Phạm vi nghiên cứu: - Khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động công chứng, chứng thực thuộc thẩm quyền của Văn phòng công chứng theo Luật Công chứng 2014 và Nghị định 23/2015
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi bước vào môi trường đại học đã được 4 năm, từ những ngày đầu bỡ ngỡ bước vào trường có một chút e sợ, ngại ngùng với bao khó khăn phía trước Nhưng nhận được sự chỉ dạy tận tình của các Thầy Cô, tôi đã từng bước vượt qua khó khăn
và trưởng thành hơn Thầy cô luôn luôn cố gắng truyền đạt những kiến thức quý báu của mình cho các thế hệ sinh viên Thầy Cô như những ngọn nến thắp lên những ước mơ và niềm tin vào tương lai tươi sáng Thầy cô không những là người trang bị những kiến thức, kỹ năng mà còn là chỗ dựa tinh thần, là tấm gương về đạo đức, nhân cách cho mỗi sinh viên
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô Khoa Luật – Trường Đại học Công nghệ Tp.HCM đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập tại giảng đường đại học Tôi tin rằng bằng vốn kiến thúc quý báu ấy sẽ là hành trang cho tôi vững bước và tự tin hơn trên quãng đường sắp tới
Đặc biệt tôi xin gửi đến Thầy Vũ Anh Sao – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này lời cảm ơn sâu sắc nhất
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã thường xuyên động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp với hiểu biết còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót Mong Thầy Cô cùng các bạn đóng góp ý kiến Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Huỳnh Thị Kim Ngân – MSSV: 1411270242
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong khoá luận có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong khoá luận do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Nội dung trong Khóa luận này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình nghiên cứu và thực tế, không sao chép từ các nguồn tài liệu khóa luận khác
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của Nhà trường
và Pháp luật
TP.HCM, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
(Ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Huỳnh Thị Kim Ngân
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu khóa luận 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC 7
1.1 Khái quát về hoạt động công chứng 7
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động công chứng 7
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm về công chứng 13
1.2 Khái quát về hoạt động chứng thực 18
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động chứng thực 18
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động chứng thực 27
1.3 Phân biệt công chứng, chứng thực 32
1.4 Phân biệt Phòng công chứng và Văn phòng công chứng 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC QUA THỰC TIỄN TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN 37
2.1 Thực trạng pháp luật về công chứng, chứng thực 37
2.1.1 Quy định pháp luật về công chứng, chứng thực 37
2.1.2 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hoạt động công chứng, chứng thực 52
Trang 42.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng, chứng thực 59
2.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật 59 2.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng, chứng thực tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An 60
2.3 Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng, chứng thực 62 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64 KẾT LUẬN 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam gia nhập WTO mở ra nhiều cơ hội cho đất nước song cũng không
ít thách thức Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang vươn mình đứng dậy để sánh vai cùng các cường Quốc năm Châu Đổi mới toàn diện luôn là chủ trương của Đảng Nổi bật đó là việc ban hành pháp luật và các văn bản phù hợp với tình hình hiện nay, trong đó có lĩnh vực công chứng, chứng thực Công chứng, chứng thực là hoạt động mang tính chất pháp lý, được thực hiện thường xuyên và phổ biến trong đời sống của người dân Có thể nói, mặc dù không còn quá xa lạ với các thủ tục công chứng hay chứng thực nhằm đáp ứng đòi hỏi về mặt pháp lý cho các giao dịch hay giấy tờ, chữ ký Hoạt động công chứng, chứng thực đã xuất hiện trên thế giới từ khi nền sản xuất hàng hoá Tư bản chủ nghĩa bắt đầu hình thành (Thế kỷ X-XI hoặc XIV- XV) Ngày nay xã hội càng phát triển thì hoạt động công chứng, chứng thực càng cho thấy vai trò của nó trong đời sống xã hội Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Từ khi Nghị định 45/HĐBT năm 1991, Nghị định 31/CP năm
1996, Nghị định 75/2000/CP về công chứng, chứng thực và bây giờ là Luật công chứng năm 2014 và Nghị định 23/2015/NĐ- CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ kí và chứng thực hợp đồng giao dịch được ban hành là bước ngoặc trong quá trình hoàn thiện hệ thống công chứng, chứng thực ở Việt Nam, là điểm nhấn trong công chứng, chứng thực, có tác động mạnh mẽ đến đời sống nhân dân Huyện Châu Thành, tỉnh Long An có tổng diện tích tự nhiên 15.534 ha, dân số 98.358 người cách TP Tân An 12 km Trung tâm huyện đặt tại thị trấn Tầm Vu, là nơi tập trung các cơ quan Đảng, đoàn thể, trụ sở hành chính quản lý Nhà nước, các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa cấp huyện và là trung tâm kinh tế đô thị của huyện Theo phân vùng kinh tế, Châu Thành là một trong bảy huyện phía Nam của tỉnh Long An (gồm: Tp Tân An, Châu Thành, Tân Trụ, Bến Lức, Thủ Thừa, Cần Đước, Cần Giuộc) Theo phân vùng của Tỉnh thì Châu Thành cùng với Tân Trụ thuộc vùng hạ của tỉnh Đây là vùng đông dân, gần
Trang 6các khu đô thị lớn như Tân An, thành phố Hồ Chí Minh Châu Thành nằm giáp sông Vàm Cỏ, đất đai chủ yếu là đất phù sa đã được khai thác từ lâu đời, là vùng sản xuất nông nghiệp truyền thống, có tiềm năng kết hợp với dịch vụ, du lịch sinh thái Diện tích sản xuất nông nghiệp 10.725 ha, trong đó diện tích trồng thanh long trên 5.000 ha, diện tích trồng lúa trên 4.000 ha, diện tích trồng hoa màu khoảng 450
ha còn lại là diện tích nuôi trồng thủy sản Ngoài cây thanh long ra huyện còn phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm đây cũng là kinh tế chủ lực của huyện Giá trị ngành chăn nuôi chiếm từ 35% - 40% giá trị ngành sản xuất nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp hàng năm từ 10% - 12% Về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ: toàn huyện có trên 90 doanh nghiệp mức tăng trưởng hằng năm từ 12% - 15% chiếm 25% - 28% tổng giá trị sản phẩm Hiện nay toàn huyện có 5 hợp tác xã, trong đó có 4 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và 1 hợp tác xã vận tải Đã góp phần tăng trưởng kinh tế chung của huyện Từ nhiều năm nay, nhờ cây thanh long mà thu nhập của người dân huyện Châu Thành, tỉnh Long
An ngày một khá hơn, số lượng các doanh nghiệp ngày một tăng Do vậy, nhu cầu công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch là rất lớn Nhằm phân biệt và nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như những thay đổi tích cực của Nhà nước ta đối với việc cố gắng xây dựng và hoàn thiện hoạt động công chứng, chứng thực đang diễn ra từng ngày tại địa phương cùng với những thành quả đã đạt được cũng như những tồn tại cần khắc phục, khóa luận này xin được đề cập tới vấn đề: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng, chứng thực qua thực tiễn tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An.”
