1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của công ước vienna 1980

69 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài còn đối chiếu vi phạm cơ bản theo CISG với pháp luật Việt Nam, từ đó rút ra một điểm bất cập để đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tạo sự thống nhất giữa pháp luật Việt

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 2

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của quý thầy cô Khoa Luật, Trường Đại Học Công nghệ TP.HCM, sau hơn hai tháng nghiên cứu, em đã hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp với đề

tài “Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của Công ước Vienna 1980”

Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ và giảng dạy nhiệt tình từ thầy cô khoa Luật

Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn

có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô khoa Luật Đặc biệt, em chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy – Thạc sĩ Nguyễn Chí Thắng, người đã dành thời gian chỉ dẫn, định hướng và luôn theo sát giúp em hoàn thành khóa luận Một lần nữa em trân trọng cảm ơn thầy

Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế, bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn và lần đầu viết khóa luận nên nội dung của khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô để bài khóa luận này được hoàn thiện hơn

Một lần nữa em xin gửi đến quý thầy cô, bạn bè lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất!

Sinh viên

Lê Anh Thái

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Lê Anh Thái MSSV: 1511271275 Lớp: 15DLK15

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khóa luận tốt nghiệp này được

thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng quy định);

Nội dung khóa luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo qui định của nhà trường và pháp luật

Sinh viên

Lê Anh Thái

Trang 5

of Goods

Công ước Vienna của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980

Unification of Private Law

Viện Thống nhất Tư pháp quốc tế

International Trade Law

Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế

China International Economic and Trade Arbitration Commissio

Ủy ban trọng tài thương mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc

Contract Law

Những nguyên tắc Luật hợp đồng châu Âu

International Commercial Contract

Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT

tế

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của khóa luận 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIENNA 1980 3

1.1 Khái niệm và đặc điểm của vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980 3

1.1.1 Khái niệm vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980 3

1.1.2 Đặc điểm vi phạm cơ bản 6

1.2 Các yếu tố xác định vi phạm cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa 8

1.2.1 Sự thỏa thuận giữa các bên về vi phạm cơ bản trong hợp đồng 8

1.2.2 Mức độ nghiêm trọng của thiệt hại đối với bên bị vi phạm 10

1.2.3 Hàng hóa không phù hợp với hợp đồng có khả năng thương mại hay không 14

1.2.4 Khả năng tiên liệu được hậu quả do hành vi vi phạm gây ra 16

1.2 Hệ quả pháp lý của vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980 17

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM CƠ BẢN THEO CÔNG ƯỚC VIENNA 1980 – LIÊN HỆ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 33

2.1 Thực trạng áp dụng vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980 33

2.2 Vi phạm cơ bản theo pháp luật Việt Nam 39

2.2.1 Quy định về vi phạm cơ bản trong Luật Thương mại 2005 39

2.2.2 Quy định về vi phạm nghiêm trọng trong Bộ luật Dân sự 2015 48

2.3 Bình luận quy định về vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980 với pháp luật Việt Nam 50

KẾT LUẬN 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, mang lại cho Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam những lợi ích đáng kể Ngoài ra, gia nhập CISG sẽ giúp thống nhất pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam với nhiều quốc gia trên thế giới, tạo điều kiện hoàn thiện pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng và pháp luật về mua bán hàng hóa nói chung của Việt Nam Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam tham gia vào nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương nên các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác, ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng nhiều Trong quá tình thực hiện hợp đồng, việc xảy ra vi phạm giữa các bên là điều không thể tranh khỏi Do đó, việc xác định nguồn luật điều chỉnh hợp đồng để giải quyết tranh chấp là rất quan trọng Trong đó, Công ước Vienna có khả năng rất cao được áp dụng làm nguồn luật điều chỉnh Công ước Vienna được áp dụng trong các trường hợp sau: Khi các bên có có trụ sở thương mại tại hai quốc gia là thành viên của Công ước; Khi theo các quy tắc tư pháp quốc

tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước; Khi các bên lựa chọn Công ước Vienna là luật áp dụng cho hợp đồng của mình; Các bên thỏa thuận chọn luật quốc gia khác là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng và quốc gia đó là thành viên của Công ước

Công ước hiện có gần 90 thành viên và Việt Nam là thành viên 84 của Công ước,

do đó việc CISG được áp dụng khi các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp hợp đồng là rất lớn Khi xảy ra vi phạm hợp đồng thì vi phạm cơ bản là một trong các vi phạm mang lại hậu quả nặng nề nhất và đó là căn cứ để áp dụng chế tài nặng nhất là hủy bỏ hợp đồng Xác định vi phạm cơ bản là căn cứ quan trọng để các bên áp dụng các chế tài, là khái niệm trung tâm trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh do

vi phạm hợp đồng Thực tiễn tranh chấp trong các hợp đồng kinh doanh quốc tế cho thấy không dễ dàng để xác định đâu là vi phạm cơ bản Vì vậy, việc nghiên cứu vi phạm cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG là vô cùng cấp thiết Từ đó, xác định các yếu tố cấu thành vi phạm cơ bản, rút ra kinh nghiệm cho các bên khi soạn thảo hợp đồng và so sánh với vi phạm cơ bản theo pháp luật Việt Nam, nhìn ra những bất cập chưa phù hợp với những quy định chung của pháp luật

quốc tế để đề xuất hướng hoàn thiện Vì những lý do nêu trên, em đã chọn đề tài “Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo quy định của Công ước Vienna 1980” làm đề

tài Khóa luận tốt nghiệp

Trang 8

2

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ về vấn đề vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG và so sánh với pháp luật Việt Nam Trong

đó, làm rõ những vấn đề lý luận về vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế, phân tích hệ quả pháp lý của vi phạm cơ bản Đồng thời, đưa ra các vụ kiện thực

tế để nhận xét về thực trạng vận dụng các quy định về vi phạm cơ bản theo CISG Đề tài còn đối chiếu vi phạm cơ bản theo CISG với pháp luật Việt Nam, từ đó rút ra một điểm bất cập để đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tạo sự thống nhất giữa pháp luật Việt Nam và Công ước Vienna và tạo cơ sở pháp lý thuận lợi và dễ áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giao kết và thực hiện hợp đồng, cho các cơ quan giải quyết tranh chấp của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi phải áp dụng quy định về vi phạm cơ bản

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài này là các quy định của CISG liên quan đến vi phạm cơ bản

và những án lệ, tranh chấp thực tiễn

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn bằng việc phân tích, làm rõ hậu quả pháp lý của vi phạm cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo các quy định của CISG Thực tiễn áp dụng quy định về vi phạm cơ bản từ các vụ án, án lệ tòa án, trọng tài ở một số nước đã gia nhập CISG Khóa luận còn nghiên cứu về quy định vi phạm

cơ bản trong pháp luật Việt Nam thông qua pháp luật Dân sự và luật Thương mại Từ

đó, người viết so sánh quy định vi phạm cơ bản của CISG với pháp luật Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được viết dựa trên các phương pháp:

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp tìm kiếm, tổng hợp tài liệu

5 Kết cấu của khóa luận: gồm 2 chương

Chương 1: Tổng quan về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo Công ước Vienna 1980

Chương 2: Áp dụng vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980 – Liên hệ Pháp luật Việt Nam

Trang 9

3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VI PHẠM CƠ BẢN NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIENNA 1980

1.1 Khái niệm và đặc điểm của vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980

Khi HĐMBHHQT được giao kết hợp pháp thì nó có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên tham gia xác lập và thực hiện hợp đồng Sự ràng buộc pháp lý và lợi ích kinh tế của các bên sẽ bị ảnh hưởng ở mức độ khác nhau khi quyền và nghĩa vụ do các bên tạo ra không được tuân thủ bởi một trong các bên xác lập và thực hiện hợp đồng CISG còn quy định quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua, đồng thời chỉ rõ những chế tài khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng.1 Một bên trong quan

hệ mua bán hàng hóa quốc tế có thể áp dụng chế tài yêu cầu giao hàng thay thế hoặc

bồi thường thiệt hại hoặc hủy bỏ hợp đồng nếu chứng minh được bên còn lại “vi phạm cơ bản hợp đồng” Xác định vi phạm cơ bản là căn cứ vô cùng quan trọng để

các bên trong hợp đồng cũng như các cơ quan giải quyết tranh chấp giải quyết vụ án,

áp dụng các chế tài thương mại Doanh nghiệp khi giao kết hợp đồng cũng cần nắm

rõ quy định về các trường hợp vi phạm cơ bản để thỏa thuận điều khoản chế tài một cách chặt chẽ và thống nhất Nội dung sau đây làm rõ khái niệm và đặc điểm vi phạm

cơ bản HĐMBHHQT

1.1.1 Khái niệm vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980

Có thể nói rằng, “vi phạm cơ bản hợp đồng” là khái niệm phức tạp và khiến nhiều

học giả quan tâm, bàn luận Trước khi định nghĩa về khái niệm vi phạm cơ bản thì

cần phải hiểu thế nào là vi phạm hợp đồng LTM Việt Nam 2005 định nghĩa vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của LTM.2 Theo các chuyên gia, dấu hiệu của vi phạm hợp đồng là không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ hợp đồng Nhìn từ góc

