT với khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân tăng trưởng nhanh qua các năm; tổng doanh số mua ngoại tệ từ khách hàng năm 2008 tương đương 3,8 tỷ USD, doanh số bán cho khách hàng năm 2008 tương đương 4,2

tỷ USD Số liệu được minh họa các các biểu sau:

Biểu số 2.5: doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng của toàn hệ thống

Đơn vị: triệu USD

(Nguồn: báo cáo tài chính NHTMCPCT 2003 - 2008)

Biểu số 2.6: hội sở chính mua bán ngoại tệ với TCTD khác

Đơn vị: 1000 USD

(Nguồn: báo cáo tài chính 2003 - 2008 NHTMCPCT)

Với thị trường trọng điểm là thị trường nội địa, các khách hàng chính của NHTMCPCT chủ yếu là các khách hàng có quan hệ kinh doanh xuất - nhập khẩu trong các lĩnh vực then chốt như Công nghiệp và Thương mại; Giao thông vận tải; Dầu và khí đốt; Điện; Bưu chính viễn thông; nông lâm, thủy hải sản NHTMCPCT đã đáp ứng đầy

đủ nhu cầu mua ngoại tệ của khách hàng, trong đó có Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam, Tổng Công ty lương thực Miền Bắc, Tổng Công ty Thép Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Minh Phú Bên cạnh đó, NHTMCPCT còn mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên: (i) thị trường liên ngân hàng với NHNN và các tổ chức tín dụng khác; và (ii) trên thị trường quốc tế

Nhằm đảm bảo giảm thiểu rủi ro một cách hợp lý, NHTMCPCT đã đưa ra các hạn mức khác nhau, được áp dụng tại Trụ sở chính, bao gồm:

 Hạn mức dành cho đối tác

 Hạn mức để chặn thua lỗ

Trang 20

 Hạn mức dành cho mỗi nhân viên giao dịch tự doanh trên thị trường ngoại hối quốc

tế là 1.000.000 USD hoặc các ngoại tệ khác tương đương

Các hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTMCPCT do Phòng Kinh doanh Ngoại

tệ thực hiện, và được hỗ trợ bởi các phòng ban nghiệp vụ khác Tất cả các chi nhánh tuy không có phòng kinh doanh ngoại tệ riêng, nhưng đều được phép thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ với các tổ chức và cá nhân

Hiện nay, NHNN đã cấp phép cho các định chế tài chính cung cấp 4 hình thức kinh doanh ngoại hối, bao gồm: giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi và giao dịch quyền chọn Tuy nhiên, NHTMCPCT mới chỉ cung cấp 3 hình thức kinh doanh ngoại hối (ngoại trừ hình thức quyền chọn) NHTMCPCT đã có hoạt động

tự doanh, tuy nhiên doanh số giao dịch chưa nhiều, trung bình khoảng 100 triệu USD/1 tháng

2.2.4 Dịch vụ thanh toán

Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế đã giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới Hiệp định thương mại song phương Việt Mỹ đã có hiệu lực hơn 5 năm cùng với việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ

150 của WTO, đồng thời bình thường hóa quan hệ thương mại vĩnh viễn giữa Việt Nam và Mỹ

đã làm tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên thị trường thế giới ngày càng được nâng cao Đây là những điểm mốc xuất phát lớn cho các dịch vụ thanh toán của hệ thống NHTM Việt Nam nói chung

và của NHTMCPCT nói riêng phát triển và mở rộng hơn bao giờ hết

Dịch vụ tài trợ thương mại và thanh toán quốc tế

NHTMCPCT thực hiện cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế thông qua các phương thức chủ yếu như: ứng tiền trước, chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ; các phương tiện thanh toán như chuyển khoản, uỷ nhiệm chi, hối phiếu, séc, ghi bằng ngoại tệ Việc chi trả trong hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua mạng viễn thông quốc tế, bưu điện hoặc các uỷ nhiệm thu, chi lẫn nhau giữa NHTMCPCT và các NHTM khác

