Ví dụ như: thông điệp dữ liệu là một loại hình thức của hợp đồng, thông điệp dữ liệu được thể hiện bằng văn bản điện tử giúp ghi nhận ý chí của 5 Trích theo Chế Mỹ Phương Đài 2015, “Hình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH
VỀ HÌNH THỨC - THỰC TIỄN ÁP DỤNG ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
Ngành: LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn : ThS DƯƠNG TUẤN LỘC
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi xin gửi lời cám ơn đến quý thầy cô khoa Luật – Trường ĐH Công nghệ TP.HCM đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình truyền đạt những kinh nghiệm và vốn kiến thức trong suốt thời gian tôi học tập tại trường Hơn hết, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến thầy Dương Tuấn Lộc đã hướng dẫn và cho tôi những lời khuyên chân thành trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình và bạn bè luôn đồng hành và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu cũng như ủng hộ tôi trên con đường hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù kiến thức của tôi còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ ban Hội đồng và những bạn đọc khóa luận này để tôi học hỏi thêm được nhiều kiến thức và trau dồi kỹ năng của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài khóa luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế và tại thư viện trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh, trên các sách báo khoa học chuyên ngành KHÔNG SAO CHÉP từ
các nguồn tài liệu, báo cáo khác
Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường
và Pháp luật
Tôi xin chân thành cám ơn!
Sinh viên thực hiện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu khóa luận 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC 4
1.1 Khái niệm hình thức hợp đồng 4
1.1.1 Khái niệm hợp đồng 4
1.1.2 Khái niệm hình thức hợp đồng 6
1.2 Ý nghĩa của hình thức hợp đồng 7
1.2.1 Hình thức một trong những điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định 8
1.2.2 Hình thức hợp đồng là bằng chứng giao kết hợp đồng 10
1.3 Các loại hình thức của hợp đồng 10
1.3.1 Hợp đồng được xác lập bằng hình thức lời nói 11
1.3.2 Hợp đồng được xác lập bằng hình thức văn bản 13
1.3.2.1 Hợp đồng bằng văn bản thông thường 14
1.3.2.2 Hợp đồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực 16
1.3.3 Hợp đồng được xác lập bằng hành vi cụ thể 19
1.4 Hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức 20
1.4.1 Hậu quả pháp lý về mặt hiệu lực của hợp đồng 20
1.4.2 Hậu quả pháp lý về mặt vật chất 21
1.4.3 Hậu quả pháp lý về trách nhiệm bồi thường 22
1.5 Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức 23
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC 25
2.1 Những bất cập trong quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức 25
2.1.1 Quy định pháp luật theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức 25
2.1.2 Vướng mắc khi áp dụng quy định pháp luật theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức 27
2.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức 30
2.2.1 Thực tiễn khi áp dụng quy định pháp luật theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 trong hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức 30
2.2.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực đất đai vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức 36
2.2.1.1 Hợp đồng mua bán nhà vô hiệu do không tuân thủ hình thức 36
2.2.1.2 Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức trong việc giải quyết tranh chấp về đất đai 39
2.3 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức 41
2.3.1 Bổ sung quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp “nếu các bên có thỏa thuận” 41
2.3.2 Cần phải ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 về cách thức xác định “hai phần ba nghĩa vụ” trong hợp đồng 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 44
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh cũng như trong cuộc sống hằng ngày một yếu tố không thể thiếu được là phải có giao lưu dân sự, đó là sự chuyển giao tài sản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó giữa người này với người khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác Sự giao lưu dân sự đó thường được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ Sự thỏa thuận đó gọi là hợp đồng
Tuy nhiên, hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí các bên phù hợp với quy định của Nhà nước, trong đó có các quy định hình thức của hợp đồng Hơn nữa nội dung của hợp đồng không thể nằm trong suy nghĩ của con người
mà nó phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người tham gia giao kết hợp đồng và nhằm tăng cường tính pháp chế của Nhà nước trong việc quản lý các giao kết nói chung và hình thức hợp đồng nói riêng, BLDS 2015 quy định hình thức của hợp đồng được coi là điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định Có thể hiểu rằng tầm quan trọng của hình thức đến hiệu lực của hợp đồng nên pháp luật đã có hành lang pháp lý về vấn đề này
Trên thực tế không phải hợp đồng nào cũng có hiệu lực pháp lý ràng buộc đối với các bên trong quan hệ hợp đồng Những hợp đồng khi không đáp ứng được những điều kiện bắt buộc của pháp luật thì sẽ bị Tòa án tuyên vô hiệu Một trong những nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu kể trên đó chính là do không tuân thủ quy định về hình thức
Vì vậy, đã xảy ra không ít vụ việc tranh chấp về vấn đề hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức Phổ biến nhất là hợp đồng liên quan đến tranh chấp nhà, đất bị tuyên bố vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Hơn thế, việc xử
lý hậu quả khi hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức còn nhiều hạn chế, việc áp dụng hình thức trong hợp đồng ở Việt Nam đã bộc lộ nhiều bất cập, gây khó khăn cho công tác giải quyết các tranh chấp có liên quan tại Tòa án
Do đó, cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu để làm nổi bật nên các bất cập trên và từ đó có những giải pháp xác đáng để tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng
về vấn đề này cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn giải quyết tranh chấp
Với mục đích đi sâu tìm hiểu về các quy định của pháp luật về việc áp dụng
trong thực tế về hình thức của hợp đồng, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hợp đồng vô
Trang 8hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức – Thực tiễn áp dụng đối với hợp đồng trong lĩnh vực đất đai” để làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm trong các thời kỳ và với các góc độ khác nhau Dưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học và bài viết tiêu biểu:
Về sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học pháp lý: Giáo trình “Luật dân sự Việt Nam” của trường Đại học Luật Hà Nội; “Giao dịch dân sự
vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức” của TS Nguyễn Văn Cường;
“Về hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do vi phạm điều kiện hình thức” của Trần Thị Thu Hà; “Hình thức hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015, thực trạng pháp luật
và một số kiến nghị hoàn thiện” của Phan Thành Nhân; “Ảnh hưởng của điều kiện hình thức đến hiệu lực của hợp đồng” của Phạm Hoàng Giang
Về khóa luận tốt nghiệp: “Hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức” của Nguyễn Thanh Quí; “Hình thức hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành - Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện” của Bùi Ngọc Khánh Hoàng
Có thể nói, những công trình khoa học trên là tài liệu quí báu giúp tác giả có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của mình Hơn
hết, vấn đề hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức xảy ra rất
nhiều trên thực tế Với đề tài này phần nào có thể phản ánh lên thực trạng và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài “Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình
thức – Thực tiễn áp dụng đối với hợp đồng trong lĩnh vực đất đai” nhằm giới hạn
phạm vi nghiên cứu theo như mục tiêu đã đề ra, đề tài tập trung xem xét, phân tích, đánh giá các yếu tố nằm trong phạm vi sau:
Đối tượng nghiên cứu: các dạng tồn tại, nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức và đề ra những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung phân tích và lý giải nhằm làm rõ vấn đề
về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, hậu quả và thực tiễn
áp dụng pháp luật của hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Sau đó đưa ra một số giải pháp khách quan để hoàn thiện pháp luật về những vấn đề
đã nêu trên
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khóa luận tốt nghiệp của mình tác giả dựa trên cơ sở thực trạng, để các số liệu chính xác, trích dẫn được chi tiết, phản ánh trung thực, tác giả đã áp dụng và kết hợp hài hòa một số phương pháp cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợp, điều tra, khảo sát… kết hợp lý luận với thực tiễn
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1 : Những vấn đề lý luận về hình thức hợp đồng và hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Chương 2 : Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực đất đai vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH
VỀ HÌNH THỨC 1.1 Khái niệm hình thức hợp đồng
1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Trong lịch sử thế giới, chế định hợp đồng đã hình thành từ rất lâu đời như ở các nước Châu Âu chế định hợp đồng đã có từ thời cổ đại La Mã Vào những thế kỷ thứ IV-V trước Công Nguyên, những quy định về chế định hợp đồng đã đặt nền móng vững chắc, cùng thời gian nó ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết pháp luật dân
sự của đa số các quốc gia trên thế giới bắt đầu từ Pháp, sau đó các nước khác như:
Ý, Nhật, Ai Cập, Nga 1 Từ những quy định về chế định hợp đồng mà luật La Mã
đưa ra khái niệm hợp đồng theo tiếng latinh là “contractus” nghĩa là ràng buộc và
“negotium gerere” hoặc “negotim contrahere” “giao dịch” mà chúng ta sử dụng
hằng ngày2 hay những giao dịch cổ xưa nhất như mua bán (sponsio) giao dịch này
là tiền đề cho sự phát triển của các giao dịch khác Do ảnh hưởng khái niệm hợp đồng trong luật La Mã lan rộng trong các bộ luật Châu Âu mà luật pháp các quốc gia chịu ảnh hưởng đưa ra khái niệm ví dụ như:
BLDS Pháp quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều
bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc”
BLDS Nga quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về
việc xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”
BLDS Đức không định nghĩa về hợp đồng mà quy định theo hướng được
hình thành như thế nào “người đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng với người khác
phải chịu ràng buộc bởi đề nghị của mình, trừ trường hợp người đưa ra đề nghị thể hiện rõ ràng rằng anh ta không bị ràng buộc bởi đề nghị đó”3
Các khái niệm này từ thời La Mã vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay4 Cho tới bây giờ, Việt Nam quy định về khái niệm hợp đồng có sự thay đổi theo từng thời
kỳ Do bối cảnh kinh tế - xã hội, pháp luật phong kiến không quy định khái niệm
1 Nguyễn Mạnh Bách (1995), Pháp luật về hợp đồng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
2 Nguyễn Thị Lâm Nghi (2004), “Hợp đồng dân sự vô hiệu- thực trạng pháp luật và hướng giải quyết”,
Khóa luận tốt nghiệp, tr.01.