độ pháp lý, quy định này có phần thừa và chưa chính xác bởi lẽ thực hiện không đầy

đủ với ý nghĩa là có thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên còn thiếu ở các khía cạnh cụ thể,

ví dụ giao thiếu hàng, giao hàng không đúng chất lượng chủng loại… như đã cam kết chính là thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận Do đó, chỉ cần quy định rằng

vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

1 PGS TS Nguyễn Minh Hằng - Trọng tài viên, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (2018), Khác biệt giữa CISG và Luật Thương mại, xem thêm tại http://enternews.vn/khac-biet-giua-cisg-va-luat-thuong-mai 125323.html , truy cập ngày 9/10/2018

2 Khoản 12 Điều 3 LTM 2005

Trang 10

4

vụ giữa các bên là phù hợp về mặt pháp lý.3 Nhìn ra một số quy định của pháp luật thế giới thì khái niệm về vi phạm hợp đồng lại không được định nghĩa trực tiếp trong các đạo luật của các quốc gia này mà thay vào đó pháp luật của nhiều quốc gia quy định các dạng vi phạm hợp đồng

Điều 11 Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh quy định “Ở Scotland, người bán không thực hiện bất kỳ phần quan trọng nào của hợp đồng mua bán là vi phạm hợp đồng…”.4 Còn theo điểm b khoản điều 1-201 Bộ luật thương mại thống nhất Hoa

Kỳ năm 1952 không đưa ra khái niệm vi phạm nhưng quy định “lỗi là khiếm khuyết,

vi phạm hay hành động sai trái hoặc không làm đầy đủ” Từ quy định này có thể hiểu

vi phạm là lỗi, là sự khiếm khuyết hay hành động sai trái hay không làm đầy đủ.5 Dù được định nghĩa, giải thích theo các cách khác nhau nhưng nhìn chung cách hiểu về

vi phạm hợp đồng của pháp luật một số quốc gia là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng CISG không đưa ra định nghĩa về vi phạm hợp đồng nhưng qua nội dung những quy định cụ thể tại Công ước này thì có thể hiểu vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng

Vi phạm cơ bản được quy định tại Điều 25 của CISG, theo đó “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả

và một người có lý trí bình thường cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự” CISG chỉ đưa ra một định nghĩa khá mơ hồ về vi phạm cơ bản

mà không có một điều luật nào trong Công ước hay một văn bản cụ thể giải thích rõ nội dung về khái niệm này Nhiều câu hỏi xoay quanh khái niệm này vẫn chưa có lời giải đáp: thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đến mức nào thì được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng? Mục đích của các bên khi giao kết hợp đồng là gì? Chính vì vậy, vi phạm cơ bản hợp đồng là khái niệm phức tạp và trừu tượng, gây khó khăn cho các bên trong hợp đồng khi xảy ra tranh chấp và cả các cơ quan giải quyết

Trong PICC và PECL, thuật ngữ vi phạm hợp đồng không xuất hiện mà thay vào

đó là không thực hiện hợp đồng Theo PICC quy định: “Không thực hiện hợp đồng

3 Phan Thị Thanh Thủy (2014), “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Vienna 1980”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3, tr.50-

60

4 Báo cáo 350/UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 18/5/2005 về việc giải trình, tiếp thu chỉnh

lý dự thảo Luật thương mại (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua

5 Trương Văn Dũng (2003), Luận án Tiến sĩ Luật học Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Trưòng Đại học Luật Hà Nội

Trang 11

5

là việc một bên không thực hiện một nghĩa vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng, kể cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm trễ ”6; PECL quy định: “Không thực hiện hợp đồng có nghĩa là việc không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, bao gồm thực hiện chậm, thực hiện không đúng và không hợp tác để làm cho hợp đồng có hiệu lực”.7

Vi phạm cơ bản hợp đồng là vi phạm hợp đồng nhưng không phải vi phạm hợp đồng nào cũng là vi phạm cơ bản hợp đồng Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa vi phạm

cơ bản hợp đồng với các loại vi phạm hợp đồng khác là tính cơ bản của hành vi vi phạm Theo Từ điển Black’s Law, tính chất cơ bản của hành vi vi phạm được thể hiện

ở chỗ vi phạm hợp đồng phải đủ nghiêm trọng để cho phép bên bị vi phạm xem vi phạm này như là vi phạm toàn phần hơn là vi phạm từng phần, vì vậy bên bị vi phạm không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng và có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.8 Vi phạm hợp đồng có tính chất cơ bản nếu đó là vi phạm điều khoản cơ bản của hợp đồng hay vi phạm nghĩa vụ chính/cốt lõi của hợp đồng Nội dung của hợp đồng được cấu thành bởi các điều khoản cơ bản, điều khoản tùy nghi và điều khoản thông thường.9

Tuy nhiên, điều khoản cơ bản của hợp đồng là gì thì hiện nay còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau Về mặt thuật ngữ, điều khoản cơ bản của hợp đồng có thể hiểu

là điều khoản mà nếu một bên vi phạm điều khoản đó thì bên kia có quyền chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng Hay, điều khoản cơ bản là điều khoản trong hợp đồng và có tầm quan trọng như hợp đồng, nếu bỏ qua nó sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu.10 Trong pháp luật thực định của một số quốc gia cũng quy định về điều khoản cơ bản hợp đồng Chẳng hạn, khoản 3 Điều 11 Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh quy

định rằng “Trong từng trường hợp, tùy theo cấu trúc hợp đồng, một điều khoản có thể là điều khoản cơ bản của hợp đồng nếu việc vi phạm điều khoản đó sẽ dẫn tới quyền từ bỏ hợp đồng, hoặc có thể là điều khoản thứ yếu nếu việc vi phạm điều khoản

đó sẽ dẫn đến quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng không có quyền từ bỏ hàng hóa và từ bỏ hợp đồng Một điều khoản có thể là cơ bản mặc dù nó được gọi là điều khoản thứ yếu trong hợp đồng” Điều khó hiểu của quy định này nằm ở việc điều

khoản nào trong hợp đồng là điều khoản cơ bản bởi một điều khoản có thể là cơ bản,

6 Điều 7.1.1 Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROT

7 Điều 1.301 Những nguyên tắc Luật hợp đồng châu Âu

8 Bryan, A.Garner, Black’s Law Dictionary, 9th ed., West, 2009

9 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2005

10Từ điển Kinh doanh và quản lý, Nxb Oxford University, xem thêm tại

Trang 12

Pháp luật thực định của các quốc gia cũng như văn bản pháp lý quốc tế đều xác định vi phạm cơ bản tính dựa trên tính nghiêm trọng, mức độ ảnh hưởng đáng kể của hậu quả do hành vi vi phạm của một bên gây ra đối với bên còn lại trong hợp đồng Mức độ ảnh hưởng đáng kể của hậu quả hành vi vi phạm hợp đồng đa số đều được

đo bằng mức độ tổn hại của lợi ích cốt yếu mà bên bị vi phạm mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng

1.1.2 Đặc điểm vi phạm cơ bản

Để có cơ sở xác định vi phạm cơ bản, cần phải nắm rõ đặc điểm về vi phạm cơ bản Một vi phạm được xem là vi phạm cơ bản thì vi phạm đó phải xâm phạm đến tính cơ bản của hợp đồng, làm cho hợp đồng không mang lại đúng giá trị như mục đích ban đầu mà hai bên kỳ vọng Cơ bản là những gì cốt lỗi, chủ yếu nhất, làm cơ

sở cho cho những phần khác trong hợp đồng và trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì đó chính là lợi ích chính mà các bên có quyền mong muốn đạt được khi thực hiện hợp đồng Do đó, đặc điểm đầu tiên của vi phạm cơ bản đó là sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích mong muốn từ hợp đồng của bên bị vi phạm

Khi hợp đồng được xác lập hợp pháp và có hiệu lực pháp lý thì trong hoàn cảnh thông thường bất kỳ bên nào tham gia xác lập, giao kết hợp đồng cũng đều kỳ vọng các bên còn lại phải tôn trọng, thực hiện đúng hợp đồng và đạt được kết quả tốt nhất

11Võ Sỹ Mạnh (2015), Luận án Tiến sĩ Luật học Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Vienna năm 1980

về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của Pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

đi đáng kể hoặc tước đoạt nghiêm trọng lợi ích mà các bên mong muốn đạt được khi thực hiện hợp đồng

Đặc điểm thứ hai của vi phạm cơ bản là hệ quả pháp lý của nó, tức là vi phạm cơ bản hợp đồng là căn cứ để cho bên bị vi phạm lựa chọn các chế tài áp dụng với bên

vi phạm: chấm dứt hợp đồng; bồi thường thiệt hại; yêu cầu giao hàng thay thế hay

tiếp tục duy trì hợp đồng Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên không được từ chối thực

hiện nghĩa vụ hoặc cố tình thực hiện không đúng các điều khoản trong hợp đồng và không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, nếu điều đó không được quy định trong luật hoặc không được các bên thỏa thuận trong hợp đồng Bởi lẽ, một khi hợp đồng đã được xác lập và có hiệu lực pháp luật thì không chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên, buộc các bên phải tôn trọng và thực hiện mà còn ngăn cản và không cho phép các bên được từ chối thực hiện nghĩa vụ hay chấm dứt hợp đồng Vi phạm cơ bản hợp đồng được xem như căn cứ hợp pháp để các bên được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi lợi ích mong muốn từ hợp đồng không đạt được hoặc có nguy cơ không đạt được một cách đáng kể Do đó, để đảm bảo các bên thực hiện đúng hợp đồng, cần quy định chế tài cụ thể đối với vi phạm cơ bản hợp đồng nhằm ràng buộc bên vi phạm hợp đồng gánh chịu trách nhiệm tương xứng và bảo vệ thỏa đáng quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm

12Phạm Duy Nghĩa (2003), Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, trong quyển "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay", Nguyễn Như Phát và Lê Thị Thu Thủy (Cb), Nxb CAND, Hà Nội

Trang 14

mà bên bị vi phạm kỳ vọng khi thực hiện hợp đồng; khả năng bán được của hàng hóa không phù hợp hợp đồng và khả năng tiên liệu được hậu quả do hành vi vi phạm gây

ra

1.2.1 Sự thỏa thuận giữa các bên về vi phạm cơ bản trong hợp đồng

Nếu các bên giao kết hợp đồng thỏa thuận rằng trong trường hợp người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng mà sự tuân thủ nghiêm ngặt hợp đồng là yếu tố cần thiết thì bất kỳ sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nào cũng đều bị xem là vi phạm cơ bản hợp đồng Ví dụ, nếu người mua tuyên bố rằng hàng hóa không phù hợp sẽ khiến cho người mua không đạt được một mục đích cụ thể hoặc nếu người mua thông báo cho người bán biết rõ mục đích mua hàng của người mua nhầm nhắc người bán phải giao hàng như hợp đồng quy định thì bất kỳ hành vi vi phạm nào ảnh hưởng tới mục đích cụ thể đó đều cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng Căn cứ vào những thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng, lúc này, người bán không thể lập luận rằng anh ta không nhìn thấy trước được (không tiên liệu được) những thiệt hại có thể xảy đến cho người mua nếu anh ta không giao hàng theo những quy định đó Như vậy, tòa án sẽ

dễ dàng xác định được một sự vi phạm cơ bản hợp đồng nếu hàng hóa được giao không đúng những gì đã thỏa thuận trong hợp đồng Trong trường hợp này, tòa án dễ dàng kết luận người bán đã có sự vi phạm cơ bản hợp đồng.13

Người mua muốn áp dụng căn cứ này để áp dụng các chế tài về vi phạm cơ bản thì phải có nghĩa vụ chứng minh rằng có điều khoản trong hợp đồng quy định rằng

13 Thạc sĩ Võ Sỹ Mạnh (2011), Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Vienna 1980, Xem

thêm tại https://cisgvn.wordpress.com/2011/04/09/ban-v%E1%BB%81-khai-ni%E1%BB%87m-vi ph%E1%BA%A1mc%C6%A1-b%E1%BA%A3n-h%E1%BB%A3p-d%E1%BB%93ng-theo-

Trang 15

9

không thực hiện một nghĩa vụ liên quan đến giao hàng sẽ được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng Nếu không, người mua không thể tuyên bố hành vi vi phạm đó của người bán là vi phạm cơ bản và làm cơ sở để tuyên bố hủy hợp đồng theo Điều 49 của CISG

Vụ án kinh điển sau đây sẽ chứng minh rõ căn cứ trên: 14

Tên vụ kiện: Garden flowers

Cơ quan giải

quyết tranh chấp Tòa án Austria

Diễn biến tranh

chấp

Mùa xuân 1991, bị đơn đến Đan Mạch để ký hợp đồng với nguyên đơn về việc đặt mua cây cúc châu Phi Cùng với Andreas Schwabe – nhân viên của nguyên đơn, bị đơn đã đến vườn hoa của Anders Jonsson – người bán loại cây Osteospermum ecklonis – một loại cúc Châu phi Bị đơn đã kiểm tra những cây này, Schwabe đã giải thích cho bị đơn rằng đây là cây trồng trong vườn và cần chỗ có ánh nắng Schwabe không hướng dẫn gì thêm cho nguyên đơn về việc bảo quản và chăm sóc cây, cũng như không có bất cứ bảo đảm nào rằng hoa sẽ nở suốt mùa hè

Bị đơn đã bán lại số cúc Châu phi nói trên cho một khách hàng

và cam kết với khách hàng này rằng cúc sẽ nở suốt mùa hè Tuy nhiên, khách hàng này đã khiếu nại bị đơn vì cúc không nở suốt mùa hè Vì thế, bị đơn đã khiếu nại lại nguyên đơn với lý do là chất lượng hàng hóa giao tức là cúc Châu phi không phù hợp với quy định về chất lượng trong hợp đồng vì hoa không nở suốt mùa hè Theo bị đơn, đây là sự vi phạm cơ bản hợp đồng và đã

từ chối thanh toán cho người bán Nguyên đơn không đồng ý và khởi kiện bị đơn ra tòa án

Vấn đề pháp lý Bị đơn có được quyền không thanh toán vì cho rằng nguyên đơn

đã vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG?

14 Xem tình tiết và phán quyết vụ kiện tại http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/940701a3.html , truy cập ngày 05/11/2018

Trang 16

Qua vụ tranh chấp thấy rằng, khi các bên giao kết hợp đồng đã có thỏa thuận rõ

ràng trong hợp đồng về các điều khoản vi phạm cơ bản thì tòa án chỉ căn cứ vào thỏa thuận đó của các bên để quyết định hành vi vi phạm của một bên có phải là vi phạm

cơ bản hợp đồng hay không Tuy nhiên, nếu các bên không có thỏa thuận về vi phạm

cơ bản hợp đồng thì tòa án sẽ cố gắng suy luận dựa trên ngôn ngữ hợp đồng, tập quán, thói quen và giao dịch giữa các bên Điều này thường là rất phức tạp vì luật pháp chưa đưa ra những quy định cụ thể về cái gọi là vi phạm cơ bản hợp đồng

1.2.2 Mức độ nghiêm trọng của thiệt hại đối với bên bị vi phạm

Yếu tố then chốt để xác định vi phạm cơ bản đó là hành vi vi phạm hợp đồng phải

là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng (đáng kể) cho bên bị vi phạm Vậy thế nào là thiệt hại nghiêm trọng? CISG cho rằng thiệt hại nghiêm trọng là những thiệt hại mà làm cho bên bị vi phạm bị mất cái mà họ có quyền kỳ vọng hoặc chờ đợi trên

cơ sở hợp đồng Tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây nên được xem như sự thiệt hại đáng kể mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm của bên vi phạm, là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định vi phạm cơ bản hợp đồng CISG không giải thích rõ sự kỳ vọng mà một bên chờ đợi là gì Kỳ vọng từ hợp đồng là nội dung chủ yếu để xác định liệu một vi phạm hợp đồng gây tổn hại đáng kể có bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng hay không Vi phạm hợp đồng tới mức nào thì bị coi là vi phạm cơ bản phụ thuộc vào các yếu tố liên quan để đạt được những gì bên bị vi phạm kỳ vọng từ hợp đồng.15 Câu hỏi đặt ra là cơ sở nào để xác định những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng từ hợp đồng? Đây là vấn đề pháp

lý phức tạp bởi lẽ việc xác định kỳ vọng của bên bị vi phạm từ hợp đồng không chỉ dựa vào giải thích nội dung hợp đồng mà còn dựa vào thực tiễn, tập quán hoặc những quy định bổ sung của Công ước.16 Vì vậy, việc xác định mức độ thiệt hại là đáng kể hay không đáng kể sẽ do cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyết định căn

cứ vào từng trường hợp, từng vụ tranh chấp cụ thể Ví dụ, phải căn cứ vào giá trị kinh

Trang 17

11

tế của hợp đồng, tỷ lệ hàng hóa bị tổn thất trên tổng giá trị của hàng hóa được giao,

sự tổn hại về mặt tiền bạc do hành vi vi phạm hợp đồng hoặc mức độ mà hành vi vi phạm hợp đồng gây cản trở đến các hoạt động khác của bên bị vi phạm

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về vấn đề này, tòa án đã sử dụng một số tiêu chí để xác định tính nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm gây nên, tức là xác định mức độ đáng kể của thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu Tiêu chí đầu tiên mà Tòa án áp dụng để xác định vi phạm cơ bản là căn cứ vào tỷ lệ hàng hóa bị tổn thất trên tổng giá trị của hàng hóa được giao Ví dụ vụ kiện sau:17

Tên vụ kiện: Delchi v Rotorex

Cơ quan giải

quyết tranh chấp Tòa án liên bang Hoa Kỳ

Diễn biến tranh

chấp

Tháng 1/1988, bị đơn bán 10.800 máy nén khí cho nguyên đơn

để sử dụng cho máy điều hòa trong phòng Trước khi ký kết hợp đồng, bị đơn gửi cho nguyên đơn mẫu máy nén kèm theo chi tiết

kỹ thuật về hiệu suất sử dụng Tuy nhiên, trong khi lô hàng thứ hai đang trên đường vận chuyển cho nguyên đơn, nguyên đơn phát hiện rằng một số lượng lớn máy nén của lô hàng thứ nhất

có chất lượng không phù hợp với mẫu và tiêu chí kỹ thuật kèm theo Cụ thể, bị đơn phát hiện có đến 93% số máy nén điều hòa được giao có khả năng làm lạnh yếu và tiêu thụ nhiều điện năng hơn so với hàng mẫu cùng chi tiết kỹ thuật kèm theo hàng mẫu Vấn đề pháp lý Bị đơn có vi phạm cơ bản theo Điều 25 CISG?