Trang 7- Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, của tác giả Lê Thị Phương
Hoa
- Hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực ở Việt Nam hiện nay - lý
luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ của tác giả Tuấn Đạo Thanh
- Nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay,
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Chí Thiện
- Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quang Minh năm 2009
- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Quản lý Nhà nước về tổ chức và hoạt động của công chứng tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” của tác
giảNguyễn Văn Cường, năm 2009
- Luận văn thạc sĩ: “Xây dựng nội dung cơ bản quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng, chứng thực từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” của tác giả Nguyễn
Minh Hợi, năm 2009
- Kiến nghị hoàn thiện Luật Công chứng, Bài viết của tác giả Lê Quốc Hùng
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 1+2 (210+211), tháng 1 năm 2012
- Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng, Bài viết của tác giả Phan Hải Hồ đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14
(222), tháng 7 năm 2012…
- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Đỗ Thị Loan, năm 2015
Các đề tài, công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những vấn đề mang tính tổng thể hoặc những khía cạnh, phạm vi cụ thể khác nhau của hoạt động công chứng, chứng thực Nhưng đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu về thực trạng hoạt động công chứng tại Văn phòng công chứng trong phạm vi, một địa phương cụ thể: Huyện Châu Thành, tỉnh Long An Có thể khẳng định, đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng, chứng thực qua thực tiễn tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An” là đề tài đầu tiên nghiên cứu về khía cạnh này
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận chủ yếu nghiên cứu các vấn đề:
Khóa luận nghiên cứu các quy phạm pháp luật Việt Nam về hoạt động công chứng, chứng thực Bên cạnh việc nghiên cứu quy phạm pháp luật, Khóa luận này còn phân tích thực trạng hoạt động công chứng, chứng thực tại Văn phòng công chứng trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Long An (Văn phòng công chứng Trần Ngọc Xuân Thảo) Từ đó, nêu ra những ưu điểm, hạn chế trong hoạt động công chứng, chứng thực và nêu lên những giải pháp, kiến nghị mang tính chất tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng, chứng thực trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An nói riêng và cả nước nói chung
Phạm vi nghiên cứu:
- Khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động công chứng, chứng thực thuộc thẩm quyền của Văn phòng công chứng theo Luật Công chứng 2014 và Nghị định 23/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch
- Về không gian: Khóa luận được nghiên cứu trên địa bàn huyện Châu Thành
tỉnh Long An, cụ thể số liệu được lấy tại Văn phòng công chứng Trần Ngọc Xuân Thảo
- Về thời gian: Các thông tin số liệu phản ánh trong Khóa luận tập trung chủ
yếu trong khoản thời gian từ năm 2016 đến tháng 6/2018
4 Phương pháp nghiên cứu
Những tài liệu phục vụ cho việc viết đề tài nằm rải rác ở nhiều nguồn tài liệu khác nhau, đó là trong sách vở, trong các tài liệu, giấy tờ, cũng như trong thực tiễn công việc Nó đòi hỏi phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Các phương pháp chủ yếu được sử dụng, đó là: phương pháp điều tra, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh
Trang 9Phương pháp tổng hợp thống kê:
Phương pháp này dựa trên những số liệu từ các báo cáo, tờ trình, các đề tài nghiên cứu khoa học, sau đó tổng hợp những số liệu liên quan đến chuyên đề, từ đó phân loại các số liệu cho mỗi mục nhỏ để làm dẫn chứng Phương pháp này giúp người nghiên cứu hiểu được khái quát hoạt động công chứng, chứng thực trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Long An Đây là một phương pháp quan trọng không thể thiếu trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu đề tài này
Phương pháp so sánh:
Từ số liệu đã được thống kê, tổng hợp đem so sánh qua từng thời kỳ, từng năm Để thấy được nhu cầu thực tế cũng như tốc độ gia tăng của nhu cầu công chứng, chứng thực Ngoài ra, chúng ta so sánh quy định các văn bản pháp luật qua từng thời kỳ để tìm ra điểm mới, điểm tiến bộ của pháp luật đồng thời thấy được tồn tại chưa thể khắc phục Trên cơ sở đó đưa ra đánh giá khách quan chính xác về thực tiễn cũng như những ý kiến đề xuất hợp lý nhằm khắc phục những hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân
Phương pháp phân tích:
Đi sâu vào phân tích hoạt động công chứng, chứng thực để thấy những tác động tích cực, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan
Phương pháp điều tra khảo sát:
Qua thực tế tìm hiểu hoạt động công chứng, chứng thực tại huyện Châu Thành tỉnh Long An, lấy ý kiến của người dân đến công chứng, chứng thực cũng như ý kiến của cán bộ làm công tác công chứng, chứng thực tại đây để đánh giá khách quan về hoạt động công chứng, chứng thực cũng như hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân
Trang 10Phương pháp khác:
Lấy ý kiến của các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao cũng như kinh nghiệm trực tiếp làm việc trong lĩnh vựccông chứng, chứng thực để giúp người nghiên cứu hiểu sâu hơn về tác động của công chứng, chứng thực đến đời sống nhân dân
Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của khóa luận
gồm 2 chương:
- Chương 1: Khái quát về hoạt động công chứng, chứng thực
- Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng,
chứng thực qua thực tiễn tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An
Trang 11CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC
1.1 Khái quát về hoạt động công chứng
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động công chứng
Hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Hoạt động công chứng của nước ta ở giai đoạn này đều áp dụng theo mô hình của Pháp chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Tiêu biểu là Sắc lệnh ngày 24 tháng
8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies) Theo đó, người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiểm và giữ chức vụ suốt đời Quy chế công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm (cụ thể do tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời) Công chứng viên hoạt động với tư cách là người thi hành công vụ, hoạt động mang tính chất của người hành nghề tự do Khi đó Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng ở Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài gòn, ngoài ra
ở các thành phố Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng thì việc công chứng do Chánh lục
sự Tòa án sơ thẩm kiêm nhiệm
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 1 tháng 10 năm 1945 Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Vũ Trọng Khánh
đã ký quyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như: bãi chức công chứng viên người Pháp tên Deroche tại văn phòng công chứng, bổ nhiệm một công chứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ đang là luật sư tập sự tại Tòa thượng thẩm Hà Nội thay thế cho công chứng viên người Pháp tại Hà Nội, những quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy định trái với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa Đặc biệt người Việt Nam quốc tịch Pháp được Nhà nước “thu dung” Thời kì đó công chứng viên phải chịu trách nhiệm
và chịu sự kiểm tra, giám sát của các Ủy ban hành chính các cấp
Trang 12Để đáp ứng các nhu cầu giao dịch dân sự của nhân dân, ngày 15 tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 59/SL quy định về thể lệ thị thực các giấy tờ với nội dung trình tự thủ tục thị thực giấy tờ cho công dân trong giao lưu dân sự như mua bán, trao đổi, chứng nhận địa chỉ cụ thể của một người tại địa phương Xét về nội dung đây chỉ là một thủ tục hành chính càng về sau việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL càng mang tính hình thức, chủ yếu xác nhận ngày tháng, năm, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự
Ngày 29/2/1952 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 85 quy định về thể lệ trước bạ về các việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất Do hoàn cảnh lịch sử bấy giờ nên Sắc lệnh 85 chỉ áp dụng đối với những vùng tự do hoặc những vùng thuộc Uỷ ban kháng chiến Cũng theo Sắc lệnh này, Uỷ ban kháng chiến cấp xã hoặc xã được nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: nhận thực chữ ký của các bên mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất, và nhận thực người đứng ra bán, cho, đổi là chủ của những nhà cửa, ruộng đất, đem bán trao đổi Có thể thấy rằng hoạt động công chứng trong giai đoạn này không được phát triển do rất nhiều nguyên nhân, cụ thể:
Trước tiên là do hoàn cảnh đất nước đang trong giai đoạn chiến tranh khó khăn, thiếu thốn nhiều mặt Đặc biệt là nền kinh tế nước nhà giai đoạn này rất kém phát triển
Thứ hai là do Nhà nước ta lúc này không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh và tập thể, trong khi đó hoạt động công chứng lại chủ yếu chứng thực các quan hệ sở hữu tư nhân; mọi giao lưu kinh tế, dân
sự chủ yếu được xác lập theo quan hệ hành chính, thương mại gần như không phát triển Do vậy, nên các tổ chức công chứng không được thành lập trong giai đoạn này
Giai đoạn từ năm 1954 - 1981 có rất ít quy phạm điều chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực Đến năm 1981 có Nghị định 143 của Hội Đồng Bộ trưởng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp Trên cơ sở của Nghị định
143, năm 1987 có thông tư số 574/QLTPK quy định về công tác công chứng nhà nước được ban hành với cùng với nó là sự ra đời của phòng công chứng TP Hồ Chí
Trang 13Minh, phòng công chứng Hà Nội và một số phòng công chứng ở các địa bàn khác (nếu có nhu cầu), công tác công chứng, chứng thực của UBND cũng được kiện toàn Sau đó, để tạo điều kiện hơn nữa cho các địa phương tiếp cận với hoạt động công chứng, Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng, tại thời điểm này chủ thể duy nhất thực hiện công chứng là phòng công chứng Căn cứ vào những văn bản này thì các tỉnh thành trên cả nước đã lập ra các phòng công chứng dần dần hình thành mạng lưới các phòng công chứng trên cả nước
Tại miền Nam Việt Nam sau hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, công chứng dưới thời chính quyền Ngụy – Sài gòn được điều chỉnh bởi Dụ 43 ngày 29/11/1954 quy định về ngạch Chưởng khế (ngạch chưởng khế là người Việt Nam) do Bảo Đại ký với tư cách là Quốc trưởng Mục đích là thiết lập trong mỗi quản hạt của mỗi Tòa
sơ thẩm thuộc Bộ tư pháp một phòng công chứng, nhưng trên thực tế thì chỉ thiết lập được một phòng công chứng hoạt động tại Sài gòn và tồn tại đến năm 1975
Kể từ sau đại hội Đảng VI năm 1986 nước ta đã có những chuyển biến to lớn sang thời kỳ của mở cửa và hội nhập Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân thời kỳ này và theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước Theo quy định của Nghị định này thì: “Phòng công chứng Nhà nước là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở ngân hàng,
có con dấu mang hình quốc huy.”
Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước vào ngày 18/5/1996 thay thế cho nghị định số 45/HĐBT, theo đó phòng công chứng là thuộc Sở tư pháp, quy định này là nhằm chuyên môn hóa hoạt động công chứng và giảm tải cho Ủy ban nhân dân
Sau một thời gian, do tình hình kinh tế nước ta ngày càng phát triển kéo theo
sự gia tăng của các quan hệ kinh tế, thương mại khiến cho các quy định của Nghị định 31/CP đã trở nên lạc hậu Ngày 08/02/2000 Chính phủ ban hành Nghị định 75/2000/NĐ –CP về công chứng, chứng thực Nghị định này quy định về phạm vi
Trang 14của công chứng, chứng thực; tổ chức phòng công chứng, chứng thực; nguyên tắc hoạt động, trình tự thủ tục của việc công chứng, chứng thực; công tác chứng thực của Ủy ban nhân nhân cấp huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh và UBND cấp xã, phường, thị trấn Bằng hoạt động công chứng, chứng thực của mình, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực thi công tác công chứng, chứng thực đã góp phần cho việc bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan
hệ xã hội khác, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Cũng từ Nghị định này thì thuật ngữ “Phòng công chứng Nhà nước” đã được thay thế bằng “Phòng công chứng” thể hiện quan điểm xã hội hóa hoạt động công chứng của Nhà nước ta
Đây là Nghị Định có nhiều điểm mới so với các văn bản trước đây như khái niệm công chứng, chứng thực được phân biệt rạch ròi; phạm vi công chứng, chứng thực được quy định rộng hơn; trình tự thủ tục được quy định rõ ràng, cụ thể Về tính chất hành vi công chứng, chứng thực là một hoạt động bổ trợ tư pháp, là một loại dịch vụ công nhằm xác định tính chân thực và đúng pháp luật của bản sao của các loại hồ sơ, giấy tờ mang tính pháp lý và các giao dịch dân sự Theo quy định tại nghị định số 75/2000/NĐ-CP các cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực gồm có: các phòng công chứng nhà nước; UBND cấp huyện; UBND cấp xã; Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài Bên cạnh đó, cơ quan tổ chức cấp bản gốc các loại hồ sơ, giấy tờ mang tính pháp lý cũng có quyền chứng thực bản sao Mặc dù, nhiều cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực như trên, nhưng trong thực tế, đa số người dân có nhu cầu công chứng, chứng thực thường đổ dồn về các phòng công chứng Nhà nước gây ra tình trạng quá tải
Hậu quả tất yếu là một số nơi xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, nạn cò mồi và hiện tượng gian lận Người dân không tới UBND để chứng thực bản sao các loại hồ
sơ, giấy tờ không phải vì “sính” phòng công chứng như có người nhận xét, mà căn nguyên sâu xa ở chỗ chứng thực ở các cơ quan đó quá mất thời gian
Do những nhu cầu về công chứng của nhân dân ngày càng cao khiến cho mối quan hệ trong hoạt động công chứng ngày càng phức tạp nên Luật công chứng đã được Quốc hội thông qua vào ngày 29/11/2006, chính thức có hiệu lực ngày
Trang 151/7/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký cũng được triển khai, từ đây hai hành vi công chứng, chứng thực được phân biệt rõ ràng, cụ thể.1
Luật Công chứng 2006 là bộ luật đầu tiên quy định về hoạt động công chứng
ở nước ta Điểm mới của Luật công chứng 2006 so với các nghị định trước đây là:
Thứ nhất, Luật chỉ quy định các vấn đề về công chứng, không quy định các
vấn đề liên quan đến chứng thực Việc tách biệt công chứng và chứng thực như vậy vừa đáp ứng được yêu cầu về cải cách hành chính, vừa tạo điều kiện để chuyển tổ chức công chứng sang chế độ dịch vụ công
Thứ hai, có các quy định về các tổ chức hành nghề công chứng và chế định
công chứng viên Theo đó, công chứng viên không nhất thiết phải là công chức Nhà nước Trên thực tế, khi triển khai Luật Công chứng thì sẽ tồn tại hai loại công chứng viên: công chứng viên làm việc trong các phòng công chứng nhà nước và công chứng viên làm việc tại văn phòng công chứng do các công chứng viên tự thành lập theo Luật Doanh nghiệp tổ chức dưới hình thức công ty hợp danh Mô hình văn phòng công chứng là một hình thức mới của tổ chức hành nghề công chứng Những quy định về tổ chức hành nghề công chứng thể hiện rõ nét tinh thần đổi mới các tổ chức hành nghề công chứng theo hướng xã hội hoá và dịch vụ Về lâu dài, văn phòng công chứng sẽ là hình thức phổ biến, nhất là khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển
Thứ ba, Kể từ thời điểm có hiệu lực của Luật Công chứng 2006, việc chứng
thực của các tổ chức, cá nhân cũng có sự thay đổi căn bản cụ thể là: các loại hợp đồng, giao dịch kinh tế, dân sự, thương mại sẽ được công chứng tại phòng công chứng; các bản sao từ bản chính các loại giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và chứng thực chữ ký của người dịch trong các bản dịch sẽ được chứng thực tại các Phòng Tư pháp cấp huyện Các loại giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt như: giấy khai sinh, học bạ, văn bằng sẽ được chứng thực tại UBND cấp xã, phường
1 https://luatduonggia.vn/lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-hoat-dong-cong-chung-chung-thuc/
Trang 16Với việc tách bạch phạm vi giữa công chứng và chứng thực để từ đó xác định những nguyên tắc tổ chức và hoạt động phù hợp đối với mỗi loại hoạt động này là phù hợp với chủ trương cải cách hành chính và cải cách tư pháp Do đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18-5-2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi tắt là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP) là cần thiết, kịp thời đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân dân Nghị định này có hiệu lực thi hành sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo (đăng Công báo ngày 15-6-2007) và thay thế các quy định về chứng thực bản sao, chữ ký trong Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08-12-2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực
Tuy nhiên, sau khi triển khai luật công chứng 2006 cho thấy luật công chứng
2006 tồn tại nhiều bất cập, hạn chế Với mục đích nhằm khắc phục những hạn chế, tạo cơ hội pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội hóa, nâng cao chất lượng và tính bề vững của hoạt động công chứng, từng bước phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp với thông lệ Quốc tế Tại
kỳ hợp thứ 7 Quốc Hội khóa XIII đã thông qua Luật Công chứng số 53/2014/QH13 Luật Công chứng 2014 thay thế Luật Công chứng 2006 có nhiều quy định mới tác động đến tổ chức và hoạt động công chứng, chế độ hành nghề của đội ngũ công chứng viên, cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan Tinh thần của luật là tiếp tục phát triển mạnh mẽ xã hội hóa hoạt động công chứng, nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ công chứng viên để ngang tầm với nhiều vụ trong thời kỳ mới và hội nhập Quốc tế; tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên; bồi dưỡng nghề công chứng đối với đối tượng miễn đào tạo nghề công chứng, miễn tập sự, kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; chuyển nhượng, sáp nhập, hợp nhất văn phòng công chứng, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên.2