3 Michel Fromont (2001), Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới, NXB Tư pháp, Hà Nội
4 Nguyễn Xuân Quang-Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), “Luật dân sự Việt Nam”, NXB Đại học quốc gia
Tp.Hồ Chí Minh, tr.305.
Trang 11hợp đồng mà được hiểu theo hai phương diện: phương diện khách quan và phương diện chủ quan
Theo phương diện chủ quan: hợp đồng là một giao dịch dân sự trong đó các bên có sự thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự cho nhau
Theo phương diện khách quan: hợp đồng là một loại quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh và thể hiện dưới một hình thức nhất định
Dưới góc độ pháp luật thực định, khái niệm hợp đồng tại Việt Nam được quy
định tại Điều 385 BLDS 2015, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Có thể thấy, định
nghĩa về hợp đồng trong BLDS 2015 có sửa đổi, so với quy định này tại Điều 388
BLDS 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” BLDS 2015 đã sửa đổi khái niệm “hợp
đồng dân sự” thành khái niệm “hợp đồng” Như vậy, BLDS 2015 đã mở rộng phạm
vi điều chỉnh của khái niệm này tức là khái niệm này được sử dụng cho tất cả các loại hợp đồng không phải chỉ áp dụng riêng cho hợp đồng dân sự Qua khái niệm về hợp đồng được nêu trong điều luật, có thể thấy hợp đồng có những yếu tố cơ bản
sau đây:
Hợp đồng phải có sự tham gia của các bên Khác với hành vi pháp lý đơn phương, chỉ thể hiện ý chí từ một phía chủ thể, hợp đồng phải là sự thỏa thuận của các bên nhằm đem lại quyền và nghĩa vụ cho các bên
Hợp đồng được hình thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó
Hậu quả pháp lý của sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự
Sự thỏa thuận giữa các bên không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa …
Yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau Người ta thường gọi yếu tố này là nguyên tắc hiệp
ý Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự do tạo lập nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, Nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn
Trang 12quyền tự do giao kết hợp đồng Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp
lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng
1.1.2 Khái niệm hình thức hợp đồng
Hợp đồng là một loại giao dịch mà bản chất của nó là sự thỏa thuận giữa các bên và hợp đồng chỉ có thể được tạo lập khi có sự gặp gỡ ý chí giữa các bên Các yếu tố pháp lý cơ bản tạo nên hợp đồng chính là ý chí của chủ thể, sự biểu hiện của
ý chí đó ra bên ngoài và sự thống nhất giữa các yếu tố đó với nhau Trong đó, ý chí
là cái bên trong, là nguyện vọng, là mong muốn chủ quan của chủ thể mà không phải lúc nào người khác cũng có thể biết hay nhận thấy được Bởi vậy, để có thể đạt được sự thỏa thuận, tức là để các bên có thể biết được và chấp nhận ý chí của nhau, chủ thể cần phải thể hiện ý chí đó ra bên ngoài dưới một hình thức khách quan nhất định Sự thống nhất ý chí đó cần phải được công bố ra bên ngoài Đó chính là hình thức thể hiện của hợp đồng
Về mặt từ ngữ thông thường hình thức trước hết được hiểu là: “bề ngoài, cái bên trong” hay “toàn thể nói chung những gì làm thành mặt bề ngoài của sự vật, cái chứa đựng biểu hiện nội dung”5 Còn ở khía cạnh luật học, hình thức của hợp đồng được hiểu là “cách thức thể hiện sự thỏa thuận của các bên”6
Trong lý luận pháp luật dân sự, các học giả và các nhà làm luật thường đồng hóa các điều khoản cụ thể của hợp đồng với nội dung hợp đồng Các điều khoản qui định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được trình bày, thể hiện ra bên ngoài dưới những hình thức bằng lời nói, văn bản và theo những thủ tục nhất định như công chứng, đăng ký Đó là hình thức bên ngoài của hợp đồng
Trong khoa học pháp lý, hình thức của hợp đồng được định nghĩa là “cách thức thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên” Đa số các luật gia cũng đều hiểu rằng hình thức của hợp đồng là phương tiện ghi nhận nội dung của các chủ thể đã xác định hoặc hình thức của hợp đồng là phương tiện ghi nhận, lưu trữ, chuyển tải nội dung của hợp đồng Ví dụ như: thông điệp dữ liệu là một loại hình thức của hợp đồng, thông điệp dữ liệu được thể hiện bằng văn bản điện tử giúp ghi nhận ý chí của
5 Trích theo Chế Mỹ Phương Đài (2015), “Hình thức giao dịch dân sự và hậu quả pháp lý của giao dịch dân
sự do không tuân thủ quy định về hình thức theo dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005”, Kỷ yếu hội thảo
“Những quy định trong phần chung của Bộ luật Dân sự 2005 và Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi”, do khoa Luật Dân sự Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh tổ chức ngày 03/4/2015 tại trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr.101
6 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẳng, tr.442
Trang 13các bên chủ thể, lưu trữ lại ý chí đó bằng nội dung và chuyển tải nội dung đó đến người thứ ba trong quan hệ hợp đồng
Có quan điểm cho rằng:“Hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài nội
dung của hợp đồng, gồm tổng hợp những cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho
sự tồn tại của hợp đồng” 7 Tác giả hoàn toàn đồng tình với quan điểm trên, cách định nghĩa này không những cho thấy được mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của hợp đồng mà còn xác định được tương đối đầy đủ các yếu tố về hình thức không chỉ gồm cách thức mà còn là thủ tục Phương tiện thể hiện cách thức ở đây là bằng lời nói hay hành vi; thủ tục có thể là công chứng, chứng thực hay đăng ký hoặc phương tiện đề cập có thể bằng văn bản, thậm chí bằng hình thức hợp đồng điện tử8
Như vậy, cách thức thể hiện hình thức của hợp đồng rất đa dạng, việc lựa chọn hình thức nào để xác lập sẽ dựa vào ý chí của các chủ thể tham gia, hoàn cảnh, điều kiện và những yếu tố khác Pháp luật dân sự cho phép chủ thể có quyền tự do lựa chọn hình thức giao dịch dân sự nhằm bảo đảm quyền lợi tối đa của người tham gia giao dịch, tuy nhiên trong một số trường hợp thì không được phép lựa chọn mà phải tuân thủ theo đúng quy định, nếu không thì giao dịch đó sẽ không có hiệu lực Cụ thể trường hợp mua bán nhà riêng lẻ quy định phải được công chứng, chứng thực đây là điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực, hai bên không được lựa chọn hình thức nào khác ngoài hình thức này mà phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật
Bùi Ngọc Khánh Hoàng (2015), “Hình thức hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện
hành - Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Khóa luận tốt nghiệp, tr 06
9 Phạm Hoàng Giang (2007), “Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam – Những vấn
đề lý luận và thực tiễn”, Luận án Tiến sĩ Luật học, NXB Hà Nội
Trang 141.2.1 Hình thức một trong những điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định
Liên quan đến hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong khoa học pháp lý của Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau Một số tác giả cho rằng, nên quy định hình thức là một điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực trong những trường hợp cần thiết, và nếu hợp đồng không tuân thủ hình thức luật định thì có thể
bị tuyên bố vô hiệu10 Ngoài ra, nghiên cứu pháp luật một số quốc gia về hình thức hợp đồng cho thấy, ở một số quốc gia, hình thức của hợp đồng chỉ nhằm làm chứng