Phán quyết của

Tòa án

Tòa phúc thẩm Liên bang cho rằng bị đơn đã có sự vi phạm cơ bản hợp đồng vì khả năng làm lạnh và tiêu thị điện năng của điều hòa là yếu tố quan trọng xác định giá trị về chất lượng sản phẩm,

tỷ lệ 93% hàng hóa có chất lượng không phù hợp quy định hợp

17 Xem tình tiết và phán quyết vụ kiện tại http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/wais/db/cases2/951206u1.html ,

truy cập ngày 05/11/2018

Trang 18

12

đồng trong mối tương quan với tổng giá trị hợp đồng là tổn hại rất đáng kể và vi phạm hợp đồng như vậy được coi là vi phạm

cơ bản theo Điều 25 CISG

Tỷ lệ phần trăm hàng tổn thất dẫn đến thỏa mãn vi phạm cơ bản hợp đồng là

không giống nhau tùy vào từng vụ tranh chấp cụ thể Trong vụ Frozen bacon giữa

người bán Italy và người mua Đức Theo đó, người bán đã ký hợp đồng với người mua giao 200 tấn thịt lợn muối xông khói, hàng được giao thành 10 lần Người bán

đã giao 4 lần với tổng số 83,4 tấn thịt Tuy nhiên, người mua đã từ chối nhận số hàng còn lại với lý do người bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì người bán, trong 22,4 tấn thịt lợn muối xông khói đã giao trong lô hàng thứ tư có 420 kg thịt bị bẩn Tòa án phúc thẩm Hamm (Đức) cho rằng tỷ lệ phần trăm của hàng bị bẩn là quá nhỏ nên không thể coi đó là vi phạm cơ bản hợp đồng và bác bỏ lập luận của người mua.18 Qua các vụ tranh chấp trên, có thể thấy rằng việc áp dụng tỷ lệ hàng hóa bị tổn thất trên tổng giá trị của hàng hóa được để xác định vi phạm cơ bản thì việc áp dụng

nó hoàn toàn linh hoạt, không có sự cố định, dập khuôn máy móc, tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể Tỷ lệ hàng hóa tổn thất càng cao thì khả năng là vi phạm cơ bản càng lớn Điều này giúp cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐMBHHQT đạt được hiệu quả

Tiêu chí thứ hai mà các cơ quan giải quyết tranh chấp áp dụng là căn cứ vào chi

phí sửa chữa dự tính trên tổng giá trị hàng hóa được giao Tranh chấp Scaffold fittings

giữa người bán Trung Quốc và người mua Úc về cột chống dàn giáo Người bán ký hợp đồng bán 80.000 cột chống dàn giáo cho người mua theo mẫu Tuy nhiên, số cột chống dàn giáo này hoàn toàn không phù hợp với mẫu Tòa án nhận thấy rằng chi phí

dự tính để phân loại cột chống kém chất lượng trong số cột chống dàn giáo tốt chiếm hơn 1/3 giá mua, vì thế tòa tuyên hành vi vi phạm của người bán là vi phạm cơ bản với lý do phần quan trọng của 80.000 cột chống dàn giáo không phù hợp với mẫu.19 Hành vi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của người mua thường

cũng được Tòa án xem là căn cứ cấu thành vi phạm cơ bản Vụ tranh chấp Hat giữa

người bán Trung Quốc và người mua Hoa Kỳ là một ví dụ Người bán và người mua

đã thực hiện 14 hợp đồng mua bán mũ, trong đó những hợp đồng đầu, người mua đã

Trang 19

13

thanh toán đầy đủ nhưng các hợp đồng về sau, người mua đã không thanh toán mặc

dù người bán đã yêu cầu nhiều lần Hai bên thực hiện thêm một hợp đồng nhưng lần này người mua cũng không thanh toán dẫn đến thực tế là người bán tuyên bố hủy hợp đồng Người bán kiện người mua ra CIETAC yêu cầu người mua trả những khoản nợ quá hạn và các chi phí có liên quan Hội đồng trọng tài thuộc CIETAC cho rằng người bán đã giao hàng và thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng, người mua đã nhận hàng nhưng không thanh toán tiền hàng Hội đồng trọng tài phán quyết rằng, căn cứ Điều

25 CISG, việc người mua không thanh toán tiền hàng đã cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã tước đi của người bán những gì người bán kỳ vọng từ hợp đồng – khoản thanh toán tiền hàng.20

Việc người mua không nhận hàng cũng được xem như thỏa mãn yếu tố tước đi những gì bên bị vi phạm kỳ vọng từ hợp đồng, từ đó cấu thành vi phạm cơ bản hợp

đồng Vụ tranh chấp Mung bean giữa người bán Trung Quốc và người mua Thụy Sỹ

là một minh chứng Trong vụ tranh chấp này, người bán và người mua ký hợp đồng mua bán đậu xanh theo điều kiện giao hàng FOB Người bán đã tập kết hàng ở cảng bốc hàng và thông báo với người mua rằng hàng hóa đã sẵn sàng để giao theo điều kiện quy định tại hợp đồng Tuy nhiên, người mua đã không đưa tàu đến nhận hàng mặc dù hạn cuối thời gian giao hàng đã hết và ngay cả khi người bán đã gia hạn Sau

đó, người mua đã gửi thông báo về việc họ sẽ không đưa tàu đến nhận hàng Do đó, người bán đã phải bán lại hàng hóa cho khách hàng khác và kiện người mua ra CIETAC yêu cầu hủy hợp đồng Hội đồng trọng tài ra phán quyết rằng, vì hợp đồng giao hàng theo điều kiện FOB, người mua có trách nhiệm trong việc thuê tàu và điều tàu đến đúng thời gian, địa điểm quy định để nhận hàng Việc tàu của người mua không đến chứng tỏ người mua không thực hiện nghĩa vụ của mình theo Điều 60 CISG khiến người bán không thể giao hàng ngay cả sau khi người bán đã gia hạn thêm cho người mua Vì vậy, việc người mua không điều tàu đến cảng quy định để nhận hàng khiến người bán không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng chiếu theo tinh thần của Điều 25 CISG.21Ngoài ra, các cơ quan giải quyết tranh chấp còn xem lợi nhuận bị mất đi, tổn hại về

uy tín, quyền và lợi ích pháp lý là yếu tổ để xác định vi phạm cơ bản hợp đồng

Trang 20

để xác định xem sự không phù hợp của hàng hóa có cấu thành vi phạm cơ bản hay không.22

Tiêu chí về khả năng bán được của hàng hóa giao không phù hợp với hợp đồng cũng được nhiều tòa án sử dụng để xác định vi phạm cơ bản hợp đồng Trong vụ tranh

chấp giữa Sacovini/M Marrazza v Les fils de Henri Rame , người bán Ý đã ký hợp

đồng để bán rượu cho người mua Pháp vào năm 1988 Tuy nhiên, lô rượu mà người bán đã bán không bán được trên thị trường Pháp Tòa án tối cao Pháp cho rằng, vi phạm của công ty Ý là vi phạm cơ bản vì rượu do công ty này cung cấp không có khả năng bán được trên thị trường Pháp Hơn nữa, việc người bán cho thêm đường vào rượu đã vi phạm quy định về rượu của Pháp và ảnh hưởng tới chất lượng của rượu Hậu quả là rượu không thể tiêu thụ tại Pháp và hành vi của người bán trong việc giao hàng như vậy đã dẫn đến việc người mua Pháp không thể khắc phục được khả năng bán lại lô rượu nói trên tại thị trường Pháp.23

Cũng cần nói thêm rằng, trong các vụ tranh chấp, Tòa án dường như chỉ chú trọng đến khả năng bán được của hàng hóa mà quên đi thiệt hại đáng kể mà người mua phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng của người bán Rõ ràng, trong một số trường hợp, hàng hóa bị tổn thất vẫn có thể bán lại được với mức giá thấp hơn Điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của người mua và có thể dẫn đến thiệt hại đáng kể cho người mua

Vụ tranh chấp Frozen vegetable giữa người bán Tây Ban Nha và người mua Đức

về hợp đồng mua bán rau đông lạnh Theo đó, người bán đã giao hàng cho người

22 Thạc sĩ Võ Sỹ Mạnh (2011), Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Vienna 1980, Xem

thêm tại ph%E1%BA%A1m-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-h%E1%BB%A3p-d%E1%BB%93ng-theo-

23 Xem tình tiết và phán quyết vụ kiện tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960123f1.html, truy cập ngày 06/11/2018

Trang 21

15

mua, trong số hàng được giao có 36% hàng hóa bị nát và không thể bán được cho khách hàng Tòa án quận Munchen (Đức) đã cho rằng vi phạm đó của người bán là

vi phạm cơ bản hợp đồng và người mua không cần thiết phải cố gắng bán lại hàng

hóa với giá thấp hơn Do đó, việc hủy hợp đồng của người mua là phù hợp quy định

tại khoản 1 Điều 49 CISG.24 Đây là một trong những vụ án điển hình cho hành vi giao hàng có chất lượng không phù hợp quy định hợp đồng dẫn đến mục đích bán lại hàng hóa của người mua không thể đạt được

Về nguyên tắc, khi chất lượng hàng giao không phù hợp với hợp đồng làm cho mục đích mua hàng để bán lại của người mua không đạt được thì vi phạm đó bị coi

là vi phạm cơ bản hợp đồng nhưng nếu người mua không chứng minh được mục đích

sử dụng hàng hóa là để bán lại thì không thể coi việc người bán giao hàng có chất lượng không phù hợp hợp đồng quy định là vi phạm cơ bản hợp đồng Trong vụ tranh

chấp Cobalt sulphate giữa người bán Hà Lan và người mua Đức về hợp đồng mua

bán Cobalt sulphate Hai bên đã thỏa thuận Cobalt sulphate phải có xuất xứ từ Anh

và bên bán phải cung cấp giấy chứng nhận xuất xứ và chứng nhận chất lượng Sau khi nhận được chứng từ, người mua phát hiện ra rằng Cobalt sulfate thật ra có nguồn gốc từ Nam Phi, giấy chứng nhận xuất xứ là sai và chất lượng sản phẩm không như chất lượng được quy định trong hợp đồng Người mua đã tuyên bố hủy hợp đồng Phán quyết của Tòa tối cao Đức cho rằng đây không phải là hành vi vi phạm cơ bản hợp đồng nên không có cơ sở cho việc hủy hợp đồng vì người mua không thể chỉ ra rằng không thể bán Cobalt sulphate có nguồn gốc từ Nam Phi ở Đức hoặc ở nước ngoài Do đó, người mua không thể chứng minh rằng việc này đã tước đi những gì mình đã kỳ vọng từ hợp đồng.25

Trong một số trường hợp, mặc dù hàng hóa bị tổn thất, thậm chí tổn thất nghiêm trọng nhưng vẫn có thể sử dụng được Trong trường hợp này, tòa án sử dụng tiêu chí

về khả năng vẫn còn sử dụng được của hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng để xác định vi phạm cơ bản hợp đồng Tòa án cho rằng bất kỳ sự không phù hợp nào liên quan đến chất lượng đều không cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng nếu người mua vẫn có thể thuận tiện sử dụng hàng hóa đó hoặc bán hạ giá được hàng hóa

26 Nguyễn Minh Hằng (2011), Vi phạm cơ bản hợp đồng, xem thêm tại

Trang 22

16

1.2.4 Khả năng tiên liệu được hậu quả do hành vi vi phạm gây ra

Tuy nhiên, mặc dù hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến thiệt hại cho bên bị vi phạm nhưng hành vi vi phạm hợp đồng đó sẽ không bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng nếu bên vi phạm không thể nhìn thấy trước hậu quả của hành vi vi phạm đó và một người

có lý trí bình thường ở vào hoàn cảnh tương tự cũng không thể tiên liệu được Chính xác hơn, khả năng nhìn thấy trước hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng là yếu tố cần thiết để xác định hành vi vi phạm đó có phải là một sự vi phạm cơ bản hợp đồng hay không Khả năng tiên liệu trước được những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra sẽ phụ thuộc vào kiến thức của bên vi phạm về những sự kiện xoay quanh giao dịch như kinh nghiệm, mức độ tinh tế và khả năng tổ chức của bên vi phạm.27 Nghĩa vụ của bên bị vi phạm là phải chứng minh rằng, hành vi vi phạm đã gây tổn hại đến mức tước đi đáng kể những gì anh ta có quyền kỳ vọng từ hợp đồng Do

đó, bên vi phạm muốn chứng minh hành vi vi phạm của mình không phải là vi phạm

cơ bản thì phải chứng minh được rằng bản thân mình không tiên liệu được hậu quả xảy ra từ hành vi vi phạm đã gây tổn tại đến mức tước đi đáng kể những gì mà bên bị

vi phạm kỳ vọng từ hợp đồng Đồng thời cũng phải chứng minh một người có lý trí bình thường cũng không tiên liệu được nếu họ ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự Yếu tố người có lý trí ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự được bổ sung vào quy định

do một thực tế là bên vi phạm thường không thừa nhận rằng mình có khả năng tiên liệu được hậu quả của tổn hại do hành vi vi phạm của anh ta gây ra đến mức tước đi đáng kể những gì bên kia có quyền kỳ vọng từ hợp đồng CISG không quy định thế nào là một người có lý trí bình thường không tiên liệu được nếu họ ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự bên bị vi phạm, điều này phụ thuộc vào từng tranh chấp thực tiễn

mà cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ xem xét và quyết định cho phù hợp Như vậy,

để viện dẫn thành công yếu tố không có khả năng tiên liệu được hậu quả của hành vi

vi phạm để không phải chịu trách nhiệm tương xứng thì bên vi phạm phải chứng minh hai yếu tố trên trước cơ quan giải quyết tranh chấp Chỉ khi trọng tài hoặc thẩm phán

bị thuyết phục bởi hai luận điểm chứng minh đó thì vi phạm hợp đồngkhông bị coi là

cơ bản

Tuy nhiên, khả năng tiên liệu được xem xét vào thời điểm nào vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi Sở dĩ như vậy là do lịch sử soạn thảo Điều 25 và Bình luận của Ban Thư ký đã cho thấy rằng vấn đề thời điểm xác định khả năng tiên liệu đã cố tình

27 Andrew Babiak (1992), Defining “Fundamental Breach” under the United Nations Convention on Contracts for the Interntational Sale of Goods, 6 Temple Int’l & Comp L.J 113, tr 119

Trang 23

17

bị bỏ ngỏ Vì không có quy định rõ ràng về thời điểm xem xét khả năng tiên liệu, trong giới học giả đã có nhiều tranh luận và có hai trường phái quan điểm chính về vấn đề này: Thời điểm xem xét khả năng tiên liệu phải là thời điểm ký kết hợp đồng, tức là việc xác định bên vi phạm có tiên liệu được hay không là xem xét kiến thức và khả năng của anh ta cũng như người có lý trí ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự anh

ta vào thời điểm ký kết hợp đồng; Thời điểm xem xét khả năng tiên liệu là thời điểm sau khi ký kết hợp đồng và khi vi phạm hợp đồng.28

1.3 Hệ quả pháp lý của vi phạm cơ bản theo Công ước Vienna 1980

Vi phạm hợp đồng là căn cứ để xác định trách nhiệm hợp đồng của bên vi phạm Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy định pháp luật Vi phạm cơ bản là căn cứ quan trọng để bên bị vi phạm áp dụng các chế tài đối với bên vi phạm Quy định về chế tài áp dụng đối với một bên vi phạm hợp đồng là những quy định quan trọng của CISG Bởi vì các quy định về chế tài nhằm đảm bảo các bên thực hiện nghiêm túc hợp đồng và nhằm bảo vệ quyền lợi của bên

bị vi phạm Để cho các quy định của hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm chỉnh thì nội dung các quy định về chế tài phải thật khắt khe và chặt chẽ Các chế tài đó có thể là chế tài mang lại hậu quả pháp lý không nặng nề cho bên vi phạm, vẫn duy trì quan hệ hợp đồng mà các bên đã xác lập như buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm; hoặc chế tài mang đến hậu quả pháp lý nặng nề cho bên vi phạm, các bên chấm dứt quan hệ hợp đồng bằng cách hủy bỏ hợp đồng

Chế tài đầu tiên mà bên vi phạm có thể thực hiện là hủy hợp đồng Khi đã xác định là vi phạm cơ bản thì tương ứng với nó là hậu quả pháp lý nặng nhất có thể xảy

ra với bên vi phạm vì khách thể lớn nhất của hợp đồng đã bị xâm phạm đáng kể hoặc nghiêm trọng Vì vậy, hủy hợp đồng là chế tài nặng nhất trong các chế tài nhằm trừng phạt đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ HĐMBHHQT Khi hợp đồng bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được từ nhau và đi kèm là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bị vi phạm Không chỉ thiệt hại về mặt vật chất, hủy hợp đồng còn làm cho các bên thiệt hại về uy tín và có thể chấm dứt quan hệ hợp tác với nhau vĩnh viễn sau đó Các nhà kinh doanh tương đối kỵ áp dụng chế tài này, thường chỉ buộc phải áp dụng chế tài này đối với bên còn lại khi họ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng tức là vi phạm điều khoản cơ bản của hợp đồng, làm ảnh

28 Võ Sỹ Mạnh (2015), Luận án Tiến sĩ Luật học Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Vienna năm 1980

về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của Pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 24

18

hưởng lớn đến quyền lợi của bên bị vi phạm Không giống với các chế tài vi phạm hợp đồng khác, chế tài hủy hợp đồng chỉ áp dụng với những trường hợp nhất định, với một số loại vi phạm nhất định và vi phạm thường đạt đến mức độ rất nghiêm trọng Thông thường khi có vi phạm hợp đồng của một bên thì bên còn lại không áp dụng ngay chế tài hủy bỏ hợp đồng mà áp dụng các chế tài khác, chỉ đến khi không còn hi vọng hoặc mong muốn bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nữa thì bên

bị vi phạm mới tuyên bố hủy hợp đồng Hợp đồng bị hủy bỏ thì các bên không phải thực hiện hợp đồng nữa, tức là các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng Đồng thời các bên có quyền đòi lại lợi ích của mình do đã thực hiện một phần hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền đòi bồi thường hợp đồng do vi phạm hợp đồng bởi hợp đồng sẽ không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết Pháp luật quy định hoặc các bên đặt ra chế tài hủy hợp đồng nhằm ngăn ngừa vi phạm hợp đồng, buộc các bên tôn trọng cam kết của mình và thực hiện hợp đồng nghiêm chỉnh Bởi với chế tài này, các bên sẽ sợ phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ chế tài mà cố gắng thực hiện đúng hợp đồng kể cả trong trường hợp gặp khó khăn Hủy bỏ hợp đồng là một chế tài đối với vi phạm hợp đồng mà không phụ thuộc vào ý chí của bất

kỳ bên nào tham gia hợp đồng, mà chỉ do lỗi, do vi phạm của một bên là điều kiện để hủy hợp đồng.29

Chế tài này được quy định tại Điều 49 và Điều 64 của CISG Theo đó, người mua

có thể tuyên bố hủy hợp đồng “nếu việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào

đó của họ phát sinh từ hợp đồng hay từ Công ước này cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng…”30; người bán có thể tuyên bố hủy hợp đồng “nếu sự kiện người mua không thi hành nghĩa vụ nào đó của họ theo hợp đồng hay Công ước hay cấu thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng…”.31 Qua hai quy định thì có thể hiểu rằng một bên

có quyền hủy hợp đồng chỉ khi bên kia không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và việc không thực hiện đó cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng

Theo CISG, người bán có nghĩa vụ giao hàng và hàng hóa giao phải phù hợp với hợp đồng; chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua đảm bảo không bị ràng buộc bởi bất cứ quyền hạn hay khiếu nại nào của bên thứ ba; chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hóa cho người mua theo hợp đồng hoặc tập quán.32 Vì vậy, nếu người bán vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào mà các bên không có thỏa thuận về hủy hợp

29 Nguyễn Thị Hương (2014), Luận văn thạc sĩ Luật học Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế , Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa luật

30 Điểm a khoản 1 Điều 49 CISG 1980

31 Điểm a khoản 1 Điều 64 CISG 1980

32 Điều 30, 31, 34, 35, 41 CISG 1980

Trang 25

19

đồng thì người mua có quyền tuyên bố hủy hợp đồng nhưng chỉ khi người bán không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc Công ước và việc không thực hiện nghĩa vụ này của người bán cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng, tức là thỏa mãn các yếu tố xác định vi phạm cơ bản hợp đồng quy định tại Điều 25 CISG

Tòa án, trọng tài của một số quốc gia thành viên Công ước đều thống nhất rằng các hành vi không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng như không giao hàng, không giao chứng từ liên quan đến hàng và quyền sở hữu hàng hóa cho người mua đều thỏa mãn yếu tố cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng quy định tại Điều 25 Khi giao kết hợp đồng, người mua mong muốn nhận được hàng, vì thế những hành vi vi phạm này xem như đã gây ra cho người mua tổn hại đáng kể, đủ để tước đi lợi ích mà người mua kỳ vọng khi giao kết hợp đồng Khi đó, người mua có quyền tuyên bố hủy hợp đồng với bên bị vi phạm hoặc các chế tài khác

Hành vi không giao hàng của người bán đôi khi còn được thể hiện dưới hình thức

từ chối giao hàng Trong vụ Furniture leather, tranh chấp giữa người bán Ý và người

mua Đức, theo đó người bán đã từ chối giao mặt hàng da để làm đồ gia dụng vì họ cho rằng họ không có trách nhiệm thực hiện hợp đồng do đại lý của họ ký kết Tuy nhiên, trên thực tế, người bán đã giao một phần hàng hóa cho người mua Dựa vào

cơ sở đó, Tòa phúc thẩm Munchen (Đức) kết luận rằng việc người bán từ chối giao hàng vì cho rằng hợp đồng do đại lý của họ ký kết không chỉ mâu thuẫn với việc người bán đã giao một phần hàng hóa mà còn cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng theo điểm a khoản 1 Điều 49 CISG và người mua có quyền tuyên hủy hợp đồng.33 Tuy nhiên, khi một sự chậm trễ hoặc không đúng thời gian trong giao hàng, thanh toán, hoặc trong việc giao hàng thường không được coi là một vi phạm cơ bản, người mua không được áp dụng để hủy hợp đồng Tòa án hoặc trọng tài khi giải quyết các

vụ tranh chấp HĐMBHHQT đều thống nhất rằng, ngày giao hàng cụ thể là yếu tố cơ bản của hợp đồng khi và chỉ khi người bán đề cập trong hợp đồng Nếu việc giao hàng vào một ngày cụ thể không được nhấn mạnh, không thể hiện rõ lợi ích của người mua trong việc người bán giao hàng đúng ngày cụ thể quy định trong hợp đồng thì người bán không giao hàng vào ngày cụ thể đó không cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng.34 Trong vụ Mobile car phones giữa người bán Đức và người mua Israel, người

bán không giao hàng là thiết bị điện thoại cho xe ô tô không đúng thời hạn, người

33 Xem tình tiết và phán quyết vụ kiện tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/040915g2.html, truy cập ngày

20/11/2018

34 Võ Sỹ Mạnh (2015), Luận án Tiến sĩ Luật học Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Vienna năm 1980

về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của Pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 26

20

mua cho rằng người bán đã vi phạm cơ bản và khởi kiện ra Tòa án tỉnh Dusseldorf ở Đức Tòa án đã phán quyết rằng, vi phạm trong việc giao hàng không đúng thời gian quy định trong hợp đồng được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng theo quy định của Điều 25 CISG nếu hai bên đã quy định trong hợp đồng rằng thời gian giao hàng là một thời điểm cố định và nhận thức rõ ràng rằng việc giao hàng bắt buộc phải được thực hiện ở thời điểm cụ thể đó Hai bên không thỏa thuận điều này trong hợp đồng nên việc người bán không giao hàng đúng thời gian không thể cấu thành vi phạm cơ bản.35

Để tạo điều kiện cho hai bên tiếp tục duy trì hợp đồng, CISG cho phép bên mua

có thể gia hạn cho bên bán thêm một thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực hiện nghĩa vụ.36 Thời gian gia hạn trong trường hợp này là thời gian hợp lý được người mua đồng ý để người bán thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng Trong thời gian gia hạn này, người mua sẽ không được thực hiện bất kỳ biện pháp bảo hộ pháp

lý nào khác Tuy nhiên, người mua được duy trì quyền đòi bồi thường thiệt hại theo quy định của CISG.37 Nếu người bán không giao hàng trong thời gian đã được người mua gia hạn thêm hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian được gia hạn này thì người mua có quyền tuyên bố hủy hợp đồng Vụ kiện sau đây

sẽ minh họa cho quy định này:38

Tên vụ kiện: Hanseatisches Oberlandesgericht Hamburg

Cơ quan giải

35 Xem tình tiết và phán quyết vụ kiện tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/040421g3.html, truy cập ngày 20/11/2018

36 Khoản 1 Điều 47 CISG 1980

37 Khoản 2 Điều 47 CISG 1980

38 Xem tình tiết và phán quyết vụ kiện tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/080125g1.html , truy cập ngày 10/11/2018

Trang 27

21

thời gian cho người bán để lắp đặt toàn bộ các thiết bị và đảm bảo chúng hoạt động bình thường nhưng người mua lại hủy hợp đồng trong thời hạn đó Người mua đã nộp đơn kiện lên Tòa án Hamburg yêu cầu người bán hoàn trả lại số tiền đã thanh toán

Vấn đề pháp lý Người mua có được yêu cầu người bán hoàn lại số tiền theo

khoản 2 Điều 81 CISG?