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, NHTMCPCT vẫn giữ vững và duy trì vị trí thứ hai trong các ngân hàng thương mại Việt Nam về doanh số tài trợ thương mại, chiếm tỉ trọng 7,9% doanh số xuất nhập khẩu toàn quốc, đạt hơn 8,1 tỷ USD, tăng khoảng 35% so với năm 2007 Doanh số phát hành bảo lãnh ra nước ngoài tăng 149%

Trang 21

biên mậu với các ngân hàng Trung Quốc gia tăng mạnh, tăng 40% so với năm 2007, tương đương 700 triệu RMB NHTMCPCT là ngân hàng Việt Nam đầu tiên ứng dụng internet banking vào thanh toán biên mậu

Tháng 04/2008, NHTMCPCT thành lập SGD III, đây là một trung tâm xử lý tập trung các giao dịch thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại cho cả hệ thống NHTMCPCT theo mô hình một ngân hàng hiện đại Ngoài ra, SGD III còn có nhiệm vụ khai thác các nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn từ các tổ chức tài chính để hỗ trợ cho hoạt động tài trợ thương mai; cung cấp dịch vụ bao thanh toán; dịch vụ tư vấn giải pháp TTQT và TTTM cho khách hàng và đặc biệt không chỉ xử lý cho các giao dịch của hệ thống NHTMCPCT, SGD III còn cung cấp dịch vụ insourcing cho các ngân hàng khác (tức là xử lý giao dịch thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại cho các ngân hàng khác)

Biểu số 2.7: tình hình thanh toán xuất nhập khẩu từ 2003 - 2008

(Nguồn: Báo cáo tài chính NHTMCPCT 2003 - 2008)

Cùng với tăng trưởng doanh số thanh toán, các sản phẩm thanh toán XNK của NHTMCPCT cũng ngày càng đa dạng từ chuyển tiền cho tới nhờ thu, thư tín dụng đến bảo lãnh, tái bảo lãnh và một số sản phẩm khác Uy tín của NHTMCPCT trong lĩnh vực thanh toán XNK trên trường quốc tế cũng ngày càng tăng cao, các NHTM nước ngoài chấp nhận thư tín dụng trị giá hàng trăm triệu USD do NHTMCPCT phát hành Chất lượng dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu đang được NHTMCPCT cải thiện và nâng cao, tăng cường thanh toán trực tiếp không qua trung gian

Dịch vụ thanh toán điện tử VND

Dịch vụ thanh toán điện tử VND, dịch vụ chuyển tiền VND trong lãnh thổ Việt Nam, dịch vụ này là một thế mạnh của NHTMCPCT, được khách hàng đánh giá cao và ngày càng lựa chọn sử dụng rộng khắp

NHTMCPCT đã áp dụng nhiều cải tiến và nâng cấp hệ thống chuyển tiền được thực hiện trong năm 2005, cung cấp các tiện ích hiện đại cho khách hàng Từ tháng 11/2005, tại Trụ sở chính NHTMCPCT đã chính thức sử dụng chương trình thanh toán song phương hai chiều với Kho bạc Nhà nước Việt Nam

Ngày đăng: 06/11/2013, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: phân loại lao động tại thời điểm 31/12/2008 - THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CỦA NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Bảng 2.1 phân loại lao động tại thời điểm 31/12/2008 (Trang 6)
Bảng 2.2: mạng lưới hoạt động của NHTMCPCT - THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CỦA NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Bảng 2.2 mạng lưới hoạt động của NHTMCPCT (Trang 6)
Bảng 2.4: nguồn vốn huy động của NHTMCPCT - THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CỦA NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Bảng 2.4 nguồn vốn huy động của NHTMCPCT (Trang 12)
Bảng 2.5: cơ cấu tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn - THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CỦA NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Bảng 2.5 cơ cấu tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn (Trang 13)
Bảng 2.6: cơ cấu cho vay tại NHTMCPCT - THỰC TRẠNG CÁC DỊCH VỤ CỦA NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Bảng 2.6 cơ cấu cho vay tại NHTMCPCT (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w