cứ giao kết hợp đồng, nhưng ở một số quốc gia khác, trong một số trường hợp nhất định, điều kiện hình thức của hợp đồng được coi là yêu cầu bắt buộc của hiệu lực hợp đồng11 và pháp luật Việt Nam cũng theo quan điểm này Việc quy định về hình thức là một trong những điều kiện làm phát sinh hiệu lực của một số hợp đồng do pháp luật quy định12 Đặc biệt là đối với tài sản có giá trị cao như bất động sản hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, buộc các bên trong hợp đồng phải tuân theo nếu không muốn bị tuyên hợp đồng vô hiệu Bởi lẽ, hợp đồng được xác lập không chỉ là dựa trên sự tự do ý chí và thống nhất ý chí vì lợi ích của các bên, mà còn liên quan đến trật tự quản lý của Nhà nước, lợi ích chung của xã hội hay của bên thứ ba Mặt khác, hiện nay trình độ am hiểu pháp luật ở một bộ phận dân cư còn hạn chế khiến
họ dễ dàng trở thành nạn nhân của những phi vụ lừa đảo, khi đó, hình thức bắt buộc của hợp đồng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ người dân kiểm tra tính hợp pháp của các loại giấy tờ có liên quan (GCNQSDĐ, giấy chứng nhận chủ quyền đối với nhà ở…)13
Có thể nhận thấy, ý kiến này có vẻ như coi trọng yếu tố hình thức của hợp đồng Rõ rằng, hợp đồng là sự thoả thuận và nếu quá coi trọng yếu tố hình thức trong việc công nhận hiệu lực của hợp đồng sẽ dẫn tới sự can thiệp quá sâu của Nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng nguyên tắc tự do hợp đồng và làm cản trở sự phát triển của các quan hệ pháp luật tư vì đã hạn chế sự tự do ý chí của các bên
Tự do ý chí không chỉ là tự do tự nguyện thoả thuận xác lập các điều khoản của hợp đồng mà còn là tự do trong việc lựa chọn hình thức biểu hiện của tự do ý chí đó Một số tác giả khác lại cho rằng, không nên quy định hình thức là điều kiện
10
Hà Thị Mai Hiên (2005), “Sửa đổi Bộ luật Dân sự Việt Nam và vấn đề hoàn thiện chế định hợp đồng”, Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 (203).
11 Đối với pháp luật một số nước Anh, Mỹ, Pháp, chức năng chứng cứ của hợp đồng chiếm vị trí ưu thế, còn
ở một số nước như Đức, Nga, các đòi hỏi về hình thức nhằm hướng tới vấn đề hiệu lực của hợp đồng hơn là vấn đề chứng cứ
12
Khoản 2, Điều 117, Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực
của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
13 Phạm Thị Thúy Kiều (2018), “Một số ý kiến về hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện hình thức”, Tạp chí
Dân chủ & Pháp luật, truy cập ngày 14/7/2018
Trang 15có hiệu lực của hợp đồng, thậm chí nên bỏ hẳn các quy định về hình thức14 Quan điểm này có vẻ như coi nhẹ hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Việc coi nhẹ tới mức bỏ hẳn yếu tố hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến việc thiếu cơ chế để bảo vệ quyền lợi của bên yếu hơn trong quan hệ hợp đồng, thiếu chứng cứ chứng minh tồn tại của hợp đồng, khó có thể bảo đảm trật tự công cộng cũng như an toàn pháp lý cho các bên
và người thứ ba Cả BLDS năm 2005 (khoản 2 Điều 122) và BLDS năm 2015 (khoản 2 Điều 117) đều quy định tại khoản 2, nhưng BLDS 2015 có sửa đổi như
sau: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
trong trường hợp luật có quy định” chứ không phải là “Hình thức giao dịch dân sự
là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” như
BLDS 2005 Hay nói cách khác với BLDS 2015 thì chỉ khi “luật” có quy định chứ văn bản “dưới luật” không được quy định về hình thức giao dịch dân sự là điều kiện
có hiệu lực của giao dịch Có thể lý giải cho sự thay đổi này là nhằm đảm bảo tính thống nhất với các quy định khác có liên quan15
Về mặt tổng quan của giao dịch dân sự hợp đồng có hiệu lực theo BLDS
201516 cụ thể là:
Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp Hợp pháp ở đây chính
là việc các bên giao kết phải có năng lực hành vi dân sự
Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện tức là xuất
phát từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó
Sự ép buộc, giả dối sẽ làm vô hiệu hợp đồng khi ký kết
Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức
xã hội Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi Những nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
Thứ tư, giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp pháp luật
có quy định
14
Phạm Công Lạc (2004), “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng”, chuyên đề số (01).
15 Phan Thành Nhân (2017), “Hình thức hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015, Thực trạng pháp luật và một
số kiến nghị hoàn thiện”, tạp chí Tòa án nhân dân, (20), Tr.33
16 Điều 122 BLDS 2015
Trang 161.2.2 Hình thức hợp đồng là bằng chứng giao kết hợp đồng
Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giao kết hợp đồng Nó là bằng chứng xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra Bằng chứng trong giao kết hợp đồng là những gì có thật làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ việc cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của các bên là có căn cứ và hợp pháp
Trường hợp rất phổ biến mà các bạn sinh viên rất hay gặp đó là vé xe buýt có phải hợp đồng hay bằng chứng giao kết hợp đồng hay không? Đi xe buýt chuyện thường xuyên diễn ra đối với các bạn sinh viên chưa có điều kiện về phương tiện đi lại, nên lựa chọn đi xe buýt giúp giảm thiểu tối đa phần chi phí di chuyển và tiết kiệm thời gian như khi tự lái xe Tuy nhiên, đứng dưới góc độ pháp lý thì còn nhiều tranh cãi Có quan điểm cho rằng: “vé xe buýt không phải là hợp đồng mà chỉ là bằng chứng của hợp đồng” Nhưng quan điểm khác lại cho rằng: “vé xe buýt chính
là hợp đồng, đó là sự thỏa thuận của các bên” Khi đối chiếu quy định tại Điều 523 BLDS 2015 về hình thức hợp đồng vận chuyển hành khách quy định:
“1 Hợp đồng vận chuyển hành khách có thể được lập thành văn bản, bằng
lời nói hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể
2 Vé là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng vận chuyển hành khách giữa các
Như vậy, theo quy định của BLDS 2015 thì trường hợp trên vé xe buýt là bằng chứng giao kết hợp đồng mà hợp đồng ở đây là hợp đồng vận chuyển hành khách Thông thường, vé là bằng chứng của việc giao kết giữa các bên trong hợp đồng Đối tượng của hợp đồng chính là hành vi của bên vận chuyển bằng phương tiện (tức là xe buýt) của mình chuyên chở hành khách theo thoả thuận Trong đó vé
xe buýt là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giữa các bên với nhau
So sánh với Điều 528 BLDS 2005 thì BLDS 2015 ngoài hình thức văn bản, lời nói thì hành vi cụ thể cũng được xem là hình thức hợp đồng vận chuyển hành khách BLDS 2015 đã bổ sung thêm hình thức bằng hành vi so với Điều 528 BLDS
2005 điều này cho thấy được pháp luật quy định thêm hình thức hợp đồng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp khi các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng
Trang 17cụ thể” Mục đích quy định về hình thức hợp đồng nhằm tạo điều kiện cho các bên
tham gia hợp đồng được quyền tự do lựa chọn hình thức hợp đồng phù hợp với mục đích của giao dịch dân sự nhằm hạn chế tranh chấp Mặc dù đối với một số lọai hợp đồng pháp luật quy định phải công chứng như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng đất… nhưng mục đích của việc công chứng, chứng thực không chỉ
để nhằm đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước đối với một số loại tài sản nhất định Ngoài ra việc này còn giúp ổn định trật tự xã hội mà còn là cơ sở để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao kết với loại hình thức này
Về nguyên tắc, các chủ thể có quyền lựa chọn hình thức của giao dịch khi pháp luật không bắt buộc Trong BLDS 2005, hình thức của hợp đồng không chỉ được quy định trong các quy định chung về giao dịch dân sự mà còn được thể hiện trong phần quy định pháp luật về hợp đồng Tuy nhiên, quy định về hình thức của hợp đồng được quy định tại Điều 401 BLDS 2005 còn nhiều bất cập và mâu thuẫn với những quy định chung của giao dịch dân sự nên BLDS 2015 đã bỏ điều luật này Theo quy định tại Điều 116 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự bao gồm hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương nên hình thức của hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh của những quy định chung về giao dịch dân sự Theo đó, các hình thức thể hiện của hợp đồng tại Điều 119 BLDS 2015 cho thấy được không có nhiều thay đổi
về mặt từ ngữ so với Điều 124 BLDS 2005 hợp đồng bao gồm các loại hình thức
sau:
1.3.1 Hợp đồng được xác lập bằng hình thức lời nói
Hợp đồng bằng lời nói là những hợp đồng mà các bên chủ thể tham gia sử dụng ngôn ngữ nói để giao kết hợp đồng Ngôn ngữ nói ở đây là hình thức phổ biến hằng ngày Theo đó, các bên trao đổi với nhau bằng lời nói, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua điện thoại, điện đàm, gửi thông điệp điện tử bằng âm thanh (tiếng nói)…
để diễn đạt mong muốn của mình trong việc xác lập, giao kết hợp đồng
Theo cách hiểu thông thường, hợp đồng bằng lời nói gọi là hợp đồng miệng, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thoả thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng là đã hình thành hợp đồng dưới hình thức bằng lời nói Trên thực tế cho thấy do việc giao kết hợp đồng bằng lời nói có ưu điểm là cách thức giao kết đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và ít tốn kém nên được sử dụng phổ biến trong giao dịch có giá trị nhỏ thực hiện liên tục hằng ngày, nhưng ít được sử dụng trong giao dịch thương mại Cũng vì sự tiện lợi của cách giao kết này mà trên thực tế, có nhiều hợp đồng đáng lẽ phải được lập bằng văn bản hoặc bằng văn bản có công chứng, chứng thực chẳng hạn như hợp đồng thuê nhà, bất động sản, nhưng để đơn giản hóa thủ tục, các bên thường lập dưới hình thức lời nói, nên đã dẫn đến những tranh chấp rất khó giải quyết Hình thức này thường được áp dụng chủ yếu đối với những hợp
Trang 18đồng có giá trị nhỏ và dựa trên uy tín mà các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau bởi tính chất của lời nói là âm thanh phát ra và chấm dứt ngay tại thời điểm đó Song song với những ưu điểm về tính tiện lợi và nhanh gọn của hợp đồng bằng lời nói nhưng vẫn ẩn chứa những khuyết điểm của loại hợp đồng này chính là lối sống tập quán quen thuộc của người Việt Nam đã đi theo lề lối lâu đời của ông bà xưa như những thương lái làm ăn nhỏ lẻ, những giao dịch đơn giản không quá phức tạp, giá trị không lớn lại dựa vào sự tin tưởng giữa hai bên nên chủ yếu thỏa thuận bằng miệng với nhau Điều này trở thành một thói quen với nhiều người mà họ không biết được sự giao kết này mang nhiều rủi ro và không đảm bảo hoàn toàn được quyền lợi cho mình Chính vì lẽ đó pháp luật không quy định hợp đồng phải được xác lập theo một hình thức cụ thể nào thì các bên có thể tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng, sử dụng hình thức nào phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng Các bên có quyền tự do lựa chọn hình thức của giao kết hợp đồng trừ trường hợp pháp luật có quy định bắt buộc về hình thức, kể cả hợp đồng bằng lời nói quy định tại BLDS 2015 “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói…” Nhưng phải đảm bảo việc giao kết hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật chẳng hạn trường hợp giao dịch dân sự nếu được thể hiện bằng hình thức lời nói phải bảo đảm tuân thủ những điều kiện luật định mới có giá trị chẳng hạn như quy định tại
BLDS 2015 cụ thể là: “Hợp đồng vận chuyển hành khách có thể được lập thành
được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di
một khoản tiền nhỏ trong thời gian ngắn thì về nguyên tắc các bên không cần lập thành văn bản mà có thể giao kết hợp đồng miệng19
Vì vậy, mặc dù có quyền tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng khi pháp luật không có quy định Tuy nhiên, nếu các bên chủ thể lựa chọn giao kết hợp đồng được thỏa thuận bằng miệng, trong quá trình thực hiện hợp đồng phải chú ý lưu giữ chứng cứ, cụ thể các bằng chứng, giấy tờ khác chứng minh có việc mua bán giữa hai bên như thư từ trao đổi giữa hai bên, biên bản giao nhận hàng, giao nhận tiền trong đó ghi rõ nội dung hàng hóa mua bán và tiền trả cho việc mua bán hàng hóa
đó, thậm chí là băng ghi âm các cuộc điện thoại trao đổi giữa hai bên khi phát sinh
17
Khoản 1 Điều 523 BLDS 2015
18 Điều 629 BLDS 2015
19 Bộ Tư pháp (2008), “Một số vấn đề pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời kỷ Pháp thuộc”,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.61
Trang 19tranh chấp…20 Như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và có bằng chứng rõ ràng minh chứng cho sự tồn tại của hợp đồng khi có tranh chấp xảy ra
1.3.2 Hợp đồng được xác lập bằng hình thức văn bản
Trong giao dịch dân sự hiện nay hình thức bằng văn bản là một hình thức được sử dụng phổ biến nhất được thể hiện dưới dạng hợp đồng Tuy nhiên, BLDS
2015 không có khái niệm nào về hình thức bằng văn bản
Theo cách giải thích của Từ điển tiếng Việt phổ thông thì văn bản được hiểu là
“chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn” 21 hoặc văn bản là
“bản viết hoặc in, mang một nội dung là những gì cần được lưu lại làm bằng chứng” 22 ; và “văn bản bao gồm tất cả các hình thức trao đổi thông tin cho phép
lưu giữ thông tin chứa đựng trong đó và có khả năng thể hiện dưới dạng hữu hình” 23
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn văn bản là hình thức ngôn ngữ
viết, được trình bày trên một chất liệu hữu hình nhằm thể hiện một nội dung xác định mà người ta có thể đọc, lưu giữ và bảo đảm sự toàn vẹn nội dung đó, ví dụ như: chữ viết trên giấy in Nếu hợp đồng bằng lời nói không để lại bằng chứng, thì hợp đồng bằng văn bản đảm bảo sự thể hiện ý chí rõ ràng của các bên cũng như nội dung của từng điều khoản hợp đồng mà các bên muốn cam kết Hợp đồng bằng văn bản là bằng chứng hữu hiệu khi các bên có sự tranh chấp Việc quy định giao kết hợp đồng bằng văn bản nhằm tạo bằng chứng về hợp đồng được giao kết tạo ra những chuẩn mực và đảm bảo thận trọng khi giao kết hợp đồng, đồng thời nhằm bảo vệ quyền lợi ích của các bên tránh hiện tượng gian dối, lừa đảo, bội ước trong quá trình thực hiện hợp đồng… 24 Nhưng không phải mọi trường hợp tất cả hợp đồng đều phải lập bằng văn bản mà theo khoản 2 Luật Lao động 2012 quy định:
“Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói” Như vậy, không phải bất kì hợp đồng nào cũng phải
lập thành văn bản mà chỉ những hợp đồng do pháp luật quy định bắt buộc phải lập thành văn bản và những hợp đồng bằng lời nói mà các bên khi tham gia giao kết hợp đồng lựa chọn thì mới áp dụng hình thức này
20 Mục (02), “Những lưu ý khi giao kết hợp đồng miệng”, nguồn
http://luatvietphong.vn/gia-tri-phap-ly-cua-hop-dong-mieng-n1417.html.
21 Viện ngôn ngữ học, tlđd (4), tr.1100
22 Bùi Ngọc Khánh Hoàng (2015), “Hình thức hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện
hành - Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Khóa luận tốt nghiệp, tr 09
23 Theo Điều 1.11 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004
24 Phạm Hoàng Giang (2007), “Ảnh hưởng của điều kiện hình thức đến hiệu lực của hợp đồng”, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, (03), tr.48.
Trang 201.3.2.1 Hợp đồng bằng văn bản thông thường
Hợp đồng bằng văn bản thông thường là hình thức đơn giản nhất trong số các loại hình thức hợp đồng bằng văn bản Không có công chứng, chứng thực chỉ cần các bên thể hiện sự thống nhất ý chí của mình và ký vào văn bản là hoàn tất một hợp đồng Hợp đồng sẽ có giá trị pháp lý nếu thỏa mãn được các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, với loại hình thức này hợp đồng sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm khi bên sau cùng ký tên vào văn bản Đây là loại hình thức thường được sử dụng trong thực tế nhưng các quy định về các loại hợp đồng phải xác lập theo hình thức này được quy định rải rác trong BLDS 2015 cũng như các luật chuyên ngành khác
Ví dụ: hợp đồng hợp tác (khoản 2 Điều 504 BLDS 2015), hợp đồng vận chuyển hành khách (Điều 528 BLDS 2015), hợp đồng vận chuyển tài sản (Điều 531 BLDS 2015), hợp đồng thuê nhà ở (Điều 121 Luật Nhà ở 2014) Bên cạnh đó, một số loại hợp đồng được yêu cầu phải xác lập bằng văn bản và phải có nội dung bắt buộc như hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng được quy định tại Điều 18 Luật KDBĐS 2014 hoặc hợp đồng bảo hiểm được quy định tại Điều 13 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000; sửa đổi, bổ sung năm 201025
Hợp đồng điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu - Một dạng hình thức của hợp đồng bằng văn bản
Xã hội ngày càng phát triển khi internet được phổ biến rộng rãi, nhu cầu thực hiện các giao dịch bằng phương tiện điện tử ngày càng tăng cao Đi cùng với sự phát triển đó internet đã trở thành một hiện tượng xã hội quan trọng và ứng dụng của nó đang ngày càng phổ biến trong hoạt động của các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, các gia đình và trong các mối quan hệ giữa con người với nhau Hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật theo các phương thức truyền thống hiện nay đang bị tác động sâu sắc trong xã hội ngập tràn máy móc hiện đại Từ ý nghĩa đó
mà hợp đồng dưới dạng hình thức bằng điện tử đã được quốc gia phát triển áp dụng
từ lâu và được cộng đồng quốc tế ủng hộ “ngay từ năm 1985, UNCITRAL đã kêu gọi chính phủ các nước xem xét lại các rào cản pháp lý đối với thương mại điện tử của hợp đồng trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia”26 bởi chính các đặc tính của công nghệ và sự giao thương quốc tế ngày một mở rộng mà Luật Giao dịch điện tử
2005 đưa ra giải thích về “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi,
được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử”27
và Luật Thương mại 2005
25
Bùi Ngọc Khánh Hoàng (2015), “Hình thức hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện
hành - Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Khóa luận tốt nghiệp, tr 10
26 Trần Văn Biên (2010), “Khái niệm hợp đồng điện tử”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số(08), tr.31.
27 Khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005
Trang 21ghi nhận “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex,
fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật”28 từ
những định nghĩa trên các nhà làm luật thừa nhận đưa hợp đồng điện tử thành một luật riêng chịu sự điều chỉnh của Nhà nước và pháp luật So với BLDS 1995 thì BLDS 2005 có phần tiến bộ hơn khi đưa vào hình thức dưới dạng thông điệp điện
tử là giao dịch bằng văn bản29 sau đây gọi tắt là văn bản điện tử Do đó BLDS 2015
kế thừa và phát triển tiếp những phản ánh kịp thời của BLDS 2005 về các mối quan
hệ xã hội trong lĩnh vực công nghệ thông tin phát triển vượt bậc
Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước “Văn bản điện tử là văn
bản được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” Như vậy, với tính chất là một loại
hình văn bản, văn bản điện tử trước hết cũng phải đảm bảo yêu cầu ổn định, thống nhất, cố định và truyền đạt thông tin cho nhiều đối tượng Điểm khác biệt giữa văn bản điện tử với văn bản giấy và các loại hình văn bản khác chính ở kỹ thuật ghi tin, lưu trữ và truyền tin Các công đoạn này được thực hiện bằng các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ và các công nghệ tích hợp Văn bản điện tử khắc phục được một số những hạn chế của văn bản giấy đặc biệt là ở tốc độ gửi và nhận thông tin, đã làm giảm bớt những công đoạn thủ công, tiết kiệm rất nhiều chi phí có liên quan và tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp, là tiền đề quan trọng trong việc xây dựng chính phủ điện tử30 Tuy nhiên, thực tế giao kết hợp đồng điện tử cũng cho thấy sự phức tạp mà hợp đồng điện tử mang lại đối với luật hợp đồng hiện có và những vấn
đề có thể nảy sinh khi áp dụng quy định hiện tại đối với hợp đồng điện tử, như vấn
đề về xác định năng lực chủ thể của các bên, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, xác thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng, vấn đề bản gốc, công chứng hợp đồng điện tử
Để đảm bảo tính toàn vẹn, tính nguyên gốc của thông tin trong văn bản điện tử
do việc dễ dàng thay đổi nội dung thông tin trong tài liệu điện tử mà không để lại dấu vết, vấn đề xác định tác giả… người ta sử dụng giải pháp kỹ thuật là chữ ký
điện tử Theo Luật Giao dịch điện tử 2005: “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng
từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận
28
Khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại 2005
29 Khoản 1 Điều 119 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông
điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản”
30 Trần Thị Thu Hiền (2015), “Văn bản điện tử”, Tạp chí tổ chức và Nhà nước.
Trang 22người ký thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký”31 Đối với văn bản điện tử do tính đăng trưng khác biệt so với văn bản giấy nên chữ ký cũng đặc biệt khác so với các loại văn bản khác nên được một tác giả quan niệm rằng “Chữ ký số là loại chữ ký điện tử có độ an toàn cao và được sử dụng phổ biến nhất trên toàn thế giới”32 Chữ ký số được tạo ra bởi người ký đóng vai trò như
là chữ ký đối với cá nhân hay là như con dấu đối với doanh nghiệp và được thừa nhận về mặt pháp lý Chữ ký số còn dùng để kê khai thuế điện tử có rất nhiều tiện ích cả về thủ tục hành chính lẫn kinh tế nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công hay tư thì vẫn phải trả phí cho nhà cung ứng thiết bị chữ ký số Ngoài Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định về chữ ký điện tử thì còn quy định bởi những văn bản dưới luật như:
Nghị định 26/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 2 năm 2007 quy định chi tiết Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số
Nghị định số 106/2011/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 2 năm 2007
Nghị định 170/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 2 năm 2007
đối với các lĩnh vực Chính vì thế Luật Công chứng 2014 đưa ra định nghĩa “Công
chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” 33 Còn
31 Khoản 1 Điều 21 Luật Giao dịch điện tử 2005
32 Trần Văn Biên (2012), “Chữ ký điện tử trong giao kết hợp đồng điện tử”, Tạp chí Luật học, số (06), tr.6.
33 Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014
Trang 23chứng thực hợp đồng, giao dịch “là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại
Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch”34 Theo đó, công chứng, chứng thực đều là sự chứng nhận, hay xác nhận tính có thực của một hợp đồng, giao dịch nào đó, các bên tham gia hợp đồng, giao dịch đều có năng lực hành vi dân sự và các bên tự nguyện tham gia
ký kết hợp đồng Tuy nhiên hai hoạt động này có những điểm khác biệt cơ bản sau đây:
Về cơ quan thực hiện
Đối với chứng thực hợp đồng: Phòng Tư pháp cấp huyện và UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực hợp đồng
Đối với công chứng hợp đồng: Tổ chức hành nghề công chứng (Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng) thực hiện
Về người thực hiện
Đối với chứng thực hợp đồng: Ở các Phòng Tư pháp, thì Trưởng Phòng, Phó trưởng Phòng Tư pháp là người thực hiện chứng thực chữ ký người dịch Ở UBND cấp xã, Chủ tịch/Phó chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực
Đối với công chứng hợp đồng: Công chứng là hoạt động do công chứng viên thực hiện, hay nói cách khác, chủ thể thực hiện hoạt động công chứng chỉ là công chứng viên Công chứng viên là những người đáp ứng được đầy đủ điều kiện về trình độ pháp lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thâm niên công tác… do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm
Về trách nhiệm của người thực hiện chứng thực và công chứng viên:
Trách nhiệm của người thực hiện chứng thực và công chứng viên là hoàn toàn khác nhau
Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng Không chịu trách nhiệm về nội dụng của hợp đồng được chứng thực (trừ trường hợp người thực hiện chứng thực biết rõ ràng là hợp đồng đó trái pháp luật)
34 Khoản 4 Điều 2 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 2 năm 2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch
Trang 24Công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng được công chứng (chịu trách nhiệm về mặt nội dung); về toàn bộ hợp đồng được công chứng và họ phải chịu trách nhiệm cá nhân cả đời về việc mà họ đã công chứng35
Về giá trị pháp lý
Theo quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì “Hợp đồng, giao dịch
được chứng thực theo quy định của Nghị định này có giá trị chứng cứ chứng minh
về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân
sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch”36
Vậy giá trị pháp lý của chứng thực được thể hiện thông qua quy định bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản Giá trị pháp lý cụ thể được quy định:
“3 Chữ ký được chứng thực theo quy định tại Nghị định này có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản
4 Hợp đồng, giao dịch được chứng thực theo quy định của Nghị định này có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.” 37
Còn về công chứng theo khoản 2, 3 Điều 5 Luật Công chứng 2014 giá trị pháp
lý của hợp đồng công chứng quy định:
“2 Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của
Trang 25mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác
3 Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết,
sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.”
Như vậy, giá trị pháp lý chứng thực và công chứng có giá trị pháp lý khác nhau chứ không đơn thuần chỉ có giá trị thông tin Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong quá trình phát triển công chứng nước ta BLDS 2015 không quy định chi tiết công chứng, chứng thực cũng như các loại hợp đồng nào cần phải xác lập dưới hình thức văn bản có công chứng, chứng thực mà quy định theo hướng viện
dẫn: “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản
có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó” 38 Trường hợp này BLDS 2015 đưa ra khái niệm chung chung dẫn đến việc áp dụng luật chưa đúng tạo nên lỗ hổng trong pháp luật về hợp đồng Vậy vấn đề đặt ra là những loại giao kết hợp đồng nào bắt buộc phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật dân sự, pháp luật chuyên ngành và những quy định pháp luật liên quan Và những giao kết hợp đồng nào không bắt buộc phải công chứng, chứng thực Để tìm hiểu vấn đề đó, chúng ta đi phân tích trên cơ sở quy định của pháp luật như sau Về bản chất hình thức này áp dụng cho những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy
ra tranh chấp và đối tượng của hợp đồng là những tài sản mà Nhà nước quản lý, kiểm soát thì khi giao kết các bên phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền Theo quy định của pháp luật hiện nay và luật chuyên ngành thì những hợp đồng dưới đây bắt buộc phải được cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực như: hợp đồng mua bán nhà ở (Điều 122 của Luật Nhà ở năm 2014), hợp đồng tặng cho bất động sản (Điều 459 BLDS 2015)39, hợp đồng chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều
167 của Luật Đất đai năm 2013)40
1.3.3 Hợp đồng được xác lập bằng hành vi cụ thể
Ngoài hai hình thức nói trên BLDS 2015 còn cho phép hợp đồng được thể hiện dưới hình thức bằng hành vi cụ thể Do BLDS 2015 chưa đưa ra khái niệm nào
38 Khoản 2 Điều 119 BLDS 2015.
39 Khoản 1 Điều 459 BLDS 2015: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng,
chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”
40 Theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng
cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”
Trang 26cụ thể về hợp đồng bằng hành vi do đó ta có thể hiểu theo cách hiểu thông thường.
Hợp đồng có thể thực hiện bằng hành vi như: ra hiệu, ra giấu bằng cử chỉ cơ thể… miễn là những hành vi đó phải chứa đựng thông tin cho bên kia hiểu và thoả thuận giao kết trên thực tế Bởi lẽ, việc tuyên bố ý chí bằng lời nói hay bằng chữ viết, suy cho cùng, cũng đều bằng hành vi của con người Tuy vậy, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được nói đến trong trường hợp này không phải được diễn đạt bằng lời nói hay chữ viết mà chỉ được thể hiện bằng một hành động thuần túy Về mặt hình thức hợp đồng bằng hành vi được thể hiện ra bên ngoài khá đa dạng Hành vi
cụ thể thường được sử dụng để xác lập các hợp đồng thông dụng, được thực hiện ngay, và trở thành thói quen phổ biến của lĩnh vực hoạt động liên quan, tại nơi giao dịch được xác lập, hoặc hành vi cụ thể cũng được sử dụng phổ biến trong các hoạt động dịch vụ dành cho số đông đại chúng mà bên cung cấp dịch vụ đã có qui chế hoạt động rõ ràng đã được công bố Trong nhiều trường hợp, khi một bên biết rõ nội dung lời đề nghị giao kết hợp đồng từ phía bên kia và thể hiện đồng ý xác lập hợp đồng bằng một hành vi cụ thể, đã chuyển tín hiệu đồng ý đến cho bên kia biết thì hành vi cụ thể đó cũng được coi như hình thức biểu hiện của hợp đồng41 Giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua những hành vi nhất định theo quy ước định trước Ví dụ: Mua nước ngọt bằng máy tự động, chụp ảnh bằng máy tự động, gọi điện thoại tự động… Đây là hình thức giản tiện nhất của giao dịch Giao dịch có thể được xác lập thông qua hình thức này mà không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết Hình thức này càng ngày càng trở nên phổ biến, nhất là tại những quốc gia có nền công nghiệp tự động hoá phát triển
1.4 Hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức
1.4.1 Hậu quả pháp lý về mặt hiệu lực của hợp đồng
Về nguyên tắc hiệu lực hợp đồng không phụ thuộc vào điều kiện về hình thức hợp đồng Hợp đồng có hiệu lực khi các bên đạt được sự thỏa thuận về nội dung hợp đồng (theo lý thuyết ưng thuận)42 Nguyên tắc này được hầu hết các hệ thống pháp luật thừa nhận Tuy nhiên đối với một số hợp đồng nhất định, pháp luật một số nước quy định điều kiện hình thức hợp đồng được coi là yêu cầu bắt buộc về hiệu lực hợp đồng Ở một số nước khác điều này chỉ nhằm mục đích về bằng chứng giao kết hợp đồng
41
Lê Minh Hùng (2015), “Hình thức của hợp đồng”, NXB Hồng Đức
42 Khoản 2 Điều 401 BLDS 2015: “Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và
nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật”
Trang 27Thứ nhất, hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: Đây là
các trường hợp liên quan đến hợp đồng mà việc đạt được sự thỏa thuận chưa đủ để đảm bảo cho hợp đồng có hiệu lực Trường hợp này đòi hỏi thỏa thuận của các bên đạt được có hiệu lực phải có điều kiện:
Phải thể hiện dưới một hình thức (thường là bằng văn bản)
Hợp đồng phải tuân theo những thủ tục nhất định mới có hiệu lực
Các loại hợp đồng phải tuân thủ những điều kiện này thường được quy định cụ thể trong các văn bản hợp đồng của các nước Có những hợp đồng chỉ cần tuân theo điều kiện bằng văn bản nhưng có loại phải tuân theo hai điều kiện trên
Thứ hai, điều kiện hình thức hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp
đồng: Trong trường hợp này pháp luật thường đề cập đến điều kiện phải lập thành văn bản nhưng nếu hợp đồng không tuân theo những điều kiện về hình thức thì cũng không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng Điều kiện hình thức văn bản hợp đồng trong trường hợp này chủ yếu có ý nghĩa nhằm đảm bảo chứng cứ về việc hợp đồng đã được giao kết, tạo thói quen thận trọng khi giao kết hợp đồng Về các trường hợp hợp đồng phải được lập thành văn bản, pháp luật các nước có những quy định khác nhau Qua nghiên cứu quy định pháp luật một số nước như Pháp, Nga, Mỹ về hình thức hợp đồng cho thấy, pháp luật hợp đồng công nhận nguyên tắc
tự do hình thức hợp đồng Tuy nhiên đối với một số loại hợp đồng, pháp luật quy định phải tuân thủ theo những điều kiện về hình thức nhất định Việc quy định điều kiện hình thức hợp đồng bằng văn bản trên cơ sở tôn trọng tối đa quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận của các bên Do vậy, pháp luật không quy định điều kiện này là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, mà chủ yếu có ý nghĩa về mặt chứng cứ khi giải quyết tranh chấp Quy định này vừa đảm bảo nguyên tắc tự do hợp đồng, đồng thời vẫn thể hiện sự can thiệp của pháp luật vào hình thức hợp đồng ở mức nhất định nhằm đạt được những mục đích mà các nhà làm luật đề ra
1.4.2 Hậu quả pháp lý về mặt vật chất
Hậu quả pháp lý về mặt vật chất chỉ xảy ra trong trường hợp bị tuyên bố hợp đồng vô hiệu Khi hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức hình thức thì các bên khôi phục lại tình trạng bên đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác43 Đây là chế tài có mục đích "khôi
43 Khoản 2 Điều 131 BLDS 2015: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban
đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả”
Trang 28phục lại tình trạng ban đầu” của tài sản của các bên như trước khi giao kết hợp đồng Nhưng việc "khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” chỉ có thể áp dụng khi đối tượng hợp đồng còn nguyên vẹn, chưa có hoặc ít
có sự biến đổi đáng kể, như đã nói trên Trong trường hợp tài sản đã được chuyển giao thực tế không thể hoàn trả được thì pháp luật tính đến khả năng hoàn trả số tiền tương đương, dù như vậy là vi phạm qui định về việc không công nhận quyền và nghĩa vụ của các bên khi Tòa án đã tuyên hợp đồng bị vô hiệu
Trong trường hợp đối tượng hợp đồng là tài sản nhưng tài sản không còn giữ được tình trạng như ban đầu hay đối tượng hợp đồng là công việc (dịch vụ) đã được thực hiện mà có căn cứ xác minh là hợp đồng vô hiệu thì không thể áp dụng được việc "khôi phục lại tình trạng ban đầu” Đặc biệt là đối với những hợp đồng bị tuyên
bố vô hiệu do vi phạm điều cấm pháp luật và trái đạo đức xã hội mà đối tượng hợp đồng là các công việc có liên quan đến giá trị nhân thân của các bên chủ thể Thực
tế xét xử cho thấy, đối với những hợp đồng như hợp đồng vận chuyển , hợp đồng xây dựng, hợp đồng tư vấn việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận rất khó thực hiện Ví dụ: trong hợp đồng vận chuyển khó có thể xử lý trường hợp đối tượng hợp đồng đã được vận chuyển tới một không gian hay địa điểm khác so với địa điểm xuất phát ban đầu, cũng như không thể bắt các bên trong hợp đồng xây dựng
vô hiệu phải phá đi phần công trình đã xây và hoàn trả lại số tiền đã thanh toán Hoặc đối với hợp đồng thuê nhà, nguyên tắc xử lý hợp đồng vô hiệu là các bên trả cho nhau những gì đã nhận: bên cho thuê lấy lại nhà, bên thuê lấy lại tiền cọc Các thỏa thuận về mất cọc, bồi thường tiền cọc không được xem xét đến Nhiều bản
án của Tòa án không buộc người cho thuê phải bồi thường thiệt hại của bên thuê vì cho rằng, hợp đồng đã bị vô hiệu Có một số trường hợp, khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu, Tòa án cũng xét đến yếu tố lỗi của hai bên trong việc giao kết hợp đồng để buộc các bên cùng phải chịu trách nhiệm về thiệt hại
1.4.3 Hậu quả pháp lý về trách nhiệm bồi thường
So với Điều 137 BLDS 200544 thì BLDS 201545 đã tách trách nhiệm bồi thường của bên có lỗi sang thành một điều khoản riêng biệt Do cần lưu ý rằng, hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức có thể chỉ do lỗi một bên mà cũng có thể
do lỗi của hai bên và vấn đề bồi thường thiệt hại được đặt ra cả trong trường hợp
44 Khoản 2 Điều 137 BLDS 2015: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban
đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên
có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”
45 Khoản 4 Điều 131 BLDS 2015: “Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”
Trang 29mức độ lỗi của hai bên là tương đương nhau Do đó, Tòa án phải xác định mức độ lỗi của từng bên trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại: nếu mỗi bên đều có lỗi tương đương nhau thì mỗi bên phải chịu một phần hai giá trị thiệt hại; nếu mức độ lỗi của họ không tương đương nhau thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo mức độ lỗi của mỗi bên Trường hợp mà bên có lỗi dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu mà gây ra thiệt hại thì căn
cứ vào mức độ lỗi và mức độ thiệt hại để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng
Như vậy, hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức dẫn tới nhiều hậu quả pháp lý bất lợi, do đó ngay khi xác lập hợp đồng các bên cần tuân thủ các điều kiện
về hình thức nhằm hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng
1.5 Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức
BLDS 2005 quy định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là
02 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập Điều 132 BLDS 2015 quy định thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu chi tiết hơn về thời điểm tính thời hiệu 02 năm
là kể từ ngày (i) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; (ii) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; (iii) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; (iv) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; (v) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức
BLDS 2015 cũng bổ sung quy định hết thời hiệu mà không có yêu cầu tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực Quy định này làm rõ hậu quả pháp lý của giao dịch trong trường hợp các bên không thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu trong thời hạn luật định, hạn chế tranh chấp
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hợp đồng là tự do ý chí, ý chí có thể được bày tỏ dưới nhiều hình thức như văn bản, lời nói, hành vi cụ thể Song để bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ hợp đồng cũng như góp phần tăng cường sự quản lý của nhà nước, tùy theo tính chất của đối tượng hợp đồng mà pháp luật dân
sự có những yêu cầu khác nhau về hình thức hợp đồng Nhưng không phải hợp đồng nào khi chủ thể lựa chọn hình thức để giao kết hợp đồng lại đáp ứng được
những yêu cầu về mặt hình thức Dẫn đến trường hợp “Hợp đồng vô hiệu do không
tuân thủ quy định về hình thức – Thực tiễn áp dụng đối với hợp đồng trong lĩnh vực nhà đất” trên thực tế xảy ra nhiều, nhất là những nơi chưa được tuyên truyền pháp
luật để người dân hiểu biết hơn về hình thức hợp đồng Ngoài ra, quy định của luật còn nhiều bất cập, chưa thống nhất với luật chuyên ngành dẫn đến cách hiểu khác nhau, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng
Nội dung Chương 1, tác giả nhằm khái quát các quy định pháp luật về hợp đồng, hình thức của hợp đồng, ý nghĩa của hình thức hợp đồng, các loại hình thức của hợp đồng, hậu quả pháp lý và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố khi hợp đồng
vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức theo BLDS 2015 Ngoài ra, tác giả ghi nhận các quan điểm từ chủ quan đến khách quan và chú thích đầy đủ nội dung tương ứng để người đọc dễ dàng theo dõi và đối chiếu
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN
THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC 2.1 Những bất cập trong quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức
2.1.1 Quy định pháp luật theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định hình thức
Mặc dù BLDS 2015 ra đời nhằm hạn chế những bất cập về hình thức hợp đồng nhưng trong thực tiễn vẫn còn rất nhiều hợp đồng ký kết một cách phổ biến nhưng lại chứa đựng rủi ro cho nên có trường hợp xảy ra là mặc dù hai bên đã thỏa thuận ký kết hợp đồng nhưng vì một lý do nào đó, một trong hai bên cố tình không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng theo những gì đã thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến xảy ra tranh chấp Nhất là tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường bị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức Người thua thiệt thường yêu cầu Tòa án để tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng bị Tòa án bác đơn khởi kiện và tuyên bố vô hiệu vì một lý do chung là hợp đồng chưa tuân thủ điều kiện về hình thức Đặc biệt hiện tượng này xảy ra rất nhiều, việc áp dụng các quy định về hình thức trong thực tế đã nảy sinh vấn đề phức tạp, cần nghiên cứu bổ sung và nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên chủ thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia giao kết hợp đồng Từ những bất cập từ BLDS 2005 mà BLDS 2015 đã kịp thời sửa đổi bổ sung quy định về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau:
Theo quy định tại Điều 129 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự vi phạm quy định
điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1 Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó
2 Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
Trang 32Điều luật này đã coi trọng bản chất, tôn trọng ý chí các bên, một biểu hiện trong việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nói chung, nguyên tắc cơ bản thứ hai ghi tại khoản 2 Điều 3 của BLDS nói riêng Như vậy, việc tôn trọng ý chí các bên không chỉ thể hiện trong thực thi pháp luật mà ngày càng tiến dần đến sự nhất quán trong xây dựng các quy định cụ thể của Bộ luật Sự sửa đổi, bổ sung này ít nhiều đã giảm sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ dân sự, nó không chỉ hợp lý (xét dưới góc độ lý thuyết) mà còn giàu tính thực tiễn, tăng sức sống cho các giao dịch, tăng tính ổn định trong quan hệ dân sự, bảo đảm sự công bằng Với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 129, nếu việc giải thích không bị khuôn theo câu chữ của Điều 129
mà theo tiêu chí nghĩa vụ đã được thực hiện thì điều này sẽ giúp làm giảm rất nhiều những giọt nước mắt đau xót, uất nghẹn của những người hiền lành, thiện chí nhưng không hiểu hết hậu quả của việc không hoàn thiện quy định về hình thức của hợp đồng trong các quan hệ mua bán nói chung, đặc biệt là mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi xảy ra đột biến về giá cả trên thị trường, như đã từng diễn ra những năm cuối thế kỷ XX, thập niên đầu thế kỷ XXI Vì vậy, việc quy định của BLDS 2015 về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức tại Điều 129 của Bộ luật, khi giải thích theo hướng nhằm giảm thiểu các hợp đồng bị
vô hiệu về hình thức
So với quy định tại Điều 134 BLDS 2005 thì quy định tại Điều 129 BLDS
2015 có một số điểm đáng chú ý sau đây:
Một là, về cơ quan có thẩm quyền giải quyết: Theo Điều 134 BLDS 2005,
không chỉ Tòa án mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác cũng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Tuy nhiên, theo Điều 129 BLDS 2015, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức BLDS 2015 đã có sự đột phá trong cách quy định theo hướng xác định phần nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng khác với các quy định của BLDS 2005, quy định này đã loại bỏ được các trường hợp Tòa án tùy nghi trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu cũng như tránh được tình trạng dựa vào quy định này để bội ước của các bên trong hợp đồng
Hai là, về nội dung giải quyết: Theo Điều 134 BLDS 2005, trường hợp một
bên hoặc các bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác sẽ quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng trong một thời hạn; quá thời hạn
đó mà không thực hiện thì mới tuyên bố hợp đồng vô hiệu, xác định lỗi của các bên dẫn đến hợp đồng vô hiệu Thực tế cho thấy, khi một bên tham gia hợp đồng yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, dù có gia
Trang 33hạn thì cũng rất khó để họ hoàn thiện hình thức của hợp đồng, bởi họ thường là bên được hưởng lợi từ việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu như: được hưởng lợi do giá nhà, đất trong hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có biến động… Do đó, BLDS 2015 đã sửa đổi bổ sung ít nhất hai phần ba nghĩa vụ để làm căn cứ xác định hợp đồng đó có bị vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức hay không
2.1.2 Vướng mắc khi áp dụng quy định pháp luật theo Điều 129 Bộ luật Dân sự
2015 về hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức
Để đảm bảo chức năng quản lý xã hội của Nhà nước cũng như bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng, Nhà nước đã đặt ra những điều kiện về hình thức của hợp đồng Tuy nhiên, trong một số trường hợp do không tuân thủ quy định
về hình thức mà Nhà nước can thiệp vào quan hệ hợp đồng giữa các bên khiến mong muốn cũng như nguyện vọng giữa các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng bị ràng buộc bởi pháp luật Do đó khi có tranh chấp xảy ra việc giải quyết những trường hợp này rơi vào tình huống khó xử, điều đáng nói ở đây là các hình thức của hợp đồng được quy định nhằm giảm thiểu việc Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
do không tuân thủ quy định về hình thức Do vậy BLDS 2015 đã đưa ra hướng xử
lý mềm dẻo hơn, đó chính là quy định “các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch” thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó
Từ tuy định tại Điều 129 BLDS 2015 đã sửa đổi theo hướng căn cứ vào mức
độ thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng (tối thiểu 2/3 nghĩa vụ) làm cơ sở tuyên bố hợp đồng vô hiệu là hoàn toàn phù hợp Bởi lẽ, một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của hợp đồng nói chung là nguyên tắc tôn trọng quyền tự
do ý chí của các bên Khi hợp đồng đáp ứng tất cả các điều kiện có hiệu lực được quy định tại Điều 117 BLDS 2015 và các bên đã thực hiện được 2/3 nghĩa vụ và để bảo đảm tính ổn định trong các quan hệ dân sự, pháp luật dân sự cho phép Tòa án tuyên bố hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, xét về mặt lý luận, quy định các bên đã thực hiện “ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch” sẽ có thể gây ra những khó khăn trong việc xác định tiến trình thực hiện hợp đồng của hai bên để hợp đồng không bị vô hiệu theo các trường hợp tại Điều 129 BLDS 2015 Về vấn đề này, hiện nay có nhiều tác giả trao đổi quan điểm, cụ thể như sau:
Trang 34Quan điểm thứ nhất cho rằng46: “Trong một số trường hợp việc xác định khối lượng nghĩa vụ đã thực hiện “hai phần ba” hay không, hoàn toàn không dễ dàng Chẳng hạn, nếu đã giao nhà mà chưa giao giấy tờ hay giao giấy tờ mà chưa giao tài sản thì có được coi là đã “thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch” không?”
Quan điểm thứ hai cho rằng47: “Việc chứng minh đã thực hiện được hai phần
ba nghĩa vụ chỉ có thể áp dụng đối với các nghĩa vụ thanh toán tiền hay nghĩa vụ thực hiện công việc mà công việc đó được chia thành nhiều phần để thực hiện… nếu hợp đồng là mua bán, chuyển nhượng nhà đất thì có thể được ứng dụng điều luật này (vì có thể xác định được hai phần ba nghĩa vụ thanh toán tiền) còn đối với hợp đồng thế chấp nhà, quyền sử dụng đất thì không thể áp dụng (vì không thể xác định được con số hai phần ba đối với việc thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch thế chấp)
Tác giả đồng tình với quan điểm này bởi quy định trên chỉ áp dụng được đối với những hợp đồng có nghĩa vụ phân chia được, trong trường hợp không xác định được 2/3 nghĩa vụ của hợp đồng thì việc áp dụng các quy định tại Điều 129 BLDS
2015 trở nên lúng túng và có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên trong hợp đồng Việc sửa đổi bổ sung 2/3 trong giao dịch nhằm mục đích cứu vãn những hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức Tức là khi Tòa án xem xét trước khi tuyên hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức thì phải căn cứ vào tiến trình thực hiện hợp đồng của chủ thể để công nhận hợp đồng không bị vô hiệu
Theo quy định của Điều 129, trên thực tiễn về hợp đồng cho thấy, có rất nhiều dạng nghĩa vụ như: nghĩa vụ tài sản, nghĩa vụ phi tài sản v.v Vì vậy, cần phải làm
rõ việc xác định nghĩa vụ chỉ là nghĩa vụ tài sản hay phải bao gồm tất cả các nghĩa
vụ mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng? Khi trong hợp đồng vừa có nghĩa vụ tài sản vừa có nghĩa vụ phi tài sản; một bên phải thực hiện nghĩa vụ tài sản vừa phải thực hiện nghĩa vụ phi tài sản (như thực hiện thủ tục sang tên…), hoặc các bên đều chỉ có nghĩa vụ phi tài sản thì dựa vào tiêu chí gì để được coi là đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ?
Về những vấn đề đặt ra trên đây, trên thực tế có những hợp đồng vừa có nghĩa
vụ tài sản vừa có nghĩa vụ phi tài sản; cũng có hợp đồng mà nghĩa vụ là việc thực
46 Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015, sách chuyên khảo,
NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.161
47 Lê Thị Hồng Vân (2018), Sách dự thảo tình huống Pháp luật hợp đồng và Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng - bình luận bản án, Trường Đại học Luật Tp.HCM, khoa Luật Dân sự, tr.120