Như đã phân tích ở trên, khi người bán chậm giao hàng, người mua không được quyền hủy hợp đồng Tuy vậy, trong một số tình huống nhất định, người mua có quyền hủy hợp đồng ngay khi người bán không thể giao hàng khi hết thời hạn Án lệ sau sẽ minh họa cho quan điểm trên: 39

Tên vụ kiện: Diversitel Communications, Inc v Glacier Bay Inc

Nguyên đơn Công ty Diversitel Communications Inc (Canada)

Cơ quan giải

quyết tranh chấp

Tòa án Công lý tối cao tại bang Ontario

Diễn biến tranh

Trang 28

22

một nhà máy ở Bắc Cực, người mua đã thỏa thuận cố định một lịch trình giao hàng cụ thể với người bán trong hợp đồng Người mua đã thanh toán theo giá trong hợp đồng nhưng người bán không giao hàng trong thời gian đã thỏa thuận Người mua đã kiện người bán ra Tòa án Công lý tối cao tại bang Ontario yêu cầu hủy hợp đồng Người bán không đồng ý, cho rằng người mua không có đủ căn cứ để hủy hợp đồng

Vấn đề pháp lý Người mua có được hủy hợp đồng theo khoản 1 Điều 49 CISG? Phán quyết của

Tòa án

Tòa cho rằng lịch trình giao hàng đã ấn định cụ thể trong hợp đồng và đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với người mua Vì thiết bị do người bán cung ứng sẽ phải được lắp đặt trong một khoảng thời gian ngắn tại Bắc Cực Mùa hè ở Bắc Cực rất ngắn nên nếu người bán giao hàng chậm, người mua sẽ không lắp đặt được thiết bị theo thỏa thuận với Bộ Quốc phòng Canada khi đó người mua sẽ không đạt được mục đích của mình khi giao kết hợp đồng Người bán cũng biết về tầm quan trọng đó vì trên thực

tế, người bán biết rằng những thiết bị do người bán cung ứng sẽ được lắp đặt tại Bắc Cực Do vậy, người bán đã vi phạm nghĩa

vụ cơ bản của hợp đồng theo Điều 25 CISG Với lập luận nói trên, Tòa tuyên bố người mua có quyền hủy hợp đồng theo khoản

1 điều 49 CISG và đòi lại số tiền đã thanh toán cho người bán

Đây là án lệ điển hình về việc chậm giao hàng cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng Như đã trình bày thì việc người bán chậm giao hàng thường không cấu thành

vi phạm cơ bản trong HĐMBHHQT, nếu sau đó, hàng hóa vẫn có thể được người mua sử dụng cho mục đích khác của mình Tuy vậy, trong án lệ trên và trong một số trường hợp khác đã được tổng kết từ thực tiễn xét xử thì khi thời hạn giao hàng là một yếu tố quan trọng của hợp đồng thì người mua có quyền hủy hợp đồng nếu người bán không thể giao hàng đúng thời hạn

Trong trường hợp người bán chỉ giao một phần hàng hóa hoặc nếu chỉ một phần hàng hóa đã giao phù hợp với hợp đồng, người mua có quyền hủy hợp đồng đối với phần hàng hóa thiếu hoặc phần hàng không phù hợp nếu việc không thực hiện hợp đồng hoặc một phần hàng giao không phù hợp với hợp đồng cấu thành một sự vi

Trang 29

Bên cạnh quy định quyền tuyên bố hủy hợp đồng của người bán hoặc của người mua, CISG cũng quy định các trường hợp cả người bán và người mua đều có quyền hủy hợp đồng, đó là vi phạm cơ bản hợp đồng dự đoán trước Quy tắc về vi phạm hợp đồng dự đoán trước có thể tóm tắt như sau: Trước khi đến hạn thực hiện nghĩa

vụ trong hợp đồng theo thỏa thuận, nếu bên có quyền biết được rằng nghĩa vụ sẽ không được thực hiện hoặc có căn cứ để nghi ngờ rằng nghĩa vụ sẽ không thể thực hiện, thì có thể thực hiện ngay các quyền hoặc một số quyền mà thông thường chỉ được dành cho các trường hợp nghĩa vụ đã không được thực hiện trên thực tế.42 CISG

quy định quy tắc vi phạm dự đoán trước tại khoản 1 Điều 72: “Nếu trước ngày quy định cho việc thực hiện hợp đồng mà thấy hiển nhiên rằng một bên sẽ gây ra vi phạm

cơ bản hợp đồng thì bên kia có thể tuyên bố huỷ hợp đồng.” Tương tự CISG, PICC

cũng quy định: Một bên có căn cứ để hủy hợp đồng nếu, trước thời hạn, rõ ràng sẽ có việc không thực hiện chủ yếu từ phía bên kia.43 Cụ thể, Điều 7.3.3 của PICC quy định

“Nếu trước ngày thực hiện nghĩa vụ của một bên mà có chứng cứ rõ ràng là bên kia

sẽ không thực hiện cơ bản thì bên có chứng chứ có thể chấm dứt hợp đồng”; Điều 8:105 của PECL quy định “Một bên có lý do xác đáng tin rằng bên kia sẽ không thực hiện cơ bản hợp đồng có thể yêu cầu bên kia đảm bảo thực hiện hợp đồng hợp lý và trong thời gian đó có thể từ bỏ thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến khi niềm tin đó còn tiếp tục… Nếu bên kia không cung cấp đảm bảo thực hiện hợp đồng trong thời hạn hợp lý, bên yêu cầu có thể chấm dứt hợp đồng nếu vẫn tin rằng bên kia sẽ không thực hiện cơ bản nghĩa vụ hợp đồng…”

Ví dụ, trong vụ kiện Shoes giữa người mua Đức và người bán Ý, người mua đặt

mua từ người bán 140 đôi giày mùa đông Sau khi sản xuất giày theo đơn đặt hàng,

40 Điều 51 CISG 1980

41 Khoản 1,2 Điều 73 CISG 1980

42 Vanwijck Alexandre, Điều khoản chấm dứt hợp đồng và điều khoản duy trì hiệu lực hợp đồng, Kỷ yếu Hội thảo Hợp đồng thương mại quốc tế do Nhà Pháp luật Việt – Pháp tổ chức, 13-14/12/2004

43 Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, Dịch giả: Nguyễn Minh Hằng, Đào

Thu Hiền và các Dgk, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005

Trang 30

24

người bán yêu cầu người mua đảm bảo thanh toán hàng hóa vì người mua vẫn còn những hóa đơn khác chưa thanh toán cho người bán Tuy nhiên, người mua không thanh toán cũng như không cung cấp cho người bán đảm bảo thanh toán Vì vậy, người bán đã tuyên bố hủy hợp đồng và bán lại 140 đôi giày mùa đông cho nhà bán

lẻ khác Tòa án cho rằng việc người mua không cung cấp đảm bảo thanh toán đơn hàng mới cho người bán, trong khi chưa thanh toán các đơn hàng cũ là quá rõ ràng cho một sự vi phạm cơ bản hợp đồng Vì vậy, người bán có quyền hủy bỏ hợp đồng theo Điều 72 CISG.44

Đối với người mua, nghĩa vụ của người mua theo CISG là thanh toán tiền hàng

và nhận hàng theo quy định của hợp đồng.45 Vì vậy, khi người mua vi phạm nghĩa vụ này mà các bên không có thỏa thuận về hủy hợp đồng thì người bán có quyền tuyên

bố hủy hợp đồng nếu người mua không thi hành nghĩa vụ nào đó của họ theo hợp đồng hoặc Công ước, nhưng việc không thực hiện nghĩa vụ này của người mua phải cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng.46

Tóm lại, các bên trong hợp đồng cần hạn chế tối đa việc hủy bỏ hợp đồng vì những lý do chủ quan của chủ thể, chỉ áp dụng khi không thể cứu vãn được tình hình nhằm góp phần đảm bảo hợp đồng đạt được kết quả mong muốn, mang lại niềm tin cho các bên và tạo cơ hội cho sự hợp tác lâu dài Đồng thời cũng hạn chế lạm dụng quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng để hủy bỏ hợp đồng một cách tùy tiện

Chế tài thứ hai mà bên vi phạm có thể áp dụng đối bên bị vi phạm là yêu cầu bồi thường thiệt hại Bồi thường thiệt hại là một hình thức trách nhiệm pháp lý được các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế áp dụng phổ biến cả trong trường hợp không thực hiện và thực hiện không đúng hợp đồng CISG quy định tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bị bỏ lỡ mà bên vi phạm đã

dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc giao kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng.47 Khi một bên vi phạm cơ bản và bên bị vi phạm đã

áp dụng chế tài hủy hợp đồng thì kèm theo đó là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Tiền bồi thường thiệt hại này không được cao hơn tổn thất mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc giao kết hợp đồng, có tính đến các tình

