1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

72 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 543,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thẩm quyền và hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại: Theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP Nghị định

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 3

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Luật

và đội ngũ Giảng viên Khoa Luật - trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã tạo niềm động lực, khuyến khích

em trong quá tình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này

Cuối cùng em xin gửi chúc quý thầy, cô, toàn thể các anh, chị tại Sở Công thương Thành phố Hồ Chí Minh và anh, chị tại trường Đại học Công nghệ Thành phố

Hồ Chí Minh dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp

Em xin cảm tạ chân thành!

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Tô Khánh Nhựt

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp

này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và

theo đúng qui định);

Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và pháp luật

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Tô Khánh Nhựt

Trang 5

Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh

40

2.2

Số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại trong năm 2017 và 2018 tại Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh

43

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 1

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 3

1.1 Khái quát vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 4

1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 4

1.1.2 Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 7

1.1.3 Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 9

1.2 Khái quát xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 11

1.2.1 Khái niệm, vai trò xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 11

1.2.2 Thẩm quyền và hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 16

1.2.3 Nguyên tắc, thời hiệu, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 27

Trang 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ KIẾN NGHỊ 36

2.1.Thực trạng pháp luật, áp dụng pháp luật vào xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại –thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh 36 2.1.1 Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 36

2.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật vào xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại –thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh 30

2.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 51 2.2.1 Kiến nghị về các quy định pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 51

2.2.2 Kiến nghị về áp dụng pháp luật trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 53

2.2.3 Một số kiến nghị khác liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại 55

KẾT LUẬN 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

tự phát trên nguyên lý cung cầu thông qua cơ chế thỏa thuận, tự nguyện được hiện thực hóa bằng hợp đồng Chính vì vậy, nhà nước cần thay mặt xã hội điều tiết kinh tế thị trường, buộc nó phải hoạt động trong những khuôn khổ nhất định Mặc dù vậy,

do sự cạnh tranh quyết liệt của nền kinh tế này nên các chủ thể trong nền kinh tế thị trường nhằm mang lại lợi thế cho bản thân so với đối thủ cạnh tranh mà họ đã thực hiện các hành vi hành vi vi phạm hành chính trong thương mại, để thoát khỏi khuôn khổ mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra Vấn đề vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại đã gây ra những bất lợi nhất định trong định hướng phát triển kinh tế nước ta Ngoài ra, nó còn tạo nên những khó khăn và thiệt hại nghiêm trọng trong việc huy động các nguồn lực phát triển đất nước Điều quan trọng nhất, là việc xử lý

vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại như thế nào cho thiết thực và hợp lý trên thực tiễn nhằm duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sao cho phù hợp quy luật khách quan trong

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại” làm luận văn tốt nghiệp ngành Luật Kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Những vấn đề lý luận và thực trạng của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, tìm hiểu về việc áp dụng các quy định pháp luật về việc xử lý

vi phạm hành chính trong thương mại trên thực tiễn Từ đây, nêu lên những bất cập, vướng mắc trong việc thực thi pháp luật của đơn vị thực tập

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

3.1 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 9

2

Vì lĩnh vực thương mại rất rộng nên phạm vi đề tài luận văn tốt nghiệp, em xin giới hạn phạm vi nghiên cứu thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại Sở Công thương Thành phố Hồ Chí Minh

Về mặt không gian, luận văn chỉ nghiên cứu thực trạng xử phạt vi phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và với thời gian trong năm 2017 và năm 2018

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính là vấn đề rất rộng, thể hiện nhiều lĩnh vực khác nhau của quản lý nhà nước Trong phạm vi của đề tài này, em chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về văn phòng đại diện và xúc tiến thương mại trong lĩnh vực thương mại

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau liên quan đến đề tài luận văn, cụ thể như:

- Cơ sở lý luận cho việc xây dựng chế định về xử phạt vi phạm hành chính ở

nước ta của Viện Nghiên cứu Khoa học –Pháp lý (năm 1990)

- Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính: lý luận và thực tiễn của GS.TS Phạm Hồng Thái, Luận văn Thạc sĩ Luật học, năm 2018

- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế từ thực tiễn tỉnh Yên Bái của

Đào Hồng Ngọc, Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, năm

2018

- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường từ thực tiễn các khu

công nghiệp ở tỉnh Bắc Giang của Dương Thị Tuyên, Luận văn thạc sĩ Luật

Hiến pháp và Luật hành chính, 2018

- Trách nhiệm hành chính đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương

mại qua thực tiễn tỉnh Lạng Sơn Luận văn thạc sỹ học, Trần Mạnh Hùng, Học

viện Khoa học xã hội, 2012

Các công trình nghiên cứu đã có những thành công nhất định, góp phần làm

rõ thêm vấn đề lý luận và thực tiễn xử lý vi phạm hành chính nói chung và đối với lĩnh vực thương mại nói riêng ở nước ta Tuy nhiên, hiện vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu về thực trạng xử phạt vi phạm hành chính về thương mại trên địa

Trang 10

3

bàn Thành phố Hồ Chí Minh Vì thế, đề tài sẽ nêu lên thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại và thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, danh mục các bảng, danh mục tài tài liệu tham khảo, nội dung luận văn tốt nghiệp này bao gồm:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật, áp dụng pháp luật trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh và kiến nghị

