Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật công ty của các nước phát triển trên thế giới, trong thời gian qua, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong nhận thức và thực tiễn thi hành pháp luật,
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu 5
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Kết cấu khóa luận 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 8
1.1 Khái niệm về CTCP: 8
1.2 Cơ cấu tổ chức, quản lý của Công ty cổ phần 15
1.2.1 Cổ đông và Đại hội đồng cổ đông 16
1.2.1.1 Cổ đông 16
1.2.1.2 ĐHĐCĐ 17
1.2.2 Hội đồng quản trị 22
1.2.2.1 Thành phần, chức năng của HĐQT 22
1.2.2.2 Cuộc họp HĐQT: 25
1.2.2.3 Thành viên độc lập HĐQT 25
1.2.2.4 Chủ tịch HĐQT: 26
1.2.3 Giám đốc (Tổng giám đốc) và bộ máy điều hành 26
1.2.4 Ban kiểm soát 28
1.2.4.1 Thành phần BKS 28
1.2.4.2 Quyền và nhiệm vụ của BKS 28
1.3 Tính chuyên môn hóa giữa các cơ quan quản trị trong Công ty cổ phần hiện nay 30
1.4 Tính chuyên nghiệp của Đại hội đồng cổ đông 31
Trang 41.8 Tính minh bạch công khai trong Công ty cổ phần ở Việt Nam 36
1.8.1 Minh bạch và công khai thông tin đối với cổ đông công ty 37
1.8.1.1 Nghĩa vụ công bố thông tin của CTCP 37
1.8.1.2 Quyền xem xét và trích lục sổ sách, tài liệu của cổ đông 37
1.8.2 Minh bạch và công khai thông tin với người quản lý công ty 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CẤU TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 40
2.1 Thực trạng trong việc tổ chức và quản lý Công ty cổ phần hiện nay 40
2.2 Một số đề nghị cụ thể của tác giả về việc hoàn thiện mô hình tổ chức, quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay 44
KẾT LUẬN 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em đã nhân được sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của Thầy Vũ Anh Sao Em xin gửi đến Thầy lời cảm ơn chân thành nhất
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy Cô giáo của trường Đại học Công Nghệ TP.HCM, đặc biệt là các Thầy Cô thuộc Khoa Luật đã dạy dỗ và chỉ bảo em trong suốt bốn năm học vừa qua tại trường
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè, nhựng người đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn hành khóa luận
TP.HCM, ngày … tháng 09 năm 2018
Người thực hiện
Lê Ngọc Thảo
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và những thông tin trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và đã được phép công bố
TP.HCM, ngày … tháng 09 năm 2018
Người thực hiện
Lê Ngọc Thảo
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang trên con đường hội nhập nền kinh tế quốc
tế Kéo theo sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của loại hình Công ty cổ phần Công
ty cổ phần ra đời từ cuối thế kỷ thứ 16 ở các nước tư bản, là loại hình công ty có lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời trên thế giới.Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm 1999 và hiện nay là Luật doanh nghiệp năm 2014, sự hiểu biết về các vấn đề liên quan đến Công ty cổ phần ngày càng cụ thể hơn Sự hình thành và phát triển của Công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ “Công ty cổ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển” Công ty cổ phần đã chiếm một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới
Ở những khía cạnh nhất định, so với các loại hình doanh nghiệp khác như: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn thì Công ty cổ phần có những nét riêng biệt trong việc tổ chức và quản lý Về tổ chức Công ty cổ phần bao gồm Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng Giám đốc), khi có trên 11 cổ đông Công ty phải có Ban kiểm soát Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật công ty của các nước phát triển trên thế giới, trong thời gian qua, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong nhận thức và thực tiễn thi hành pháp luật, nếu so sánh với những quy định về Công ty cổ phần nói chung và vấn đề tổ chức, quản lý Công ty cổ phần nói riêng thì pháp luật của nước ta đã có cách tiếp cận và phát triển khá bài bản, đã giải quyết được những yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Nhận thức vai trò quan trọng của yếu tố tổ chức, quản lý trong Công ty cổ phần, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có nhiều chế định liên quan, tạo cơ sở pháp lý chung để những nhà quản lý Doanh nghiệp áp dụng vào thực tiễn công ty mình, nhằm làm cho bộ máy Công ty cổ phần vận hành có hiệu quả, chuyên nghiệp
Tổ chức, hoạt động quản lý Công ty cổ phần là một vấn đề nổi bật ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển và đang phát triển trong đó có Việt Nam.Vấn
đề này càng trở nên cần thiết hơn khi các Công ty cổ phần ra đời ngày càng nhiều, cho thấy tầm quan trọng của loại hình này trong nền kinh tế của nước ta, việc trang
bị kiến thức pháp luật là vô cùng phù hợp với nhu cầu hiện tại khi các nhà đầu tư đang có xu hướng bỏ vốn mua cổ phần ở các công ty Bên cạnh đó nhằm tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tổ chức, quản lý Công ty cổ phần nên em quyết định chọn
Trang 9đề tài khóa luận nghiên cứu về: “Tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động quản lý của Công ty cổ phần”
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay sự hình thành loại hình công ty cổ phần ở Việt Nam ngày càng phát triển, điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật
về Công ty cổ phần của Việt Nam
Pháp luật về Công ty cổ phần nói chung và quản trị Công ty cổ phần nói riêng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Đậu Anh Tuấn (2004), “Quản lý, điều hành trong Công ty cổ phần ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề tổng quan và cơ bản nhất về quản lý, điều hành trong Công ty cổ phần Quy định pháp luật và thực trạng quản lý, điều hành trong Công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay ( các cơ quan, thiết chế trong Công ty cổ phần và mối liên hệ giữa chúng; Quy định của Luật Công ty 1990, )
Trần Lương Đức (2006), “Chế độ pháp lý về quản trị Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Trong luận văn này tác giả đã phân tích và luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị nội bộ trong Công ty cổ phần mà cụ thể đó là việc phân chia quyền lực giữa các bộ phận trong Công ty cổ phần ở nước ta Đồng thời trên cơ sở so sánh, tham khảo cơ chế quản trị nội bộ trong một số mô hình của Công ty cổ phần trên thế giới để đánh giá, đưa ra những vấn đề đã làm được và những tồn tại cần thay đổi trong cách thức quản trị nội bộ Công ty cổ phần ở nước ta
Nguyễn Quý Trọng (2005), "Tổ chức quản lý nội bộ Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội Trong luận văn này tác giả tập trung làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về quản lý Công ty cổ phần như cơ chế phân bổ quyền lực, bảo vệ cổ đông, kiểm soát các giao dịch tư lợi, quản lý đối với Công ty cổ phần được
cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước trên phương diện lý luận và thực tiễn Bằng cách tiếp cận theo phương pháp so sánh một số mô hình quản lý công
ty trên thế giới, giữa Công ty cổ phần với mô hình doanh nghiệp khác theo pháp luật Việt Nam, đề xuất những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về tổ chức quản lý nội bộ Công ty cổ phần tại Việt Nam
Trang 10 Đồng Ngọc Ba, "Vấn đề tổ chức quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp" , Tạp chí luật học Bài viết này đã phân tích, đánh giá một số nội dung cơ bản về tổ chức, quản lý Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp nhằm giúp cho việc giải thích và áp dụng pháp luật về Công ty cổ phần được thuận lợi hơn
Nguyễn Ngọc Bích, Vốn và quản lý Công ty cổ phần (2004), NXB Trẻ Mục đích của cuốn sách này là tìm hiểu một số quy định của Luật Doanh nghiệp
để áp dụng chúng vào Công ty cổ phần, thể hiện qua bản điều lệ công ty Sự tìm hiểu ở đây chỉ tập trung vào hai điểm là vốn và quản lý công ty
Lưu Tiến Ngọc (2002), "Pháp luật về quản lý nội bộ trong Công ty cổ phần ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội Trong luận văn này tác giả nghiên cứu các vấn đề pháp lý như: cơ cấu quản lý nội
bộ, vốn, cổ đông trong quản trị nội bộ Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 1999 trên cơ sở so sánh, đối chiếu với quy định về quản trị nội bộ Công ty cổ phần trong pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó kiến nghị một số nội dung cần hoàn thiện về Công ty cổ phần ở Việt Nam, tiếp cận từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu cơ cấu tổ chức và quản lý Công ty
cổ phần ở Việt Nam, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu phân tích làm rõ một số khía cạnh pháp lý trong quá trình tổ chức và hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần, quyền và nghĩa vụ của cổ đông Công ty cổ phần, cơ cấu tổ chức Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát Tuy nhiên, các vấn
đề trên mới được đề cập dưới góc độ của LDN 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành nên chưa làm rõ được những vấn đề về cơ cấu tổ chức và hoạt động quản lý Công ty cổ phần sau khi LDN 2014 được thông qua Vì vậy, đề tài đi sâu nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về cơ cấu tổ chức và hoạt động quản lý Công ty cổ phần, mà chủ yếu là nghiên cứ về tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động quản lý Công ty cổ phần theo quy định pháp luật LDN 2014 từ
đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là các quy định của pháp luật về mô hình tổ chức, hoạt động quản lý Công ty cổ phần
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các nội dung về tổ chức, hoạt động của Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống và hiệu quả, khóa luận
sử dụng tổng hợp các phương pháp:
Phương pháp tổng hợp, phân tích luật được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tổ chức, hoạt động quản lý của Công ty cổ phần cho thấy được sự hình thành, phát triển cũng như sự cần thiết và vai trò của việc tổ chức và quản lý trong Công ty cổ phần
Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, suy luận logic, so sánh luật học được sử dụng chủ yếu trong Chương 2 khi phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về cơ cấu tổ chức trong Công ty cổ phần để cho thấy tính chuyên nghiệp trong tổ chức, hoạt động quản lý của Công ty cổ phần hiện nay Như phân tích các quy định của pháp luật về Cổ đông, Hội đồng cổ đông, Giám đốc/Tổng giám đóc, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát Phương pháp so sánh được áp dụng trong phần so sánh về cơ cấu tổ chức, quản lý với các nước khác
Phương pháp diễn giải, quy nạp được sử dụng chủ yếu trong Chương 3 để đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động quản
lý của Công ty cổ phần
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Khái quát về tính chuyên nghiệp trong tổ chức và quản lý Công ty
cổ phần
Chương 2: Thực trạng và giải pháp để hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động quản lý của Công ty cổ phần
Trang 12CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG TỔ
CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Khái niệm về CTCP:
PGS.TS Ngô Huy Cường cho rằng: "Khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn hảo về CTCP mà có thể làm thỏa mãn mọi người, vì vậy cách thức tốt nhất để nắm được khái niệm về CTCP là nêu và phân tích các đặc điểm của nó".1
CTCP là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Sự hình thành và phát triển của CTCP gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ “Công ty cổ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển”.2
Theo Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định "CTCP là Doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế
số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm và các khoản nợ và tài sản khác của
DN, trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn" Tương tự như LDN 2005, LDN 2014 không đưa ra một khái niệm khái quát mà chỉ đưa ra những dấu hiệu pháp lý để nhận diện CTCP, nhưng quy định này
đã xác định tư cách pháp lý tồn tại của CTCP theo pháp luật Việt Nam, giúp phân biệt loại hình CTCO với các loại hình DN khác LDN 2014 không có nhiều sửa đổi
về khái niệm CTCP, chỉ thay đổi cụm từ "Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh" thành "Giấy chứng nhận đăng ký DN" cho phù hợp với tên của loại giấy chứng nhận hiện đang được áp dụng, và sửa đổi nội dung: CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn Theo đó, CTCP giới hạn việc huy động vốn bằng việc phát hành các loại cổ phần, chứ không quy định chung là "chứng khoán các loại" như trước đây
CTCP là loại hình doanh nghiệp, trong đó những đặc điểm nổi bật của CTCP được thể hiện qua các tiêu chí sau:
Trang 13xã hội, quỹ từ thiện
CTCP có tài sản riêng Có thể nói CTCP là một thực thể pháp lý có quyền năng sở hữu Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 LDN thì " cổ đông CTCP phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty Cổ phần chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp phápnđối với tài sản góp vốn đã chuyển sang cho công ty" Như vậy, thông qua việc góp vốn bằng cách mua, nhận chuyển nhượng cổ phần của CTCP, cổ đông công ty phải chuyển quyền
sở hữu đối với tài sản góp vốn đó cho công ty, và khi đó công ty là chủ thể giữ quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn của cổ đông
CTCP có tên riêng Việc đặt tên công ty cổ phần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tên DN, cụ thể ở đây là LDN 2014 và NĐ78/2015/NĐ-CP
CTCP có trụ sở giao dịch ổn định
CTCP được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Mục đích hoạt động của CTCP là việc thực hiện các hoạt động kinh doanh
Về vốn điều lệ:
Khoản 1 Điều 111 LDN 2014 quy định: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là Cổ phần và được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phần có giá trị bằng nhau và một cổ đông có thể sở hữu nhiều cổ phần Vốn điều lệ của CTCP tại thời điểm đăng ký thành lập DN là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các
loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty
Đây là đặc điểm thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa CTCP với các loại hình
DN khác Đặc biệt, đây là đặc điểm chính để phân biệt giữa CTCP và công ty trách nhiệm hữu hạn Trong đó, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, vốn điều lệ là tổng số vốn do các thành viên góp hoặc cam kết góp và không chia thành các phần bằng nhau (không chia thành cổ phần) Mỗi thành viên sẽ sở hữu phần vốn góp ( tỷ lệ vốn góp) tương ứng với số vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty và phần vốn góp của các thành viên có thể bằng hoặc không bằng nhau
Trang 14Khi thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn góp vốn họ cũng được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp của mình Thế nhưng Giấy chứng nhận này không được xem là một loại giấy tờ có giá và không được chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán như cổ phiếu của các cổ đông CTCP
Việc chia vốn điều lệ của CTCP thành các phần nhỏ như vậy đã làm cho hoạt động của CTCP mang tính xã hội hóa cao Bất kỳ ai, dù không có vốn lớn, nếu không thuộc trường hợp bị cấm mua cổ phần (các trường hợp cấm góp vốn theo khoản 3 Điều 18 LDN) đều có thể đầu tư vào CTCP thông qua việc mua cổ phần (mua cổ phiếu) Chính sự phát triển về hình thức gọi vốn này mà CTCP có thể huy động một lượng vốn lớn từ công chúng Hơn nữa, điều này cũng phù hợp với một nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh là phân tán rủi ro
Về chủ sở hữu Công ty Cổ phần:
Theo khoản 2 Điều 4 LDN, chủ sở hữu CTCP là các cổ đông cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất 1 cổ phần của CTCP Số lượng cổ động tối thiểu của công ty cổ phần là 3 và không hạn chế số lượng tối đa theo điểm b khoản 1 Điều 110 LDN
CTCP mới lập phải có ít nhất 3 cổ đông sáng lập
CTCP được chuyển đổi từ DN Nhà Nước hoặc từ Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập từ CTCP khác không nhất thiết phải
có
Trường hợp không có Cổ đông sáng lập, Điều lệ Công ty trong hồ sơ đăng ký
DN phải có chữ ký của người đại diện theo Pháp luật hoặc các Cổ đông phổ thông của Công ty đó
Về tư cách pháp lý:
Theo khoản 2 Điều 110 LDN 2014 quy định: "CTCP có tư cách pháp nhân
kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp" Đặc điểm này xác định tính chất độc lập của loại hình công ty này với các cổ đông - các chủ sở hữu của công ty và với các chủ thể khác
Tính độc lập về tư cách chủ thể của CTCP được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Một là, CTCP là một chủ thể kinh doanh có sự độc lập về mặt tài sản, tài sản của công ty hoàn toàn tách bạch với tài sản của các cổ đông
Trang 15 Hai là, CTCP tự bản thân nó phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của mình trong phạm vi tài sản trong phạm vi số tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty, các cổ đông công ty không chịu trách nhiệm thay hoặc bổ sung cho các nghĩa vụ của công ty
Ba là, bản thân công ty là nguyên đơn, bị đơn trong các quan hệ tố tụng mà công ty là một bên trong tranh chấp
Bốn là, là một pháp nhân, CTCP phải có cơ cấu tổ chức của một tổ chức độc lập
Các thành viên công ty gọi là cổ đông chỉ có quyền "sở hữu kinh tế" đối với phần vốn mà họ đã góp và công ty bằng việc mua cổ phần thông qua chuyên chế cổ đông, được quyền chia lợi nhuận và phần tài sản còn lại khi công ty giải thể, quyền
ưu tiên mua cổ phần khi công ty phát hành thêm cổ phần
Về tính chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông:
CTCP chỉ chịu trách nhiệm với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của mình trong phạm vi số tài sản riêng của công ty Điều này có nghĩa là công ty chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính công ty Do đó, nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt với nghĩa vụ của cổ đông Theo đó, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cổ phần đã góp vào công ty - tính chiệu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông Các cổ đông công ty không chịu trách nhiệm thay hay trách nhiệm bổ sung cho các nghĩa vụ của công ty
Tính chịu trách nhiệm hữu hạn của các cổ đông ở đây được lý giải từ hai góc
độ sau:
Một là, các cổ đông vì không có quyền sở hữu cá nhân đối với tài sản đã góp vốn vào công ty nên không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công
ty có liên quan đến tài sản đó
Hai là, CTCP là một pháp nhân độc lập với chính các cổ đông, công ty và cổ đông là hai chủ thể độc lập, do vậy cổ đông không có nghĩa vụ chịu trách nhiệm thay hay trách nhiệm bổ sung cho công ty
Điều này dẫn đến hệ quả là CTCP và chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản riêng của cổ đông đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
Trang 16khác của công ty Với đặc trưng này, pháp luật gián tiếp khuyến khích giới kinh doanh đầu tư vào những lĩnh vực có độ rủi ro cao, bởi đặc trưng này tạo
ra một sự an toàn nhất định cho các nhà đầu tư trong việc phân tán các rủi ro trong kinh doanh
Trong CTCP, cổ phần được tự do chuyển nhượng trừ ba ngoại lệ:
Một, cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng theo khoản 3 Điều 116 LDN
Hai, trong thời hạn ba năm kể từ ngày CTCP được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập của công ty nếu không có sự chấp thuận của ĐHĐCĐ theo khoản 3,4 Đều 119 LDN
Ba, điều lệ CTCP có quy định hạn chế khác về chuyển nhượng cổ phần và các hạn chế này được ghi rõ trong cổ phiếu tương ứng theo khoản 1 Điều 126 LDN
Như vậy, ngoài ba trường hợp trên, cổ đông có thể tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác bất kỳ lúc nào Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần giúp các nhà đầu tư dễ dàng tham gia và và và rút ra khỏi công ty bằng cách mua hay chuyển nhượng cổ phần, đồng thời giúp công ty thu hút vốn đầu tư một cách thuận lợi hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác
Trong quá trình hoạt động CTCP có quyền phát hành chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn Chính vì thế CTCP là loại hình công ty có khả năng huy động vốn rất lớn Chính cơ chế huy động linh hoạt này đã tạo điều kiện cho những cá nhân với số tiền nhỏ cũng có cơ hội đầu tư và hưởng lợi Cơ chế huy động vốn này còn giúp cho CTCP có khả năng củ động được về nguồn huy động vốn mỗi khi cần nguồn vốn lớn tham gia các hoạt động đầu tư của công ty, sự chủ động này góp phần quan trọng trong sự thành công của loại hình DN này so với các loại hình DN khác trong đó có công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 17Tóm lại: CTCP là loại hình DN có tính tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, có khả năng huy động về vốn lớn và sự dịch chuyển vốn linh hoạt giữa các nhà đầu tư, thích hợp cho hoạt động kinh doanh trên quy mô lớn
Với những đặc trưng cơ bản vốn có như trên, CTCP đã có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường Vai trò to lớn của CTCP được thể hiện thông qua những nội dung sau:
Do quan hệ sở hữu trong CTCP là thuộc về các cổ đông nên quy mô sản xuất
là rất lớn CTCP có khả năng thu hút được các nguồn vốn của đông đảo các nhà đầu tư C.Mác đánh giá vai trò này của CTCP: "Nếu như cứ phải chờ đợi cho đến khi tích lũy làm cho một nhà tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chưa
có đường sắt Ngược lại qua công ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện việc
đó trong nháy mắt"
Vốn huy động dưới hình thức CTCP khác với vốn cho vay trên cơ sở tín dụng, bởi vì, nó không cho vay không lãi mà là kiểu đầu tư mạo hiểm và rủi
ro Trong CTCP, chức năng của vốn tách rời quyền sở hữu của nó cho phép
sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp Giám đốc kinh doanh trở thành một nghề, không cần phải mang chức vụ hành chính CTCP có thể thuê giám đốc trên cơ sở hợp đồng quản trị với giám đốc kinh doanh
CTCP tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù: chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của công ty là chia sẻ rủi ro cho các chủ
nợ khi công ty phá sản Vốn tự có của công ty huy động thông qua phát hành
cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông khác nhau Do đó, khi công ty bị phá sản
có thể chia sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông Chính cách thức huy động vốn của CTCP đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu của các công ty ở nhiều ngành khác nhau để giảm bớt tổn thất khi bị phá sản so với việc đầu tư tài chính và một số công ty cùng ngành
Việc ra đời của các CTCP với việc phát hành các loại chứng khoán và việc mua bán, chuyển nhượng chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán ra đời lại
là nơi để cho các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm được các nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh, là nơi khai thông các nguồn tiết kiệm của những người tích lũy đến các nhà đầu tư và là cơ sở quan trọng để thông
Trang 18qua đó Nhà nước sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu lựa chọn
CTCP tạo điều kiện tập hợp được nhiều lực lượng khác nhau vào hoạt động chung nhưng vẫn tôn trọng sở hữu riêng về quyền, trách nhiệm và lợi ích của các cổ đông theo mức đóng góp Mở rộng sự tham gia của các cổ đông vào CTCP Đặc biệt là người lao động là cách để họ tham gia vào hoạt động của công ty với tư cách là chủ sở hữu thực sự chứ không phải là người làm thuê Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý
“Tổ chức và quản lý công ty là hệ thống các thiết chế, theo đó việc tổ chức quản lý công ty được thực hiện trên cơ sở phân định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, người quản lý, những người có lợi ích liên quan, và các phương pháp áp dụng theo một trình tự thủ tục nhằm đảm bảo tổ chức và hoạt động công ty một cách hiệu quả nhất”
Quản lý và tổ chức trong công ty cổ phần là một bộ phận của quản lý tổ chức của công ty Từ đó, ta có thể đưa ra định nghĩa: “Quản lý và tổ chức CTCP là một
hệ thống các cơ chế mà các chủ sở hữu đặt ra trên cơ sở các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận trong bộ máy quản lý, nguyên tắc hoạt động
và thủ tục thông qua các quyết định”
Trong đó bao gồm hai công việc là quản lý CTCP và tổ chức CTCP Nói đến quản lý công ty là hoạt động tổ chức và điều hành công ty, nói đến quản lý công ty
là nói đến mối liên hệ giữa các bộ phận trong công ty Cụ thể hơn, đối với CTCP,
đó là mối liên hệ giữa các cổ đông khác nhau trong việc quyết định đường lối và hoạt động của công ty Tổ chức quản lý CTCP xác định rõ sự phân bổ các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia khác nhau trong công ty
Nói tóm lại, việc quản lý và tổ chức CTCP bao gồm rất nhiều nội dung, trong
đó có thể kể đến các nội dung cơ bản sau:
Cơ cấu bộ máy quản lý nội bộ CTCP
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy quản lý nội
bộ CTCP
Nguyên tắc hoạt động và thủ tục thông qua các quyết định
Trang 191.2 Cơ cấu tổ chức, quản lý của Công ty cổ phần
CTCP là một thực thể phức hợp Việc quản trị, điều hành CTCP vì thế chịu
sự điều chỉnh rất chặt chẽ của pháp luật Mô hình quản lý các CTCP được quy định trong các hệ thống pháp luật khác nhau, bên cạnh những đặc điểm chung sẽ có những nét khác biệt
Ở các nước theo hệ thống Common Law, điển hình là Hoa Kỳ, trong các CTCP, nhất là những công ty đại chúng có quy mô lớn, thường có sự phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty Quyền quyết định những thay đổi
cơ bản về tổ chức, quản lý công ty như sáp nhập, giải thể, sửa đổi Điều lệ…thuộc về
cơ quan của các cổ đông (Đại hội cổ đông) với tư cách là chủ sở hữu công ty Quyền quản lý công ty thuộc về HĐQT HĐQT do ĐHĐCĐ bầu ra và có quyền quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty Mô hình như trên được gọi là mô hình quản lý một bậc
Ở các nước theo hệ thống Civil Law, điển hình là CHLB Đức, cơ cấu quản lý trong CTCP bao gồm hai hệ thống cơ quan: Hội đồng giám sát và Ban điều hành Theo hệ thống quản lý này thì việc quản lý, điều hành hoạt động hàng ngày của công ty là thẩm quyền của Ban điều hành Hội đồng giám sát có chức năng cơ bản
là bầu và bãi miễn thành viên của Ban điều hành và thực hiện giám sát thường xuyên các hoạt động của công ty, đưa ra các đề xuất và giải pháp để cổ đông xem xét, quyết định Một người không thể cùng lúc đảm nhiệm công việc ở hai hệ thống
cơ quan này
Ở một số nước khác như Malaysia, Philippin, Thái Lan, Singapore…, mô hình tổ chức quản lý CTCP bao gồm hai cơ quan chính là ĐHĐCĐ và HĐQT ĐHĐCĐ có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công ty HĐQT là cơ quan quản lý, điều hành hoạt động của công ty
Ở nước ta, mô hình tổ chức, quản lý CTCP được thiết kế theo cách tiếp cận của hệ thống pháp luật Civil Law, tuy nhiên có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam Theo quy định của LDN 2015, bộ máy quản lý CTCP gồm có ĐHĐCĐ, HĐQT và GĐ (TGĐ) Đối với CTCP có trên mười một
cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty thì phải có BKS Mỗi cơ quan trong bộ máy quản lý CTCP đảm nhiệm những quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau tương xứng với vị trí và chức năng của chúng
Trang 20 ĐHĐCĐ: là cơ quan của các cổ đông trong CTCP, có thẩm quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn tại của công ty như: sửa đổi, bổ sung Điều lệ, định hướng phát triển công ty, quyết định tổ chức lại và giải thể công ty…Quyền biểu quyết và giá trị biểu quyết của các cổ đông trong ĐHĐCĐ có thể khác nhau, phụ thuộc vào loại cổ phần mà họ sở hữu Những vấn đề này được quy định cụ thể trong LDN và Điều lệ công ty
HĐQT: là cơ quan quản lý công ty, có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến quản lý, điều hành công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT do ĐHĐCĐ bầu và bãi miễn Thành viên HĐQT thường là các cổ đông lớn của công ty hoặc người không phải là cổ đông công ty nhưng có năng lực, kinh nghiệm quản lý hoặc kinh nghiệm chuyên môn liên quan đến những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty
GĐ (TGĐ): là người được HĐQT lựa chọn, bổ nhiệm để trực tiếp điều hành hoạt động của công ty GĐ (TGĐ) là đại diện pháp nhân của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định khác
BKS: là cơ quan do ĐHĐCĐ bầu ra để thực hiện việc giám sát HĐQT, GĐ (TGĐ) trong hoạt động quản lý, điều hành công ty và trong việc thực hiện các nghị quyết của ĐHĐCĐ Với mô hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy quản lý CTCP như trên sẽ đảm bảo cho hoạt động của công ty được diễn ra nhịp nhàng, hiệu quả, đồng thời được kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các cổ đông và của công ty
1.2.1 Cổ đông và Đại hội đồng cổ đông
1.2.1.1 Cổ đông
CTCP là loại hình doanh nghiệp bao gồm nhiều chủ sở hữu Trong đó, mỗi chủ sở hữu có quyền lợi và nghĩa vụ tương đương với phần vốn góp vào doanh nghiệp và được gọi là "Cổ đông" Các loại cổ đông được phân loại bằng quyền cũng như nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà họ sở hữu
CTCP có nhiều loại cổ đông khác nhau tùy thuộc vào loại cổ phần mà họ nắm giữ, nếu phân loại cổ đông theo loại cổ phần mà họ sở hữu thì cổ đông được phân chia thành hai loại là cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi Theo đó, người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi là người nắm giữ cổ phần ưu đãi Một CTCP bắt buộc phải có cổ đông phổ thông và có thể có cổ đông
ưu đãi, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi trong khi đó
cổ phần ưu đãi có thể được chuyển đổi thành công cổ phần phổ thông theo quyết
Trang 21định của ĐHĐCĐ Về nguyên tắc, dù là cổ đông phổ thông hay cổ đông ưu đãi nó cũng đều tạo ra cho người sở hữu các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau
Quyền và nghĩa vụ của cổ đông CTCP: Cổ đông CTCP bao gồm các quyền
sau: Quyền liên quan tới hệ thống quản lý điều hành công ty; Quyền kinh tế; Quyền kiểm tra giám sát hoạt động của công ty; Quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh Nghĩa vụ của cổ đông CTCP được quy định tại Điều 115 LDN 2014 Việc quy định cụ thể các nghĩa vụ của cổ đông CTCP đã buộc
cổ đông CTCP tuân thủ đúng các quy định pháp luật, quy chế nội bộ công ty tránh việc lạm dụng quyền hạn để gây thiệt hại đến lợi ích của công ty, của các cổ đông khác cũng như các chủ thể khác có liên quan Các nghĩa vụ này khá tương đồng với các nghĩa vụ của cổ đông CTCP của các quốc gia trên thế giới Tuy vậy, trên thực
tế, mức độ tuân thủ các nghĩa vụ của cổ đông CTCP là không cao mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc pháp luật chưa có các chế tài đủ mạnh để răn đe và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm Do đó, cần bổ sung thêm các chế tài xử lý tương ứng với các hành vi vi phạm nghĩa vụ của cổ đông CTCP
1.2.1.2 ĐHĐCĐ
Theo khoản 1 Điều 135 LDN 2014 quy định "ĐHĐCĐ gồm tất cả cổ đông
có quyền biểu quyết , là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP" Như vậy, ĐHĐCĐ là cơ quan có tính “quyền lực” của CTCP Quyền lực của ĐHĐCĐ thể hiện thông qua việc ra các quyết định quan trọng của công ty Phương thức ra quyết định của ĐHĐCĐ là sự biểu quyết của cổ đông tại cuộc họp hoặc phương thức khác theo nguyên tắc đối vốn Chính vì lẽ đó, ĐHĐCĐ của CTCP chỉ bao gồm cổ đông
có quyền biểu quyết và bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, không có trường hợp ngoại lệ Theo khoản 2 Điều 135 LDN 2014, ĐHĐCĐ có các quyền và nhiệm vụ sau đây :
Nhóm các quyền liên quan đến công tác tổ chức của công ty
HĐQT và BKS là các cơ quan quản lý, giám sát củaCTCP, có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình hoạt động, hiệu quả kinh doanh của công ty nên
Trang 22thành viên hai cơ quan này sẽ do ĐHĐCĐ trực tiếp bầu ra theo khoản 3 Điều
144 LDN
Chức năng giám sát:
ĐHĐCĐ có thẩm quyền thông qua báo cáo tài chính hàng năm của công ty
ĐHĐCĐ giám sát để quyết định tán thành hoặc không tán thành các báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban giám đốc hoặc các đơn thư khiếu nại của cổ đông, người liên quan đối với các thành viên thuộc các cơ quan nêu trên Đây là một trong những nội dung thể hiện rõ nét nhất địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông Bởi nó không chỉ thể hiện tính quyền lực thông qua hoạt động có tính chất giám sát của Đại hội đồng cổ đông mà đặc biệt là thể hiện mới quan hệ với các bộ phận khác trong tổ chức quản lý của doanh nghiệp đó là Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát, trong đó Đại hội đồng cổ đông dường như có vị trí cao hơn
Theo LDN 2014, cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty Việc quyết định mức cổ tức hàng năm
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi về vật chất của các cổ đông, Với tư cách là cơ quan có quyền lực cao nhất trong công ty, ĐHĐCĐ sẽ ra những quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi về vật chất của các cổ đông
ĐHĐCĐ có quyền quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mội loại
ĐHĐCĐ có quyền quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại, do đó khi công ty mua lại các cổ phần đã bán, đặc biệt là khi mua lại với số lượng lớn (trên 10%) có khả năng ảnh hưởng đến
cơ cấu vốn điều lệ của công ty, thì phải được chính ĐHĐCĐ quyết định việc mua lại
ĐHĐCĐ có quyền quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong Báo cáo tài chính năm gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác
Trang 23Mặc dù đây là những vấn đề có tính chất quản lý (mang tính chất kinh doanh đầu tư hoặc bán tài sản của công ty) nhưng với phạm vi đầu tư hoặc bán này (hơn 35% tổng giá trị tài sản của công ty) có khả năng ảnh hương đến cơ cấu tài chính và nền tảng chung của công ty, do đó quyết định này cần được giành cho cơ quan quyền lực cao nhất của công ty là ĐHĐCĐ
Về định hướng phát triển doanh nghiệp cũng là một vấn đề quan trọng trong doanh nghiệp, đây cũng là quyền của chủ sở hữu, quyền này không thể chuyển giao cho các đối tượng khác, nó thể hiện quyền lực và ý chí của chủ
sở hữu mong muốn con đường mà doanh nghiệp của mình sẽ đi trong tương lai như thế nào Trong nội dung này, ĐHĐCĐ có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty
Có thể nói trong toàn bộ văn kiện pháp lý (hồ sơ) thành lập công ty, thì bản điều lệ với tư cách là "bộ luật riêng" của công ty đóng vai trò quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình tồn tại và hoạt động của công ty Vì thế, chỉ có ĐHĐCĐ mới có thẩm quyền quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty
Ngoài các nhiệm vụ kể trên, ĐHĐCĐ còn có các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của LDN 2014 và điều lệ công ty
Cuộc họp ĐHĐCĐ:
ĐHĐCĐ là cơ quan tập thể, do đó hoạt động của nó chính là các phiên họp ĐHĐCĐ Theo LDN 2014 thì hình thức hoạt động ĐHĐCĐ bao gồm hai loại phiên họp đó là loại phiên họp ĐHĐCĐ thường niên theo khoản 2 Điều 136 LDN 2014 và loại phiên họp ĐHĐCĐ bất thường theo khoản 3 Điều 136 LDN 2014
ĐHĐCĐ thường niên mỗi năm chỉ họp một lần và thời hạn họp diễn ra trong vòng 04 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính (Khoản1,2 Điều 136) Cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên phải diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam, trường hợp cuộc họp được tổ chức tại nhiều nơi thì địa điểm họp ĐHĐCĐ được xác định là nơi chủ toạ tham dự họp Đại hội đồng thường niên của CTCP thực hiện các công việc thuộc thẩm quyền của cơ quan lãnh đạo này theo quy định tại Khoản 2 Điều 135
Đại hội đồng cổ đông bất thường cũng là một hình thức hoạt động quan trọng của CTCP nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của doanh nghiệp mà vượt quá thẩm quyền quyết định của HĐQT, BKS, Ban giám đốc Cơ sở cho cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường được quy định trong LDN
và Điều lệ công ty
Trang 24 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng (hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty): có quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ trong trường hợp
cả HĐQT và BKS không triệu tập họp theo quy định của pháp luật (khoản 6 Điều 136 LDN 2014)
Và trong trường hợp này, pháp luật quy định khi HĐQT hoặc BKS không triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ theo trách nhiệm của mình thì thành viên của những cơ quan này sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp (nếu có) đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm theo quy định (Khoản 3,4,5,6 Điều 136 LDN 2014)
HĐQT là cơ quan trước tiên phải có trách nhiệm triệu tập ĐHĐCĐ Ngoài ra
nó còn có nghĩa vụ triệu tập theo yêu cầu của BKS hoặc cổ đông/nhóm cổ đông (theo khoản 2 Điều 114 LDN 2014) Trường hợp mặc dù BKS và cổ đông/nhóm cổ đông (theo khoản 2 Điều 114 LDN 2014) đã có yêu cầu nhưng HĐQT vẫn không triệu tập ĐHĐCĐ như theo luật định thì BKS mới
có quyền triệu tập Nếu BKS không triệu tập thì cổ đông/nhóm cổ đông (theo khoản 2 điều 114 LDN 2014) mới có quyền triệu tập
Riêng về vấn đề triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ này LDN 2014 cụ thể tại khoản
4, 5 còn quy định vấn đề HĐQT, BKS phải chịu trách nhiệm vật chất đó là bồi thường thiệt hại phát sinh do hành vi không triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ do những lý
do quy định tại khoản 3 Điều 136 LDN và hành vi không triệu tập có gây ra hậu quả vật chất
Rõ ràng quy định về trách nhiệm vật chất đối với hành vi không tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ cũng chính là một trong những cơ chế ràng buộc trong cơ cấu quản lý công ty cổ phần Điều này giúp các HĐQT, BKS có trách nhiệm hơn đối với hành
vi của họ, ngoài ra còn tạo ra một công cụ cho các cổ đông gián tiếp can thiệp, quyết định sớm các vấn đề quan trọng đối với DN mà họ là người chủ sở hữu
Trang 25Điều kiện tiến hành cuộc họp ĐHĐCĐ: 3
Cuộc họp ĐHĐCĐ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết; tỉ lệ của thể do Điều lệ công ty quy định
Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất Cuộc họp của ĐHĐCĐ triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông đại diện ít nhất 33% tổng số phiếu biểu quyết; tỉ lệ của thể do Điều lệ công ty quy định
Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai cũng không đủ điều kiện tiến hành theo quy định thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn hai mươi ngày,
kể từ ngày dự định họp lần thứ hai Trong trường hợp này, cuộc họp của ĐHĐCĐ được tiến hành không phụ thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp
Như vậy, cuộc họp của ĐHĐCĐ có thể được triệu tập đến lần thứ ba (và chỉ
có ba lần) nhằm đảm bảo trong cuộc họp của ĐHĐCĐ có thể tiến hành được trong mọi trường hợp, kể cả phiên các cổ đông lớn trì hoãn không tham dự cuộc họp vì nhiều lý do khác nhau Cuộc họp lần thứ ba của ĐHĐCĐ được tiến hành không phụ thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp
Vấn đề thông qua nghị quyết của ĐHĐCĐ: 4
ĐHĐCĐ thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp họp lấy ý kiến bằng văn bản Các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 143 bắt buộc phải thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ (trừ trường hợp Điều lệ có quy định khác)
Đối với hình thức thông qua các quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ, các vấn đề sau đây phải được ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp tán thành: Loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại; Thay đổi ngành, nghề trong lĩnh vực kinh doanh; Thay đổi cơ cấu
tổ chức quản lý công ty; Dự án đầu tư hoặc bán tài sản có giá bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, hoặc tỷ lệ, giá trị khác nhỏ hơn do Điều lệ công ty quy định; Tổ chức lại, giải thể công ty; Các vấn đề khác do Điều lệ công ty quy định Các vấn đề khác sẽ được thông qua với tỷ lệ ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành Riêng vấn đề biểu quyết bầu thành viên HĐQT và BKS có thể được thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu quy
Trang 26định tại khoản 3 Điều 144 LDN 2014 Đối với hình thức lấy ý kiến bằng văn bản, nghị quyết của ĐHĐCĐ sẽ được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết tán thành; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định
Trong cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên:
Yêu cầu HĐQT phải báo cáo trước ĐHĐCĐ về kết quả hoạt động của HĐQT và từng thành viên Như vậy, theo LDN 2014 việc HĐQT và từng thành viên sẽ phải báo cáo kết quả hoạt động của mình trong năm trước ĐHĐCĐ chính là
sự trách nhiệm hoá đối với hoạt động chuyên trách, tránh việc chỉ đánh giá mang tính bề ngoài, đồng thời gắn trách nhiệm của họ phải sát sao hơn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cùng Ban giám đốc công ty Và hơn nữa, việc cụ thể hoá trách nhiệm của HĐQT và thành viên sẽ giúp cho ĐHĐCĐ thêm thông tin kịp thời đánh giá và hành động, hoặc bổ sung, thay đổi định hướng kinh doanh, tái cơ cấu doanh nghiệp, thay đổi các thành viên HĐQT nếu thấy cần thiết mặc dù chưa hết nhiệm kỳ
BKS không chỉ Báo cáo về quản lý công ty của HĐQT và Ban giám đốc mà còn phải Báo cáo kết quả hoạt động của hai cơ quan điều hành này, ngoài ra còn phải báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Như vậy bên cạnh việc báo cáo hoạt động của các cơ quan HĐQT và Ban giám đốc thì theo LDN 2014 BKS cũng phải
có trách nhiệm giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả của hoạt động này trước ĐHĐCĐ
1.2.2 Hội đồng quản trị
1.2.2.1 Thành phần, chức năng của HĐQT
Theo khoản 1 Điều 149 của LDN 2014 quy định HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ
Thành phần HĐQT bao gồm 3 đến 11 thành viên, số lượng cụ thể do Điều lệ công ty quy định Nhiệm kỳ thành viên HĐQT không quá 05 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế theo Điều 150 LDN 2014
Để trở thành thành viên HĐQT, phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo khoản 1 Điều 151 LDN 2014:
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng không được quản
lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của LDN;
Trang 27 Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh của công ty
và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công
Theo khoản 2 Điều 149 LDN 2014 HĐQT có các quyền và nghĩa vụ được chia thành các nhóm sau đây:
Nhóm quyền kiến nghị:
Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại;
Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc
xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh;
Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty
Quyền kiến nghị của HĐQT xuất phát từ việc đề phòng trường hợp cổ đông không có nhiều thông tin về công ty và thị trường, dẫn đến việc biểu quyết tại ĐHĐCĐ về các vấn đề trên có thể không chính xác vì lợi ích của công ty và cổ đông Trong khi đó, thành viên HĐQT thường là những nhà kinh doanh, họ có điều kiện tiếp xúc và nắm bắt được các luồng thông tin về thị trường kinh doanh, do vậy
họ có thể phân tích để đưa ra các kiến nghị có giá trị cho các cổ đông tham khảo và đưa ra ý kiến biểu quyết
Nhóm quyền biểu quyết:
Trang 28 Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;
Ở đây cần phân biệt thẩm quyền giữa ĐHĐCĐ và HĐQT về vấn đề này Nếu như ĐHĐCĐ có quyền quyết định tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại mà không trực tiếp quyết định việc bán như thế nào, chẳng hạn bán bao nhiêu? bán khi nào? Vấn đề này thuộc thẩm quyền quyết định của HĐQT theo đó HĐQT có quyền quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi (tổng số) cổ phần được quyền chào bán mà ĐHĐCĐ đã quyết định Việc phân bổ thẩm quyền này tỏ ra hợp lý, bởi lẽ HĐQT mới có điều kiện để cân nhắc khi nào là tốt nhất cho việc bán cổ phần mới sao cho có lợi nhất cho công ty và cho cổ đông
Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu công ty;
Quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã được chào bán trong mỗi mười hai tháng (Trong trường hợp khác, việc mua lại cổ phần do ĐHĐCĐ quyết định);
Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty (nếu Điều lệ công ty không quy định một tỉ lệ hoặc giá trị khác), trừ hợp đồng và giao dịch quy định tại điểm d khoản 2 Điều 135 và khoản 1, 3 Điều 162 của LDN 2014;
Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên ĐHĐCĐ (đây được coi là trách nhiệm của HĐQT)
Về tổ chức, quản lý công ty:
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐQT; bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với GĐ hoặc TGĐ và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định tiền lương và quyền lợi khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền tham gia Hội đồng thành viên hoặc ĐHĐCĐ ở công ty khác, quyết định mức thù lao
và quyền lợi khác của những người đó;
Giám sát, chỉ đạo GĐ hoặc TGĐ và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty;
Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác
Có thể thấy, phạm vi quyền quyết định của HĐQT chủ yếu giới hạn trong quản lý và tổ chức nội bộ công ty
Trang 29Nhóm quyền - nghĩa vụ về "công tác văn phòng" cho ĐHĐCĐ:
Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp ĐHĐCĐ, triệu tập họp ĐHĐCĐ hoặc lấy ý kiến để ĐHĐCĐ thông qua quyết định
Điều kiện tiến hành cuộc họp HĐQT theo khoản 5, 8 điều 153 quy định:
Khi có từ ba phần tư tổng số thành viên trở lên dự họp
Trường hợp cuộc họp được triệu tập lần thứ nhất không đủ số thành viên dự họp theo quy định thì được triệu tập lần thứ hai trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất, trừ trường hợp Điều lệ quy định thời hạn khác ngắn hơn Trường hợp này, cuộc họp được tiến hành, nếu có hơn một nửa số thành viên HĐQT dự họp
Điều kiện thông qua nghị quyết của HĐQT:
Được đa số thành viên dự họp tán thành, trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc về phía có ý kiến của Chủ tịch HĐQT (nếu Điều
lệ không có quy định khác) theo khoản 9 Điều 153 LDN
Ngoài ra, HĐQT còn có thể thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định
1.2.2.3 Thành viên độc lập HĐQT
Thành viên độc lập HĐQT có vai trò rất quan trọng và được quy định rộng rãi trong pháp luật nhiều nước trên thế giới nhằm độc lập giám sát, giảm nguy cơ HĐQT lạm dụng quyền hạn Vì thành viên HĐQT độc lập không tham gia trực tiếp vào việc quản lý nên ít tồn tại khả năng như các thành viên HĐQT điều hành có thể lạm dụng chức vụ vì lợi ích riêng, thay vì bảo vệ lợi ích của công ty và cổ đông
Với LDN 2014, ít nhất 20% số thành viên HĐQT phải là thành viên độc lập6, thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty Do vai trò của các thành viên độc lập HĐQT là giám sát hoạt