Trang 31

25

tiết và yếu tố mà bên bị vị phạm phải biết hoặc đáng lẽ phải biết Theo CISG thì tất

cả các trường hợp bị vi phạm hợp đồng nói chung và bị vị phạm cơ bản nói riêng đều

có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại.48 Việc áp dụng CISG làm văn bản pháp lý để đòi bồi thường thiệt hại áp dụng cho cả hai trường hợp quốc gia của bên mua và bên bán đã là hoặc chưa là thành viên của CISG, tuy nhiên điều kiện áp dụng khác nhau: đối với trường hợp quốc gia mà bên mua và bên bán có quốc tịch đều là thành viên của CISG thì các bên được áp dụng quy định của Công ước để yêu cầu bồi thường thiệt hại dù hợp đồng có hoặc không có quy định Công ước là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng; trường hợp quốc gia mà các bên có quốc tịch không là thành viên của CISG thì các bên vẫn có thể viện dẫn Công ước để yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu hợp đồng quy định Công ước là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng hoặc các bên viện dẫn đến việc áp dụng Công ước để giải quyết tranh chấp.49 Chế tài bồi thường thiệt hại là chế tài được áp dụng phổ biến nhất và hầu hết HĐMBHHQT nào cũng quy định trong hợp đồng Pháp luật của các nước trên Thế giới đều có quy định

về chế tài này, điển hình như: Luật Hợp đồng của Pháp quy định: “người bán hàng phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do hàng kém phẩm chất gây ra” và “người mua được nhận bồi thường những tổn thất trong trường hợp người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào của hợp đồng” Pháp luật về thương mại của Cộng hòa liên bang Đức quy định: “Người mua có quyền yêu cầu người bán bồi thường mọi chi phí

bỏ ra để mua hàng đó” Pháp luật Hoa Kỳ quy định: “Thương nhân có nghĩa vụ bồi thường tổn thất, sửa chữa, thay thế hàng hoặc đáp ứng một số yêu cầu khác tùy theo

sự lựa chọn của người mua nếu hàng hóa mình đã bán không đáp ứng các điều kiện

để bảo đảm”50

Một trong những vấn đề khó khăn và hay gây tranh cãi trong các tranh chấp, đó

là việc tính toán số tiền bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm Bên bị vi phạm muốn đòi bồi thường thành công thì cần phải lưu ý tuân thủ những nguyên tắc cơ bản, đặc biệt bên bị vi phạm không nên đưa ra một con số thiệt hại vô lý để yêu cầu bồi thường Vụ tranh chấp dưới đây sẽ chứng tỏ điều này:51

48 Điểm b, khoản 1, Điều 45 CISG 1980

49 Nguyễn Thị Hương (2014), Luận văn thạc sĩ Luật học Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa luật

50 Nhà pháp luật Việt Pháp (2004), Những quy định chung của Luật hợp đồng ở Pháp, Anh, Mỹ, Đức, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội

51 Xem tình tiết và phán quyết vụ kiện tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/080527f1.html , truy cập ngày 28/10/2018

Trang 32

26

Tên vụ kiện: Không xác định

Nguyên đơn Người bán Italy

Hàng hóa Miếng lót ngực để sản xuất áo bơi

Cơ quan giải

quyết tranh chấp

Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes - Pháp

Diễn biến tranh

chấp

Bị đơn đã ký với nguyên đơn hợp đồng mua miếng lót ngực để sản xuất áo bơi với tổng số lượng là 17.600 đôi Hàng hóa được giao đến cho một công ty ở Tunisie để gia công Trong quá trình gia công, bị đơn phát hiện ra các miếng lót ngực không phù hợp với yêu cầu về chất lượng đã được quy định trong hợp đồng nên

đã trả lại hàng Ngày 3/11/2003, nguyên đơn đề nghị sẽ sửa chữa hàng hóa và sẽ giao hàng hóa phù hợp trong thời gian 5 tuần Tuy nhiên, nguyên đơn đã không thực hiện được việc sửa chữa hàng hóa trong thời gian nói trên Ngày 11/12/2003, bị đơn tuyên

bố hủy hợp đồng và đòi nguyên đơn bồi thường 32.490 eur, bao gồm 2 khoản sau: Chi phí sản xuất lô áo bơi tại Tunisie từ miếng lót ngực không đạt chất lượng: 16.290 eur (1800 áo x chi phí 9,05 eur/áo); Thiệt hại do chênh lệch giá khi mua miếng lót ngực

để thay thế Tháng 12/2003, bị đơn đã phải đặt hàng mua gấp 16.200 đôi miếng lót ngực từ một nhà cung cấp khác và vì mua gấp cũng như không có vị thế đàm phán nên phải chấp nhận mức giá cao hơn 1 eur so với mức giá trong hợp đồng, dẫn đến thiệt hại là 16.200 eur Nguyên đơn phản đối các khoản bồi thường nói trên và cho rằng các khoản này là không hợp lý và khởi kiện

bị đơn

Vấn đề pháp lý Bị đơn có được hủy hợp đồng theo điểm b khoản 1 Điều 49 và

được bồi thường thiệt hại theo Điều 75, 77 CISG?

Phán quyết của

Tòa án

Tòa án đã khẳng định trong trường hợp này, bị đơn có quyền hủy hợp đồng do nguyên đơn đã vi phạm cơ bản hợp đồng và không thể sửa chữa hàng hóa trong khoảng thời gian mà người mua đã gia hạn thêm theo Điều 25, 35, 47 và 49 CISG

Trang 33

áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất do sự vi phạm hợp đồng gây ra Trong trường hợp này, đáng lẽ bị đơn phải hành động nhanh chóng hơn

để giảm bớt thiệt hại Hơn nữa, chi phí sản xuất áo bơi (9,05 eur/áo) do bị đơn tính là chưa hợp lý vì chi phí nhân công trung bình để sản xuất áo bơi tại Tunisie thấp hơn ở Pháp rất nhiều, chỉ khoảng 1 eur/áo Với những lập luận đó, Tòa án cho rằng bị đơn chỉ được đòi bồi thường thiệt hại số tiền là 3.000 eur

Khoản 2: Tòa án áp dụng Điều 75 CISG để xem xét khoản thiệt hại do mua hàng thay thế Khi so sánh giá một đôi miếng lót ngực theo hợp đồng là 0,93 và 0,98 eur và giá mua thay thế là 1,98, tòa án thấy rằng chênh lệch giá là quá lớn và bất hợp lý Vì vậy, việc mua hàng thay thế đã không đáp ứng được yêu cầu về tính hợp lý được quy định tại điều 75 CISG Do đó, Tòa án đã bác bỏ khoản thiệt hại này Tòa án ra phán quyết rằng người mua chỉ đòi được 3.000 eur chứ không phải là 32.490 eur

Qua tranh chấp cho thấy, để đòi bồi thường thiệt hại thành công, bên bị vi phạm phải tuân thủ hai nguyên tắc rất quan trọng sau đây:

Thứ nhất, nguyên tắc hạn chế tổn thất Theo đó, bên đòi bồi thường thiệt hại phải

áp dụng những biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất Trong trường hợp này, một cách hợp lý, người mua Pháp đáng lẽ có thể hạn chế đáng kể thiệt hại bằng cách ngừng ngay dây chuyền sản xuất khi phát hiện sự không phù hợp của hàng hóa

Thứ hai, nguyên tắc các khoản thiệt hại phải được tính toán và chứng minh một cách hợp lý Nguyên tắc này không cho phép các bên thổi phồng thiệt hại của mình lên một cách vô căn cứ, bất hợp lý Trong tranh chấp này, tòa án đã dựa vào giá hàng,

Trang 34

28

giá nhân công cũng như mức giá của thị trường để nhận định rằng các thiệt hại mà người mua tính toán là bất hợp lý, không khách quan, không phù hợp với thực tiễn.52

Bên cạnh đó, vi phạm cơ bản hợp đồng còn là điều kiện tiên quyết đối với quyền

yêu cầu giao hàng thay thế nếu hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng

CISG quy định như sau: “Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì người mua

có thể yêu cầu người bán giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành một

sự vi phạm cơ bản hợp đồng và yêu cầu về việc thay thế hàng hoá phải đưa ra cùng với việc thông báo theo quy định của Điều 39 CISG hoặc trong thời gian hợp lí sau đó”.53 Mục đích của các bên khi ký kết hợp đồng là muốn các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được thực hiện đúng, đầy đủ và thiện chí, mang lại lợi ích kinh tế cho mỗi bên Đây chính là cơ sở thực tiễn của biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng, một biện pháp được áp dụng phổ biến khi có hành vi vi phạm hợp đồng Khoản 2 Điều 46 CISG được áp dụng khi hội đủ các điệu kiện sau Thứ nhất, người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng như: giao hàng có chất lượng không phù hợp với hợp đồng, giao sai loại hàng, hàng được đóng gói không phù hợp hoặc giao hàng thiếu Thứ hai, sự không phù hợp của hàng hóa phải cấu thành vi phạm cơ bản quy định tại Điều 25 CISG và yêu cầu thay thế hàng đã giao không phù hợp của người mua phải cùng lúc với thông báo theo Điều 39 CISG hoặc trong một thời hạn hợp lý sau đó

Việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng bằng cách yêu cầu giao hàng thay thế được thể hiện rõ nét trong án lệ sau:54

Tên vụ kiện: Flexo label printing machine

Cơ quan giải

quyết tranh chấp

Ủy ban trọng tài thương mại và kinh tế quốc tế Trung Quốc

Diễn biến tranh

chấp

Bị đơn và nguyên đơn ký hợp đồng mua bán 9 máy in màu hiệu Flexo Nguyên đơn đã thanh toán đầy đủ giá trị hợp đồng là

52 Tiến sĩ Nguyễn Minh Hằng (2010), Tính toán tiền bồi thường thiệt hại, Xem thêm tại

http://enternews.vn/tinh-toan-tien-boi-thuong-thiet-hai-71934.html , truy cập ngày 01/11/2018

53 Khoản 2 điều 46 CISG 1980

54 Xem tình tiết và phán quyết vụ kiện tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/070724c1.html, truy cập ngày

10/11/2018

Ngày đăng: 04/03/2021, 20:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm