Tình hình nghiên cứu Đã có nhiều người đã làm đề tài về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại như: chấp kinh doanh – thương mại : khóa luận tốt nghiệp đường tòa án trong điều kiệ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Không có con đường nào quá dễ dàng cho ta được thành công mà đều phải trải qua những khó khăn, vất vả và có khi bị thất bại Trên con đường dẫn đến thành công đó, nếu chỉ có mình ta thì không thể mà vẫn còn rất cần những sự giúp đỡ của những người khác.Trong suốt quãng đường trên giảng đường Đại học của mình, em cũng đã học được rất nhiều thứ thông qua việc các thầy, cô đã tận tình giảng dạy cho chúng em những điều cần thiết qua mỗi tiết trên giảng đường.Nay em muốn gửi lời tri ân đến các thầy cô Khoa Luật kinh tế - trường Đại học Công Nghệ TPHCM
và đặc biệt là em muốn gửi lời cám ơn chân thành đến thầy Vũ Anh Sao.Thầy đã từng bước hướng dẫn em những bước cuối cùng để em có thể hoàn thành việc học của mình từ việc chọn đề tài, đến việc chỉnh sửa sao cho bài Khóa luận của em được hoàn chỉnh nhất
Bên cạnh đó, em cũng muốn gửi lời cám ơn đến Ban lãnh đạo và các anh, chị
ở Toà án nhân dân quận Bình Tân đã tạo điều kiện cho em được thực tập ở đây Em
đã học được rất nhiều thứ khi thực tập như cách hoạt động, cách xử lý các vụ việc cũng như cách áp dụng các điều luật vào từng vụ án ,…
Trong quá trình học tập, thực tập và hoàn thành Khóa luận, em có thể hoàn thành chưa được tốt do một phần kinh nghiệm tích lũy và trình độ lý luận chưa nhiều nhưng em cũng đã rất cố gắng để có thể hoàn thành được nó.Nếu có gì sai sót,
em mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy để em có thể hoàn thành nó tốt hơn nữa
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Báo cáo thực tập tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế tại Đơn vị thực tập, trên các sách báo
khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định) ;
Nội dung trong báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình
nghiên cứu và thực tế tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân KHÔNG SAO CHÉP
từ các nguồn tài liệu, báo cáo khác
Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường và Pháp luật
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Trang 3MỤC LỤC
I ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Kết cấu khóa luận 7
CHƯƠNG I:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH, THƯƠNG ẠI TẠI T A N NHÂN DÂN 8
1.1 Khái niệm về tranh chấp trong kinh doanh, thương mại 8
1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân 10
1.2.1 Phân loại tranh chấp trong kinh doanh, thương mại 10
1.2.2 Th m quyền giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại T a án nhân dân 13
1.3 Những nguyên tắc cơ bản giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại T a án nhân dân 15
1.3.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự 16
1.3.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật 17
1.3.3 Nguyên tắc tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu nhập chứng cứ 17
1.3.4 Nguyên tắc hòa giải 19
1.3.5 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời 19
1.3.6 Nguyên tắc xét xử công khai 20
1.4 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại T a án nhân dân 21
1.4.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại 21
1.4.2 Chu n bị xét xử 23
1.4.3 Phiên t a sơ th m 25
Trang 41.4.4 Phiên tòa phúc th m 27
1.4.5 Thủ tục xem xét lại các bản án và quyết định đã có hiệu lực 30
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI T A N NH N D N 33
2.1 Thực trạng trong quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại T a án nhân dân 33
2.2 Thực trạng về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân 35
2.2.1 Tổng quan giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân 35
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân 37
2.2.2.1 Nhân tố khách quan 38
2.2.2.2 Nhân tố chủ quan 39
2.2.3 Đánh giá về việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân 43
2.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại T a án nhân dân 46
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 52
Trang 5ỜI MỞ ĐẦ
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế giữ vai trò rất quan trọng trong việc quyết định sự phát triển của xã hội Nên ta có thể thấy được sự gia tăng nhanh chóng của các doanh nghiệp tạo nên môi trường kinh doanh hấp dẫn và đi cùng với nó là các sự mâu thuẫn và tranh chấp rất dễ xảy ra Thông qua đó, nhìn thấy được việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh là rất cần thiết nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh
để các doanh nghiệp có thể phát triển và doanh nghiêp có thể tránh được các hậu quả tiêu cực mà mâu thuẫn và xung đột đó gây nên
Để thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình, nhà nước đã ban hành Hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế Nhà nước thông qua các
cơ quan chức năng hoặc các tổ chức đươc pháp luật thừa nhận để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn Hiện nay, nhà nước đã công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh sau: Thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Khi tranh chấp hay mâu thuẫn xảy ra thì hai bên có thể lựa chọn phương thức tự giải quyết bằng thương lượng Trường hợp không thương lượng được thì sẽ nhờ bên thứ
ba giải quyết bằng các phương thức: Hòa giải, trọng tài và tòa án
T a án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục được quy định và bản án, quyết định của tòa bắt buộc các bên phải tuân thủ Nếu không sẽ phải dùng sức mạnh cưỡng chế nhà nước buộc các bên phải thực hiện đúng theo bản án, quyết định của tòa Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích của mình sau khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế hòa giải và thương lượng thì tòa án là lựa chọn cuối cùng trong việc giải quyết tranh chấp Đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là tôn trọng quyền thỏa thuận và ý chí của các bên để đưa ra phán quyết c n đặc trưng cơ bản của việc giải quyết bằng tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên phải thi hành nếu không thì phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế Nhờ đó, việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thông qua Tòa án còn trực tiếp góp phần vào việc nâng cao ý thức, tôn trọng pháp luật cho các chủ thể kinh doanh
Nhìn thấy sự cấp thiết của việc này nên khi thực tập tại Tòa án nhân dân quận Bình tân tôi đã lựa chọn đề tài Khóa luận là “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân”
Trang 62 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều người đã làm đề tài về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại như:
chấp kinh doanh – thương mại : khóa luận tốt nghiệp
đường tòa án trong điều kiện hiện nay : Luận văn thạc sĩ
chấp kinh doanh, thương mại: Khóa luận tốt nghiệp
tiễn: Khóa luận tốt nghiệp
thương mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam : Luận án tiến sĩ
Với những đề tài mà họ đã làm, ta thấy được thông qua thời gian họ thực hiện thì các bài của họ vẫn còn áp dụng Luật tố tụng dân sự 2004, c n đề tài của tôi sẽ áp dụng Luật tố tụng dân sự 2015 ta sẽ thấy được những sự thay đổi một số quy định
cơ bản của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
quyền của Tòa án xét xử, trình tự và thủ tục để giải quyết một vụ tranh chấp Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật và việc áp dụng các quy định pháp luật đó vào thực tiễn
tranh chấp kinh doanh, thương mại là một vấn đề rộng và có thể nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Phạm vi nghiên cứu của đề này sẽ tập trung nghiên cứu về mặt lý luân và thực tiễn Về mặt lý luận thì đề tài này tôi chủ yếu sử dụng Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Trong quá trình nghiên cứu, phân tích thì có kết hợp so sách với Bộ luật tố tụng dân sự 2004 được sửa đổi, bổ sung 2011 Ngoài ra bài khóa luận còn sử dụng một số luật như: uật Doanh nghiệp 2014, Luật Thương mại 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005,…Trong đề tài này tác giả nghiên cứu thực tiễn từ Tòa án nhân dân quận Bình Tân Từ đó, đưa ra nhận x t chung về hệ thống T a án nhân dân Việt Nam để rút ra các kiến nghị để hoàn thiện hệ thống T a án
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu về vấn đề này, cơ sở của phương pháp lý luận của tôi là dựa vào chủ yếu các văn bản pháp luật.Trong phạm vi đề này chủ yếu vận dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống và phổ biến như:
để nghiên cứu và tìm ra những quy định mới và những điểm đã được cải thiện hơn
so với Bộ luật cũ
nghiên cứu và phân tích những quy định của pháp luật
pháp trên rồi tổng hợp lại rồi đánh giá nội dung của các quy định pháp luật về tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại Từ đó, đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp
5 Kết cấu khóa luận
Khóa luận gồm có hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về pháp luật giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại T a án nhân dân
Chương 2: Thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân
Trang 8CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
TẠI TÒA N NH N D N
1.1 Khái niệm về tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
Để có thể hiểu rõ thế nào là tranh chấp trong kinh doanh thì ta phải hiểu rõ trước như thế nào là kinh doanh, thế nào là tranh chấp
Theo từ điển tiếng Việt,“ kinh doanh” được hiểu là tổ chức sản xuất, buôn bán
mà bao gồm luôn cả sản xuất mà không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều là kinh doanh mà chỉ khi hoạt động đó có sinh lợi thì mới được gọi là kinh doanh C n theo định nghĩa của luật học thì “kinh doanh” là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ
độ pháp lý, ta thấy được mục đích sau cùng của kinh doanh là phải tạo ra lợi nhuận Lợi nhuận chính là khoản tiền mà họ có được sau khi lấy số tiền mà họ đã thu từ việc kinh doanh trừ đi số tiền mà họ đã bỏ ra trong sản xuất Trong ph p tính đó thì kết quả ra được con số dương chính là lợi nhuận mà họ có được, còn con số âm thì
đó là họ đã bị lỗ Nhưng ở đây ta thấy được cho dù kết quả sau khi kinh doanh của
họ là có lợi nhuận hay bị thua lỗ thì họ cũng đã có hành vi kinh doanh vì luật chỉ quan tâm việc khi họ bắt đầu kinh doanh thì mục tiêu họ đặt ra là phải có lợi nhuận chứ không quan tâm đến việc kết quả của kinh doanh đó là như thế nào Ví dụ như anh A mở một quán bán trà sữa đối diện cổng trường D, sau ba tháng kinh doanh thì anh đã bị thua lỗ và phải dẹp tiệm Hành vi mở quán trà sữa của anh A là hành vi kinh doanh vì mục đích khi anh mở quán là nhằm mục đích sinh lợi
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “thương mại” được định nghĩa là trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch
vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua
ta có thể hiểu theo cách thông thường rằng thương mại là hành vi mua bán Nhưng theo góc độ pháp luật thì hoạt động thương mại được quy định là hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
1
Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 9tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác 2 Qua đây ta
thấy được khái niệm về hoạt động thương mại được quy định theo luật học thì có nghĩa khái quát hơn và rộng hơn so với cách hiểu thông thường Vậy ta thấy được,
“thương mại” và “kinh doanh” không đối lập với nhau mà có thể nói một cách đơn giản là hoạt động thương mại và hoạt động kinh doanh có n t đan xen nhau dẫn đến các hợp đồng kinh doanh, hợp đồng thương mại có sự khác nhau chỉ mang tính chất tương đối.Vì lẽ đó mà Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định khái quát chung là
“tranh chấp kinh doanh, thương mại”
Vậy “tranh chấp kinh doanh, thương mại” được hiểu là có những mâu thuẫn, xung đột xảy ra giữa các chủ thể kinh doanh trong quá trình thực hiện các hoạt động dẫn đến quyền và lợi ích của một trong các bên bị xâm phạm So với những tranh chấp trong các lĩnh vực khác, tranh chấp trong kinh doanh, thương mại có những đặc điểm riêng.Nội dung tranh chấp chủ yếu trong hoạt động kinh doanh là về lợi ích kinh tế Bởi vì, mục đích cơ bản của các chủ thể khi tham gia vào kinh doanh chỉ nhằm mục đích là đem lại lợi nhuận nên thường dễ xảy ra các xung đột khi các chủ thể bất đồng về một việc nào đó Thông thường, những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ cụ thể bao gồm:Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;Tranh chấp về quyền sử hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;Tranh chấp khác
về kinh doanh, thương mại mà pháp luật quy định
Chủ thể của các quan hệ tranh chấp thường là giữa các thương nhân (cá nhân kinh doanh, pháp nhân) với nhau Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp trong kinh doanh, thương mại thì trong trường hợp là nhà đầu tư hoặc khách hàng của thương nhân Cá nhân, tổ chức không đăng ký kinh doanh (không phải là thương nhân) vẫn có thể là chủ thể trong tranh chấp kinh doanh và lựa chọn áp dụng Luật Thương mại để giải quyết khi xảy ra tranh chấp với thương nhân, mối quan hệ này gọi là mối quan hệ thương mại hỗn hợp (quan hệ thương mại một bên là thương nhân và một bên không phải là thương nhân Ví dụ như ông B và bà C cùng thỏa thuận góp vốn và thành lập ra công ty cổ phần BC Trong quá trình hoạt động và
2
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005
Trang 10thành lập công ty này thì ông B và bà C là nhà đầu tư, chủ sở hữu công ty và có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty theo Luật Doanh nghiệp 2014 quy định
Đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp được thành lập Tính đến tháng 6/2018, cả nước ta có khoảng 625,000 doanh nghiệp đang hoạt động, chưa kể đến các thương nhân là hợp tác xã, là người kinh
kinh doanh ngày càng đông thì việc xảy ra các bất đồng, mâu thuẫn ngày càng nhiều
và các bất đồng đó trở nên đa dạng và phức tạp hơn
Đối với các thương nhân thì mục đích cốt lõi khi họ tham gia kinh doanh, thương mại là để đem lại lợi nhuận, nhưng vì một tranh chấp với một đối tượng nào đó có thể khiến họ bị cản trở, hạn chế trong hoạt động kinh doanh nên đặc điểm của tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là cần phải giải quyết một cách nhanh chóng, gọn, lẹ và đặc biệt là tránh để bị kéo dài
1.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại tòa án nhân dân
1.2.1 Phân loại tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, quan hệ kinh doanh rất đa dạng và phức tạp dẫn đến các tranh chấp phát sinh trong mối quan hệ này cũng phức tạp không kém.Vì vậy để đơn giản hóa các loại tranh chấp và tìm ra cách giải quyết hiệu quả nhất thì ra nên phân loại chúng ra như dựa vào lĩnh vực tranh chấp hoặc chủ thể tham gia quan hệ kinh doanh
Theo quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì những việc tranh chấp trong kinh doanh, thương mại thuộc th m quyền của T a án được chia thành các nhóm :
mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Theo quy định tại khoản này thì tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc
th m quyền giải quyết của Tòa án khi có đủ ba điều kiện: phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh, đều hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận và phải phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại
đây, ta có thể thấy sự đổi mới của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 so với Bộ luật
tố tụng dân sự 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.Trong khi bộ luật cũ có quy định rõ 14 lĩnh vực tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thuộc th m quyền của Tòa án tại Khoản 1 Điều 29 thì với Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì chỉ cần đạt đủ ba điều kiện được nêu ở trên thì tranh chấp đó đã thuộc th m quyền giải
Trang 11quyết của Tòa án Với mục đích đổi mới như thế làm cho việc phân loại th m quyền giải quyết của T a được khái quát hơn, đồng thời cũng rất phù hợp với tình hình thị trường năng động như hiện nay.Ví dụ như công ty trách nhiệm hữu hạn A chuyên bán vật liệu xây dựng là kiện công ty B là công ty thiết kế, thi công bảng hiệu quảng cáo về việc công ty B đã vi phạm hợp đồng vì không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng là làm một bảng hiệu quảng cáo bằng mica và giao sau 15 ngày ký hợp đồng đây ta thấy quan hệ tranh chấp này đã đủ ba điều kiện nêu trên.Thứ nhất là phát sinh tranh chấp giữa hai công ty A và B đều có đăng ký kinh doanh, thứ hai là công ty B đã vi phạm hợp đồng đã được ký kết với công ty A và cuối cùng là hai công ty này đều hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận
giữa các cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ là một tài sản đặc biệt bởi vì nó mang tính phi vật chất và cũng không dễ dàng trong việc xác định giá trị của nó, thông thường thì giá trị của nó tương đối cao Trong điều kiện phát triển như hiện nay thì hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng cao và càng tinh vi hơn Không phải tranh chấp nào quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ đều là tranh chấp kinh doanh
mà khi và chỉ khi cá nhân, tổ chức đó có mục đích lợi nhuận từ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đó có được thì khi đó nó mới là tranh chấp trong kinh doanh còn nếu không có mục đích lợi nhuận thì đó là tranh chấp dân sự theo quy định tại Khoản 4 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đây,
ta thấy được còn có sự bất cập ở đây theo ục I phần A của Thông tư liên tịch số 02/2008/ TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHHTT&DL-BKH&CN-BTP hướng dẫn
áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại T a án nhân dân đã nêu ra chi tiết các tranh chấp về quyền
sở hữu trí tuệ thuộc th m quyền giải quyết của T a án như về quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp Nhưng trong Khoản 4 Điều 6 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì quyền sở hữu trí tuệ c n được xác lập với giống cây trồng trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có th m quyền theo thủ tục đăng ký tại Luật này Vậy khi tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ về giống cây trồng đã được cấp Bằng Bảo hộ thì
họ phải đi khởi kiện ở đâu và ai sẽ người có th m quyền giải quyết việc này Qua đây ta thấy được sự thiếu sót của văn bản dưới luật với luật
giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty Đây là một điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Thành viên công ty là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 12hoặc công ty hợp danh3 Việc có điều khoản mới này rất phù hợp với tình hình thị trường hiện nay Với mong muốn làm giàu cũng như trong các trường hợp họ muốn thử sức trong việc kinh doanh như vì một số trở ngại nhưng chưa tìm được đối tác như mong muốn, chưa tìm được ngành nghề kinh doanh thích hợp với xu thế hiện nay hoặc họ không biết cách làm sao để có thể lãnh đạo một công ty để có thể khiến
nó phát triển mạnh và thu về lợi nhuận cao vậy cách của họ là chuyển nhượng lại vốn góp của công ty, thành viên công ty để có thể vừa kiếm lợi nhuận vừa có thể tiết kiệm thời gian
giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc , tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thế, sát nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức công ty So với Khoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 được sửa đổi, bổ sung 2011 thì điều khoản này đã được khái quát hơn và nêu thêm các trường hợp như tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần Các vị trí đó đều rất quan trọng trong mỗi công ty nên việc xảy ra mâu thuẫn hay xung đột cũng rất dễ xảy ra Mặt khác, những người có thể đảm nhiệm những chức
vụ trên có thể không phải là thành viên công ty vậy nếu là trước đây khi xảy ra những tranh chấp đó thì sẽ khiến cho Tòa khó có thể xếp nó vào việc dân sự hay thương mại Cần lưu ý là các tranh chấp này đều phải liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thế, sát nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức công ty nếu như không liên quan đến các việc này thì
nó là tranh chấp dân sự (ví dụ như tranh chấp về bảo hiểm xã hội, về trợ cấp người lao động, về hợp đồng lao động,….)
thuộc th m quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật Với sự phát triển như hiện nay thì các loại phát sinh tranh chấp ngày càng đa dạng
và xuất hiện các trường hợp tranh chấp khác lạ nên luật không thể quy định được hết trong một điều được Vì thế đây là một quy định mở, để khi xuất hiện các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà chưa được luật quy định thì sẽ được áp dụng khoản này để giải quyết Qua đó, ta thấy được việc xây dựng luật của các nhà làm luật cũng có tính uyển chuyển không bị khuôn khổ vào một điều bắt buộc phải tuân theo
3 Khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 13Hiện nay, nhiều doanh nghiệp được thành lập thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau thì việc liên kết, hợp tác thậm chí cạnh tranh với nhau cũng là điều tất yếu.Khi đó, việc xung đột về lợi ích là không thể tránh khỏi.Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của chính chủ thể đó mà c n gián tiếp tác động đến sự phát triển lành mạnh của môi trường kinh doanh Nên việc phân loại ra các tranh chấp kinh doanh rất có ích để có thể nhanh chóng xác định th m quyền giải quyết là của ai và là tranh chấp dân sự hay kinh doanh, thương mại để có thể giải quyết một cách nhanh chóng, dứt khoát và hạn chế tối đa thiệt hại mà việc tranh chấp đó có thể gây nên
1.2.2 Th m qu ền giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại Tòa án nh n d n
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán ra quyết định buộc các chủ thể có nghĩa vụ thi hành, nếu không thì sẽ dùng sức mạnh cưỡng chế.Đặc điểm của giải quyết trong kinh doanh, thương mại bằng Tòa án:Tòa án thụ lý và giải quyết các vụ tranh chấp trong kinh doanh khi có đương sự yêu cầu và nó thuộc th m quyền giải quyết của T a theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; T a án là cơ quan bộ máy nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước, hoạt động xét xử để đưa ra các quyết định buộc các bên phải thi hành, nếu không sẽ áp dụng sức mạnh cưỡng chế ;quyết định của Tòa án buộc các bên phải tuân thủ và làm theo, thủ tục giải quyết của T a cũng rất chặt chẽ và phức tạp Quyết định của Tòa có thể bị kháng cáo, kháng nghị hoặc xem xét lại theo thủ tục giám đốc th m, tái th m
Th m quyền xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân quận Bình Tân nói riêng được phân định theo nhiều tiêu chí: th m quyền theo vụ việc (phân định th m quyền xét xử giữa các cấp), th m quyền xét xử theo lãnh thổ (phân định th m quyền xét xử của cùng một cấp Tòa án theo tính chất lãnh thổ),
th m quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Th m quyền theo vụ việc ta có thể hiểu đơn giản là xem xét Tòa án nhân dân cấp huyện hay cấp tỉnh có thể giải quyết các vụ việc tranh chấp ở xét xử sơ th m Trong tranh chấp kinh doanh, thương mại được chia làm năm nhóm tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh thương mại thì theo Điều 35 và Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự
2015 có quy định như sau, việc tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi
4
Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 14dân sự 2015 thì thuộc th m quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện mà cụ thể ở đây
là Tòa án nhân dân quận Bình Tân Còn các tranh chấp được quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các vụ tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho T a án, cơ quan có
tỉnh.Tại Khoản 2 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, tôi thấy có sự bất hợp lý ở đây vì tại khoản này có quy định rằng Tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền tự mình lấy lên các vụ tranh chấp thuộc th m quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện Việc làm vậy đồng nghĩa với việc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh có thể tiến hành hoạt động xét xử sơ
th m luôn cả các vụ việc thuộc th m quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện vậy thì việc của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quá nhiều và việc có quá nhiều việc phải giải quyết càng dễ xảy ra các sai sót trong việc giải quyết các vụ án thuộc th m quyền của mình vì thông thương các vụ việc tranh chấp thuộc th m quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện thường là các vụ việc mang yếu tố đơn giản và không phức tạp nhiều
Sau khi xác định xem vụ việc tranh chấp thuộc th m quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hay cấp huyện thì cần xem x t đến Tòa án ở địa phương nào có thể thụ lý và giải quyết việc tranh chấp đó.Nhưng th m quyền theo lãnh thổ chỉ để xác định với năm nhóm tranh chấp theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Có ba cách để xác định:
địa phương nào có th m quyền giải quyết tranh chấp Vì tại địa phương nơi bị đơn làm việc, cư trú nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức, họ sẽ có nhiều thông tin hơn và việc tống đạt hay mời họ lên t a cũng
sẽ dễ dàng hơn
kết, hoặc trong phụ lúc kèm theo của bản hợp đồng) yêu cầu T a án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn,
quyền tự thỏa thuận của đương sự, khi họ tự thỏa thuận với nhau về việc khi có
5 Khoản 3 Điều 35 Bộ luật tố tụng dan sự năm 2015
6 Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
7
Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 15tranh chấp xảy ra trong quá trình hợp tác thì Tòa án ở địa phương nào sẽ được quyền thụ lý và giải quyết
Nếu xem xét các vụ tranh chấp trong kinh doanh, thương mại trên phương diện
th m quyền theo vụ việc hay th m quyền theo lãnh thổ thì có thể sẽ có nhiều vụ tranh chấp mà bên nguyên đơn sẽ bị thiệt thòi, làm cản trở việc đi khởi kiện để bảo
vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm Ví dụ như nguyên đơn ở Sài Gòn và
ký một hợp đồng kinh doanh với bị đơn có trụ sở ở Hà Nội và chỉ có chi nhánh trong Sài G n ,người này đã vi phạm một khoản trong việc thực hiện hợp đồng Vậy nếu như nguyên đơn muốn kiện bị đơn thì phải bay ra tận Hà Nội vì họ không
có thỏa thuận bằng văn bản khi xảy ra tranh chấp sẽ chọn T a án nào để giải quyết,
ta thấy được chi phí đi lại cũng như ăn ở của nguyên đơn sẽ rất nhiều khi cứ phải bay đi bay lại giữa Sài Gòn và Hà Nội để có thể tiến hành việc khởi kiện Vì thế tại Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định rằng th m quyền của Tòa án theo
sự lựa chọn của nguyên đơn nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể tiến hành khởi kiện Vậy với ví dụ ở trên thì nguyên đơn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân nơi nguyên đơn đang cư trú, làm việc, trụ sở hoặc T a án nhân dân nơi bị đơn có chi nhánh tùy theo tranh chấp kinh doanh, thương mại là về việc gì Trong một số trường hợp nhất định, nguyên đơn được quyền lựa chọn Tòa án có th m quyền giải quyết: nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu T a án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi
1.3 Những nguyên tắc cơ bản giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại tòa án nh n d n
T a án là cơ quan thực thi quyền tư pháp trong bộ máy nhà nước và là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động và
uy tín của cả hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Một số các nguyên tắc chung được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013
và Luật Tổ chức T a án nhân dân năm 2014 như: bảo đảm chế độ xét xử sơ
luật, nghiêm cấm cơ quan, tổ chức can thiệp vào việc xét xử của Th m phán, Hội
8 Điểm (b) Khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
9 Điểm (g) Khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
10
Điều 6 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
Trang 16th m11; Tòa án xét xử công khai ,trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục, giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì
đảm bảo cho đương sự được dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước
doanh, thương mại được xây dựng với những đặc thù riêng của mình
Một số nguyên tắc mà Tòa án nhân dân quận Bình Tân phải tuân thủ trong hoạt động giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại đó là: nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự; nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu nhập chứng cứ; nguyên tắc hòa giải; nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời; nguyên tắc xét xử công khai
1.3.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự
Quyền quyết định và tự định đoạt là một trong những biểu hiện của quyền con người và quyền công dân Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự
là nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự 2015.Nguyên tắc này phát sinh từ nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không
kiện, đơn yêu cầu của nguyên đơn gửi đến Tòa và Tòa chỉ giải quyết những việc được nêu ra trong đơn khởi kiện và đơn yêu cầu đó thôi Trong quá trình giải quyết tranh chấp thì các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và
Trong các quyền được kể trên thì ta thấy việc có gửi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu rất quan trọng Vì Việc có khởi kiện hay yêu cầu là cho chính nguyên đơn quyết định Trong mối quan hệ kinh doanh thì mục đích kiếm lợi nhuận cao khi hợp tác với nhau là rất quan trọng nên việc xảy ra tranh chấp là điều không ai mong muốn trong mối quan hệ này cả.Vì đối với thị trường kinh tế thì việc có các bạn hợp tác ăn
ý, có mối quan hệ lâu dài là rất cần thiết cho sự phát triển của các cá nhân, tổ chức
có đăng ký kinh doanh ngày càng lớn mạnh nên khi tranh chấp xảy ra thì đa phần họ đều muốn có thể giải quyết một cách nhẹ nhàng và đơn giản như thương lượng hoặc
11 Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, điều 9 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
12 Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 11 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
13
Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
14 Khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013
15 Khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014
16
Điều 5 Luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 17hòa giải.Và việc lựa chọn Tòa án là phương án cuối cùng của họ khi không còn cách nào khác để có thể giải quyết tranh chấp
1.3.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước ta.Được quy định cụ thể tại Điều 16 Hiến pháp 2013 là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội Điều này đã được mở rộng và chi tiết hơn Điều
52 Hiến pháp 1999 là ở khoản không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế và xã hội nhằm mục đích làm rõ hơn việc mọi người đều bình đẳng với nhau về mọi mặt và sẽ không bị phân biệt đối xử cho dù bất cứ lý do nào Bình đẳng trong kinh doanh có nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, từ việc lựa chọn ngành nghề, địa điểm kinh doanh hay lựa chọn hình thức kinh doanh nào dù là lớn hay nhỏ và quyền và nghĩa vụ của họ đều bình đẳng theo quy định cả pháp luật Trong quan hệ tố tụng tòa án thì họ cũng có quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử cho dù với bất cứ lý do gì và Tòa án
có trách nhiệm tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một trong các nguyên tắc mang ý nghĩa
to lớn đối với bất cứ chủ thể nào trong quan hệ kinh tế này.Vì khi có mâu thuẫn xảy
ra và phải dẫn đến việc phải nhờ đến T a án để giải quyết thì khi đó trước pháp luật, tất cả các chủ thể đều bình đẳng với nhau, Tòa án không phân biệt các chủ thể là loại hình kinh doanh gì, thuộc thành phần kinh tế gì.Khi đó, các bên đều có quyền
và nghĩa vụ tuân theo quy định của pháp luật tố tụng Nguyên tắc này còn góp phần làm cho các chủ thể mới khi muốn tham gia vào thị trường này sẽ yên tâm, vì sẽ không vì bất cứ lý do gì mà Tòa án phân biệt đối xử giữa các chủ thể xảy ra tranh chấp, từ đó sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào thị trường và thúc đ y
sự tăng trưởng của nền kinh tế - xã hội Đồng thời, nó cũng góp phần tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh
1.3.3 Nguyên tắc tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu nhập chứng cứ
Đây là nguyên tắc mang tính đặc thù của tố tụng dân sự, theo nguyên tắc này thì đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án
và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp và cơ quan, tổ chức,
cá nhân khởi kiện, yêu cầu bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng
17
Điều 8 Luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 18có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh18 Chứng cứ trong
vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn
cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự
chứng cứ có thể là thông tin, tài liệu, vật chứng,…Nó có thể là bất cứ cái gì có thật
và được Tòa án xác minh về độ tin cậy của chứng cứ đó nhằm mục đích phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại đó.Đây cũng là điểm khác biệt có tố tụng dân sự và tố tụng hình sự.Nếu trong tố tụng hình sự, khi có tội phạm xảy ra thì việc thu nhập chứng cứ và chứng mình người đó phạm tội là nghĩa vụ của
cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật.Còn trong tố tụng dân sự thì việc thu thập và chứng minh là của đương sự.Quyền và nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ của đương sự cũng được luật tố tụng dân sự 2015 quy định rõ (Điều
70, Điêu 91, Điều 92, Điều 95)
Trong một số trường hợp đương sự không cung cấp được chứng cứ hoặc không đưa ra được đầy đủ chứng cứ thì đương sự phải chịu hậu quả vì đã không đưa ra được đủ chứng cứ.Vì trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại thì Tòa sẽ xét xử dựa trên những chứng cứ mà đương sự đã cung cấp và sẽ nghe các bên trình bày và từ đó sẽ đi đến quyết định.Nếu như trong quá trình giải quyết mà Tòa án còn cảm thấy thiếu chứng cứ thì Tòa có quyền yêu cầu các đương sự cung cấp và trong các trường hợp luật định tại Khoản 2 Điều 97 Luật tố tụng dân sự 2015 thì Tòa mới
có thể tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ nhưng T a phải ra quyết định, trong đó
Tại Khoản 3 Điều 6 Luật tố tụng dân sự 2015 có quy định là Tòa án có trách nhiệm hỗ trơ đương sự trong việc thu thập chứng cứ.Đây là điểm mới so với Luật tố tụng dân sự 2004 được sửa đổi bỏ sung 2011.Nếu đối với bộ luật cũ thì tại khoản này chỉ quy định là Tòa chỉ được tiến hành thu thập chứng cứ trong các trường hợp luật định nhưng ở luật mới ta thấy được việc pháp luật đã tại điều kiện thuận lợi hơn
do các đương sự Có thể vì lý do khách quan, khiến cho tài liệu, chứng cứ của họ không được trình lên t a đúng thời hạn quy định thì lúc đó các đương sự có thể yêu cầu Tòa hỗ trợ để việc thu thập chứng cứ đó được dễ dàng và nhanh chóng hơn Nguyên tắc này đưa ra một mặt là để cho các đương sự có trách nhiệm, giảm áp lực công việc cho Tòa, mặt khác nhằm đảm bảo cho tính khách quan của Tòa, tránh
18 Khoản 1 Điều 6 Luật tố tụng dân sự năm 2015
19 Điều 93 Luật tố tụng dân sự năm 2015
20
Khoản 3 Điều 97 Luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 19các trường hợp Tòa lạm dụng quyền và chỉ thu thập chứng cứ có lợi cho một bên Pháp luật quy định nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ cho Tòa bởi vì kinh doanh thường là những công việc riêng tư nên không phải ai cũng có thể nắm rõ hết mọi việc trong đó.Khi họ là các đương sự trong vụ tranh chấp đó thì họ chính là những người hiểu rõ nhất về nguyên nhân tại vì sao lại xảy ra tranh chấp và họ phải có trách nhiệm chứng minh cho các yêu cầu khởi kiện của mình.Trong quá trình giải quyết, Tòa có trách nhiệm hướng dẫn cho các đương sự cung cấp chứng cứ, xác minh tính xác thực của chúng và các đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong bất kỳ giai đoàn nào của quá tình xét xử.Đồng thời, T a án cũng phải tiếp nhận mọi giấy tờ, tài liệu liên quan đến các vụ tranh chấp và các vật chứng mà đương sự đã cung cấp
1.3.4 Nguyên tắc hòa giải
Nguyên tắc tiến hành hòa giải là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm mục đích giúp cho hai bên có thể thỏa thuận và giải quyết được mâu thuẫn.Tại Điều 10 Luật
tố tụng dân sự 2015 có quy định Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này Khi tiến hành hòa giải, Tòa án có trách nhiệm hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự có thể thỏa thuận với nhau Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chủ động triệu tập các đương sự đến để hòa giải, Tòa
án giữ vai trò trung gian không có quyền thương lượng mà phải để cho các đương
sự tự thỏa thuận với nhau để giải quyết mâu thuẫn đó
Nội dung của hòa giải chính là việc giải quyết nguyên nhân dẫn đến việc tranh chấp này giữa các đương sự và tùy vụ án sẽ có các nội dung hòa giải khác nhau.Tòa
sẽ xem xét các yêu cầu của các đương sự trong vụ án và sẽ tiến hành hòa giải từng yêu cầu theo thứ tự hợp lý.Đồng thời Tòa sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn và công nhận hòa giải nếu các đương sự có thể tự thỏa thuận giải quyết được tranh chấp đó Việc tiến hành hòa giải tong giai đoạn chu n bị xét xử sơ th m vụ án dân sự có thể rút ngắn được thời gian giải quyết vụ án.Vì nếu Tòa có thể tiến hành hòa giải thành công thì không cần phải mở phiên Tòa xét xử sơ th m, sẽ giảm bớt được giai đoạn tố tụng kéo dài, phức tạp, tiết kiệm thời gian, tiền bạc và mối quan hệ kinh doanh giữa các đương sự vẫn tốt đẹp.Nếu trong trường hợp hòa giải không thành thì Tòa mới đưa vụ án ra xét xử sơ th m
1.3.5 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
Với nền kinh tế thị trường hiện nay rất năng động và linh hoạt thì yếu tố thời gian
có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi chủ thể kinh doanh vì nó quyết định sự sống còn của mỗi chủ thể kinh doanh.Khi bắt đầu mỗi thương vụ thì điều họ mong muốn
Trang 20không xảy ra đó là phát sinh ra các mâu thuẫn, xung đột và dẫn đến tranh chấp Nếu những tranh chấp đó có thể giải quyết một cách ổn thỏa thông qua hòa giải, thương lượng thì tốt nhưng trong trường hợp xấu nhất là phải khởi kiện, yêu cầu lên Tòa thì
đó là điều không một chủ thể kinh doanh nào mong muốn.Vì vậy, điều mà mỗi chủ thể cần ở cơ quan giải quyết tranh chấp không những phải giải quyết tranh chấp đó đúng theo pháp luật, thấu tình đạt lí mà còn phải nhanh chóng, kịp thời và dứt điểm, tránh trường hợp dây dưa, k o dài sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể
Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời được thể hiện rõ tại chương XVIII Luật tố tụng dân sự 2015 về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ th m và chương XIX uật tố tụng dân sự 2015 về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp phúc th m Đây là hai chương mới được xây dựng của Luật tố tụng dân sự 2015 vì các nhà lập pháp một phần muốn giảm đi
áp lực của Tòa án khi phải giải quyết quá nhiều vụ án dân sự, vì nêu đối với vụ án dân sự đơn giản và có các đương sự đã cung cấp đầy đủ các chứng cứ thì việc Tòa
án áp dụng giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn sẽ góp phần làm cho các vụ
án được giải quyết một cách nhanh chóng và không làm tốn quá nhiều thời gian của các đương sự Một vụ án dân sự muốn được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 317 Luật tố tụng dân sự 2015.Việc quy định như vậy nhằm rút ngắn thời gian cho việc giải quyết tranh chấp vụ án dân sự nói chung và tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng, nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các chủ thể và phù hợp với tính chất của hoạt động kinh doanh
1.3.6 Nguyên tắc xét xử công khai
Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc thể hiện tính dân chủ của hoạt động xét xử.Theo Hiến pháp 2013 có quy định Tòa án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng
trọng của xã hội chủ nghĩa.Theo chúng ta cũng đã biết kinh doanh là việc riêng tư của mỗi chủ thể kinh doanh nên một khi đã đem khởi kiện, yêu cầu lên tòa thì rất có thể sẽ làm lộ ra các bí mật kinh doanh hay bí mật nghề nghiệp mà việc đó có thể ảnh hưởng nghiệm trọng đến sự tồn tại và phát triển của chủ thể đó Vì vậy không phải vụ án dân sự nào T a cũng đem ra x t xử công khai mà trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mĩ tục của dân tộc, bảo vệ người
21
Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 2013
Trang 21chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xét xử
cầu Tòa xét xử kín thì quyền quyết định xét xử kín hay xét xử công khai là do Tòa quyết định, sau khi đã cân nhắc yêu cầu của đương sự
Với một đất nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa như nước ta thì tính nguyên tắc xét xử công khai vô cùng quan trọng vì đất nước ra là một đất nước của dân, do dân
và vì dân.Vậy khi nguyên tắc này được đặt ra cho ta thấy được nhân dân có quyền giám sát hoạt động xét xử của Tòa, nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tham gia phiên t a như Th m phán, Hội th m nhân dân, Luật sư các bên,…Đồng thời ngăn chặn hành vi vi phạm luật của những người tham gia phiên tòa.Thông qua hoạt dộng xét xử công khai này góp phần giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của nhân dân, Ngoài ra còn tạo điều kiện cho Tòa án có thể thông qua hoạt động này để thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến người dân
1.4 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại tại tòa án nh n d n
B TTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại Đây là các bước trong hoạt động tố tụng của T a án đối với việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.4.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại
Theo Điều 161 Luật tố tụng dân sự 2015 quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Toà án
có th m quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi quyền và lợi ích của các chủ thể kinh doanh bị xâm phạm thì họ có quyền yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp đó thông qua khởi kiện theo pháp luật quy định.Qua đây, ta thấy được khởi kiện chính là bước đầu tiền của quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.Đối với các vụ án dân sự nói chung và các vụ tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng thì người có quyền khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích vị xâm phạm và sau đó các cơ quan tố tụng có thể kịp thời có các hành động nhằm ngăn chặn, bảo vệ quyền và lợi ích của các đương
22
Khoản 2 Điều 15 Luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 22sự Việc quyết định khởi kiện là ý chí của nguyên đơn mà không cần có sự thỏa thuận của hai bên như đối với thỏa thuận trọng tài trong tố tụng trọng tài
Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại thường phát sinh trong nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh như hợp đồng xây dựng thì do Luật Xây dựng điều chỉnh, hợp đồng đầu tư thì do uật đầu tư điều chỉnh, hợp đồng bảo hiểm thì do Luật Bảo hiểm điều chỉnh,…nhưng về nguyên tắc thủ tục giải quyết tranh chấp thì đều phải tuân theo Luật tố tụng dân sự Về thời hiệu khởi kiện thì tùy vào mỗi lĩnh vực sẽ có văn bản pháp luật chuyên ngành hướng dẫn quy định về thời hiệu của lĩnh vực đó nếu văn bản pháp luật chuyên ngành không quy định thì sẽ áp dụng theo quy định của Luật Thương mại 2005 về thời hiệu khởi kiện Theo đó thì thời hiệu khởi kiện của các tranh chấp thương mại
là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp được
Để đảm bảo tính pháp lý về của đơn khởi kiện thì phải đáp ứng đầy đủ về nội dung và hình thức.Về hình thức, đối với cá nhân thì phải tuân theo Khoản 2 Điều
189 Luật tố tụng dân sự, đối với tổ chức thì theo Khoản 3 Điều 189 Luật tố tụng dân
sự 2015 Về nội dung thì đơn khởi kiện phải có các nội dung chính theo Khoản 4 Điều 189 uật tố tụng dân sự 2015
Đơn khởi kiện gồm các nội dung như vậy để nhằm mục đích giúp T a biết được người khởi kiện, người bị kiện là những ai và xem xét vụ tranh chấp đó có thuộc
th m quyền của Tòa hay không và việc nêu chính xác những thông tin sẽ giúp cho Tòa có thể thuận lợi hơn trong việc đi xác minh, tống đạt và niêm yết và thuận lợi trong việc có thể triệu tập lên Tòa khi cần thiết Việc nộp đơn khởi kiện phải nộp trực tiếp ở trên Tòa hoặc có thể thông qua đường bưu điện Và khi nộp đơn khởi kiện thì phải nộp kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan để chứng mình những yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp.Yêu cầu này xuất phát từ nguyên tắc Tòa
án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh, thu thập chứng cứ như đã phân tích từ mục 1.3.3 phần 1 Vậy đơn khởi kiện cần kèm theo các tài liêu như: hồ sơ pháp lý (giấy phép hoạt động kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ); giấy ủy quyền (khi người đại diện theo pháp luật không đi được); chứng minh nhân dân sao
y ;hợp đồng được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn…
Thụ lý vụ án là việc Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và ghi vào
sổ thụ lý của Tòa Thụ lý vụ án là bước thứ hai trong quá trình giải quyết vụ án Đây
là một bước quan trọng vì nó đánh dấu việc T a đã chấp nhận và có trách nhiệm
23
Điều 319 Luật Thương mại năm 2005
Trang 23phải giải quyết các vụ án tranh chấp trong thời hạn luật định Khi nhận dược đơn khởi kiện thì Tòa án sẽ xem xét, nghiên cứu kỹ đơn kiện , tư cách pháp lý của người khởi kiện, xác định th m quyền giải quyết sau đó sẽ đưa ra quyết định là có thụ lý hay trả lại đơn khởi kiện Khi T a án đã quyết định thụ lý đơn khởi kiện cùng các tài liêu, chứng cứ kèm theo thì Tòa sẽ tiến hành: gửi cho nguyên đơn phiếu đề xuất thụ lý đơn lý (phiếu này sẽ trả lời cho nguyên đơn biết rằng tòa án này có th m quyền thụ lý vụ án này hay không (theo Điều 26 Luật tố tụng dân sự 2015); mức tạm đóng án phí mà nguyên đơn phải đóng tạm ứng là bao nhiêu (theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH); Chánh án Tòa án sẽ phân công một Th m phán giải quyết vụ
án (theo Điều 47, Điều 197, Điều 203 Luật tố tụng dân sự 2015); thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện Kiểm sát cùng cấp về việc T a án đã thụ lý vụ
án ( theo Điều 196, Điều 199 Luật tố tụng dân sự 2015); bị đơn phải gửi đến Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng
cứ kèm theo, nếu có.Đồng thời, bị đơn cũng có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn trong giai đoạn này Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp kh n cấp tạm thời
1.4.2 Chu n bị xét xử
Chu n bị xét xử là bước tiếp theo trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại sau khi T a đã thụ lý vụ án Thông thường thì các vụ án có thời hạn chu n bị xét xử là 02 tháng, nếu có tính chất phức tạp thì tối đa 03 tháng trừ các vụ
án được giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài Những vụ
án có tính chất phức tạp thường là các vụ án có nhiều đương sự, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, có các tài liệu được đương sự cung cấp có mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian nghiên cứu, xác minh; những vụ án cố đương sự là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư, học tập ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài thì phải cần có thời gian ủy thác cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở ngoài, cho T a án nước ngoài,… Các bước chu n bị xét xử phiên t a sơ
th m:
mục đích thông báo cho người bị kiện biết được lý do vì sao họ bị kiện và bị ai kiện
và để họ có thể tìm kiếm những chứng cứ, chứng minh rằng họ không vi phạm hợp đồng
trên t a Trường hợp nếu nguyên đơn hoặc bị đơn không có mặt thì Tòa sẽ tiếp tục
24
Khoản 2 Điều 72 Luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 24gửi đơn đề nghị triệu tập Khi các đương sự đã có mặt ở trên Tòa thì Tòa sẽ yêu cầu nguyên đơn, bị đơn phải viết bản tự khai trình bày lại vụ việc để Tòa có thể hiểu rõ
và chi tiết hơn về vụ tranh chấp Và khi đó nguyên đơn có quyền thay đổi nội dung
đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của
xác minh, thu thập chứng cứ Trong tố tụng dân sự thì nghĩa vụ thu thập chứng cứ là của các đương sự và Tòa án chỉ chịu trách nhiệm xác minh, thu thập chứng cứ và hỗ trợ đương sự thu thập nếu như họ có yêu cầu Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
từ ngày Tòa án thu thập được các tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo về tài
quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206, Điều 207 Luật tố tụng dân sự 2015 Đây là một thủ tục bắt buộc trong giai đoạn xét xử đối với Tòa án Tuân thủ theo nguyên tắc tôn trọng quyền định đọat của đương sự thì Tòa án sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiên trì giúp cho hai bên có thể hòa giải và thỏa thuận với nhau về những tranh chấp Việc hòa giải mang ý nghĩa quan trọng vì nó không những giúp cho vụ án có thể được kết thúc sớm mà còn có thể giữ được tính đoàn kết, ổn định những chủ thể kinh doanh với nhau Đồng thời đây cũng là cách tiết kiệm thời gian và chi phí nhất
Để tiến hành hòa giải thì Tòa án phải triệu tập cả nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến Tòa án và những người này đều phải có mặt khi hòa giải Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì Tòa án sẽ công nhận và lập biên bản hòa giải thành và biên
kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về
sự thỏa thuận đó thì Th m phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thảm phán được Chán án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và
25 Khoản 2 Điều 71 Luật tố tụng dân sự năm 2015
26 Khoản 3 Điều 72 Luật tố tụng dân sự năm 2015
27 Khoản 4 Điều 72 Luật tố tụng dân sự năm 2015
28
Khoản 5 Điều 97 Luật tố tụng dân sự năm 2015
29 Khoản 5 Điều 211 Luật tố tụng dân sự năm 2015
30 Khoản 1 Điều 212 luật tố tụng dân sự năm 2015
31
Điểm (a) Khoản 2 Điều 217 Luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 25Trong trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hoặc chỉ thỏa thuận được một phần những vấn đề tranh chấp thì Th m phán lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Nội dung biên bản hòa giải phải thể hiện rõ nguyện vọng của các đương sự tham gia phiên hòa giải và từ đó T a án sẽ quyết định có hòa giải tiếp tục hay đưa vụ án ra xét xử Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải tuân thủ theo quy định tại Điều 220 Luật tố tụng dân sự 2015
1.4.3 Phiên tòa sơ th m
Xét xử trong phiên t a là bước quan trọng trong giai đoạn tố tụng nhất, có ý nghĩa quan trọng nhất bởi vì tại phiên tòa sơ th m, Tòa sẽ xem xét các vấn đề của
vụ án, các đương sự cũng sẽ công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Với những chứng cứ mà các đương sự đã giao nộp và T a cũng đã tiến hành xác minh, thu thập vẫn chưa đủ điều kiện để T a đưa ra quyết định, vì thế tại phiên tòa này Hội đồng xét xử sẽ xác thực độ tin cậy của các chứng cứ này.T a cũng sẽ làm rõ các vấn đề thông qua việc lắng nghe sự trình bày của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác Chỉ sau khi xem xét hết các chứng cứ, lắng nghe các đường sự trình bày chi tiết tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử mới nghị án để đưa ra quyết định về việc giải quyết vụ án
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án
Phiên t a sơ th m được tiến hành dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xử gồm
viên Hội đồng xét xử thì phải tuân thủ theo quy định tại Điều 226 Luật tố tụng dân
sự 2015 Phiên tòa sẽ được tiến hành với sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định và kiểm sát viên.Phiên tòa sẽ bị hoãn nếu nằm trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 233 uật tố tụng dân sự 2015 Khi hoãn phiên tòa phải có quyết định hoãn phiên tòa gồm các nội dung theo quy định tại Khoản 2 và khoản 3 Điều 233 Luật tố tụng dân sự 2015 quy định Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng, đối với phiên tòa xét xử vụ án rút gọn là
hợp nào phải hoãn phiên tòa thì phiên vẫn sẽ được tiếp tục.Thủ tục tiến hành phiên
t a sơ th m được pháp luật quy định cụ thể như sau:
32 Khoản 4 Điều 203 Luật tố tụng dân sự năm 2015
33 Khoản 1 Điều 12 Luật tố tụng dân sự năm 2015
34
Khoản 1 điều 233 Luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 26 Thủ tục bắt đầu phiên tòa (mục 2 chương XIV uật tố tụng dân sự 2015) sẽ bao gồm khai mạc phiên t a Đây là việc mà trước khi mỗi phiên tòa xét xử phải làm nhằm mục đích thông báo cho người có mặt biết được phiên tòa này sẽ xét xử
vụ việc gì, kiểm tra xem các đương sự, người làm chứng, người phiên dịch,…đã có mặt hay chưa và yêu cầu họ phải tuyên thệ những gì mà họ cung cấp, khai báo đều hoàn toàn là sự thật Tiếp theo sẽ xem x t đến các việc có thể dẫn đến việc hoãn phiên tòa hay không Trong giai đoạn này thì chủ tọa phiên tòa sẽ hỏi các đương sự
về việc có thay đổi, bổ sung hay rút yêu cầu của mình, sau đó hội đồng xét xử xem
có thể chấp nhận các việc đó không Cuối cùng, chủ tọa phiên tòa sẽ hỏi các đương
sự có thỏa thuận được với nhau về toàn bộ vấn đề tranh chấp hay không nếu được thì tòa sẽ công nhận sự thỏa thuận đó của các đương sự và quyết định công nhận này sẽ có hiệu lực ngay sau khi được ban hành, không bị kháng cáo, kháng nghị
là giai đoạn mà các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
sẽ trình bày, phản biện các chứng cứ, quan điểm và lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Sau đó sẽ đến th m phán, Hội th m nhân dân, kiểm sát viên tham gia phiên tòa th m vấn những người tham gia tố tụng để nhằm làm rõ thêm các vấn đề của vụ tranh chấp
kết thúc phần tranh luận thì Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án Họ sẽ xem xét lại hết các chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và sẽ đưa ra biểu quyết để đưa ra quyết định cuối cùng cho việc giải quyết tranh chấp đó Sau đó họ
sẽ trở lại phiên tòa và Hội đồng xét xử sẽ tuyên đọc bản án trước những người có mặt tại phiên t a Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì thời gian nghị án không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thức tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên t a và người tham gia
tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về giờ, ngày, địa điểm tuyên án Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên t a, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sat cùng cấp
35
Khoản 1 Điều 213 Luật tố tụng dân sự năm 2015