2 Công chứng Việt Nam – chặng đường phát triển và những cơ hội thách thức – ThS Đỗ Hoàng Yến.
Trang 171.1.2 Khái niệm và đặc điểm về công chứng
1.1.2.1 Khái niệm công chứng
Thuật ngữ “công chứng” có nguồn gốc xuất phát từ tiếng Latinh là
“Notarius”, theo tiếng Anh gọi là “Notary”, tiếng Pháp là “Notariat” và đều có nghĩa dịch ra là viết, ghi chép, lập văn bản Ở nước ta thuật ngữ “công chứng” được chính thức đề cập, sử dụng ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, trong Nghị định ngày 1-10-1945 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc bổ nhiệm Công chứng viên là người Việt Nam tại Hà Nội Sau đó, thuật ngữ “công chứng” được sử dụng trong Nghị định 143 ngày 21-11-1981 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Bộ Tư pháp
Trong ngôn ngữ Việt Nam, “công” có nghĩa là chung (public), trái nghĩa với
tư có nghĩa là riêng (private), còn “chứng” hay “làm chứng” có nghĩa là xác nhận sự thực Cho nên, công chứng được hiểu là việc sử dụng quyền chung của xã hội mà chứng nhận tính xác thực một việc gì đó
Trong Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 45-HĐBT quy định: “Công
chứng Nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các
cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Hợp đồng và các giấy tờ đã được công chứng có giá trị như chứng cứ”.3
Nghị định 31/CP khái niệm công chứng lại được nhắc lại: “Công chứng Nhà
nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa…” 4 Nhưng có khác là đã quy định thêm trường hợp chứng thực của UBND “Hợp đồng
và các giấy tờ đã được công chứng Nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân
Trang 18cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị như chứng cứ, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu”
Nghị định 75/2000/NĐ-CP ra đời thay thế cho Nghị định 45 và 31 có quy
định khái niệm công chứng, chứng thực “Công chứng là việc Phòng công chứng
chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định” 5
“Chứng thực là việc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy
tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này” 6
Theo quy định tại Nghị định 75, khi nói đến hoạt động công chứng thì đã dùng hai từ khác nhau để chỉ việc thực hiện công chứng: Việc chứng nhận tính xác thực của hợp đồng, giao dịch do Phòng công chứng thực hiện thì gọi là công chứng, còn việc xác nhận sao y văn bản, giấy tờ… đó Uỷ ban nhân dân cấp huyện trở xuống thực hiện thì gọi là chứng thực Về mặt ngôn ngữ có sự phân biệt nhưng xét
về nội dung và tính chất công việc thì chúng ta thấy rằng hai hoạt động trên thực chất là một – đều là việc sử dụng quyền lực công để chứng nhận một sự việc hoặc giao dịch đó là hợp pháp, có thực, đã xảy ra trên thực tế nhằm đảm bảo tính pháp lý cao cho các bên tham gia giao dịch cũng như độ tin cậy, chính xác của các văn bản, giấy tờ của người dân trong quan hệ xã hội và giao dịch dân sự hàng ngày
Theo Luật công chứng 2006 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên
chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch)” 7
Như vậy, theo quy định của Luật công chứng 2006, hoạt động công chứng không chỉ do cán bộ, công chức Nhà nước thực hiện (công chứng viên hành nghề tại các Phòng Công chứng), sử dụng quyền lực nhà nước mà còn do các công chứng viên hành nghề tự do (tại các Văn phòng công chứng) thực hiện nên hoạt động công
5 Khoản 1 Điều 2 Nghị định của Chính phủ số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 về Công chứng chứng thực
6
Khoản 2 Điều 2 Nghị định của Chính phủ số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 về Công chứng chứng thực
7 Điều 2 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 ngày 29/11/2006
Trang 19chứng được hiểu là chứng nhận một cách minh bạch và công khai các yêu cầu của đương sự
So với các văn bản trước đó, Luật công chứng 2006 đã tiếp tục kế thừa Nghị định 75/2000/NĐ-CP về công chứng khi cho phép công chứng theo yêu cầu của đương sự Các văn bản quy định về công chứng đầu tiên chỉ cho phép công chứng những hợp đồng, giấy tờ mà pháp luật yêu cầu công chứng theo hướng liệt kê
Từ khái niệm công chứng, tính “minh bạch và công khai” trong công chứng đòi hỏi yếu tố hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và xác thực Công chứng là việc xác nhận tính xác thực cả về nội dung và hình thức của văn bản, tức là hành vi
ấy, giao dịch ấy phải đảm bảo cả yếu tố chính xác trong khi thực hiện nghiệp vụ công chứng (chính xác về nội dung và hình thức thể hiện nhưng đồng thời cũng phải chứng nhận sự việc mà các đương sự tạo lập nên là có thực trên thực tế), xác nhận có sự việc xảy ra trên thực tế đồng thời xác nhận nội dung của những văn bản đem đến công chứng đó phải đảm bảo tính chất pháp lý, làm cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên nếu có xảy ra Tính xác thực là tiêu chuẩn quan trọng đem đến giá trị pháp lý, độ tin cậy cao hơn cho văn bản công chứng Tính xác thực được hiểu dưới các góc độ:
Thứ nhất, đó là việc ghi nhận sự thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch là
một sự kiện có thực, xảy ra trên thực tế
Thứ hai, người yêu cầu và công chứng viên phải là những người đáp ứng
đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện, tiêu chuẩn để thực hiện việc công chứng
Thứ ba, đó là tính xác thực về thời điểm, địa điểm thực hiện việc công
chứng, chứng thực nhằm xác định hiệu lực của văn bản công chứng
Như vậy về mặt lý luận – từ khái niệm về công chứng có thể nói rằng hoạt động công chứng Nhà nước ta nói chung mang đồng thời hai tính chất: tính nội dung và tính hình thức
Công chứng mang tính chất hình thức được hiểu là việc công chứng viên chỉ xác nhận năng lực hành vi dân sự, sự hiện diện, chữ ký của đương sự vào văn bản
Trang 20trước mặt mình Công chứng viên không cần kiểm tra tính hợp pháp của văn bản, nội dung các thỏa thuận, ý chí của đương sự
Công chứng mang tính nội dung là loại việc công chứng mà công chứng viên không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp lý của đương sự trong việc ký kết văn bản, mà còn phải kiểm tra nội dung của văn bản đó
có thực sự là ý chí của đương sự không, các quyền và nghĩa vụ trong văn bản có phù hợp với quyền năng pháp lý của đương sự để hưởng hay thực hiện không
Trở lại với lịch sử hình thành và phát triển chế định công chứng tại Việt Nam, các sắc lệnh 59, Sắc lệnh 85 đã giao cho UBHCKC quyền thị thực các giấy
tờ, văn bản trước đây do các trưởng lý thực hiện Thực ra đó là hoạt động công chứng Thế nhưng, hoạt động công chứng hiểu theo đúng nghĩa của nó không phải
là hoạt động thị thực hành chính Sự khác nhau ở hai hoạt động này thể hiện:
- Về bản chất của hành vi: Công chứng là việc sử dụng quyền lực công của Nhà nước để xác nhận ý chí, nguyện vọng của đương sự trong các giao dịch, ký kết hợp đồng mà việc xác nhận này thể hiện trên cơ sở yêu cầu của đương sự, thể hiện trên văn bản Còn thị thực hành chính là hoạt động do cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện, cụ thể là UBND cấp có thẩm quyền và các cơ quan hành chính Nhà nước khác; là sự xác nhận những hành vi, sự kiện pháp lý xảy ra trong phạm vi quản lý của mình; sự nhận xét đó mang tính áp đặt từ phía Nhà nước lên các chủ thể, đối tượng quản lý Ví dụ: UBND xác nhận đăng ký kết hôn, xác nhận gia đình chính sách, xác nhận kê khai nhân khẩu, chứng tử, khai sinh, …
- Về đối tượng: Đối tượng của hành vi công chứng là những văn bản, giấy tờ
đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực kinh tế, dân sự, thương mại, lao động còn đối tượng của hành vi thị thực hành chính là những văn bản, giấy tờ thuộc lĩnh vực quản lý hành chính
- Về chủ thể: Thực hiện hành vi công chứng là công chứng viên, chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về hành vi công chứng của mình Trong khi đó, chủ thể thực hiện hành vi thị thực hành chính là người được phép thay mặt cơ quan hành chính có thẩm quyền thị thực hành chính theo quy định của pháp luật
Trang 211.1.2.2 Đặc điểm công chứng
Đặc điểm của hoạt động công chứng là những nét riêng biệt giúp chúng ta phân biệt với các hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác Những đặc điểm của
hoạt động công chứng, chứng thực thể hiện:
- Người thực hiện công chứng là công chứng viên
- Bằng việc xác nhận, công chứng đảm bảo tính xác thực của hợp đồng, giao dịch
- Hoạt động công chứng là họat động bổ trợ tư pháp, góp phần giúp cho hoạt động của các cơ quan tư pháp được thuận tiện, dễ dàng, giúp Nhà nước quản lý xã hội theo trật tự, kỷ cương đồng thời nhằm mục đích tạo ra những chứng thư có giá trị chứng cứ không phải chứng minh
1.1.2.3 Mục đích của hoạt động công chứng
Khi thực hiện một công việc gì chúng ta thường hướng đến một tiêu chí nhất định Hoạt động công chứng cũng có những tiêu chí nhằm hướng tới những kết quả nhất định cho hoạt động của mình Hoạt động công chứng là một hoạt động mang tính chất đặc biệt nhằm tăng cường công tác hành chính tư pháp, bổ trợ cho hoạt động tư pháp
Trong đời sống xã hội, các quan hệ xã hội luôn luôn xảy ra, biểu hiện dưới nhiều biến thái khác nhau, có thể theo chiều hướng tốt hoặc xấu Đồng thời, các tranh chấp trong đời sống xã hội không thể không phát sinh mà ngược lại theo quy luật đấu tranh sinh tồn thì các tranh chấp ngày càng phát sinh đa dạng hơn mà con người khó có thể dự liệu trước được những hậu quả của nó Do vậy đương sự thường mong muốn tạo nên những gì làm bằng chứng như là sự chứng nhận việc xác lập các quan hệ giao dịch của mình để khắc phục rủi ro
Nguyên nhân chính của mọi tranh chấp xảy ra chính là không có các bằng chứng xác thực cũng như sự thiếu thiện chí thực hiện mọi cam kết của các bên Hạn chế các tranh chấp xảy ra, tạo sự ổn định trong xã hội là điều quan trọng, nhất là tránh trường hợp phải giải quyết theo các thủ tục tố tụng tốn kém vật chất và thời
Trang 22gian Vì vậy, thực hiện hoạt động công chứng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng, góp phần phục vụ sự phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước đồng thời tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng bằng biện pháp sử dụng các biện pháp tác động tích cực vào các giao dịch để quản lý các giao dịch đó Bằng hoạt động công chứng các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công chứng góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.2 Khái quát về hoạt động chứng thực
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động chứng thực
Do đặc điểm của nước ta là từ một nước phong kiến đi thẳng lên chủ nghĩa
xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Vì vậy, có thể khẳng định dưới chế độ phong kiến trước đây, hoạt động chứng thực chính thống (với cách hiểu như hiện nay) là chưa xuất hiện Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các hoạt động có tính chất xác nhận, xác thực của chính quyền vẫn tồn tại ở nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây như một nhu cầu tất yếu của quản lý xã hội
Cùng với hoạt động công chứng, hoạt động chứng thực của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chỉ được chính thức đặt nền móng từ sau Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 Cùng với việc xây dựng Nhà nước kiểu mới, ngày 15/11/1945, Hồ Chủ tịch đã thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 59/SL về việc ấn định thể lệ thị thực các giấy tờ Tiếp sau đó, ngày 29/02/1952, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 85/SL quy định thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất Thời kỳ này, chỉ có Ủy ban nhân dân, Ủy ban kháng chiến hành chính có thẩm quyền “thị thực”, “nhận thực,” đây thực chất là tiền thân của hoạt động công chứng, chứng thực sau này
Có thể nói, việc hình thành hoạt động chứng thực như một kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội và nhu cầu quản lý của Nhà nước Vì vậy, ngay từ khi mới thành lập nước, các văn bản về hoạt động chứng thực đã được ban hành để đáp ứng yêu cầu này Các quan hệ dân sự, đất đai…
Trang 23những quan hệ, giao dịch không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội đã được tiếp tục diễn ra bình thường, không bị tạo ra “điểm nghẽn” trong thời kỳ chuyển chế độ Điều này đảm bảo sự ổn định kinh tế - xã hội, ổn định đời sống của nhân dân và bước đầu tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Chính vì vậy, có thể nói hoạt động chứng thực đã ra đời như một tất yếu của hoạt động quản lý nhà nước và là công cụ phục vụ đời sống dân sự, kinh tế của người dân – một công cụ đáng tin cậy và có sức mạnh
1.2.1.1 Sự phát triển của hoạt động chứng thực trong giai đoạn từ thời kỳ đầu đổi mới cho đến trước thời điểm Nghị định số 75/2000/NĐ-CP được ban hành
Trong thời kỳ đầu đất nước ta bước vào giai đoạn đổi mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường giai đoạn mới khai sinh, các giao dịch dân
sự, kinh tế cũng trở nên phong phú, đa dạng hơn Chính sự gia tăng của các giao dịch này đã tất yếu đòi hỏi phải có một cơ quan chuyên môn “gác cổng” để đảm bảo
an toàn cho các giao dịch đó Chính vì vậy, hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta đã được tái lập, kiện toàn và phát triển Giai đoạn này được đánh dấu bằng
sự ra đời của hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực ở cấp độ thông tư, nghị định Thời kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực luôn gắn kết chặt chẽ với nhau và cùng được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật
Các văn bản điều chỉnh hoạt động chứng thực giai đoạn này bao gồm: Thông
tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước; Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về công chứng Nhà nước của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 về
tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 về công chứng, chứng thực Giai đoạn này, do đặc điểm tình hình của nước ta trong thời kỳ đầu đổi mới, số lượng các Phòng Công chứng và công chứng viên còn hạn chế, (trên cả nước chỉ có hơn 100 Phòng Công chứng và hơn 300 công chứng viên), chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân Vì vậy, để tạo điều kiện
Trang 24thuận lợi cho người dân có thể thực hiện các yêu cầu công chứng ở những nơi chưa
có Phòng Công chứng hoặc có nhưng việc đi lại còn khó khăn, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã đã được giao nhiệm vụ chứng thực (trong đó có việc mà bản chất thuộc về hoạt động công chứng, đó là chứng thực hợp đồng, giao dịch) và những công việc chứng thực mà Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện trong giai đoạn này cũng được gọi là việc “công chứng”
Ví dụ: Chứng nhận hợp đồng, giao dịch, bản sao, chữ ký… Thời kỳ này, người thực hiện chứng thực tại UBND các cấp cũng được gọi là công chứng viên
Có thể nói, thời kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực còn bị lẫn lộn về nhiều mặt: tên gọi, về chủ thể, về nội dung, về phạm vi thực hiện và luôn được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật Các Phòng công chứng bên cạnh việc công chứng hợp đồng, giao dịch vẫn được giao thực hiện công việc chứng nhận bản sao (có tính chất giản đơn hơn), còn Ủy ban nhân dân cấp xã lại không có thẩm quyền chứng thực bản sao Thời kỳ này, khái niệm chứng thực cũng manh nha hình thành song còn rất mờ nhạt Trên thực tế, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội chỉ biết đến khái niệm “công chứng” mà không biết đến khái niệm “chứng thực” Chính điều này đã dẫn đến tình trạng người dân đổ dồn về các Phòng Công chứng để yêu cầu công chứng bản sao, gây ra tình trạng quá tải, ách tắc tại các Phòng công chứng trong một thời gian dài (giai đoạn này Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng có thẩm quyền chứng thực bản sao nhưng rất ít người biết đến, thậm chí có trụ sở UBND cấp huyện chỉ cách Phòng Công chứng vài trăm mét nhưng rất ít người đến yêu cầu chứng thực bản sao trong khi tại Phòng Công chứng thì quá tải)
Trong giai đoạn này, việc phải giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện một số việc của công chứng nhằm đáp ứng các mục tiêu:
- Từng bước hoàn thiện cơ quan công chứng chuyên trách, để bảo đảm thực hiện các yêu cầu công chứng một cách chặt chẽ, tin cậy;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong việc thực hiện các yêu cầu công chứng, chứng thực;
Trang 25Như vậy, giai đoạn này có sự pha trộn giữa hoạt động công chứng với tư cách là hoạt động nghiệp vụ của công chứng viên với hoạt động chứng thực là hành
vi hành chính của cơ quan hành chính công quyền (Ủy ban nhân dân các cấp) Điều này thể hiện ở việc Phòng Công chứng vừa chứng nhận các hợp đồng, giao dịch vừa chứng nhận bản sao giấy tờ từ bản chính; mặt khác UBND cấp huyện cũng vừa chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính vừa chứng thực hợp đồng, giao dịch Việc pha trộn giữa hai loại hoạt động công chứng và chứng thực như vậy đã dẫn tới tình trạng không phân biệt hành vi nào là hành vi mang tính dịch vụ, có thu phí hoặc lệ phí và hành vi nào là hành vi hành chính, là trách nhiệm của cơ quan hành chính công quyền phải phục vụ dân Mặt khác, sự pha trộn đó cũng biến hoạt động công chứng thành hoạt động mang tính chất hành chính khô cứng, quan liêu
Giai đoạn này, Phòng Công chứng là cơ quan nhà nước, do Nhà nước thành lập và trực thuộc Sở Tư pháp Công chứng viên là công chức nhà nước, việc làm và thu nhập luôn được đảm bảo, không phụ thuộc vào lượng khách hàng, vì vậy dẫn đến hiện tượng nhiều Phòng công chứng, công chứng viên có biểu hiện cửa quyền, sách nhiễu, gây khó khăn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân Tình trạng người dân phải xếp hàng, chờ đợi trước cửa Phòng Công chứng để được công chứng diễn ra phổ biến Tình trạng nhờ vả, chạy chọt để được công chứng một hợp đồng, giao dịch (thậm chí cả bản sao) cũng phổ biến Chính sự độc quyền này đã tạo cho công chứng viên có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền Nạn “cò công chứng” cũng
vì thế mà trở nên phổ biến, gây bức xúc trong nhân dân
Giai đoạn này, các việc công chứng, chứng thực được thực hiện cũng rất đơn giản và do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục công chứng, chứng thực nên có thể nói hoạt động công chứng, chứng thực chưa được diễn ra bài bản, chuyên nghiệp Trình tự, thủ tục công chứng, chứng thực giai đoạn này còn chưa hạn chế được sự tùy tiện
Trang 261.2.1.2 Giai đoạn từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP cho đến trước thời điểm Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được ban hành
Ngày 8/12/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực Giai đoạn này sự phát triển của hoạt động công chứng chứng thực đã được nâng lên một bước, quy củ và nền nếp hơn, tuy nhiên chưa mang tính đột phá Giai đoạn này, sự phân biệt giữa hoạt động công chứng và chứng thực chưa có sự thay đổi đáng kể so với trước đây Điểm khác biệt lớn nhất
là kể từ khi Nghị định này được ban hành thì khái niệm “chứng thực” mới chính thức được ra đời, tồn tại song song, độc lập bên cạnh khái niệm “công chứng” Nghị định này đã chỉ rõ: “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã
xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy
tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này” 8 Như vậy, Nghị định 75/2000/NĐ-CP đã chính thức khẳng định hoạt động
chứng thực là hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã Từ đây, những việc tuy có tính chất như công chứng nhưng do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã
thực hiện thì được gọi là chứng thực
Như vậy, ở giai đoạn này, hai hoạt động công chứng và chứng thực bước đầu
đã có sự phân biệt, tuy nhiên mới chỉ dừng lại phân biệt ở chủ thể thực hiện, chưa căn cứ vào hành vi, tính chất công việc Ví dụ cùng một loại việc nhưng nếu do Phòng Công chứng thực hiện thì được gọi là công chứng, do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện thì được gọi là chứng thực
Có thể nói, việc ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng thể chế về hoạt động chứng thực Nghị định số 75/2000/NĐ-CP với những quy định khá chi tiết, cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục… thực hiện các loại việc chứng thực, lần đầu tiên đã tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ, rõ ràng cho hoạt động chứng thực, tạo thuận lợi cho người thực hiện chứng thực Nghị định số 75/2000/NĐ-CP đã đưa hoạt động chứng thực, đặc biệt là hoạt động chứng thực hợp đồng, giao dịch ở nước ta đi vào nền nếp và có những đóng
8 Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực
Trang 27góp tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu chứng thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mọi vùng miền, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, góp phần phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự, kinh tế
Giai đoạn này, đối tượng của hai loại hoạt động công chứng và chứng thực vẫn chưa được phân biệt dứt khoát Tuy trên thực tế có việc thuộc hành vi công chứng như: chứng nhận các hợp đồng, các giao dịch nhưng cũng có việc thuộc về hành vi hành chính như chứng nhận bản sao từ bản chính, nhưng Nghị định 75/2000/NĐ-CP không có sự phân định rõ thẩm quyền chứng nhận của công chứng với thẩm quyền thị thực hành chính của Ủy ban nhân dân Cụ thể là có một số loại việc tương đối phức tạp nhưng vẫn được giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp
xã chứng thực mà đáng lẽ ra những việc đó chỉ nên giao cho cơ quan công chứng chứng nhận (VD: chứng nhận hợp đồng, kể cả hợp đồng mà đối tượng là bất động sản, chứng thực di chúc…) hoặc có những việc đơn giản như chứng thực bản sao vẫn được giao cho Phòng Công chứng, trong khi các Phòng Công chứng giai đoạn này đều đang quá tải Nhiều chủng loại hợp đồng, giao dịch dân sự cùng được chứng nhận tại cả Phòng Công chứng và tại UBND cấp huyện tùy theo địa hạt và tùy theo giá trị tài sản ghi trong hợp đồng Nguyên nhân của tình trạng này vẫn là
do số lượng các Phòng Công chứng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu của người dân (giai đoạn này số lượng các Phòng Công chứng trên cả nước đã tăng lên nhưng cũng chỉ được khoảng hơn 300 Phòng; tại những tỉnh, thành phố lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ có khoảng 4 - 5 Phòng Công chứng), dẫn đến Ủy ban nhân dân cấp huyện vẫn phải thực hiện nhiệm vụ của Phòng Công chứng
Tuy nhiên, cả về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy việc giao nhiệm vụ chứng nhận một số hợp đồng dân sự cho Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng như việc giao cho công chứng viên chứng nhận bản sao giấy tờ tài liệu còn có một số mặt chưa thực sự phù hợp trong giai đoạn này, từ đó làm quá tải các Phòng Công chứng, gây phiền hà cho công dân khi yêu cầu chứng nhận các việc giản đơn và các công chứng viên không có thời gian để tập trung vào nhiệm vụ chính là công chứng hợp đồng, giao dịch
Trang 28Thực tế này dẫn đến đòi hỏi khách quan, tất yếu là cần phải có thêm nhiều phòng công chứng, nhiều công chứng viên để đảm nhiệm việc công chứng các hợp đồng, giao dịch, tạo điều kiện để UBND cấp huyện, cấp xã giảm dần việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch, tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ chính là quản lý nhà nước
Mặt khác, giai đoạn này những hạn chế, tiêu cực của hoạt động công chứng, chứng thực vẫn tồn tại như giai đoạn trước đây và có xu hướng ngày càng tăng Bên cạnh đó, hoạt động chứng thực chưa khẳng định được vị trí độc lập của mình bên cạnh hoạt động công chứng Hoạt động chứng thực chữ ký người dịch vẫn được giao cho các Phòng Công chứng, các Phòng Tư pháp không có thẩm quyền này Hoạt dộng công chứng bản sao vẫn đổ dồn vào các Phòng Công chứng, trong khi đó
số lượng các Phòng Công lại rất hạn chế do Nhà nước không đủ nguồn lực để thành lập thêm nhiều Phòng Công chứng Trong khi đó, đời sống kinh tế - xã hội của nước
ta trong giai đoạn này đã có sự phát triển mạnh mẽ, vượt bậc so với giai đoạn trước khiến cho nhu cầu công chứng, chứng thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân ngày càng tăng, còn UBND cấp xã vẫn chưa được giao thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính Chính vì vậy tình trạng ách tắc, quá tải tại các Phòng Công chứng ngày càng trở nên trầm trọng
Có thể nói, giai đoạn này hoạt động công chứng, chứng thực chưa thực hiện tốt vai trò của mình với tư cách là công cụ pháp lý hỗ trợ sự phát triển triển kinh tế -
xã hội của đất nước Ngược lại, hoạt động công chứng, chứng thực giai đoạn này phần nào đó còn kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội
Trang 291.2.1.3 Giai đoạn từ khi Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được ban hành cho đến trước thời điểm Luật Công chứng năm
2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP được ban hành
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra, đặc biệt là Nghị quyết
số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, với mục đích tạo điều kiện cho công tác công chứng, chứng thực ở Việt Nam phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, phục vụ tốt hơn nhu cầu công chứng, chứng thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, ngày 29/11/2006, Quốc Hội
đã thông qua Luật công chứng và ngày 18/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký Từ đây, hoạt động công chứng và chứng thực đã tách bạch Việc ban hành Luật công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP là phù hợp trong giai đoạn này, đặc biệt việc xã hội hóa hoạt động công chứng và giao việc chứng thực bản sao cho UBND cấp xã thực hiện là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực, đưa hoạt động công chứng phát triển theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế và gắn hoạt động chứng thực với vai trò của chính quyền địa phương
Từ thời điểm này, hoạt động công chứng và chứng thực đã có sự tách bạch, nhiệm vụ của hoạt động công chứng và chứng thực đã được phân biệt tương đối rạch ròi, phù hợp với tình hình thực tế của giai đoạn này Theo đó, tổ chức hành nghề công chứng được giao nhiệm vụ chính là công chứng hợp đồng, giao dịch, không còn đảm nhận nhiệm vụ mang tính chất chứng thực là chứng thực bản sao, chữ ký Theo quy định của Luật Công chứng thì Phòng công chứng và Văn phòng
công chứng có nhiệm vụ là: “Chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp
đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” 9 Còn Ủy ban nhân
dân cấp huyện, cấp xã theo quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được giao
9 Điều 2 Luật Công chứng 2006
Trang 30nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản và chứng thực chữ ký (giai đoạn này UBND cấp xã đã được chính thức giao nhiệm vụ chứng thực bản sao
từ bản chính) Việc mở rộng phân cấp thẩm quyền chứng thực cho Ủy ban nhân dân cấp xã đã đưa cơ quan chứng thực đến gần dân hơn, tạo thuận lợi cho người dân Đồng thời, việc tổ chức hành nghề công chứng chấm dứt công chứng bản sao đã
“buộc” người dân làm quen với hoạt động chứng thực bản sao tại UBND cấp xã, cấp huyện, chấm dứt tình trạng ách tắc, quá tải tại các phòng công chứng
Tuy nhiên, dù đã cố gắng phân định như vậy nhưng giai đoạn này nhiệm vụ của hoạt động công chứng và chứng thực vẫn có sự giao thoa, chồng lấn, chưa thể hoàn toàn phân định tách bạch, rõ ràng cho phù hợp với bản chất của hai loại hoạt động này Nguyên nhân là do hiện nay mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng chưa đủ để đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trên địa bàn toàn quốc nên UBND cấp huyện, cấp xã tại một số địa bàn nơi chưa có tổ chức hành nghề công chứng hoặc tuy có nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân vẫn tạm thời thực hiện nhiệm vụ chứng thực hợp đồng, giao dịch
1.2.1.4 Giai đoạn từ khi Luật Công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP được ban hành cho đến nay
Do đặc điểm tình hình hình giai đoạn này đã có sự thay đổi, sau nhiều năm thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng, số lượng các tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên trên toàn quốc đã tăng lên đáng kể, không còn tình trạng ách tắc, quá tải tại các tổ chức hành nghề công chứng nữa Cùng với đó, cơ chế xin – cho trước đây đã được thay thế bằng cơ chế dịch vụ, mà ở đó khách hàng được coi trọng; những tiêu cực trước đây trong hoạt động công chứng cũng không còn Trước tình hình này, ngày 20/6/2014 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Công chứng mới Luật Công chứng năm 2014 đã giao trở lại cho tổ chức hành nghề công chứng thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và thẩm quyền công chứng bản dịch Có thể nói, việc giao trở lại cho tổ chức hành nghề công chứng các thẩm quyền này là phù hợp với tình hình hiện nay, một mặt vừa tạo thêm một “kênh” để người dân lựa chọn, một mặt vừa tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động
Trang 31Còn với sự ra đời của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thì về cơ bản hoạt động chứng thực vẫn được duy trì tại UBND cấp huyện, cấp xã, bên cạnh đó là hoạt động chứng thực bản sao, chữ ký tại tổ chức hành nghề công chứng Tuy nhiên, để đảm bảo phù hợp với điều kiện, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác chứng thực, việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã được đơn giản hóa, đặc biệt là giá trị pháp lý của hợp đồng, giao dịch được chứng thực Theo đó, hợp đồng, giao dịch được chứng thực chỉ có giá trị “hình thức”, tức có giá trị pháp lý thấp hơn so với hợp đồng, giao dịch được công chứng Điều này là phù hợp với thực tế vì hiện nay, tại những tỉnh, thành phố lớn nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển thì việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã được chuyển giao cho các tổ chức hành nghề công chứng Chỉ tại những địa phương vùng sâu, vùng, xa, vùng kinh tế khó khăn thì UBND cấp huyện, cấp xã vẫn tiếp tục đảm đương nhiệm vụ chứng thực hợp đồng, giao dịch Việc chứng thực hợp đồng, giao dịch theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP một mặt vừa làm giảm thủ tục cũng như lệ phí cho bà con nơi đây, mặt khác vẫn đảm bảo yêu cầu của pháp luật trong trường hợp giao dịch đó buộc phải có công chứng, chứng thực Chỉ trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì do hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị pháp lý thấp hơn nên độ an toàn không cao bằng hợp đồng, giao dịch được công chứng Tuy nhiên, thực tế cho thấy giao dịch diễn ra tại những địa phương này thường là đơn giản, có giá trị nhỏ vì vậy khả năng phát sinh tranh chấp không cao hoặc nếu có cũng không quá khó để giải quyết.10
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động chứng thực
1.2.2.1 Khái niệm chứng thực
Để hiểu được khái niệm pháp luật về chứng thực, trước hết, cần làm rõ khái niệm “chứng thực” “Chứng thực” là một thuật ngữ khá phức tạp, cần được tìm hiểu dưới góc độ ngôn ngữ học và dưới góc độ khoa học pháp lý và quản lý Do vậy, cần
10 http://qtht.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/chung-thuc.aspx?ItemID=432
Trang 32phải so sánh, tìm hiểu các quan niệm khác nhau về chứng thực ở trong nước cũng như những khái niệm tương ứng của khoa học pháp lý nước ngoài
Về khía cạnh ngôn ngữ, chứng thực có nghĩa là: “Sao chép lại hoặc tạo ra
bản khác theo đúng bản gốc (thường nói về giấy tờ hành chính) Sao đúng nguyên văn một tài liệu Sao y bản chính Bản sao”11.Còn về xác nhận được giải thích :
“Xác nhận thừa nhận đúng sự thật chữ kí, xác nhận lời khai” Về chứng thực được định nghĩa “Nhận cho để làm bằng là đúng sự thật Chứng thực lời khai Xác nhận
là đúng Thực tiễn đã chứng thực điều đó” Như vậy, nghĩa của từ “chứng thực” xét
về góc độ ngôn ngữ còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau
Về khía cạnh pháp lý, khái niệm “chứng thực” hoàn toàn không dễ định nghĩa, để hiểu rõ hơn khái niệm này, cần hiểu về các định nghĩa khác nhau của khoa học pháp lý nước ta qua các thời kỳ, cũng như cách định nghĩa khác nhau của khoa học pháp lý nước ngoài
Quan niệm của khoa học pháp lý nước ngoài:
Từ góc độ luật học, qua tham khảo một số tài liệu pháp lý nước ngoài có thể thấy, trong khoa học pháp lý một số nước cũng có những khái niệm tương đương với khái niệm “chứng thực” trong tiếng Việt
Tại Thụy Sĩ có quy định về hoạt động công chứng và chứng thực Theo quy định Luật công chứng và chứng thực ngày 30/08/2011 của bang Aargau, Thụy Sĩ
điều chỉnh việc công chứng và chứng thực trong phạm vi của bang Aargau “Việc
chứng thực áp dụng đối với chữ ký, bản sao chụp, trích lục, sao chép hoặc bản dịch” 12 Mặc dù Luật của Thụy Sĩ chưa tách riêng thành Luật công chứng, Luật chứng thực nhưng cũng đã có quy định điều chỉnh về chứng thực
Theo quy định của Luật công chứng Cộng hoà liên bang Đức ngày 28/9/1969 tại chương III có quy định các việc công chứng khác, điều chỉnh về chứng thực Cụ
thể chứng thực bản sao là“Khi chứng thực bản sao một văn bản cần xác định đó là
bản chính” 13 Tại Điều 39 Luật này cũng quy định về chứng thực đơn giản: “Khi
11 Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb Đà Nẵng năm 1997
12
Tại Điều 2 khoản 3 Luật công chứng của Thụy Sĩ
13 Khoản 1, Điều 42 Luật công chứng Cộng hoà liên bang Đức ngày 28/9/1969
Trang 33chứng thực chữ ký, dấu vân tay, tên hãng cũng như khi chứng thực thời điểm xuất trình giấy tờ cá nhân, chứng thực việc đã vào sổ đăng ký hoặc chứng thực các bản sao lục và các văn bản đơn giản khác thì chỉ cần một văn bản công chứng thay vì biên bản công chứng, trong đó có chữ ký, dấu niêm phong và ghi rõ ngày, nơi lập, văn bản công chứng là đủ” Tại khoản 1, 2, 3 Điều 40 của Luật này quy định về
chứng thực chữ ký: “Một chữ ký chỉ được chứng thực bởi công chứng viên biết chữ
ký hoặc lấy được chữ ký đó; Công chứng viên chỉ cần kiểm tra lại văn bản xem có tồn tại lý do nào đó gây phương hại đến việc hành nghề của mình; Khi chứng thực phải khái quát nhân thân đương sự - người mà công chứng viên biết hoặc lấy được chữ ký và phải nói rõ là công chứng viên biết trước chữ ký hay vừa lấy chữ ký”
Như vậy, các văn bản pháp luật nước ngoài cũng chỉ đưa ra thuật ngữ “chứng thực” với những việc làm, hành động cụ thể mà không đưa ra khái niệm về “chứng thực”
Quan niệm về “chứng thực” trong các văn bản pháp luật trước năm 2015:
- Trong Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ, Hồ Chủ tịch không dùng thuật ngữ “chứng thực” mà sử dụng thuật ngữ “thị thực”: Các Ủy ban có quyền thị thực tất cả các giấy má trong địa phương mình, bất kỳ người đương sự làm giấy má
ấy thuộc về quốc tịch nào Tuy nhiên, Ủy ban thị thực phải là Ủy ban ở trú quán một bên đương sự lập ước và về việc bất động sản phải là Ủy ban ở nơi sở tại bất động sản
- Thông tư số 858/QLTPK là văn bản đầu tiên xuất hiện thuật ngữ “chứng thực”: Tất cả các đơn từ, giấy tờ khác có nội dung không trái pháp luật và đạo đức
xã hội chủ nghĩa thì có thể được công chứng viên chứng thực chữ ký của người lập
ra chúng Khi chứng nhận chữ ký, công chứng viên không phải kiểm tra, xác nhận nội dung của việc trong đơn từ, giấy tờ, mà chỉ cần xem nội dung các văn bản đó có trái pháp luật và các quy định hiện hành hay không Nếu thấy nội dung và các sự việc nêu trong đơn từ, giấy tờ có thể có hại cho người ký thì công chứng viên giải thích cho đương sự hiểu hậu quả pháp lý của nó Sau khi đã kiểm tra chữ ký của
Trang 34đương sự, công chứng viên phải yêu cầu đương sự ký vào đơn từ, giấy tờ và ghi chứng thực theo mẫu
- Nghị định số 31/CP đã giao cho UBND thực hiện việc chứng thực: Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các việc do pháp luật quy định
và chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, trừ các việc được quy định tại khoản 1,
2 Điều 18 của Nghị định này Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực việc
từ chối nhận di sản, chứng thực di chúc và các việc khác do pháp luật quy định
- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là văn bản đầu tiên đưa ra khái niệm “chứng thực” là gì: “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này
- Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao
từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không có khái niệm chung về “chứng thực” mà chỉ đưa ra khái niệm về chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký: “Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính”: “Chứng thực chữ ký là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực”
Khái niệm “chứng thực” trong pháp luật hiện hành
Theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chứng thực bản sao từ bản chính là việc
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản
chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính "Chứng thực chữ ký" là việc cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký
trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực “Chứng thực hợp
đồng, giao dịch” là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này
chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch” Về cơ bản, Nghị định này kế thừa khái niệm về “chứng thực” của Nghị
Trang 35định số 79/2007/NĐ-CP và bổ sung thêm quy định mới về khái niệm “chứng thực hợp đồng, giao dịch”
Như vậy, trải qua các thời kỳ đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra một khái niệm rõ ràng, bao quát được đúng bản chất của hoạt động chứng thực, mà chủ yếu đưa ra khái niệm chứng thực của một việc cụ thể nào đó Tuy nhiên, phân
tích từ các khái niệm nêu trên thì có thể đưa ra một khái niệm chung nhất: “Chứng
thực là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, các sự kiện pháp lý, thông tin cá nhân để phục vụ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính…”
1.2.2.2 Đặc điểm của hoạt động chứng thực
Hoạt động mang tính chất hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Hoạt động chứng thực phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện là Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện mà không thể ủy quyền cho bất cứ cơ quan nào khác, không giống nhiều hoạt động công chứng có thể ủy quyền cho một cơ quan khác không mang tính quyền lực nhà nước thực hiện là các văn phòng công chứng hoạt động chứng thực phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
Xác thực giá trị pháp lý của văn bản theo quy định của pháp luật
Bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch
Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã
ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy
tờ, văn bản Trước đây, các cơ quan tổ chức khi tiếp nhận hồ sơ giấy tờ thường đặt
ra các quy định tùy tiện, rất phiền hà cho người nộp hồ sơ Mặc dù, đã yêu cầu giấy
tờ phải có công chứng, chứng thực nhưng vẫn bắt người nộp phải xuất trình bản chính để đối chiếu, kiểm tra Khắc phục tình trạng này, Nghị định số 79/2007/NĐ-
CP quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính không được yêu cầu xuất trình bản chính được đối chiếu Trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ bản sao là giả mạo thì có quyền xác minh
Trang 36Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao không có chứng thực có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu Người đối chiếu phải ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của văn bản Văn bản đã được chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp có giá trị pháp
lý mà người tiếp nhận không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu, trong trường hợp có dấu hiệu ngi ngờ có sự giả mạo thì có quyền xác minh Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện thủ tục chứng thực văn bản theo đúng quy định của nhà nước, trong trường hợp có sai phạm sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Trong khi thi hành nhiệm vụ, quyền hạn về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, người thực hiện nhiệm vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý làm trái các quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP
và các văn bản quy phạm pháp luật khác thì thì tùy theo mức độ vi phạm có thể xử
lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.14
1.3 Phân biệt công chứng, chứng thực
Công chứng và chứng thực là hai hoạt động hoàn toàn khác biệt nhau Tuy nhiên, đa số người dân vẫn chưa hiểu đúng tính chất và quy trình thực hiện của hai hoạt động này Việc phân biệt hoạt động công chứng và chứng thực là một việc hết sức cần thiết nhằm giúp người dân lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình
Theo Luật công chứng thì “công chứng” là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
14 Quản lý nhà nước về chứng thực – Qua thực tiễn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, 2014, Nguyễn Thùy Dung