Hầu hết là các tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng dịch vụ, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán…Sự gia tăng của các tranh chấp nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM
Ngành: LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THÀNH ĐỨC Sinh viên thực hiện : VÕ THỊ MINH CHÂU MSSV: 1411271270 Lớp: 14DLK14
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Nguyễn Thành Đức đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ
em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất
Em cũng xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô của trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh, đặc biệt là các giảng viên Khoa Luật đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập Vốn kiến thức này không chỉ giúp em hoàn thành thành công khóa luận mà còn là hành trang để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài em luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè và người thân trong gia đình, xin dành sự tri ân sâu sắc đến tất cả mọi người
Em xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018 Sinh viên
Võ Thị Minh Châu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án ở Việt Nam” là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai Các số liệu, bản án và trích dẫn trong luận văn được thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần phần tài liệu tham khảo, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Võ Thị Minh Châu
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu khóa luận 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Khái niệm kinh doanh, thương mại 5
1.1.2 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh thương mại 7
1.1.3 Khái niệm về phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại… 8
1.2 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 13
1.3 Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại 15
1.3.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 15
Thẩm quyền Tòa án theo vụ việc 15
Thẩm quyền Tòa án các cấp 21
Thẩm quyền theo lãnh thổ 24
Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn 25
1.3.2 Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 26
1.3.3 Các giai đoạn trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 31
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN 40
2.1 Thực trạng tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 40
2.1.1 Công tác giải quyết, xét xử các loại vụ việc chung 40
2.1.2 Công tác thụ lý và tình hình giải quyết án kinh doanh thương mại 41
2.1.3 Đánh giá chung tình hình xét xử của hai cấp Tòa án thành phố 41
Trang 52.2 Vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
bằng Tòa án 42
2.2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử 42
2.2.2 Về việc cung cấp chứng cứ 45
2.2.3 Về thẩm quyền giải quyết vụ án 46
2.2.4 Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 48
2.2.5 Xác định thời hiệu khởi kiện vụ án 51
2.2.6 Chi phí kiện tụng lớn hơn lợi ích được bù đắp 53
2.3 Phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 54
2.3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 54
2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh 56
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, tiến trình hội nhập thế giới đã mang đến cho nền kinh
tế Việt Nam nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển, song song đó việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có hệ thống pháp luật tư pháp của nước ta được đặt ra hết sức cấp thiết Theo số liệu khảo sát của ngành tòa án, hàng năm mỗi đơn
vị tòa án các cấp phải thụ lý hàng ngàn vụ án lớn nhỏ liên quan đến kinh doanh thương mại Hầu hết là các tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng dịch vụ, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán…Sự gia tăng của các tranh chấp như trên và cũng như đặc thù của lĩnh vực kinh doanh thương mại thì ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi việc không ngừng nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp nhằm giải quyết ổn thỏa, công bằng, hợp tình hợp lý, đảm bảo quyền lợi cho các bên
Hiện nay có 4 phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mai gồm: thương lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục Trọng tài, giải quyết theo thủ tục Tòa
án Ở Việt Nam các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng các phương thức khác như thương lượng, hoà giải, bởi lẽ tòa án
là cơ quan tài phán quốc gia, mang tính cưỡng chế nghiêm minh nên việc lựa chọn này an toàn, đảm bảo cho các doanh nghiệp
Tuy nhiên, theo quy định tại điều 30, 31 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và rất đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, trong đó có tranh chấp vừa được điều chỉnh bởi quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vừa được điều chỉnh bởi Luật chuyên ngành Chính vì lý do này mà việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án vẫn còn lúng túng, vướng mắc hoặc sai lầm khi áp dụng quy định của pháp luật, vấn đề đáng quan tâm đó là: vướng mắc từ phía pháp luật chưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụng không đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn của ngành không
rõ ràng, quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp giải quyết, điều đó làm cho hoạt động xét xử của Toà án gặp nhiều khó khăn vướng mắc
Qua tìm hiểu quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tòa
án thực tế, thì tác giả nhận thấy các quy định để giải quyết tranh chấp hiện nay vẫn còn một số điểm chưa được pháp luật đề cập rõ ràng do đó tác giả muốn bổ sung một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại bằng Tòa án Xuất phát từ yêu cầu trên mà đề tài “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án ở Việt Nam” được đặt ra để nghiên cứu
rõ hơn vấn đề này
Trang 72 Tình hình nghiên cứu
Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại không phải là đề tài hoàn toàn mới, trong đó, không thể thiếu được việc hoàn thiện khung pháp lý cho các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại Cụ thể, việc ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 và Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại đã thể chế hóa Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách ngành
tư pháp đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh“khuyến khích việc giải quyết một số
tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”
Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình cải cách tư pháp gặp không ít khó khăn Theo Báo cáo Đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2016, liên quan đến phần các phương thức thay thế được DN lựa chọn cho phương thức Tòa án truyền thống,
có đến 4% DN vẫn đang lựa chọn sử dụng “các phương thức phi chính thức khác” -
mà một phần ở đây là dùng tới “xã hội đen” Tình hình này chưa được cải thiện nhiều trong năm 2017
Các công trình nghiên cứu được khảo sát gần đây đã giải quyết một cách kĩ lưỡng và nghiêm túc những giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự cũng như vận dụng các quy định này trên thực tế được ổn thỏa, đảm bào quyền lợi cho các bên, tuy nhiên đó chỉ là những nghiên cứu dựa trên Bộ Luật tụng dân sự 2004 Với Bộ Luật tố tụng dân sự mới (Thông qua ngày 25/11/2015) được sửa đổi bổ sung thêm các điều khoản, quy định mới, thì vẫn chưa có nhiều hướng dẫn hay công trình nghiên cứu về các vấn đề phát sinh mới trong quá trình áp dụng pháp luật khi giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại Với nhu cầu cấp thiết như vậy việc nghiên cứu đề tài này thực sự cần thiết
Tuy vậy một số công trình nghiên cứu của những tác giả dưới đây còn nhiều giá trị tham khảo, vận dụng có thể kể đến như:
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Đinh Thị Trang với đề tài “ Pháp luật về
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng Tòa án ở Việt Nam hiện nay” bảo vệ năm 2013
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Tạ Ngọc Nam với đề tài “Phân biệt
tranh chấp kinh doanh thương mại và tranh chấp dân sự theo pháp luật Việt Nam”
bảo vệ năm 2015
sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại - những vấn đề lý luận và thực tiễn” bảo vệ năm 2005
- Luận văn tốt nghiệp cử nhân của tác giả Phan Minh Giới với đề tài “Giải
quyết tranh chấp về hợp đồng kinh tế trong Luật Việt Nam”, bảo vệ năm 2008
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự mới hiện nay Từ đó đưa ra phương hướng giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
Tuy nhiên trong khuôn khổ giới hạn của đề tài nghiên cứu phạm vi nghiên cứu
chỉ tập trung một số vấn đề sau
i Các vấn đề lý luận, đặc điểm về tranh chấp kinh doanh thương mại, phương
thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, thẩm quyền giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại và cơ sở pháp lý
ii Đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng thủ
tục tố tụng tại tòa án ở Việt Nam hiện nay
iii Đưa ra tình hình giải quyết án hiện nay và một số vướng mắc, khó khăn mà
Tòa án thường gặp phải trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại Tòa án
Sau đó là khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế, đưa ra phương hướng đồng thời các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của “các bậc tiền bối” đi trước, cùng với những kiến thức đã học tại trường, tài liệu tham khảo, cùng với quá trình thực tập tại Tòa, tác giả mong muốn làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự năm 2015, đánh giá một cách khách quan thực trạng giải quyết các vụ tranh chấp kinh doanh thương mại, nêu ra các vướng mắc khó khăn mà Tòa án gặp phải, đưa ra phương hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phù hợp với xu hướng tình hình kinh tế hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết học Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra để hoàn thiện đề tài nghiên cứu tác giả còn vận dụng thêm một số phương pháp như sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp khai thác các tài liệu sẵn có như các văn bản pháp luật, giáo
trình, tạp chí chuyên ngành (Tòa án nhân dân), các công trình nghiên cứu khoa học
có liên quan đến đề tài nghiên cứu, số liệu hồ sơ vụ án trong quá trình thực tập (án dân sự, kinh doanh thương mai, hành chính, lao động, đất đai,…)
Trang 9- Phương pháp phân tích để làm rõ các nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu;
- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ mức độ tương quan giữa các
quy định, các quan điểm để từ đó có những đánh giá, nhận định khách quan về nội dung nghiên cứu;
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứu
một cách có hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu;
- Phương pháp thống kê đem đến một cách nhìn cụ thể hơn thông qua những
con số và vụ việc cụ thể
Từ đó rút ra những nhận xét và kết luận trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ mà khóa luận đề ra
6 Kết cấu khóa luận
Ngoài Lời mở đầu và kết luận thì được bố cục thành 3 chương như sau
Chương I: Cơ sở lý luận và pháp lý về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại bằng Tòa án ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện về giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại bằng Tòa án
Trang 10
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN Ở
VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm kinh doanh, thương mại
Thuật ngữ “thương mại” ban đầu được dùng để chỉ cho các hoạt động buôn
bán của các thương gia Chính vì thế, theo nghĩa hẹp khái niệm thương mại được hiểu là hoạt động mua bán hàng hoá với mục đích kiếm lời Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, khái niệm thương mại được mở rộng dần sang các lĩnh vực khác liên quan đến mua bán hàng hoá, ban đầu là các dịch vụ kèm theo như vận tải, bảo hiểm, thanh toán… Ngày nay, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa rất rộng nó bao hàm tất cả các hoạt động nhằm mục đích sinh lời từ đầu tư, sản xuất đến phân phối và cả dịch vụ hậu mãi sau bán hàng
Ở các nước trên thể giới, khái niệm thương mại ngày càng được hiểu rộng ra bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Ví dụ như, Luật thương mại của Philipin tuy không đưa ra các hành vi thương mại cụ thể mà quy định phạm vi điều chỉnh là các hoạt động nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá dịch
vụ với mục đích lợi nhuận Ngoài ra, luật thương mại của Philipin còn điều chỉnh các giao dịch thương mại trong tất cả các lĩnh vực kể cả lĩnh vực vận chuyển hành khách Bộ luật thương mại của Thái Lan cũng đưa ra khái niệm thương mại khá rộng không chỉ bao gồm việc mua bán hàng hoá mà cả các hoạt động thuê tài sản, thuê mua tài sản, tín dụng, thể chấp, đại diện, môi giới, bảo hiểm, công ty, hợp danh… Tuy nhiên, sự phát triển của thương mại trên toàn cầu đã làm nảy sinh nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thương mại của nhiều nước
Nhằm mục đích giảm bớt sự khác biệt, từng bước thống nhất cách hiểu về pháp luật thương mại trong quan hệ kinh tế quốc tế, ngày 21/6/1985 Uỷ ban pháp
tài thương mại quốc tế trong đó đưa ra khái niệm về thương mại, theo đó thuật ngữ
“thương mại” cần được giải thích theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các mối quan
hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng Những mối quan hệ thương mại không giới hạn ở các giao dịch: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hay trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, thoả thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng, cho thuê, xây dựng các công trình, tư vấn, kỹ thuật, đầu tư, cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm, thoả thuận khác hoặc chuyển nhượng, liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp
[1]
UNCITRAL (United Nations Commission on International Trade Law)
Trang 11hoặc kinh doanh, chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ…
Ở Việt Nam thuật ngữ “thương mại” được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống
xã hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, hầu hết đều được hiểu theo nghĩa thông thường đó là hoạt động mua bán nhằm mục đích kiếm lời Dựa vào đó
tại quy định của Luật thương mại 2005 đã giải thích khái niệm “Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.” [2]
Khái niệm hàng hoá được mở rộng “hàng hoá bao gồm tất cả các loại
động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai Luật thương mại 2005 có phạm vi điều chỉnh rộng, không bị giới hạn trong 14 hành vi thương mại như Luật thương mại năm 1997 Luật này đã điều chỉnh tất cả các hoạt động thương mại bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và các khía cạnh thương mại của đầu tư và sở hữu trí tuệ phù hợp với quy định của WTO và UNCITRAL Đã dần dần tương đồng hơn với khái niệm thương mại theo nghĩa rộng được sử dụng phổ biến trên thế giới
Năm 1990, Quốc hội thông qua hai đạo luật rất quan trọng, đó là Luật Công ty
và Luật Doanh nghiệp tư nhân Hai luật này đã đưa ra một khái niệm mới trong khoa học pháp lý Việt Nam có liên quan nhiều đến việc áp dụng pháp luật thương mại, đó là khái niệm “kinh doanh” Khái niệm “kinh doanh” cũng được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp 1999, theo đó “kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Khoản 3 Điều 2)
Và cho đến hiện tại khái niệm “kinh doanh” được quy định tại Luật Doanh nghiệp
2014 như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các
công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi [3] Như vậy khái niệm về “kinh doanh” không có nhiều thay đổi từ trước cho đến hiện tại
Với những cách định nghĩa như trên, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại, có nhiều nội dung trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm Bởi thế, nếu tách bạch giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại là điều không thể Do đó Bộ luật Tố tụng dân
sự đã dung hòa khái niệm hai hoạt động này bằng cách gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại Như vậy hoạt động kinh doanh thương mại là một chuỗi các
Trang 12hoạt động của quá trình, đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ, hàng hóa,… nhằm mục đích sinh lời.[4]
1.1.2 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh thương mại
Trong nền kinh tế thị trường điều chỉnh bới pháp luật, quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Trong môi trường
tự do kinh doanh đó, do sự chi phối của các quy luật thị trường và mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của các chủ thể tham gia thị trường, việc phát sinh tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh trong hoạt động thương mại là điều không thể tránh khỏi Khái niệm “tranh chấp kinh doanh thương mại” này tưởng chừng rất đơn giản, nhưng thực ra cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về tranh chấp trong kinh doanh thương mại Ngay cả Luật thương mại 2005 là luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ thương mại, nhưng cũng không hề có quy định cụ thể nào về tranh chấp trong kinh doanh thương mại Do đó việc xác định chính xác thế nào là tranh chấp trong kinh doanh thương mại hiện nằm tản mạn trong các văn bản pháp luật
Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “Tranh chấp phát sinh trong
hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” [5] Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp thương mại” hay “tranh chấp trong kinh doanh”, nhưng nội dung của các tranh chấp về kinh doanh, thương mại được liệt kê tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thực chất là các tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại năm 2005 Tuy có sự khác nhau về cách thức biểu đạt, nhưng nhìn chung quan niệm về hoạt động kinh doanh hay hoạt động thương mại
và tranh chấp trong kinh doanh hay tranh chấp thương mại được thể hiện qua các quy định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam hiện hành cũng tương đối nhất quán
Từ nội dung nêu trên, có thể hiểu “Tranh chấp trong kinh doanh (hay tranh chấp thương mại) được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột
về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại” Theo đó, tranh chấp có thể có các dạng cơ bản sau :
i Tranh chấp trong kinh doanh: được diễn ra giữa các chủ thể tham gia kinh
doanh Cụ thể, đó là những tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
[4]
Tạp chí Dân chủ & Pháp luật: “Thực trạng pháp điển hóa Luật Thương mại” – TS Nguyễn
Mạnh Thắng (Giảng viên khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội)
[5]
Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 13ii Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư :
Loại hình tranh chấp này nảy sinh trong việc thực hiện các hợp đồng BTO, BT, BOT,[6]… thực hiện các điều ước quốc tế
iii Tranh chấp giữa các quốc gia trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về
thương mại song phương và đa phương
iv Tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế trong việc
thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại đa phương
Thực tế cho thấy, trong các loại hình tranh chấp kinh tế trên, tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất Ngoài ra để xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại phải hội đủ các yếu tố sau đây:
Thứ nhất: Là những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên
trong mối quan hệ cụ thể;
Thứ hai: Những mâu thuẫn bất đồng đó phải phát sinh từ hoạt động kinh doanh
hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh
Thứ ba: Những mâu thuẫn phải phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân (cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh hay đăng ký doanh nghiệp
Ngoài thương nhân là chủ thể cơ bản của tranh chấp trong kinh doanh, trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp trong kinh doanh như: Tranh chấp giữa công
ty và thành viên của công ty; giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty hay tranh chấp về giao dịch giữa một bên không nhằm mục đích sinh lợi với thương nhân trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật Thương mại Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi
đã chọn áp dụng Luật Thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại (quan hệ hợp đồng thương mại) và tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này phải được xem là tranh chấp hợp đồng thương mại hay tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh
1.1.3 Khái niệm về phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại
Hiện tại có 4 phương thức để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Việt Nam:
Một là, Thương lượng
[6]
BTO: Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
BOT: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BT: Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
Trang 14Thông thường đây là phương thức đầu tiên được các bên tranh chấp cân nhắc lựa chọn khi tranh chấp xảy ra Xuất phát từ bản chất của các mối quan hệ trong kinh doanh thương mại, đó là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, do vậy mà nguyên tắc tự do thoả thuận cũng được đặt lên hàng đầu Theo đó thì trong quan hệ kinh doanh thương mại, cũng như việc giải quyết các tranh chấp hoàn toàn có quyền
tự thoả thuận trên cơ sở những gì mà pháp luật không cấm Thương lượng chính là
sự thể hiện quyền tự do thoả thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp Các bên
tự đề xuất các phương án, cách thức thoả thuận mà không phải tuân theo bất kỳ một thủ tục pháp lý nào Có thể nói việc thương lượng giữa các bên có 3 đặc trưng cơ bản sau:
i Các bên tự mình bàn bạc thoả thuận để giải quyết tranh chấp mà không cần
có sự giúp đỡ của bất kỳ bên thứ ba hay cơ quan nào
ii Quá trình thương lượng giữa các bên theo cơ chế tự giải quyết không phải
tuân theo bất cứ một nguyên tắc hay trình tự thủ tục tố tụng mang tính pháp lý nào Pháp luật chỉ quy định thương lượng như là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại [7] mà không quy định các hành vi cụ thể của các chủ thể Do đó các bên hoàn toàn có thể thoả thuận những gì mà pháp luật không cấm
iii Việc thực hiện các kết quả thương lượng là hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự
nguyện của các bên, không có một sự ràng buộc cưỡng chế mang tính pháp lý nào
Có chăng, sự ràng buộc các bên thực hiện trong trường hợp này đó là uy tín mà thôi Quá trình giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau do hai bên lựa chọn, hai bên có thể gặp mặt trực tiếp hoặc gửi tài liệu thể hiện các quan điểm của mình nhằm đưa ra được cách giải quyết hợp lý hoặc cũng có thể kết hợp thương lượng trực tiếp và gián tiếp
Tuy nhiên phương thức thương lượng lại phụ thuộc vào sự trung thực và thái độ thiện chí hợp tác trong quá trình thương lượng Do đó, nếu một trong các bên không
có thiện chí, lợi dụng hình thức này để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ, thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian hơn và có thể làm cho bên kia mất quyền khởi kiện tại Tòa án Cũng bởi vì dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận những điều pháp luật không cấm, nên phương thức thương lượng chưa có sự điều chỉnh pháp lý rõ ràng, hiệu lực của thỏa thuận không mang tính ràng buộc, cũng không có chế tài rõ ràng đối với một bên không chấp hành thỏa thuận
Hai là, Hòa giải
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên thứ
ba, đóng vai trò trung gian để hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm chấm dứt xung đột hoặc bất hòa… Bên trung gian đóng vai trò
[7] khoản 1 điều 317 Luật thương mại 2005
Trang 15hỗ trợ đôi bên đi đến giải pháp có lợi nhất cho đôi bên, có khi bên trung gian hòa giải thuyết phục đôi bên chấp nhận giải pháp do họ đề ra, chấm dứt xung đột Người thứ ba thường là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực
và vấn đề đang tranh chấp Khi hiểu rõ được nguyên nhân hoàn cảnh phát sinh mâu thuẫn cũng như quan điểm nhận thức của các bên, họ sẽ biết cách làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán để loại trừ tranh chấp
Hòa giải trong tố tụng được tiến hành bởi cơ quan Trọng tài hay Tòa án Vụ tranh chấp được các cơ quan này thụ lý giải quyết và tiến hành hòa giải theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định Bên thứ ba giữ vai trò trung gian hoà giải có thể là Thẩm phán hoặc Trọng tài viên phụ trách vụ việc (hoặc Hội đồng Trọng tài)
Tuy nhiên, hòa giải cũng có hạn chế bởi nền tảng của hòa giải vẫn được quyết định trên cơ sở tự nguyện thi hành của các bên Bên thứ ba làm trung gian hoà giải không có quyền quyết định, không có quyền áp đặt bất cứ một vấn đề gì ràng buộc các bên, họ chỉ là người đưa ra các sang kiến, các giải pháp mang tính thuyết phục còn quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên Quá trình giải quyết tranh chấp bằng hoà giải không phải tuân theo một quy trình tố tụng khuôn mẫu nào
do pháp luật quy định Mọi cách thức để giải quyết tranh chấp đều do các bên thoả thuận cũng giống như thương lượng, không có một cơ chế pháp lý nào bảo đảm hay cưỡng chế thi hành
Tóm lại, cả hoà giải và thương lượng thực chất là phương thức giải quyết tranh
chấp thông qua cơ chế thoả thuận của các bên, không mang tính chất tố tụng, đơn giản, ít tốn kém và kết quả phụ thuộc chủ yếu vào sự tự nguyện của các bên Ngoài
ra, hoà giải với sự tham gia của bên thứ ba trong quá trình giải quyết tranh chấp nên còn có ưu điểm mà thương lượng không có Người thứ ba làm trung gian hoà giải thông thường là người có trình độ, am hiểu, có kinh nghiệm, khách quan, biết được
vị thế của các bên nên thường dễ làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau hơn Kết quả hoà giải được ghi nhận và có sự chứng kiến của bên thứ ba nên mức độ tôn trọng và tự nguyện cao hơn so với thương lượng Tuy nhiên, cũng giống như thương lượng, hoà giải cũng gặp phải khó khăn về vấn đề thi hành và khi hoà giải
có sự xuất hiện của bên thứ ba nên có thể làm ảnh hưởng đến uy tín và bí mật kinh doanh của các bên tranh chấp
Ba là, Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập, nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết trên cơ sở sự thoả thuận của các bên tranh chấp và có hiệu lực bắt buộc đối với mỗi bên Theo quy định của Luật trọng tài thương mại
Trang 16năm 2010 thì “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các
bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.”[8]
Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thương mại có các đặc trưng như sau:
Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba là các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất và việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại phải được các bên thoả thuận Các trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp phải đủ điều kiện như pháp luật quy định để không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quyết định trọng tài Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư, phải căn cứ vào pháp luật và tôn trọng thoả thuận của các bên Như vậy, không phải
ai cũng có thể trở thành bên thứ ba giải quyết tranh chấp trong tố tụng trọng tài
Về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thì các bên bắt buộc phải có thoả thuận trọng tài, nếu không hình thức này sẽ không được sử dụng
để giải quyết tranh chấp “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc
giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.” [9]
Giải quyết tranh chấp tại trọng tài, trọng tài viên và các bên đương sự phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định Nếu quy trình tố tụng này không được tuân thủ, một hoặc các bên không có cơ hội công bằng để trình bày vấn đề của mình trước trọng tài viên thì quyết định của trọng tài có thể sẽ không được công nhận và không được cho thi hành
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp kết hợp được nhiều ưu điểm của các hình thức giải quyết tranh chấp khác như: đảm bảo sự tự do thoả thuận
ý chí, bí mật và uy tín cho các bên, giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, tránh lãng phí
về thời gian và tiền bạc Do vậy mà trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, được các nhà kinh doanh sử dụng như một hình thức tối ưu để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại
Tuy nhiên trọng tại thương mại cũng có một vài hạn chế như: thời gian tranh chấp càng kéo dài thì chi phí trọng tài càng cao Việc thi hành quyết định trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước như việc thi hành bản án, quyết định của Tòa
án nên có tính bắc buộc thực hiện không cao
Bốn là, Tòa án
Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ Bản án, quyết định của Tòa án được mọi cá nhân, tổ chức tôn trọng và thi hành, tại
[8] Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010
[9] Khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010
Trang 17Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2013 quy định: “Bản án,
quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức,
cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.[10] Nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước
Các đặc trưng cơ bản của phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án như sau: Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án có sự tham gia của bên thứ ba đó là toà án thông qua hoạt động xét xử của hội đồng xét xử gồm có các thẩm phán và hội thẩm nhân dân Toà án là cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước và việc giải quyết tranh chấp bằng toà án không cần phải có sự thoả thuận trước Nếu như các bên không có thoả thuận gì về phương thức giải quyết tranh chấp thì tranh chấp sẽ được giải quyết tại toà án hoặc các bên không tự thương lượng hoặc hoà giải được Cũng giống như hình thức trọng tài thì các thành viên tham gia hội đồng xét xử cũng phải thoả mãn các điều kiện mà pháp luật có quy định
Giải quyết tranh chấp tại toà án phải tuân thủ nguyên tắc tố tụng do pháp luật quy định Việc sai nguyên tắc tố tụng có thể bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật
Kết quả của việc giải quyết tranh chấp là bản án do Hội đồng xét xử tuyên có giá trị bắt buộc đối với các bên khi nó có hiệu lực pháp luật, có thể bị kháng cáo, kháng nghị Khi bản án đã có hiệu lực thi hành thì các bên phải tự nguyện thi hành, nếu không sẽ bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật
Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật của nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ kín bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ
Đánh giá, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Trọng tài thương mại và Tòa án
Xét dưới góc độ kinh doanh của doanh nghiệp để đánh giá việc lựa chọn, thì Trọng tài có nhiều ưu điểm nổi trội Trong kinh doanh, thời gian là yếu tố được quy
ra tiền bạc Trọng tại thương mại thì lại có ưu thế nổi bật về tốc độ giải quyết tranh chấp, rút ngắn sự lãng phí thời gian công sức theo đuổi kiện tụng cho doanh nghiệp không thuộc về Tòa án Với đặc điểm của cơ chế tố tụng hiện nay, một vụ việc tranh chấp kinh doanh thương mại nếu trải qua đủ các trình tự, thủ tục pháp lý sơ thẩm, phúc thẩm, thì về mặt quy định thời hạn giải quyết tại Tòa án có thể từ 7 - 12 tháng, nhưng trên thực tế, có thể mất 1 - 3 năm Trong khi đó, nếu cộng tất cả các thời hạn theo các trình tự, thủ tục liên quan, thì thời hạn giải quyết một vụ tranh
[10] Điều 106 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2013
Trang 18chấp của Trọng tài thương mại chỉ mất khoảng hơn 120 ngày và giữa quy định với thực tế không khác xa là bao
Tuy nổi trội về ưu thế như vậy nhưng theo số liệu thống kê vào năm 2017 của Trung tâm Trọng tài quốc tế (VIAC)[11], trong khi Toà án 2 cấp ở Thành phố thành phố Hồ Chí Minh phải thụ lý số vụ án kinh tế lên đến: 5.008 vụ việc (Thụ lý cũ: 2.676 vụ việc; thụ lý mới: 2.332 vụ việc), thì các Trọng tài viên của VIAC chỉ tiếp nhận và giải quyết 151 vụ tranh chấp và 206 vấn đề tranh chấp” Mặc dầu Luật Trọng tài thương mại 2010 đã có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011 nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thật sự “mặn mà” với việc đem tranh chấp của mình ra giải quyết tại Trọng tài? Cho đến nay các nhà kinh doanh vẫn chưa đặt trọn niềm tin vào các Trọng tài viên, cũng như khi ký kết các hợp đồng thương mại hiện nay về điều khoản giải quyết tranh chấp, các doanh nghiệp vẫn thường chọn cơ quan giải quyết tranh chấp là cơ quan Tòa án
Qua số liệu thống kê trên có thể thấy, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án vẫn chiếm ưu thế chủ đạo hơn trong việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở nước ta Theo thống kê có đến hơn 95% tranh chấp hợp đồng thương mại trong nước được đưa ra Tòa án nhân dân
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Bằng các quyết định và bản án của Tòa án, các bên có tranh chấp buộc phải thực hiện để khắc phục và chấm dứt tranh chấp, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh thương mại trong nền kinh tế diễn ra trong trật tự lập pháp Ưu thế này không có ở các phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, hòa giải, hoặc nếu có giải quyết tại Trọng tài thì cũng không được đảm bảo một cách triệt để
1.2 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp kinh doanh thương mại có những đặc điểm cơ bản khác như sau:
Thứ nhất, tranh chấp thương mại trước hết là mâu thuẫn (bất đồng hay xung
đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên:
Mâu thuẫn được hiểu là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa
vụ giữa các bên tranh chấp Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh Trong hoạt động thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục đích đề ra Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu
Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên Thông thường,
[11] VIAC là tên viết tắt tiếng Anh của cụm từ “Vietnam International Arbitration Centre”, nghĩa là
“Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam”.
Trang 19những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong các mối quan hệ cụ thể bao gồm:
(i) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại phải hội
đủ ba điều kiện: chủ thể của quan hệ tranh chấp (tổ chức, cá nhân) phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại và các bên tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận;
(ii) Tranh chấp trong quá trình khai thác và sử dụng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều
(v) Tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định
Thứ hai, mâu thuẫn phát sinh từ hoạt động thương mại
Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc
vi phạm pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp Tranh chấp thương mại phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Thứ ba, mâu thuẫn phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân
Các tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân (cá nhân kinh doanh, pháp nhân) với nhau Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích sinh lợi nhưng lựa chọn áp dụng luật thương mại Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại
Trang 201.3 Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
thương mại
1.3.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Thẩm quyền Tòa án theo vụ việc
Thẩm quyền theo vụ việc là thẩm quyền của toà án trong việc thụ lý vụ án hoặc các việc về kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng kinh tế Thẩm quyền theo vụ việc của toà án phân định thẩm quyền của toà án với thẩm quyền của các cơ quan tổ chức khác trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội; phân định thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự với thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các loại việc theo thủ tục tố tụng hình sự, tố tụng kinh doanh thương mại; phân định thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh thương mại với thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự khác như hôn nhân gia đình, lao động, các vụ việc dân sự theo nghĩa hẹp Việc xác định thẩm quyền của toà án theo thủ tục tố tụng nào phải căn cứ vào tính chất của loại quan hệ pháp luật nội dung mà toà án cần giải quyết Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật nội dung có cùng tính chất sẽ thuộc thẩm
quyền của toà án theo các thủ tục tố tụng tương ứng
Theo quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm 4 nhóm:
i Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại phải hội đủ ba
điều kiện: chủ thể của quan hệ tranh chấp (tổ chức, cá nhân) phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại và các bên tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận;
ii Các tranh chấp xảy ra trong quá trình khai thác và sử dụng đối tượng sở hữu
trí tuệ vì mục đích lợi nhuận là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm tại tòa án nhân dân cấp tỉnh.[12] Kháng cáo bản án sơ thẩm đối với tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ được giải quyết theo trình tự chung dành cho các kháng cáo các bản án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp cao Đối với tranh chấp dân sự về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ không có mục đích lợi nhuận được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm bởi Tòa án nhân dân cấp huyện [13]
Các tranh chấp về sở hữu trí tuệ còn được áp dụng theo Điều ước quốc tế trong trường hợp đó là tranh chấp sở hữu trí tuệ có liên quan đến quốc tế và tại Điều ước quốc tế đó Việt Nam là thành viên.[14]
[12]“Một số vấn đề về giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự”, Tạp chí luật
học số đặc san về Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
[13]
Khoản 4 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
[14] Điều 2.2, 2.3 Thông tư 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP
Trang 21iii Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
thành phố Đà Nẵng về “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty
nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Nguyên đơn: Ông Cho Gun W Địa chỉ: đường V, quận S, thành phố Đà Nẵng
Bị đơn: Công ty TC Địa chỉ: Cụm Công nghiệp T, Khu công nghiệp H, quận L,
TP Đà Nẵng
Theo đơn khởi kiện, nội dung trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm:
Ngày 01/8/2015, giữa Ông Cho Gun W (sau đây gọi tắt là ông W) và Công ty TC
do ông Lee Hye G, chức vụ: Giám đốc, có thỏa thuận đến ngày 31/8/2015 ông C góp vốn vào Công ty với số tiền là 200.000 USD, tương đương 4.000.000.000đ (bốn tỷ đồng), mục đích: mở rộng sản xuất kinh doanh để sản xuất gỗ pallet với sản lượng dự kiến: 10.000 tấm/tháng, đồng thời Công ty sẽ chuyển nhượng lại cho Ông Cho Gun W 30% cổ phần và 30% lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ ngày 01/8/2015
Thực hiện hợp đồng, ông W đã chuyển tiền cho Công ty 2 đợt: đợt 1 vào ngày 10/8/2015 với số tiền là 2.000.000.000đ và đợt 2 vào ngày 24/9/2015 với số tiền là 1.000.000.000đ Tổng số tiền vốn góp mà tôi đã góp vào Công ty tính đến thời điểm ngày 24/9/2015 là 3.000.000.000đ
Sau khi giao tiền, tôi có yêu cầu Công ty thực hiện thủ tục chuyển nhượng cổ phần cho tôi theo đúng cam kết ông W đã cử ông Lee Sang H đến Công ty để quản lýkế toàn tài chính như đã thỏa thuận Tuy nhiên, Công ty đã không thực hiện việc chuyển nhượng theo đúng cam kết và Giám đốc Công ty là ông Lee Hye G đã không bàn giao việc quản lý kế toán tài chính cho người của tôi như đã cam kết Bên cạnh đó, Công ty cũng không sử dụng số tiền đầu tư vào sản xuất pallet như cam kết mà đầu tư một số lĩnh vực khác Như vậy, kể từ khi góp vốn, ông W không nhận được bất kỳ lợi ích nào từ phía Công ty và Công ty cũng chưa thực hiện đầy
đủ các thỏa thuận về việc góp vốn bao gồm chuyển nhượng cổ phần và chuyển giao quyền quản lý Công ty Do đó, ông W đề nghị Tòa án xem xét buộc Công ty hoàn trả cho số tiền là 3.000.000.000đ đã góp vốn Ngoài ra, ông W không còn yêu cầu nào khác
Căn cứ vào hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm này, bên bị đơn - Công ty TC trình bày:
Ngày 01/8/2015, giữa nguyên đơn là ông W và bị đơn là Công ty do ông Lee Hye
G, chức vụ: Giám đốc, có thỏa thuận với nhau về việc nguyên đơn góp vốn vào
Trang 22Công ty với số tiền là 200.000 USD, tương đương 4.000.000.000đ (bốn tỷ đồng)
và thời gian góp đủ vốn là đến ngày 31/8/2015 Cũng theo thỏa thuận trên, sau khi nguyên đơn góp đủ vốn thi Công ty có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ chuyển nhượng cho nguyên đơn 30% cổ phần và 30% lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tính từ ngày 01/8/2015
Thực hiện hợp đồng, Công ty đã đã nhận của nguyên đơn 2 đợt: đợt 1 vào ngày 10/8/2015 với số tiền là 2.000.000.000đ và đợt 2 vào ngày 24/9/2015 với số tiền là 1.000.000.000đ Tổng số tiền vốn góp mà nguyên đơn đã góp vào công ty tính đến thời điểm ngày 24/9/2015 là 3.000.000.000đ Số tiền nguyên đơn góp vào đã được Công ty đầu tư vào đơn hàng sản xuất Paleet nhưng do không thu được lợi nhuận vì nhiều lý do khách quan và chủ quan nên số tiền trên đã thua lỗ hết Trong thời gian
từ tháng 8 đến tháng 12/2015, phía nguyên đơn đã cử ông Lee Sung H đến làm việc tại Công ty phụ trách tình hình tài chính và mọi chi tiêu của Công ty đều phải có sự đồng ý và chữ ký của ông H mới thực hiện được Đến cuối tháng 12/2015 ông H đã
tự ý bỏ việc tại Công ty, chốt sổ sách và giấy tờ liên quan đến tài chính công ty và nguyên đơn cũng không góp thêm tiền vào công ty như đã cam kết
Sau đó, giữa ông Lee Hye G – Giám đốc Công ty và ông C đã thỏa thuận sẽ chuyển khoản góp vốn của ông thành khoản vay của Công ty nhưng do ông C tính lãi cao quá nên 2 bên không đi đến thống nhất được về vấn đề này
Việc ông W góp vốn vào Công ty là hoàn toàn tự nguyện với mục đích nhận 30%
cổ phần và 30% lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, đã quá thời hạn thỏa thuận ngày 31/8/2015 nhưng ông W chỉ mới góp được 3.000.000.000 đồng, chưa đủ 4.000.000.000 đồng là vi phạm cam kết của hai bên và số tiền được góp vốn, Công ty đã đưa vào kinh doanh nhưng bị thua lỗ hết, nên việc ông W yêu cầu Công ty trả lại số tiền trên là hoàn toàn không có căn cứ Bên cạnh đó, Công ty cũng không tự ý sử dụng số tiền trên mà ông W đã cử người qua cùng quản lý và điều hành Công ty nên ông W phải có nghĩa vụ gánh vác trách nhiệm với Công ty
Nhận định của Tòa án về thầm quyền vụ việc
Về thẩm quyền: vụ án được Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu thụ lý về việc “yêu
cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ” Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xác định lại tranh chấp giữa Ông Cho Gun W và Công ty TC
là Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 30 và điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 3 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 23Ý kiến của tác giả:
Việc Tòa án nhân dân quận Linh Chiểu xác định lại đúng thẩm quyền của vụ án
là “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về
chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty” và chuyển vụ án cho
Tòa án thành phố Đà Nẳng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự [15] Bởi vì tại nội dung vụ án mục đích của Ông Cho Gun W góp vốn vào công ty là được nhận 30% cổ phần và 30% lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh sau đó Đây chính
là “mục đích lợi nhuận” mà người chưa phải là thành viên công ty hướng tới và Bộ
luật tố tụng dân sự và Luật thương mại cũng đề cập là“Hoạt động thương mại là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi ” Các vấn đề chưa phải là thành viên công ty
chỉ là những thủ tục pháp lý về sau để xác định tư cách thành viên đó với công ty, không phải là trọng tâm mà đều luật hướng tới
Bên cạnh đó tranh chấp dân sự là những tranh chấp về quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự như tranh chấp trong việc ký kết, thi hành và thanh toán các hợp đồng mua bán, đầu tư, chuyển giao công nghệ, vận chuyển, bảo hiểm… hoặc trong việc thực hiện các quyền về nhân thân có gắn liền với quan hệ tài sản như quyền tác giả, phát minh, sáng chế, trong ly hôn, thừa kế Tranh chấp dân sự không có mục đích lợi nhuận
Như vậy trường hợp ông Cho Gun W với tư cách là cá nhân có liên quan đến hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận nên được xác định là vấn đề tranh chấp kinh doanh thương mại chứ không phải tranh chấp dân sự
iv Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty, được quy định tại khoản 4 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; mở rộng
và chi tiết hơn so với khoảng 3 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004
Thực tế phát sinh một vài vấn đề liên quan đến hoạt động tranh chấp giữa công ty và thành viên công ty được xác định như thế nào
Vụ án: Tại đơn khởi kiện ngày 25/10/2010, Ông N_ người đại diện hợp pháp của
Công ty TNHH Thương mại H trình bày: Vào năm 2009, ông cùng với ông M thành lập của Công ty TNHH Thương mại H với 2 thành viên sáng lập, được Sở Kế hoạch
và Đầu tư tỉnh B cấp Giấy phép hoạt động vào ngày 10/7/2009; Đến tháng 10/2009, Công ty mở chi nhánh tại tỉnh L
[15] Theo khoản 3 Điều 30 và điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dấn sự 2015
Trang 24Trụ sở Công ty được đặt tại số 22, đường T, phường C, thị xã T, tỉnh B Ông N
giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty; ông M giữ chức Phó Giám đốc Công ty
Trụ sở Chi nhánh: số 13, đường N, phường A, thành phố G, tỉnh L (cũng là nơi
cư trú của ông M) Ông M được bổ nhiệm làm Giám đốc Chi nhánh Trong quá trình hoạt động, từ tháng 7/2009 đến tháng 3/2010, Công ty có chuyển cho Chi nhánh tổng số tiền 1,5 tỉ đồng bao gồm: chuyển qua tài khoản cá nhân của ông M năm trăm triệu đồng; chuyển nhận hàng 02 lần với số tiền 1 tỉ đồng Sau đó, ông M
có chuyển về Công ty với số tiền 350 triệu đồng (tính đến tháng 4/2010), còn lại 1,15 tỉ đồng, ông M không chuyển về Công ty mà giữ lại để nhận hàng Nhưng đến tháng 3/2010, ông M báo lại là không còn tiền để hoạt động Trong thời gian Chi nhánh tỉnh L hoạt động, ông N đã nhiều lần yêu cầu ông M báo cáo hoạt động của Chi nhánh về Công ty nhưng ông M không thực hiện Đến ngày 01/6/2010, ông N
có gửi thông báo yêu cầu ông M trả lời nhưng ông M vẫn không thực hiện Vì vậy, ông N đại diện cho Công ty yêu cầu ông M giải trình về số tiền 1,15 tỉ đồng mà Công ty đã đầu tư cho Chi nhánh tỉnh L hoạt động Nếu không giải trình được thì ông M phải trả lại số tiền 1,15 tỉ đồng cho Công ty
Vào ngày 10/8/2010, Tòa án tỉnh B thụ lý đơn khởi kiện của Công ty H và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "tranh chấp công ty với thành viên công ty, đòi tài sản” Trong quá trình giải quyết vụ án, ông M thừa nhận có nhận tiền từ Công ty
H như ông N trình bày nhưng không chấp nhận yêu cầu kiện của Công ty vì số tiền
đó ông M đã dùng vào hoạt động của Chi nhánh tỉnh L Ngày 21/02/2011, Tòa án tỉnh B ban hành Quyết định chuyển vụ án số 201 đến Tòa án thị xã T giải quyết theo thẩm quyền với nhận định:
(1) Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa Công ty H với ông M là tranh chấp dân sự "đòi tài sản” theo khoản 3 Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tỉnh B;
(2) Ngày 10/10/2011, đại diện Công ty H có đơn yêu cầu chọn TAND thị xã
T giải quyết tranh chấp
Từ quyết định chuyển vụ án của Tòa án tỉnh B, có hai quan điểm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Quan điểm nhất, quan hệ pháp luật tranh chấp là "tranh chấp giữa công ty với
thành viên công ty, về đòi tài sản” Bởi vì, số tiền mà Công ty H chuyển cho Chi nhánh hoạt động là phục vụ hoạt động của Công ty nói chung Do đó, quan hệ đòi tài sản của Công ty H là liên quan hoạt động của Công ty Cho nên, căn cứ vào khoản 3 Điều 29, điểm a khoản 1 Điều 34 và điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án tỉnh B
Trang 25Quan điểm thứ hai, yêu cầu kiện của Công ty liên quan đến hoạt động nội bộ của
Công ty nên không phải là "tranh chấp giữa Công ty với thành viên Công ty” mà là
"tranh chấp dân sự đòi tài sản” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thị xã T do nguyên đơn có đơn chọn Tòa án thị xã T giải quyết theo quy định tại theo khoản 2 Điều 25, điểm a khoản 1 Điều 33 và điểm b khoản 1 Điều 36 Bộ luật
M hoàn lại cho Công ty là xét trên nội dung của vụ án chứ không phải là căn cứ để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
Tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định “Tranh chấp giữa công ty với các
thành viên của công ty; …… liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
Vì vậy, trong trường hợp này, quan hệ pháp luật tranh chấp phải xác định là
"tranh chấp giữa Công ty với thành viên Công ty liên quan đến hoạt động của Công ty” Cho nên, căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án tỉnh B Việc Tòa án tỉnh B chuyển lại cho Tòa án thị xã T giải quyết là chưa phù hợp với quy định của pháp luật
ty và thành viên công ty thì phải có liên quan trực tiếp đến công ty (bao gồm thành
lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản) tuy không trực tiếp liên quan đến lợi nhuận nhưng là yếu tố quan trọng tạo ra tổng thể là Công
ty và Công ty với tư cách pháp nhân làm phát sinh lời nhuận Cũng trong vụ án trên giả dụ Công ty H thỏa thuận hợp đồng cho ông M mượn tiền vì đang khó khăn, và ông M không hoàn trả số tiền này cho công ty theo đúng cam kết Thì ở đây cũng là tranh chấp giữa công ty và thành viên công ty nhưng không vì mục đích hoạt động của Công ty mà vì mục đích cá nhân nên đây được xác định là giao dịch dân sự thông thường không phải là tranh chấp kinh doanh thương mại
v Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại trừ trường hợp thuộc thẩm
quy định tại khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Đây là quy định mở
Trang 26trong Thông tư 01/2016/TT-CA nhằm dự liệu những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật được chưa được liệt kê trong Thông tư 01/2016/TT-CA nhưng được quy định trong luật khác hoặc các tranh chấp mới phát sinh từ thực hiện hoạt động kinh doanh và được xác định là hoạt động kinh doanh thương mại
Như vậy, có thể nói toà kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại mà các bên đều có mục đích lợi nhuận Điều này cũng tương đối đồng nhất với khái niệm về hoạt động thương mại được quy định trong Luật thương mại 2005 Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó Nếu các bên không có mục đích lợi nhuận thì việc giải quyết các
mại là việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh, thương mại
mà còn bao gồm cả hoạt động khác phục vụ, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh thương mại Ví dụ: Công ty TNHH B được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh trong lĩnh vực may mặc Hoạt động của Công ty B không chỉ giới hạn ở việc may sản phẩm là hàng dệt may để phục vụ thị trường mà còn bao gồm cả hành vi mua nguyên vật liệu về để sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm vật tư trang thiết bị, thuê xe ô tô để đưa nhân viên đi làm, đi nghỉ hàng năm theo chế độ hoặc mướn sân thể thao để cho nhân viên rèn luyện sức khỏe sau giờ làm việc…
Thẩm quyền Tòa án các cấp
Về nguyên tắc, pháp luật Việt Nam quy định việc phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án phải dựa trên bốn căn cứ đó là: thẩm quyền giải quyết theo loại việc, thẩm quyền theo cấp Tòa án, thẩm quyền theo
sự lựa chọn của nguyên đơn và thẩm quyền theo lãnh thổ Vì vậy, khi nghiên cứu thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án phải được nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ trên bốn căn cứ đó thì mới có thể tránh được sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các Tòa án với nhau trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự
i Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện đối với việc giải quyết các vụ
án tranh chấp kinh doanh, thương mại được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự
2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm đối với
vụ việc về kinh doanh thương mại như “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có
Trang 27mục đích lợi nhuận” [16] (mở rộng hơn so với Bộ luật tố tụng dân sự 2004); và các
yêu cầu về kinh doanh thương mại về hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông,
nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và một số yêu cầu khác về kinh doanh thương mại đây là nội dung mới của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 so với luật cũ, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác
ii Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong việc giải quyết các vụ án
tranh chấp kinh doanh, thương mại được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm [17] đối với các vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức và có mục đích lợi nhuận, giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty của người chưa phải là thành viên công ty; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản
lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty Và các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho toà án nước ngoài cũng thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh Ngoài ra, toà án nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân cấp huyện mà toà án nhân dân cấp tỉnh thấy cần phải lấy lên để giải quyết [18] Ví dụ: Công ty ký hợp đồng chuyển giao công nghệ cho phép công ty con là B sử dụng thương hiệu của mình nhằm giao dịch kinh doanh, thương mại Khi công ty A khởi kiện công ty B về việc vi phạm hợp đồng sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh nơi đặt trụ sở của Công ty A hoặc B Các yêu cầu về tranh chấp kinh doanh thương mại tại Điều 31 Bộ luât tố tụng dân
sự 2015 trừ yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và các tranh chấp thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác theo quy định pháp luật
Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp tỉnh có thể xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo yêu cầu của Chánh án.[19]
[16] Điểm b khoản 1 Điều 35 dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
[17] Khoản 2, 3, 4 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trang 28iii Thẩm quyền của Tòa án chuyên trách đối với giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại sẽ do Tòa chuyên trách là tòa kinh tế giải quyết được quy định tại Thông tư 01/2016/TT-CA Theo đó Tòa kinh tế sẽ giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại, phá sản. [20]
Hiện nay theo Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014, chỉ có Tòa án nhân dân cấp cao và Toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ưng trong cơ cấu tổ chức có tòa chuyên trách (tòa kinh tế):
vụ, thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự; giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc
mà bản án, quyết định kinh doanh, thương mại chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa
án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị, giải quyết thủ tục phá sản và trừ
những tranh chấp thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện
Tòa chuyên trách (tòa kinh tế) thuộc toà án nhân dân cấp cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp tỉnh bị kháng nghị theo trình tự tố tụng Toà án nhân dân cấp cao có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị
iv Thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các
bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị bằng Hội đồng 3 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao Như vậy Tòa án nhân dân Cấp cao sẽ làm phần lớn nhiệm vụ của Tòa án nhân dân tối cao hiện nay
v Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao [21] chỉ thực hiện nhiệm vụ giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác Tòa này xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 5 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Tòa này sẽ có nhiệm vụ tổng kết thực tiễn xét xử; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; quản lý các Toà án về tổ chức; xây dựng pháp luật theo sự phân công của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội Tòa còn có nhiệm vụ đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác của Tòa án [22]
Trang 29Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định: “Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao là quyết định cao nhất, không bị kháng nghị” [23] Quy định này nhằm cụ thể hóa quy định tại Hiến pháp 2013 “Tòa
án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[24]
Thẩm quyền theo lãnh thổ
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là giới hạn (khả năng) do pháp luật quy định xác định chức năng giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại của Tòa án theo đơn vị hành chính lãnh thổ Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định Tòa án có nghĩa vụ giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại theo yêu cầu của đương sự khi khởi kiện
Theo quy định tại điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại là toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là tổ chức Quy định này của pháp luật là hoàn toàn có căn cứ khoa học, bởi vì bị đơn trong vụ án về kinh doanh thương mại là người bị buộc phải tham gia tố tụng Về mặt tâm lý bị đơn, người đại diện hợp pháp của họ thường không muốn tham gia tố tụng và thường nêu
ra những khó khăn để không đến với toà án Việc quy định như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bị đơn, người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Mặt khác, toà
án này cũng có khả năng điều tra và nắm được các vấn đề cụ thể của vụ việc, trên
cơ sở đó có đường lối giải quyết phù hợp với vụ việc này Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự và để phù hợp với tính chất của quan hệ pháp luật nội dung thì pháp luật còn quy định cho các đương sự có thể tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu toà án nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của nguyên đơn giải quyết những tranh chấp về kinh doanh thương mại
Đối với tranh chấp về bất động sản thì toà án nơi có bất động sản sẽ có thẩm quyền giải quyết Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất không thể dịch chuyển được và thông thường các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản
sẽ do cơ quan nhà đất hoặc chính quyền địa phương nơi có bất động sản đó lưu giữ
Do vây, toà án nơi có bất động sản sẽ là toà án có điều kiện tốt nhất để tiến hành xác minh, xem xét tại chỗ tình trạng của bất động sản và thu thập các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản Đối với tranh chấp về bất động sản thì các bên đương sự không có quyền thoả thuận là toà án nơi không có bất động sản giải quyết Do đó, trong một tranh chấp mà bị đơn không cư trú hoặc có trụ sở tại nơi có bất động sản thì toà án nơi bị đơn đó cư trú hoặc có trụ sở đó sẽ không có thẩm quyền giải quyết
và chỉ có toà án nơi bất động sản tồn tại mới có thẩm quyền giải quyết
Trang 30Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Trong thực tế, nếu chỉ xác định thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc, và lãnh thổ thì sẽ phát sinh những vụ việc có nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền giải quyết hoặc
có trường hợp không thể xác định được Tòa án có thẩm quyền giải quyết Vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trong những trường hợp này, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định có thể xác định thẩm quyền của Tòa
án theo sự lựa chọn của nguyên đơn Cụ thể khi yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án trong các trường hợp sau đây:
- Nếu không biết nơi cư trú, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
- Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, có trụ sở giải quyết;
- Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
- Nếu các bị đơn cư trú, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, có trụ sở giải quyết;
- Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác
nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết
Tuy nhiên, khi áp dụng quy định này vào thực tiễn thì các Tòa án lúng túng chưa xác định được thứ tự ưu tiên: nguyên tắc nào trước, nguyên tắc nào sau hoặc
ưu tiên sự lựa chọn của các bên, dẫn đến nhiều vụ án phải chuyển đi chuyển lại do
có quan điểm khác nhau về việc vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nào?[25]
quận X, Thành Phố HCM ký kết với Công Ty TNHH B có trụ sở tại quận Y, thành phố HCM hợp đồng xây dựng 01(một) ngôi nhà 10 tầng tại huyện Z, tỉnh Q Trong
[25] Tạp chí Dân chủ & Pháp luật -“Tranh chấp trong kinh doanh và thẩm quyền giải quyết tranh
chấp hợp đồng trong kinh doanh theo pháp luật Việt Nam hiện nay”- ThS Hoàng Minh Chiến,
Giám đốc Trung tâm PLCT và Bảo vệ QLNTD, Đại học Luật Hà Nội
Trang 31hợp đồng ký kết giữa Công Ty TNHH A và Công ty TNHH B không thỏa thuận lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi tranh chấp xảy ra Trong quá trình thực hiện Hợp đồng do Công ty TNNHH B vi phạm hợp đồng đã ký kết nên ngày 20/02/2013 Công ty TNHH A khởi kiện Công ty TNHH B tại Tòa án nhân dân quận
Y, thành phố HCM Sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu chúng cứ kèm theo Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, ngày 25/02/2013 Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM đã thụ lý giải quyết theo thẩm quyền Trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn là Công ty TNHH A đã viết đơn đến Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM đề nghị Tòa án chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q giải quyết theo thẩm quyền với lý do “Hợp đồng được thực hiện tại huyện Z, tỉnh Q” Sau khi nhận được đơn xin chuyển vụ án, Tòa
án nhân dân quận Y, thành phố HCM đã chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q Vậy, Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q có thẩm quyền giải quyết
vụ việc trên không?” Có hai quan điểm về vấn đề này như sau
Quan điểm thứ 1: Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q có thẩm quyền giải quyết vì
căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng thực hiện giải quyết” Nơi thực hiện hợp đồng này là tại huyện Z, tỉnh Q nên Tòa án huyện Z, tỉnh Q có thẩm quyền giải quyết vụ án tranh chấp trên
Quan điểm thứ 2: Tòa án huyện Z, tỉnh Q không có thẩm quyền giải quyết với lý
do mặc dù hợp đồng được thực hiện tại huyện Z, tỉnh Q nhưng nguyên đơn là Công
ty TNHH A đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM (là Tòa án nơi bị đơn có trụ sở) và Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM đã thụ lý đúng thẩm quyền (căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015) nên Công ty TNHH A mất quyền lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q giải quyết
Với các ý kiến trên tác giả đồng ý với quan điểm thứ 2: Thẩm quyền lựa chọn
Tòa án giải quyết theo yêu cầu của nguyên đơn chỉ xuất hiện khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện (tức là trọng vụ án này nguyên đơn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Q hoặc Tòa án nhân dân quận Y, thành phố HCM) và khi Tòa án quận Y, thành phố HCM đã thụ lý đúng thẩm quyền đơn khởi kiện thì nguyên đơn không có quyền lựa chọn nữa Quy định trên tạo sự thuận lợi cho nguyên đơn trong việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như tránh tình trạng khi đã thụ lý vụ án thẩm quyền của Tòa án lại “chạy” theo yêu cầu của nguyên đơn
1.3.2 Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Theo cách hiểu chung nhất, các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng và thi hành pháp luật tố tụng
Trang 32dân sự, chúng được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật và mang tính phổ biến, bắt buộc chung đối với toàn xã hội Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật tố tụng dân sự, các nguyên tắc cơ bản của luật
tố tụng dân sự Việt Nam được thể chế hoá tại Chương II “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, trong đó mỗi nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại một điều luật riêng biệt.[26]
Tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định như sau:
“1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó
2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”
Về nguyên tắc các quan hệ kinh tế là những quan hệ được xác lập một cách tự nguyện, xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất cứ sự cưỡng ép, đe dọa nào trong quá trình xác lập, thực hiện Nói cách khác, sự xác lập các quan hệ kinh tế hoàn toàn do các bên tự quyết định, và được Nhà nước bảo đảm nếu không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Chính vì thế, khi phát sinh tranh chấp, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nhưng ngược lại, họ cũng có quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị xâm phạm cho dù đã có yêu cầu Nhà nước bảo vệ Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự được thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng: họ có thể khởi kiện hoặc không khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện quyền này của đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Tuy nhiên, thực trạng khi giải quyết tại Toà án nhân dân nguyên tắc này nhiều khi vẫn bị Toà án vi phạm, như: giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự hoặc không giải quyết hết yêu cầu đương sự, thậm chí có trường hợp giải quyết sai so với yêu cầu của đương sự dẫn đến đương sự khiếu nại kéo dài, vụ án bị Toà án cấp trên huỷ để giải quyết lại
[26] “Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại”, Báo Dân kinh tế
[27]Theo Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trang 33Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ [28]
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại Khác với giải quyết các vụ án hình sự, khi giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại thì Tòa án không tiến hành điều tra mà đương sự phải cung cấp chứng cứ, Tòa án chỉ xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp nhất định
Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán mới tự mình thu thập chứng cứ hoặc trong các trường hợp khác mà pháp luật có quy định Quy định như vậy là phù hợp song việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế gặp nhiều khó khăn Trong Bộ luật tố tụng dân sự không quy định biện pháp chế tài mà chỉ quy định chung chung nếu không cung cấp chúng cứ thì bị bất lợi và không có quy định về thời hạn bắt buộc đương
sự phải cung cấp chứng cứ nếu không cung cấp thì chứng cứ đó không có giá trị hoặc phải chịu chế tài như: phạt tiền , vì vậy, thực tế có trường hợp đương sự đang giữ chứng cứ hoặc có khả năng thu thập chứng cứ nhưng lại không thu thập chứng
cứ để cung cấp cho Toà án, chỉ đến khi thấy có lợi mới cung cấp, thậm chí có trường hợp để đến giai đoạn xét xử phúc thẩm mới xuất trình chứng cứ các hoặc sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mới xuất trình chứng cứ, kèm theo đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dẫn đến Tòa án bị thụ động trong việc xét xử Liên quan đến việc thu thập và cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự, Tại
Điều 7, Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà
án chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi
có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ” Tuy nhiên, thực tế nhiều trường hợp khi có vấn đề liên
quan đến cơ quan quản lý hữu quan, Tòa án có văn bản yêu cầu các cơ quan này cung cấp tài liệu theo quy định của pháp luật, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên khó thực hiện được ngay hoặc thậm chí không được thực hiện được do chưa có quy định nào cụ thể hướng dẫn trách nhiệm cung cấp chứng cứ của các cơ quan liên quan
[28]
Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
[29] Điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trang 34Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến Pháp 1992 Quyền này đã được cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó có Bộ luật tố tụng dân sự:
“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt
dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.”
Việc cụ thể hoá quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó còn thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế Khi các doanh nghiệp, người tham gia tố tụng thì không phân biệt đó là doanh nghiệp Nhà nước, công ty, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân… Các bên đều có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào đương sự cũng thực hiện được quyền này, nhiều trường hợp do trình độ hiều biết của đương sự dẫn đến họ không thực hiện được hết quyền của mình, như: vấn đề khởi kiện, cung cấp chứng cứ hay bào chữa trước toà án dẫn đến phải chịu phán quyết bất lợi hoặc có trường hợp xuất phát ngay từ việc vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng của Toà án hoặc quy định của pháp luật chưa phù hợp dẫn đến bất bình đẳng cho các đương sự Đây là vấn đề lớn, để khắc phục phải tiến hành đồng bộ từ giai đoạn xây dựng pháp luật, cải cách cơ cấu tổ chức của Toà
án, nâng cao trình độ của các thẩm phán và trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức hoạt động trong vấn đề kinh doanh
Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng kinh tế được quy định tại Bộ luật tố tụng dân
sự, theo đó:
“Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các
đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của
[30] Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Trang 35hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của Nhà nước, công sức của cán bộ Nhà nước cũng như của công dân, hạn chế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định cụ thể việc hòa giải được thực hiện ở tất
cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được hòa giải như yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, hoặc những vụ án kinh tế phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
Việc hòa giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế, đặc biệt là cấp
sơ thẩm, nhưng không được hướng dẫn, đào tạo có bài bản cho các Thẩm phán Việc hòa giải hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của các Thẩm phán Xu hướng chung của các Thẩm phán là hướng tới việc làm rõ đúng sai giữa các doanh nghiệp; chưa hoặc chưa biết quan tâm đúng mức đến vấn đề mà các đương sự hướng tới là lợi nhuận (nhiều hay ít nhưng phải có lợi) đó là điều kiện tiên quyết để đi tới xu hướng nhân nhượng hợp tác trong kinh doanh của các bên đương sự Nếu việc hòa giải không thành có thể dẫn đến căng thẳng, khi hòa giải không thành thì mâu thuẫn sẽ tăng lên bội phần và việc thúc đẩy sự thương lượng tự thỏa thuận giữa các đương sự trong các giai đoạn tố tụng tiếp sau sẽ kém hiệu quả
Về nguyên tắc khi giải quyết các vụ việc thương mại phải nhanh chóng, kịp thời đảm bảo khắc phục kịp thời cho bên bị vi phạm Trong Bộ luật tố tụng dân sự quy định cụ thể thời hạn ở các giải đoạn tố tụng, như thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ việc ra xét xử, thời hạn phát hành quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Phần lớn Toà án các cấp đều giải quyết vụ việc trong thời hạn luật định Tuy nhiên, trong thực tế có một số trường hợp vi phạm thời hạn dẫn đến việc giải quyết không kịp thời như: vi phạm thời gian đưa ra quyết định, bản án, thời gian gian thu thập chứng cứ Nguyên nhân việc vi phạm phần lớn do quy định thời hạn trong Bộ luật tố tụng dân sự chưa hợp lý và trình độ thẩm phán còn hạn chế dẫn đến không đáp ứng với yêu cầu về thời hạn tố tụng
Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của toà án Việc xét xử các vụ án kinh tế cũng phải tuân theo nguyên tắc này Nhưng trong một số trường hợp nhất định các vụ án kinh tế có thể được xét xử kín
[31]
Điều 15 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
[32] Khoản 2 Điều 15 Bộ luật tố tụng dân sự 2015