Trang 11

4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC

THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Với ý nghĩa là một thiết chế trong kiến trúc thượng tần của xã hội, quá trình phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, cũng như pháp luật về thương mại đều phụ thuộc vào những thay đổi căn bản của các điều kiện kinh tế, và là công

cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo một trật tự và định hướng nhất định trong từng giai đoạn phát triển Lịch sử phát triền của pháp luật

về vi phạm hành chính sơ khai từ Điều lệ xử phạt vi cảnh đến nay hay về thương mại

từ năm 1997 đến nay, đã trải qua nhiều văn bản pháp luật, nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại không được Nhà nước quy định một một cách cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật, mà ta chỉ

có thể hiểu được định nghĩa một cách gián tiếp thông qua khái niệm về vi phạm hành chính và khái niệm thương mại Vì vậy, trước khi nêu lên khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại thì chúng ta cần hiểu được khái niệm vi phạm hành chính và khái niệm thương mại

Thứ nhất, về khái niệm vi phạm hành chính:

Khi nói đến xử lý vi phạm hành chính thì chúng ta cần quan tâm đến vấn đề

cơ sở của việc xử lý vi phạm hành chính Đó chính là có hay không có hành vi vi phạm hành chính được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Việc xác định được khái niệm vi phạm hành chính có ý nghĩa quan trọng trong từng lĩnh vực quản

lý của Nhà nước Ngoài ra, khi xác định được chính xác hành vi vi phạm hành chính, thì khi xử phạt vi phạm hành chính mới đảm bảo được mục đích mà Nhà nước đề ra

là nhằm duy trì trật tự xã hội, ngăn chặn và răn đe các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và tránh được những sai phạm trong xử lý vi phạm hành chính

Vì vậy, khái niệm vi phạm hành chính được đề cập khá sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam Tại Điều 2 của Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 27/5/1977 (sau đây gọi là Điều lệ xử phạt vi cảnh) có nêu: “Những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là

Trang 12

5

cộng chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, tên gọi này không được

sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật sau này, thay vào đó với tên gọi mới

là vi phạm hành chính Cho nên khái niệm về vi cảnh vẫn chưa được xem là một khái niệm về hành vi vi phạm hành chính nhưng cũng có thể xem là một quy định tiền thân của khái niệm vi phạm hành chính Vi phạm hành chính được đề cập lần đầu tiên khi Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ban hành vào ngày 07 tháng 12 năm 1989 Tại Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính này có nêu: “Vi phạm hành chính

là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”2 Từ định nghĩa ta có thể thấy được dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính là: hành vi có lỗi và được pháp luật quy định phải xử phạt vi phạm hành chính

Nhưng khi, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 06 tháng 07 năm 1995, Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

về việc xử lý vi phạm hành chính ban hành ngày 02 tháng 07 năm 2002 sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội về sửa đổi một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban hành ngày 08 tháng 03 năm 2007 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 02 tháng 04 năm 2008 (sau đây gọi là Pháp lệnh

xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) ban hành thì khái niệm vi phạm hành chính không còn được định nghĩa tách biệt nữa, mà thay vào

đó ta chỉ có thể hiểu khái niệm vi phạm hành chính gián tiếp thông qua những quy định về xử lý vi phạm hành chính Có thể định nghĩa vi phạm hành chính như sau:

“Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do các cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm các quy định pháp luật về quản lý nhà nước và hành vi này sẽ bị áp dụng các hình thức

xử lý vi phạm hành chính” Ta có thể thấy được, một hành vi vi phạm hành chính được cấu thành khi hành vi có lỗi của các cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm xâm phạm đến trật tự xã hội mà Nhà nước duy trì, mà không bị truy cứu trách nhiệm hình

sự và chịu trách nhiệm trước pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Trang 13

6

Tuy vậy, cùng với những chuyển biến nhanh chóng và sâu rộng trong đời sống

xã hội của người dân, nhu cầu phát triển xã hội, hội nhập với thế giới nên một số quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên đã tỏ ra không phù hợp, bất cập Do vậy, ngày 20 tháng 06 năm 2012 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm

2013 và được sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 (sau đây gọi là Luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành), khái niệm vi phạm hành chính được Nhà nước ta định nghĩa

rõ ràng và riêng biệt với khái niệm xử phạt hành chính tại khoản 1 điều 2 Luật xử lý

vi phạm hành chính hiện hành: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải

là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”3

Qua các quy định pháp luật định nghĩa về vi phạm hành chính của từng thời

kỳ khác nhau, tuy có khác nhau về mặt hình thức nhưng bản chất thì tương tự nhau Đều mang các dấu hiệu cơ bản của vi phạm hành chính đó là:

- Chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính

Thứ hai, về khái niệm thương mại:

Ở nước ta, thuật ngữ “thương mại” được sử dụng khá phổ biến trong đời sống

xã hội hằng ngày và cả trong các văn bản quy phạm pháp luật, song đến nay vẫn chưa được định nghĩa chính thức bằng bất kỳ văn bản nào của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam

Theo Wikipedia định nghĩa: “Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một

3 Luậ t Xử lý vi phạ m hành chính nă m 2012 sử a đổ i, bổ sung nă m 2014, 2017

Trang 14

7

giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ… cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó.”4

Đây là định nghĩa được hiểu rộng hơn nhiều so với Luật Thương mại do Quốc hội ban hành ngày 10 tháng 05 năm 1997 Tại thời điểm này, khái niệm thương mại được hiểu thông qua khe cửa hẹp quy định tại điều 45 của Luật thương mại năm 1997,

cụ thể bao gồm 14 hành vi điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hoá và dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá: mua bán hàng hoá; đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại; uỷ thác mua bán hàng hoá; đại lý mua bán hàng hoá; gia công trong thương mại; đấu giá hàng hoá; đấu thầu hàng hoá; dịch vụ giao nhận hàng hoá; dịch vụ giám định hàng hoá; khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hoá; hội chợ, triển lãm thương mại Hơn thế nữa, đối tượng của việc mua bán hàng hóa còn bị giới hạn là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh

công trình xây dựng (không phải là nhà ở), các quyền tài sản như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các hành vi liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá như vận chuyển hàng, thanh toán tiền mua hàng qua hệ thống ngân hàng… cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 1997

Khác với Luật thương mại năm 1997, hàng hóa được hiểu trong Luật Thương mại do Quốc hội ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn

hiểu theo Luật thương mại năm 1997 Dẫn đến, phạm vi điều chỉnh có thể hiện bao quát hơn, cụ thể hơn là điều chỉnh các hoạt động thương mại được xem là nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác, điều này đã gớp phần mở rộng các hoạt động thương mại

mà không bị giới hạn trong 14 hành vi thương mại giống như Luật thương mại năm

Trang 15

8

Cuối cùng, thông qua định nghĩa về vi phạm hành chính, về thương mại và các yếu tố liên quan đến vi phạm hành chính, thương mại có thể nêu ra định nghĩa về vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại như sau: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vưc thương mại là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, hành vi này vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại mà không phải

là tội phạm và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định”

1.1.2 Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Lĩnh vực thương mại có tầm quan trọng to lớn và rất đặc biệt trong công cuộc phát triển của một đất nước Vì thế, nó mang những đặc thù riêng biệt của mình so với các lĩnh vực khác Dẫn đến, hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại ngoài mang các đặc điểm của vi phạm hành chính nói chung thì cũng tạo nên cho mình những đặc điểm riêng so với vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, cụ thể là:

Về chủ thể: Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại là các

cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động thương mại hoặc có liên quan đến hoạt động thương mại

Về hình thức: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại là hành vi thực

hiện của cá nhân, tổ chức mà mà hành vi này vi phạm các quy định về quản lý trong lĩnh vực thương mại của Nhà nước và hành vi vi phạm hành chính này là hành vi có

lỗi Hành vi vi phạm hành chính về thương mại bao gồm các hành vi như: Hành vi vi

phạm về hoạt động kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh và chứng chỉ hành nghề kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; Hành vi kinh doanh dịch vụ cấm, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng cấm; Hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu; hàng hóa lưu thông trong nước bị áp dụng biện pháp khẩn cấp; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện; hàng hóa quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ và có vi phạm khác; Hành vi vi phạm về sản xuất, kinh doanh thuốc lá; Hành vi vi phạm về sản xuất, kinh doanh rượu; Hành vi đầu cơ hàng hóa

và găm hàng; Hành vi vi phạm về hoạt động xúc tiến thương mại; Hành vi vi phạm

về hoạt động trung gian thương mại; Hành vi vi phạm về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; Hành vi vi phạm về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Hành vi vi phạm về thương mại điện tử; Hành vi

Trang 16

9

vi phạm về thành lập và hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam; Các hành vi vi phạm khác trong hoạt động thương mại 7

Về mục đích: chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại nhằm tạo

ra một khoản lợi nhuận bất hợp pháp do hành vi vi phạm hoặc nhờ vào hành vi vi phạm đó tạo nên một lợi thế nhất định so với các chủ thể khác cùng hoạt động trong lĩnh vực thương mại Ngoài ra, chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại thực hiện hành vi nhằm trốn tránh một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình phải làm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Về bản chất: chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại là trái với

chuẩn mực của xã hội trong quản lý an ninh trật tự, trong hoạt động kinh doanh và trong các hoạt động khác của lĩnh vực thương mại

Về hậu quả: chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại khi thực

hiện hành vi vi phạm sẽ gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho Nhà nước, cá nhân,

tổ chức khác và người tiêu dùng

1.1.3 Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thời gian vừa qua, những yêu cầu tiếp theo của công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, cùng với những thách thức của tiến trình hội nhập đất nước và đang đòi hỏi Nhà nước phải có sự cải cách mạnh mẽ trong hoạt động lập pháp để tạo lập một hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẻ mà lại thông thoáng giữa “vô hình vạn trạng” Các hành

vi vi phạm các lĩnh vực nói chung và hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại nói riêng Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại rất đa dạng, phong phú

và được biến thể bởi các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm Theo Luật thương mại hiện hành thì vi phạm trong lĩnh vực thương mại có thể chia thành các loại sau8:

Thứ nhất, các hành vi vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh; giấy phép

kinh doanh của thương nhân; thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam và của thương nhân nước ngoài

7 Tạ i khoả n 2, Đ iề u 1 Nghị đị nh 185/2013/NĐ –CP

8 Luậ t Thư ơ ng mạ i 2005 sử a đổ i, bổ sung nă m 2014, 2017

Trang 17

10

Thứ hai, các hành vi vi phạm quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong

nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu; quá cảnh

Thứ ba, các hành vi vi phạm chế độ thuế, hóa đơn, chứng từ, sổ và báo cáo kế

toán

Thứ tư, các hành vi vi phạm quy định về giá hàng hóa, dịch vụ

Thứ năm, các hành vi vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong

nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Thứ sáu, các hành vi buôn lậu, kinh doanh hàng nhập lậu, buôn bán hàng giả

hoặc nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất hàng giả, kinh doanh trái phép

Thứ bảy, các hành vi vi phạm các quy định liên quan đến chất lượng hàng hóa,

dịch vụ kinh doanh trong nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu

Thứ tám, các hành vi gian lận, lừa dối khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung

ứng dịch vụ

Thứ chín, các hành vi vi phạm các quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi

của người tiêu dùng

Thứ mười, các hành vi vi phạm quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng

hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu

Thứ mười một, các hành vi vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa

Thứ mười hai, các hành vi vi phạm khác trong hoạt động thương mại theo quy

Trang 18

11

1.2.1 Khái niệm, vai trò xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thực tiễn kinh tế của Việt Nam sau nhiều năm đổi mới là một kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Có nghĩa là, nền kinh tế dựa trên những nguyên tắc và quy luật của cơ chế thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các nguyên tắc, bản chất của chủ nghĩa xã hội Là một nền kinh tế mà trong quá trình chuyển đổi, một số yếu tố lạc hậu, hạn chế của cơ chế tập trung vẫn còn tồn tại Những nhân tố mới đang trong quá trình hình thành và phát triển, nhiều vấn đề còn đang trong quá trình thể nghiệm, cần có thực tiễn để khẳng định Bên cạnh đó, xu thế hội nhập toàn cầu là một tác động tất yếu và mạnh mẽ đến mọi quốc gia mà Việt Nam không thể đứng ngoài Trong bước chuyển đổi, nền kinh tế thị trường nước ta đa dạng, phong phú về thành phần tham gia quan hệ kinh doanh, thương mại và phức tạp về các hành vi vi phạm phát sinh trong hoạt động thương mại Vì vậy, việc xử phạt các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại cần phải được giải quyết triệt để, linh hoạt và đạt được hiệu quả cao nhất Để đạt được mục tiêu này thì cần thấu hiểu được khái niệm, vai trò xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Về khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại:

Sau khi xác định được hành vi vi phạm hành chính thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành sử dụng các chế tài áp dụng với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm hành chính Biện pháp phổ biến và được sử dụng thường xuyên nhất, mang lại tính răn đe đủ để ngăn chặn các hành vi mà các cá nhân, tổ chức thực hiện mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng là xử phạt vi phạm hành chính

Theo Điều lệ xử phạt vi cảnh (vi cảnh được hiểu như là vi phạm hành chính tại thời điểm hiện nay) thì các biện pháp xử phạt vi cảnh bao gồm: Cảnh cáo; Phạt tiền từ 1 đồng đến 10 đồng; Phạt lao động công ích từ 1 ngày đến 3 ngày; Phạt giam

từ 1 ngày đến 3 ngày Cũng như khái niệm về hành vi vi phạm vi cảnh, tại điều lệ này vẫn chưa nêu lên được khái niệm về xử phạt vi phạm vi cảnh Nhưng ta có thể hiểu rằng: “Xử phạt vi cảnh là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng bốn biện pháp xử lý vi cảnh đối với người có những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác”

Trang 19

12

So với điều lệ xử phạt vi cảnh thì Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm

1989 quy định về hình thức xử phạt vi phạm hành chính có sự thay đổi rõ rệt Nhà nước đã chia hình thức xử phạt thành hai loại: hình thức phạt chính và hình thức phạt

bổ sung Hình phạt chính gồm: phạt cảnh cáo và phạt tiền Còn hình phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép và tịch thu tang vật và phương tiện vi phạm Thậm chí, bên cạnh các hình thức xử phạt trên Nhà nước ta nhằm tăng mức độ răn đe đối với những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính thì còn bổ sung thêm những biện pháp hành chính khác9:

Một là, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành

chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép

Hai là, buộc bồi thường thiệt hại trực tiếp do vi phạm hành chính gây ra đến

100.000 đồng theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1989

Ba là, buộc tiêu huỷ các văn hoá phẩm đồi truỵ, vật phẩm có thể gây hại cho

sức khoẻ con người

Bốn là, đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm môi trường sống, lây lan dịch bệnh,

gây náo động làm mất sự yên tĩnh chung và yêu cầu thực hiện biện pháp khắc phục

Khi Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1995 ra đời, về cơ bản thì các biện pháp xử lý tương tự nhau, chỉ có sự khác biệt về mức tiền áp dụng với mỗi thời

kỳ vì sau 06 năm đổi mới, hội nhập nên mức tiền áp dụng phải có sự điều chỉnh hợp

lý nhằm phù hợp với nền kinh tế hiện tại của quốc gia Nhưng ở Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 thì các biện pháp hành chính khác nói trên lại được xem

là một hình thức phạt bổ sung Lúc này, các biện pháp xử lý hành chính khác mà Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 đưa ra là:

Một là, giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Hai là, đưa vào trường giáo dưỡng

Ba là, đưa vào cơ sở giáo dục

Bốn là, đưa vào cơ sở chữa bệnh

9 Pháp lệ nh Hộ i đồ ng Nhà nư ớ c số 28 –LCT/HDDNN8 nă m 1989

Trang 20

13

Năm là, quản chế hành chính

Thậm chí, khi Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 còn quy định một biện pháp hành chính khác là đối với đối tượng vi phạm hành chính là người nước ngoài thì Nhà nước ta còn áp dụng biện pháp trục xuất Trục xuất được áp dụng là hình thức phạt chính hoặc hình thức phạt bổ sung theo từng trường hợp cụ thể

Giống như Điều lệ xử phạt vi cảnh, ở Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 hay năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008, ta lại một lần nữa chỉ có thể định nghĩa một cách gián tiếp về

xử phạt hành chính: “Xử phạt vi phạm hành chính là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, các biện pháp hành chính đối với người có hành

vi vi phạm hành chính mà chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự”

Ngoài ý nghĩa lịch sử mang tính đột phá vào thời điểm ra đời thì Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 hay năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 còn khá sơ sài và đã nhanh chóng trở nên lạc hậu so với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Sự ra đời của Pháp lênh xử lý vi phạm hành chính hiện hành là bước pháp điển hóa quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng ở nước ta Các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã không ngừng bổ sung và hoàn thiện các quy định về xử phạt vi phạm hành chính ở nhiều phương diện Sự ra đời của Luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành

đã đặt cơ sở cho một định hướng phát triển đồng bộ rõ ràng và thống nhất Vì vậy, khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính đã được định nghĩa lần đầu tiên tại Luật xử

lý vi phạm hành chính hiện hành, cụ thể tại khoản 2 điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành như sau: “Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền

xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”10

Cùng với khái niệm về thương mại, ta có thể định nghĩa khái niệm xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại như sau: “Xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực thương mại là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các hình

10 Luậ t xử lý vi phạ m hành chính nă m 2012 sử a đổ i, bổ sung nă m 2014, 2017

Trang 21

vệ quyền lợi người tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam Các cá nhân ở đây bao gồm cả

hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Còn tổ chức ở đây thì bao gồm cả tổ chức kinh tế

là các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã; các tổ chức kinh tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật và các đơn vị kinh doanh trực thuộc của các tổ chức kinh tế nói trên Ta có thể thấy rằng, Nhà nước quy định về đối tượng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại rất chi tiết và chặt chẽ về chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại nhằm tránh xuất hiện các lổ hỏng trong quy định pháp luật, để một số thành phần lợi dụng lổ hỏng này để thoát khỏi sự quản lý Nhà nước về lĩnh vực thương mại

Về vai trò của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại:

Bản thân nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm không thể phủ nhận Mặc dù vậy, kinh tế thị trường cũng chứa đựng nhiều khuyết tật mà nếu thiếu một hệ thống quy phạm pháp luật đồng bộ và phù hợp thì hiện tượng lệch lạc gây tổn thất cho xã hội là điều khó tránh khỏi Ngay ở những quốc gia có nền kinh tế và luật pháp phát triển lâu đời như ở phương Tây, nhiều khi cũng có những hiện tượng vi phạm, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, các quốc gia luôn luôn đối mặt với những thách thức, mâu thuẫn xã hội cần phải giải quyết Đó là yêu cầu bảo đảm sự hài hòa giữa kinh tế và xã hội Nói cách khác, làm thế nào vừa đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế vừa phải đảm bảo công bằng xã hội và giải quyết tốt vấn đề phát triển bền vững Phát triển kinh tế thị trường tức là thừa nhận quyền hợp pháp của nhà kinh doanh mang lại lợi nhuận tối đa, mục đích lợi nhuận là mục đích cao nhất, là bản chất của nền kinh tế thị trường Mặt khác, phải bảo đảm lợi ích cho toàn

xã hội, bảo vệ người lao động, người tiêu dùng, không để xảy ra tình trạng làm ăn bất hợp pháp, phá hoại mội trường, coi thường sức khẻo, tính mạng con người,… Pháp

Trang 22

15

luật và chỉ có pháp luật mới đóng vai trò bảo đảm dung hòa được hai mặc đói lập đó Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực thương mại có vai trò to lớn, tác động mạnh mẽ đến kinh tế và đảm bảo vai trò đó, thể hiện ở những mặt sau:

Một là, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

tạo ra một môi trường, điều kiện thuận lợi cho các quan hệ trong lĩnh vực thương mại tồn tại một cách tự do, bình đẳng

Hai là, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

khắc phục những tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

Ba là, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của cá nhân, tổ chức khác và lợi ích của người tiêu dùng

Bốn là, thông qua việc áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính có

tác dụng to lớn để giáo dục ý thức pháp luật cho chủ thể vi phạm và những người khác về sự đúng đắn, công bằng, hợp đạo đức của biện pháp được áp dụng, giáo dục cho mọi công dân tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật, tâm trạng tích cực đối với nhà nước, đối với pháp luật, hình thành ở họ lối sống tuân theo pháp luật

Năm là, xử phạt vi phạm hành chính có vai trò quan trọng trong việc phòng

ngừa các vi phạm của các chủ thể Thông qua việc xử lý các hành vi vi phạm và tác dụng giáo dục của biện pháp trách nhiệm được áp dụng pháp luật các chủ thể vi phạm

và những người khác kiềm chế không thực hiện hành vi trái pháp luật

Sáu là, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

đảm bảo an ninh, trật tự kinh tế mà Nhà nước tạo ra và duy trì nó

Bảy là, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

tạo ra rào chắn đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm để tránh cá nhân,

tổ chức này chuyển hóa thành tội phạm kinh tế trong pháp luật về hình sự

Tám là, xử phạt vi phạm hành chính là công cụ bổ trợ cho công tác quản lý

nhà nước trong lĩnh vực thương mại Xử phạt vi phạm hành chính có vai trò trong việc trừng phạt các chủ thể vi phạm pháp luật qua đó, gây tác động đến nhận thức của

Trang 23

16

người vi phạm về ý thức về tính chính đáng của biện pháp trách nhiệm được áp dụng, răn đe người vi phạm pháp luật và những người không vững vàng, dễ vi phạm pháp luật khác

Chín là, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

góp phần phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2.2 Thẩm quyền và hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại:

Theo Nghị định 185/2013/NĐ-CP Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Nghị định 124/2015/NĐ-CP Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 185/2013/NĐ –CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại được phân định như sau:

Thứ nhất, thẩm quyền của chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp bao gồm11: Một là, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 5.000.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản 1 Nghị định này

và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính theo thẩm quyền quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Hai là, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt

tiền đến 50.000.000 đồng;Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản

2 Điều 101 Nghị định này;và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành

11 Tạ i Đ iề u 101 Nghị đị nh 185/2013/NĐ –CP

Trang 24

17

vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này theo thẩm quyền quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, h, i và k khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Ba là, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền

đến mức tối đa theo quy định tại Nghị định này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này theo thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Thứ hai, thẩm quyền của quản lý thị trường bao gồm12:

Một là, Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh

cáo; phạt tiền đến 500.000 đồng

Hai là, Đội trưởng Đội Quản lý thị trường có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền

đến 25.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 102 Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, trừ biện pháp buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh và buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện

Ba là, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở Công Thương,

Trưởng phòng Chống buôn lậu, Trưởng phòng Chống hàng giả, Trưởng phòng Kiểm soát chất lượng hàng hóa thuộc Cục Quản lý thị trường có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Nghị định này; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này

Bốn là, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền

đến mức tối đa quy định tại Nghị định này; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc

12 Tạ i Đ iề u 102 Nghị đị nh 185/2013/NĐ –CP

Trang 25

18

đình chỉ hoạt động có thời hạn và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này

Thứ ba, thẩm quyền của công an nhân dân bao gồm13:

Một là, Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh

cáo; Phạt tiền đến 500.000 đồng

Hai là, Trạm trưởng, Đội trưởng của người được quy định tại Khoản 1 Điều

103a Nghị định này có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 1.500.000 đồng

Ba là, Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công

an cửa khẩu, khu chế xuất có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 2.500.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 103a Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c và đ Khoản 1 Điều 28 của Luật

Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Bốn là, Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh

sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát đường thủy; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật

tự quản lý kinh tế và chức vụ, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ, Trưởng phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh văn hóa, tư tưởng, Trưởng phòng An ninh thông tin có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại Mục 2 Chương II và Điều 25 của Nghị định này; phạt tiền đến 20.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm khác quy định tại Nghị định này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 103a Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc

13 Tại Điều 103a Nghị định Nghị định 124/2015/NĐ –CP

Trang 26

19

phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Năm là, Giám đốc Công an cấp tỉnh có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến

50.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này; Tước quyền

sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 103a Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ, i và k Khoản 1 Điều

28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Sáu là, Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục trưởng Cục An ninh

kinh tế, Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng, Cục trưởng Cục An ninh thông tin, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm

về ma túy, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động

có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ, i và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử

lý vi phạm hành chính hiện hành

Thứ tư, thẩm quyền của hải quan bao gồm14:

Một là, Công chức Hải quan đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo;

Phạt tiền đến 500.000 đồng

Hai là, Đội trưởng thuộc Chi cục Hải quan, Đội trưởng thuộc Chi cục kiểm tra

sau thông quan có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 5.000.000 đồng

Ba là, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau

thông quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu, Đội trưởng Đội

14 Tại Điều 103b Nghị định Nghị định 124/2015/NĐ –CP

Trang 27

20

thủ tục Hải quan, Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển và Đội trưởng Đội kiểm soát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 25.000.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 103b Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm d, đ, g, i và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Bốn là, Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau

thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 50.000.000 đồng; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 103b Nghị định này

và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm d, đ, g, i và k Khoản

1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Năm là, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt

tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm d,

đ, g, i và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Thứ năm, thẩm quyền của bộ đội biên phòng bao gồm15:

Một là, Chiến sĩ Bộ đội biên phòng đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh

cáo; Phạt tiền đến 500.000 đồng

Hai là, Trạm trưởng, Đội trưởng của người được quy định tại Khoản 1 Điều

103c Nghị định này có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 2.500.000 đồng

Ba là, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Hải đội trưởng Hải đội biên phòng, Chỉ

huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng biên phòng Cửa khẩu cảng có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại Mục 2 Chương II và Điều 25 của Nghị định này; phạt tiền đến 20.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm khác quy định tại Nghị định này; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy

15 Tại Điều 103c Nghị định Nghị định 124/2015/NĐ –CP

Trang 28

21

định tại Điểm b Khoản 3 Điều 103c Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Bốn là, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Hải đoàn

biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, đ, i và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Thứ sáu, thẩm quyền của cảnh sát biển bao gồm16:

Một là, Cảnh sát viên Cảnh sát biển đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh

cáo; Phạt tiền đến 1.500.000 đồng

Hai là, Tổ trưởng Tổ nghiệp vụ Cảnh sát biển có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt

tiền đến 5.000.000 đồng

Ba là, Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, Trạm trưởng Trạm Cảnh sát

biển có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 10.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c và đ Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý

vi phạm hành chính hiện hành

Bốn là, Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt

tiền đến 25.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại Mục 2 Chương II

và Điều 25 của Nghị định này; phạt tiền đến 20.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm khác quy định tại Nghị định này; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 103d Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, d, đ và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Năm là, Hải đoàn trưởng Hải đoàn Cảnh sát biển có quyền: Phạt cảnh cáo;

Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại Mục 2 Chương II và Điều 25 của Nghị định này; phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với các

16 Tại Điều 103d Nghị định Nghị định 124/2015/NĐ –CP

Trang 29

22

hành vi vi phạm khác quy định tại Nghị định này; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 103d Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, d, đ và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Sáu là, Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền

đến 100.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại Mục 2 Chương II và Điều 25 của Nghị định này; phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm khác quy định tại Nghị định này; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 6 Điều 103d Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c, d, đ và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Bảy là, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền

đến mức tối đa quy định tại Nghị định này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, b, c, d, đ và k Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Thứ bảy, thẩm quyền của thanh tra bao gồm17:

Một là, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên

ngành đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 500.000 đồng; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 103đ Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, c và đ Khoản 1 Điều 28 của Luật

Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Hai là, Chánh Thanh tra sở, Chi cục trưởng An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi

cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi

và Thú y, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các chức danh tương đương được Chính phủ giao thực hiện chức năng thanh tra

17 Tại Điều 103đ Nghị định Nghị định 124/2015/NĐ –CP

Trang 30

23

chuyên ngành có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 50.000.000 đồng; Tước quyền

sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 103đ Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Ba là, Chánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tổng cục trưởng Tổng cục

Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Cục trưởng Cục Hóa chất, Cục trưởng Cục Kỹ thuật

an toàn và môi trường công nghiệp, Cục trưởng Cục Thú y, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, Cục trưởng Cục Chế biến, thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối, Cục trưởng Cục Viễn thông, Cục trưởng Cục Quản

lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Cục trưởng Cục Báo chí, Cục trưởng Cục Xuất bản, Cục trưởng Cục Quản lý dược, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm và các chức danh tương đương được Chính phủ giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Bốn là, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, trưởng đoàn thanh tra

chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 103đ Nghị định này

Năm là, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ có quyền: Phạt cảnh cáo;

Phạt tiền đến 140.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định tại Mục 2 Chương II và Điều 25 của Nghị định này; phạt tiền đến 70.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm khác quy định tại Nghị định này; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được

Trang 31

24

quy định tại điểm b khoản 5 Điều 103đ Nghị định này và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:

thẩm quyền phạt tiền của những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại nêu trên là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trường hợp hành vi vi phạm hành chính do tổ chức thực hiện thì áp dụng thẩm quyền phạt tiền gấp 02 lần thẩm quyền phạt tiền đối với

cá nhân và được xác định theo tỉ lệ phần trăm quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành đối với chức danh đó Thẩm quyền phạt tiền này được xác định căn

cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể

Trong trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong khu vực nội thành thuộc các lĩnh vực quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 23 của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành, thì các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi

vi phạm hành chính do Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi vi phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quy định áp dụng trong nội thành

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành Việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền Cấp phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền cho bất kỳ người nào khác

Bên cạnh đó, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại sẽ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại theo thủ tục xử phạt vi phạm hành chính mà tác giã đã trình bày thuộc bài luận văn tốt nghiệp này

Về hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại:

Trang 32

25

Căn cứ khoản 1 Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm hiện hành bao gồm: Cảnh cáo; Phạt tiền; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); Trục xuất Trong đó, hình thức xử phạt cảnh cáo; phạt tiền chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính Còn các hình thức

xử phạt vi phạm hành chính còn lại được quy định có thể là hình thức xử phạt bổ sung hoặc cũng có thể là hình thức xử phạt chính Đối với từng hành vi vi phạm hành chính, chỉ được áp dụng hình thức xử phạt chính duy nhất nhưng có thể áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung Hình thức xử phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính khi hình phạt chính tỏ ra chưa có khả năng phòng ngừa vi phạm hành chính và theo nguyên tắc chúng phải căn cứ vào tính chất, mức

độ và các tình tiết khác của vi phạm đã được thực hiện

Thứ nhất, về hình thức phạt cảnh cáo: là hình thức được áp dụng đối với cá

nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Hình thức phạt cảnh cáo được quyết định bằng văn bản

Thứ hai, về hình thức phạt tiền: Bản chất của phạt tiền là sự tác động đến lợi

ích vật chất của người vi phạm, gây cho họ hậu quả bất lợi về tài sản, buộc tổ chức,

cá nhân vi phạm phải nộp phạt bằng một khoản tiền mặt Mức phạt tiền cụ thể đối với mỗi hành vi vi phạm được áp dụng theo nguyên tắc sau: Mức phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thương mại là mức trung bình của khung phạt tiền đối với hành vi đó, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm thấp hơn nhưng không giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt

Như vậy, nếu hành vi vi phạm hành chính không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì mức phạt tiền luôn luôn được ấn định là mức trung bình của khung tiền phạt Mức tối đa hoặc mức tối thiểu của khung chỉ được áp dụng khi có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ

Hình thức phạt tiền là hình thức xử phạt chính và mức tiền phạt là áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính do cá nhân thực hiện Trường hợp hành vi vi phạm

Trang 33

26

hành chính do tổ chức thực hiện thì phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định đối với cá nhân

Thứ ba, về hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện: là hình thức xử

phạt bổ sung chỉ được áp dụng đối với loại tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại Điều 26 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Căn cứ tại khoản 15 Điều 1 Nghị đinh số 97/2017/NĐ –CP Nghị định sửa đổi,

bổ sung một số điều của nghị định số 81/2013/nđ-cp ngày 19 tháng 7 năm 2013 của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính thì hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được áp dụng khi nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có quy định hình thức xử phạt này đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể

Thứ tư, về hình thức xử phạt tước quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinh

doanh, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ có thời hạn một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: là hình thức xử phạt bổ sung được áp dụng như sau:

Một là, chỉ áp dụng hình thức tước quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinh

doanh, chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính được cấp giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và theo thời hạn quy định Nguyên tắc

và thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 81/2013/NĐ-

CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Hai là, chỉ áp dụng hình thức xử phạt đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt

động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành và theo thời hạn quy định

Thứ năm, về hình thức phạt trục xuất: là hình thức xử phạt buộc người nước

ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng

Trang 34

27

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hình thức xử phạt này được quy định cụ thể hơn tại Nghị định 112/2013/NĐ –CP Nghị định Quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất và Nghị định 17/2016/NĐ –CP Nghị định Sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 112/2013/NĐ –CP ngày 02 tháng 10 năm 2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật việt nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

1.2.3 Nguyên tắc, thời hiệu, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Khi tiến hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, người

có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc, thời hiệu, thủ tục xử phạt đã được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành

Về nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại:

Đặc điểm của các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: Một mặt, nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; Mặt khác, yêu cầu quản

lý mang tính định hướng nền kinh tế đòi hỏi nhà nước phải có sự can thiệp để hạn chế những sai lệch của thị trường, hướng nền kinh tế phát triển theo định hướng, mục tiêu đã được vạch ra Vì vậy, phương pháp mà Nhà nước ta áp dụng giữa mối quan

hệ của cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể trong các lĩnh vực, chủ yếu là phương pháp quyền uy Nội dung của phương pháp này là việc nhà nước ban hành các quyết định, chỉ thị mang tính mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể trong các lĩnh vực phải chấp hành nhằm đảm bảo trật tự kinh tế Tuy vậy, để tránh tình trạng các cá nhân, tổ chức

có thẩm quyền lạm dụng việc này để thực hiện những sai phạm trong việc quản lý nhà nước, trong các lĩnh vực thì nhà nước ta đã ban hành kèm theo các nguyên tắc trong việc xử phạt vi phạm hành chính và trong việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính

Các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ quá trình xử phạt vi phạm hành chính nhằm đảm bảo được mục đích, yêu cầu của xử lý vi phạm hành chính, đó là mọi vi phạm hành chính hải được

xử lý kiên quyết, triệt để, xử lý đúng người, đúng vi phạm, đúng pháp luật, góp phần

Trang 35

28

giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính hiện

Một là, mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và

phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật

Hai là, việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công

khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật

Ba là, việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu

quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng

Năm là, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm

hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính

Sáu là, đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với

tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân

Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại:

Theo Khoản 1 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 có nêu: “Thời hiệu là thời hạn

do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ

18 Tại Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung 2014, 2017

Trang 36

29

thể theo điều kiện do luật quy định” Như vậy, thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định, các chủ thể tham gia vào quan hệ không thể thoả thuận để kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn này Và thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu

và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu

Trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính thời hiệu dùng để biểu thị một khoảng thời gian nhất định do pháp luật do pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính quy định, mà hết hạn đó không được xử phạt đối với cá nhân tổ chức vi phạm hành chính.việc quy đinh thời hiệu có ý nghĩa rất quan trọng Theo Khoản 1 Điều 6 Luật

Xử lý vi phạm chính hiện hành thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

Thứ nhất, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp

sau:

Một là, vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh

bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo

vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt

vi phạm hành chính là 02 năm

Hai là, vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền

thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế Cụ thể là tại Khoản 35, Điều 1 Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11

ngày 29/11/2006, quy định thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế: “Đối với

hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.”

Tại Khoản 2, Điều 2 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, quy định thời hiệu, thời hạn xử phạt vi phạm hành chính

về thuế: “Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm

Ngày đăng: 04/03/2021, 20:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm