1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra

70 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu áp dụng theo quy định của BLDS năm 2015 thì người chưa thành niên thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác sẽ chịu TNBTTH ngoài hợp đồng theo quy định của BLDS n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT

HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn : ThS Lê Thị Minh Thư

TP Hồ Chí Minh, 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn : ThS Lê Thị Minh Thư

TP Hồ Chí Minh, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập tại trường đến thời điểm hiện tại, để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giảng viên khoa Luật trường Đại Học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến cô Lê Thị Minh Thư người đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này Đồng thời, em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến thầy cô trong khoa Luật, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp lần này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, song do kiến thức còn hạn chế nên bài khóa luận không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế và thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm

và sẽ hoàn thành tốt hơn trong quá trình nghiên cứu tiếp theo

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Nguyễn Đình Gia

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp

này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và

theo đúng qui định);

Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và pháp luật

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Nguyễn Đình Gia

Trang 5

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu của khóa luận 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA 6

1.1 Khái quát về người chưa thành niên 6

1.1.1 Khái niệm về người chưa thành niên 6

1.1.2 Năng lực chủ thể của người chưa thành niên 8

1.2 Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 9

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 10

1.2.2 Căn cứ phát sinh và các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 12

1.2.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 18

1.3 Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 21

1.3.1 Điều kiện phát sinh và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 21

1.3.2 Xác định thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 25

1.3.3 Các trường hợp giảm mức bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA 35

2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 35

2.1.1 Bất cập về việc xác định độ tuổi, xác định tài sản, xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 35

2.1.2 Bất cập về việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra 41

Trang 7

2.1.3 Bất cập về xác định mức bồi thường thiệt hại, về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, về xác định thiệt hại 46

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra 52

2.2.1 Kiến nghị về việc xác định độ tuổi, xác định tài sản của người chưa thành niên gây ra 52 2.2.2 Kiến nghị về xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra 54 2.2.3 Kiến nghị về mức bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại và xác định thiệt hại 55

KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 8

vi phạm pháp luật đang được trẻ hóa, và sự vi phạm pháp luật của người chưa thành niên là nguyên nhân chính dẫn đến sự trẻ hóa này Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự Bộ Công an thì, trong ba năm từ 2016 đến 2018 toàn quốc đã phát hiện 13.794

vụ với 20.367 đối tượng là người dưới 18 tuổi phạm tội Trong các tội danh mà người dưới 18 tuổi phạm tội, có thể thống kê một số tội danh như sau: Giết người là 183 vụ với 293 đối tượng; Cướp tài sản là 475 vụ với 830 đối tượng; Cưỡng đoạt tài sản là

88 vụ với 111 đối tượng; Cố ý gây thương tích là 2017 vụ với 3797 đối tượng; Trộm cắp tài sản là 5565 vụ với 7611 đối tượng; Cướp giật tài sản là 505 vụ với 627 đối tượng Ngoài các tội danh nêu trên, người dưới 18 tuổi còn phạm các tội khác với

4961 vụ, 10.895 đối tượng Trong số vụ phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện thì

số vụ do người dưới 14 tuổi gây ra chiếm 6%, số vụ do người từ đủ 14 tuổi đến dưới

16 tuổi gây ra chiếm 23%, còn lại số vụ do người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thực hiện

là 71% Trong những năm qua, ngành Tòa án đã hết sức chú ý đảm bảo về chất lượng xét xử đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự do người chưa thành niên thực hiện nói riêng, ngoài xét xử tại trụ sở Tòa án, các Tòa án địa phương cũng tăng cường công tác xét xử lưu động các vụ án điểm do người chưa thành niên thực hiện, nhằm tăng cường công tác giáo dục, phổ biến pháp luật, góp phần phòng ngừa tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội Cụ thể từ năm 2016 đến tháng 6/2019, toàn Hệ thống Tòa án thụ lý 8.129 vụ với 10.923 bị cáo là người dưới 18 tuổi (năm 2016 là

2653 vụ với 3494 bị cáo; 2017 là 2119 vụ với 2688 bị cáo; 2018 là 2265 vụ với 3176

bị cáo và 06 tháng đầu năm 2019 là 1092 vụ với 1565 bị cáo) Đã xét xử được 7014

vụ với 9188 bị cáo (năm 2016, 2424 vụ với 3169 bị cáo; năm 2017, 1878 vụ với 2374

bị cáo; 2018, 1800 vụ với 2483 bị cáo và 06 tháng đầu năm 2019 là 912 vụ với 1262

bị cáo) Trong số các bị cáo bị đưa ra xét xử, có độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi là 284 chiếm 3% còn lại là ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 97%, về giới tính có

186 bị cáo là nữ giới còn lại là nam giới Như vậy, số lượng các vụ án do người dưới

Trang 9

2

18 tuổi thực hiện trong ban năm được đưa ra xét xử chỉ chiếm 51% (7037 vụ/13.794 vụ) số bị cáo chỉ chiếm 46% tổng số người dưới 18 tuổi phạm tội (9358 bị cáo/20.367

thành niên vẫn còn phải chịu trách nhiệm dân sự phát sinh khi có TNBTTH

Nếu áp dụng theo quy định của BLDS năm 2015 thì người chưa thành niên thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác sẽ chịu TNBTTH ngoài hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2015, do đó cũng là vấn đề phức tạp về lý luận lẫn thực tiễn áp dụng Ngoài ra, do tính chất đặc biệt của người thực hiện hành

vi gây thiệt hại cho người khác là người chưa thành niên nên trách nhiệm này mang những điểm đặc thù và khiến nó thêm phức tạp Đối với trường hợp này, người gây thiệt hại là một chủ thể khác và chủ thể chịu TNBTTH được chuyển giao cho một chủ thể khác Theo như quy định của BLDS năm 2015 phần nào đáp ứng được yêu cầu giải quyết tranh chấp phát sinh trên thực tiễn Tuy nhiên, qua thực tiễn giải quyết tranh chấp các vụ việc về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra cho thấy, một

số vấn đề chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật Điều này đã dẫn đến sự không thống nhất trong nhận thức của đọc giả, các nhà nghiên cứu, ngoài ra còn dẫn đến sự lúng túng cho các cơ quan, người có thẩm quyền trong việc thực thi pháp luật Do đó yêu cầu cấp thiết là phải có những bài viết, công trình nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện vấn đề trên về lý luận lẫn thực tiễn áp dụng trên thực tế

Từ những lý do trên tác giả đã chọn vấn đề “Pháp luật về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra” đề làm đề cho khóa luận tốt nghiệp

cử nhân luật của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu đề tài trước hết là hệ thống lại những quy định của pháp luật về TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung và pháp luật về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra nói riêng theo quy định BLDS năm 2015, so sánh điểm mới của BLDS năm 2015 với BLDS năm 2005

Ngoài ra, tác giả áp dụng giải quyết tranh chấp tại Tòa án; nêu ra các vấn đề bất cập trong quá trình xét xử tại Tòa án, những điểm bất cập của quy định pháp luật

về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm

1 xet-xu-cua-toa-an-han-che-va-kien-nghi, truy cập ngày 05/05/2019

Trang 10

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/phong-ngua-nguoi-duoi-18-tuoi-pham-toi-thong-qua-hoat-dong-3

góp phần cải thiện một số quy định của pháp luật sao cho phù hợp với tình hình thực

tế

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu đề tài: Người chưa thành niên thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại không chỉ liên quan đến ngành luật dân sự mà nó còn liên quan đến nhiều ngành luật khác như: luật hình sự, luật hành chính… Tuy nhiên, trong phạm

vi nghiên cứu của bài khóa luận, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề BTTH do người chưa thành niên gây ra theo quy định của BLDS năm 2015

Đối tượng nghiên cứu đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra; thực trạng giải quyết các vấn đề này tại Tòa án Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần cải thiện một

số quy định của pháp luật so cho phù hợp với tình hình thực tế

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

thiệt do người chưa thành niên gây ra nói riêng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm, thực hiện dưới nhiều góc độ pháp lý khác nhau

Trên thực tế, hiện có một số khóa luận cử nhân luật, luận văn thạc sĩ luật học, sách và một số bài viết được đăng trên các tập chí có liên quan đến vấn đề này như:

Đặng Ngọc Cả (2006), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

do người chưa thành niên gây ra, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật thì tác giả đã

trình bày lý luận chung về TNBTTH ngoài hợp đồng, thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Vũ Ngọc Chuẩn (2011), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa

thành niên gây ra thep pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học thì tác giả đã

trình bày cơ sở lý luận về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra, pháp luật hiện hành về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề BTTH do người chưa thành niên gây ra

Nguyễn Trung Tín (2014), Trách nhiệm bồi thường của cha mẹ đối với

thiệt hại do con chưa thành niên gây ra, luận văn thạc sĩ luật học thì tác giả đã trình

bày lý luận chung về trách nhiệm bồi thường của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa

Trang 11

4

thành niên gây ra, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại tòa án và một số kiến nghị về trách nhiệm bồi thường của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra

Có một số bài viết liên quan đến đề tài đã được đăng trên một số tạp chí như:

Nguyễn Minh Tuấn (1998), “Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng do người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây ra”, Tạp chí Luật học

Đỗ Văn Đại (2008), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ khi

con chưa thành niên gây ra (bản án và bình luận án)”, Tạp chí Khoa học pháp lý số

(05), tr.57-63;

Nguyễn Trung Tín (2014), “Trách nhiệm bồi thường của cha mẹ trong

trường hợp người chưa thành niên cùng người khác gây thiệt hại”, Tạp chí Tòa án

nhân dân (04), tr.16-17;

Ngoài ra còn có một số sách tham khảo liên quan đến đề tài như:

PGS.TS Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ

luật Dân sự 2015 (sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt

Nam, Hà Nội

PGS.TS Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Việt Nam bản án và bình luận án (tập 2), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt

Nam, Hà Nội

(tập 2), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội

Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng

và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt

Nam, Hà Nội

Trang 12

5

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ vấn đề được đặt ra, một số phương pháp được áp dụng để nghiên cứu đề tài là:

Phương pháp phân tích được sử dụng để tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra; phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các quy định về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra giữa BLDS 2005 với BLDS 2015; phương pháp chứng minh đó là đưa ra các dẫn chứng cụ thể từ những bản án liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu; phương pháp tổng hợp thống kê tài liệu như những nguồn tài liệu tra cứu, thu thập được từ các bài tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì bài khóa

luận tốt nghiệp gồm có hai chương Cụ thể:

Chương 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành

niên gây ra

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra

Trang 13

6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT

HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA

1.1 Khái quát về người chưa thành niên

1.1.1 Khái niệm về người chưa thành niên

Trong đời sống hằng ngày, “trẻ em”, “người chưa thành niên” là một thuật ngữ khá gần gủi với mọi người Những thuật ngữ này rất dễ nhầm lẫn với nhau vì đều chỉ chung một đối tượng Người chưa thành niên và trẻ em đều là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lí, còn nhiều hạn chế về thể chất cũng như tinh thần và rất dễ bị tổn thương Họ còn chưa phát triển toàn diện cả về thể chất cũng như nhận thức Sự phát triển không cân bằng của hệ tim mạch, tuyến nội tiết cũng như các bộ phận khác dễ đưa họ tới những cơn xúc động mạnh, nóng nảy vô cớ, sự kích động và đặc biệt hơn dễ bị lôi kéo Ngoài ra, đây cũng là độ tuổi cần có nhu cầu độc lập, nhu cầu khám phá cái mới, cá nhân tự hành động và tự quyết theo ý kiến của riêng bản thân mà không muốn ảnh hưởng bởi một ai khác Chưa có khả năng nhận thức đầy

đủ tính nguy hiểm, tính cần thiết cho xã hội của các hành vi do mình thực hiện Vì thế họ cần được pháp luật bảo vệ một cách đặt biệt Trong hệ thống pháp luật quốc tế nói chung và hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng độ tuổi nào được xem là người chưa thành niên Dưới góc độ nghiên cứu và nhìn nhận một cách khách quan giữa các văn bản pháp luật quy định về độ tuổi của “trẻ em” và “người chưa thành niên” có sự khác biệt nhau sau:

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, trong quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo

vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do, 1990 được Đại Hội đồng Liên Hợp

Quốc thông qua bằng Nghị quyết 45/113 ngày 14/12/1990 có nêu rõ: “người chưa

thành niên là người dưới 18 tuổi Giới hạn độ tuổi thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự do của trẻ em cần được pháp luật quy định” 2 Hoặc trong Hướng

dẫn về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên năm 1990 của Liên Hợp

quy định này, người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi

2 Mục II các Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do, 1990, Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Quy-tac-cua-Lien-hop-quoc-ve-bao-ve-nguoi-chua-thanh- nien-bi-tuoc-tu-do-1990-275829.aspx

3 Hướng dẫn Riyadh, hướng dẫn số 12, Nguồn: dan-phong-ngua-pham-phap-o-nguoi-chua-thanh-nien-1990-275803.aspx

Trang 14

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Huong-7

Mặt khác, Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em được đại hội đồng Liên Hợp Quốc (The United Nations Convention on the Rights of the Child, viết tắt

là CRC) thông qua ngày 20/11/1989 và được Việt Nam phê chuẫn ngày 20/2/1990 tại

Điều 1 có ghi: “Trong phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa vụ là bất kỳ người

nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Cho thấy CRC xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi

và cũng như các văn bản pháp luật quốc tế khác, CRC cho phép các quốc gia, tùy vào chính sách pháp luật của mình mà quy định mức tuổi cụ thể trong luật Dưới góc độ pháp luật quốc tế, ta có thể nhìn thấy các văn bản pháp luật quốc tế, các văn bản hướng dẫn của các tổ chức quốc tế và các chương trình Liên Hợp Quốc về vấn đề quy định về độ tuổi “người chưa thành niên” và “trẻ em” là đồng nhất, cùng một giới hạn dưới 18 tuổi

Trong hệ thống pháp luật Việt nam, hiện không có sự thống nhất tương tự như các thuật ngữ của pháp luật quốc tế, “trẻ em” và “người chưa thành niên” luôn được hiểu khác biệt Từ rất sớm, pháp luật về dân sự đã phân biệt người trưởng thành

và chưa trưởng thành bởi định nghĩa về vị thành niên hay người chưa thành niên Điều 7 sắc lệnh số 97-SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày

22/5/1950 quy định: “người vị thành niên là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi”

Cốt lõi của quy định này tiếp tục được duy trì trong các văn bản pháp luật dân sự

được ban hành sau đó Các BLDS năm 1995, 2005, 2015 đều quy định: “Người thành

niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên; người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”4 “Trẻ em” được định nghĩa muộn hơn bởi các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Định nghĩa “trẻ em” chịu ảnh hưởng đáng kể bởi việc gia nhập Công ước quốc tế Từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Công uớc quốc tế, các nhà nghiên cứu và lập pháp Việt Nam có nhiều tranh luận về định nghĩa “trẻ em” trong mỗi lần sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan5

người dưới 16 tuổi” Có thể thấy một cách rõ ràng đã có sự chồng chéo trong các văn

bản pháp luật, điều này dẫn đến sự khó khăn trong việc xác định Nhưng có thể ngầm hiểu rằng, khái niệm người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em, nhưng khái niệm trẻ

em thì bao gồm cả người chưa thành niên nhưng không phải là tất cả Tập trung lại, dựa trên các quan điểm phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới, khái niệm về

4 Xem các Điều 20 BLDS năm 1995, Điều 18 BLDS năm 2005, Điều 20,21 BLDS năm 2015

5 TS Phạm Thị Thanh Nga (2017), Trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam: Nhìn từ

nghĩa vụ thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và tính thống nhất của hệ thống pháp luật,

Viện nghiên cứu lập pháp (số 15), tr 20-30

Trang 15

8

người chưa thành niên có thể được đúc kết như sau: Người (nam và nữ) chưa đủ (tròn) mười tám (18) tuổi là người chưa thành niên

1.1.2 Năng lực chủ thể của người chưa thành niên

Năng lực chịu THBTTH ngoài hợp đồng là một bộ phận cấu thành nên năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật được cấu thành bởi hai bộ phận là năng lực pháp luật và năng lực hành vi Nhưng không phải cá nhân nào cũng đều có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi

“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” 6 Năng lực pháp luật của cá nhân xuất hiện từ khi con người sinh ra và chấm dứt khi người đó chết Như vậy mỗi người khi sinh ra đều có năng lực pháp luật, cho thấy rằng mọi người đều bình đẵng như nhau cũng như có

pháp luật dân sự của mọi cá nhân là bình đẳng với nhau, năng lực pháp luật dân sự của mọi cá nhân không đồng nghĩa với quyền dân sự Năng lực pháp luật chỉ là tiền

đề để cho các cá nhân có quyền, chứ nó không phải là quyền mà chỉ dừng lại ở khả năng mà thôi Mặc dù được ghi nhận như là một bộ phận không thể thiếu được của

cá nhân nhưng nó không phải do tạo hóa ban cho mà do Nhà nước ấn định như vậy,

do vậy ở những nước khác nhau thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khác nhau

“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” 7 Năng lực hành vi dân sự là

thuộc tính để tạo ra “Tư cách chủ thể” của cá nhân một cách hoàn thiện trong các quan hệ dân sự Như vậy để có tư cách chủ thể một cách hoàn thiện, độc lập và đầy

đủ khi có cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Theo như luật định để một cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người đủ mười tám tuổi (người thành niên) Còn đối với những cá nhân chưa đủ mười tám tuổi thì năng lực hành vi dân sự không đầy đủ Những cá nhân năng lực hành vi dân sự không đầy đủ này chỉ có thể xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định nào

đó theo quy định của pháp luật dân sự Sở dĩ pháp luật không công nhận năng lực hành vi đầy đủ cho những người này là bởi vì họ còn trẻ, thiếu kinh nghiệm sống, thiếu

6 Khoản 1 Điều 16 BLDS năm 2015

7 Điều 19 BLDS năm 2015

Trang 16

9

kinh nghiệm về sự vật, con người Pháp luật có nhiều quy định hạn chế hành vi của người chưa thành niên Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của họ phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ trường hợp đặc biệt như giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định được phép

Theo đó, người chưa đủ sáu tuổi thì tất cả mọi giao dịch dân sự của họ đều phải do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện Tất cả mọi giao dịch dân sự trong đời sống hằng ngày, kể cả việc mua đồ dùng học tập, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, thì cá nhân chưa đủ sáu tuổi cũng không được tự mình thực hiện Đối với người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì độ tuổi này đã có một phần năng lực hành vi dân sự Những người này đã có thể tự mình xác lập hành vi, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trong một số trường hợp Tuy nhiên, trong những trường hợp còn lại thì họ không thể tự mình tham gia Về cơ bản, hầu hết các giao dịch dân sự của người này đều phải có sự đồng ý của người đại điện theo pháp luật Ngoài ra, những giao dịch dân sự phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì những người này có thể tự mình xác lập, thực hiện bằng hành vi của mình Ví dụ: một đứa trẻ mười tuổi có thể tự mua cho mình một cuốn tập về sử dụng cho việc học tập

Đối với người từ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thì độ tuổi này

có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nói chung mà không cần sự xác lập, thực hiện hoặc sự đồng ý của người đại điện BLDS năm 2015 đã xác định khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của người chưa thành niên trong độ tuổi từ

đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi là tương đối hoàn thiện Tuy nhiên, đối với các giao dịch dân sự về bất động sản, động sản phải đăng ký và những giao dịch khác

do luật quy định phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, những cá nhân chưa thành niên này không tự mình xác lập và thực hiện Ví dụ: người mười bảy tuổi được thừa kế một căn nhà thì người này không được ý tự bán, trao đổi, hoặc tặng cho…ngôi nhà này cho một người khác mà không có sự đồng ý của người đại diện Quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên bởi

vì các tài sản là động sản phải đăng ký hoặc bất động sản thường là tài sản có giá trị rất cao Do người chưa thành niên họ chưa có nhận thức một cách đầy đủ dễ bị người khác lợi dụng Việc có người đại diện trong các giao dịch này là hết sức quan trọng

1.2 Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 17

10

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Về phương diện

lý luận pháp luật, thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu là phải gánh chịu những hậu quả bất lợi Theo nghĩa này, “trách nhiệm” được hiểu dưới góc độ pháp luật là trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm pháp lý gồm có nhiều loại trách nhiệm trong các lĩnh

Trách nhiệm dân sự là một căn cứ làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ của chủ thể xác định được Chủ thể là cá nhân, người đại diện pháp nhân, các tổ chức không có tư cách pháp nhân có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại hoặc hành vi vi

nhiệm, thứ nhất là TNBTTH do vi phạm hợp đồng và BTTH ngoài hợp đồng TNBTTH ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào

có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải BTTH do mình gây ra Đối với chế định BTTH trong hợp đồng dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước thì TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định cho người nào

có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Trong hệ thống pháp luật dân sự nước Việt Nam hiện nay quy định chủ yếu về một

số loại TNBTTH ngoài hợp đồng như hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác

Tham khảo một số vấn đề về việc BTTH ở một số nước khác nhau trên thế

giới như sau: tại Điều 1382 BLDS Pháp qui định: "Bất cứ hành vi nào của một người

gây thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường thiệt hại" Điều 1383 BLDS Pháp cũng quy định: "Mỗi người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do mình gây ra, không những do hành vi mà còn do sự cẩu thả hoặc không thận trọng" 10 Điều 420 BLDS và thương mại Thái Lan qui định: "Một người cố tình hay vô tình làm tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống thân thể, sức khỏe, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác thì bị coi là phạm một hành vi sai trái và có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó" 11 Điều 416 BLDS

8 Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.374

9 PGS.TS Phùng Huy Tập (2017), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nhà xuất bản công an

nhân dân, Hà Nội, tr.5

10 Xem BLDS Pháp, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, tr.776

11 Xem BLDS và thương mại Thái Lan, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.112

Trang 18

11

Nhật Bản (1998) quy định: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại sẽ có giá trị đối với việc bồi

thường các thiệt hại mà bình thường sẽ xảy ra do việc không thực hiện trái vụ Trái chủ có quyền được bồi thường cả những thiệt hại xảy ra trong những tình huống đặc biệt, nếu các bên biết trước hoặc phải biết trước những tình huống đó” 12 Nhìn nhận

một cách khách quan thì TNBTTH trong pháp luật Dân sự ở các nước khác nhau trên thế giới đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho những người bị thiệt hại từ hành vi vi phạm nghĩa vụ đến chủ thể khác Ở các nước khác nhau thì vấn

đề TNBTTH được quy định khác nhau về hình thức bồi thường và cách xác định thiệt

hại Tuy nhiên, tất cả đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất: “Người gây thiệt hại

phải bồi thường thiệt hại”

Mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người

thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra Như vậy, TNBTTH

ngoài hợp đồng là một loại TNBTTH được hình thành giữa các chủ thể bất kỳ mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng những hành vi gây thiệt hại không xuất phát từ thực hiện hợp đồng 13

Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng TNBTTH ngoài

hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước… thì TNBTTH ngoài hợp

đồng có những đặc điểm riêng sau đây:

TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải BTTH, BTTH được điều chỉnh và có sự ràng buộc bởi BLDS năm 2015, được quy định trong Chương XX, các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS năm 2015 Bảo đảm việc đền bù những tổn thất đã xảy ra cho chủ thể bị thiệt hại, giúp bảo vệ tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự của cá nhân và tổ chức

12 Xem Luật Nhật Bản quyển 3, Nhà xuất bản thanh niên, TP.HCM, tr.968

13Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.374

Trang 19

12

TNBTTH ngoài hợp đồng luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường Do

đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại

Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì TNBTTH ngoài hợp đồng còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…

1.2.2 Căn cứ phát sinh và các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Căn cứ xác

định TNBTTH ngoài hợp đồng được quy định cụ thể tại Điều 584 của BLDS năm

2015

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con

người, theo quy định tại Khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015: “Người nào có hành vi

xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp

Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” TNBTTH ngoài hợp đồng là phát

sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra các quan hệ nghĩa vụ tương ứng Căn cứ phát sinh BTTH ngoài hợp đồng là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH, đó là

“Hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại” BLDS năm 2015 đã quy định về căn

cứ làm phát sinh BTTHHĐ theo hướng có lợi hơn cho người bị thiệt hại Theo đó, trách nhiệm BTTH phát sinh khi có các điều kiện:

Một là, có thiệt hại xảy ra trên thực tế Đây là điều kiện tiên quyết,

chỉ có thiệt hại mới phải bồi thường, chỉ khi nào biết được thiệt hại là bao nhiêu mới

Trang 20

13

có thể ấn định người gây thiệt hại phải bồi thường bấy nhiêu Vì vậy, muốn áp dụng trách nhiệm này thì việc đầu tiên là phải xem xét có thiệt hại xảy ra hay không và phải xác định được thiệt hại là bao nhiêu Thiệt hại được bồi thường bao gồm: Thiệt

hại về vật chất và tổn thất về tinh thần

Hai là, có hành vi trái pháp luật Quy định tại Khoản 5 Điều 275

BLDS năm 2015 một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện

“Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” Hành vi trái phát pháp luật là những xử sự

cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái

là những hành vi xâm hại tới tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và đa phần được thể hiện dưới dạng hành động Tuy nhiên, những hành vi gây thiệt hại do xâm phạm các yếu tố trên nhưng được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật sẽ không bị coi là hành vi trái pháp luật và người thực hiện hành vi đó không phải BTTH Chẳng hạn, hành vi gây thiệt hại trong giới hạn của phòng vệ chính đáng hoặc gây thiệt hại đúng với yêu cầu của tình thế

cấp thiết

Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành

vi trái pháp luật Quá trình phát sinh, phát triển và chấm dứt giữa các sự vật hiện

tượng bao giờ cũng có mối liên hệ nội tại, trong đó, sự vật, hiện tượng này là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng kia Có thể một sự vật, hiện tượng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhiều sự vật, hiện tượng khác; có thể nhiều sự vật, hiện tượng cùng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng khác Vì vậy, để xác định chính xác người phải BTTH cần phải dựa vào cập phạm trù: Nguyên nhân và kết quả và tìm ra mối liên hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, trong đó, thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại

Bốn là, yếu tố lỗi trong TNBTTH ngoài hợp đồng Lỗi là quan hệ

giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định những yêu cầu của xã hội đã được thể hiện thông qua các quy định của pháp luật Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho xử

14 1.2 Tiểu mục 1 Mục I của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 21

14

sự đó phù hợp với pháp luật, trách nhiệm thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi

và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện Bao gồm hai hình thức lỗi sau đây:

Lỗi cố ý: Một người bị coi là có lỗi cố ý nếu họ đã nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi đó Nếu người này mong muốn thiệt hại xảy ra từ việc thực hiện hành vi thì lỗi của họ là lỗi

cố ý trực tiếp Nếu họ không mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng để mặc cho thiệt hại

xảy ra thì lỗi của họ là lỗi cố ý gián tiếp “Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận

thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra” 15

Lỗi vô ý: Người có hành vi gây thiệt hại được xác định là có lỗi

vô ý nếu họ không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc

dù họ phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra khi họ thực hiện hành vi đó Nếu người này cho rằng thiệt hại không xảy ra thì lỗi của họ được xác định là lỗi vô

ý cẩu thả; nếu họ cho rằng có thể ngăn chặn được thiệt hại thì lỗi của họ là lỗi vô ý vì

quá tự tin “Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có

khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được” 16

Tại Khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015 “Người nào có hành vi xâm

phạm, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” thì yếu tố lỗi không còn là căn cứ phát sinh trách

nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nhưng yếu tố lỗi vẫn còn nguyên giá trị trong việc xem xét mức BTTH

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây thiệt hại Bên

cạnh các quy định về BTTH do con người gây ra, BLDS năm 2015 còn có quy định chung về BTTH do tài sản gây ra Cụ thể tại Khoản 3 Điều 584 BLDS năm 2015

“Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu

trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại

15 Điều 364 BLDS năm 2015

16 Điều 364 BLDS năm 2015

Trang 22

15

Khoản 2 Điều này”

Đây là quy định chung, áp dụng cho mọi loại tài sản gây ra thiệt hại Ở đây, để làm phát sinh TNBTTH thì điều kiện đầu tiên là thiệt hại phải tồn tại trong thực tế, tiếp theo thiệt hại phải có nguyên nhân là do tài sản gây ra Khi các điều kiện

Khi xem xét trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra, việc xem xét yếu tố lỗi

là không cần thiết, bởi “lỗi” được phát sinh từ “hành vi” con người là chủ yếu Tuy nhiên, đây cũng không thể khẳng định khi tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng không có lỗi mà nếu có lỗi thì lỗi của họ là lỗi trong việc quản

lý, sử dụng tài sản gây ra thiệt hại, và đây cũng được hiểu là hành vi gây thiệt hại chứ không phải tài sản gây thiệt hại Mặt khác, ngay cả khi chủ sở hữu, người chiếm hữu,

sử dụng không có lỗi thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường vì chính bản thân

họ là người trực tiếp có quyền khai thác và hưởng các lợi ích từ tài sản đó mang đến cho họ

Như vậy, muốn được bồi thường trong trường hợp tài sản gây thiệt hại thì người bị thiệt hại cần chứng minh có sự kiện tài sản gây ra thiệt hại và hậu quả thực tế

Trường hợp không phải chịu TNBTTH ngoài hợp đồng Trong các trường hợp

dưới đây, người gây ra thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường mặc dù có thiệt hại Đó chính là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết; gây thiệt hại trong phòng

vệ chính đáng; thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng; thiệt hại xảy ra hoàn toàn

do lỗi của bên bị thiệt hại

Gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng: Trường hợp này được

qui định cụ thể tại Điều 594 của BLDS năm 2015 Nhằm khuyến khích các cá nhân

tự bảo vệ, chủ động ngăn chặn các hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của chủ thể khác, trong một số trường hợp nhất định pháp luật cho phép cá nhân được chống trả chủ thể khác khi chủ thể đó có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại trước Pháp luật coi

17 Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.383

Trang 23

16

việc chống trả các hành vi xâm phạm đến các đối tượng được pháp luật bảo vệ trong chừng mực nhất định là phòng vệ chính đáng Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, chế định phòng vệ chính đáng được để cập chủ yếu trong pháp luật hình sự Phòng vệ chính đáng trong pháp luật dân sự được tiếp thu trên cơ sở lý luận và thực tiễn trong pháp luật hình sự Theo quy định tại Điều 22, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2017): “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền và lợi ích chính

đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”

Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại18 Hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng không bị coi là hành vi trái pháp luật, từ đó pháp luật suy đoán rằng, người phòng vệ chính đáng (người thực hiện hành vi chống trả) không bị coi là có lỗi Để coi là phòng vệ chính đáng thì người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải BTTH cho người bị thiệt hại Hành vi gây thiệt hại được xác định là tương xứng: Căn cứ vào mức độ của hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, phòng vệ có hành vi phòng vệ đúng với tính chất và mức độ của hành vi trái pháp luật gây thiệt hại Như vậy, khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích được pháp luật bảo vệ thì bản thân người phòng vệ chính đáng phải cân nhắc, tính toán để có thể phòng vệ chính đáng Chính vì phòng vệ chính đáng không bị coi là trái pháp luật, trên nguyên tắc suy đoán, người phòng vệ chính đáng không bị coi là có lỗi nên pháp luật dân sự quy định người phòng vệ chính đáng không phải BTTH Tuy nhiên, không phải mọi hành vi chống trả người tấn công đều được thừa nhận là phòng vệ chính đáng Sự cân nhắc, tính toán, lượng hóa trong hành vi chống trả có thể là một sự sai lầm, biểu hiện của sự sai lầm là hành vi gây thiệt hại đối với người có hành vi trái pháp luật một cách không tương xứng theo mức độ lớn hơn Nói cách khác, nếu phòng

vệ chính đáng gây thiệt hại mà thiệt hại đó là hậu quả của hành vi “vượt quá” giới hạn phòng vệ chính đáng thì người này phải BTTH Tuy nhiên, người gây thiệt hại

Hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ở đây được hiểu là khi bị người khác gây thiệt hại, người phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại ngược trở lại nhưng có sự sai lầm trong việc đánh giá mức độ của sự tấn công, điều kiện hoàn cảnh của hành vi tấn công và hành vi chống trả, do đó vượt quá giới hạn cần thiết đã gây

18 Điều 594 BLDS năm 2015

19 Điều 594 BLDS năm 2015

Trang 24

17

ra thiệt hại cho người có hành vi gây thiệt hại ban đầu Vì vậy, hành vi của họ vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng Việc vượt quá giới hạn đó bị coi là trái pháp luật (đối với phần vượt quá), do đó họ phải bồi thường

Gây thiệt hại trong trường hợp tình thế cấp thiết: Khoản 1 Điều 171 BLDS

năm 2015 quy định: “ Tình thế cấp thiết là tình thế của người muốn tránh một nguy

cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn” Bên cạnh đó tại Khoản 1

Điều 23 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) cũng có quy định: “Tình thế cấp

thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa Hành

vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm;Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự” Theo quy định tại Khoản 1 Điều 595 BLDS năm

2015: “Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại; Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại” Tình thế cấp thiết là tình

thế mà chủ thể vào hoàn cảnh đó không còn lựa chọn nào tốt hơn, họ chủ động gây

ra một thiệt hại nhưng thiệt hại này phải nhỏ hơn thiệt hại cần bảo vệ Người gây ra thiệt hại trong tình thế cấp thiết là không phải bồi thường, hành vi đó được xem là hành vi hợp pháp20 Lỗi của người gây thiệt hại được xác định là lỗi đối với phần vượt quá nên họ chỉ phải BTTH đối với phần vượt quá mà thôi Ngoài ra, người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải BTTH cho người bị thiệt hại21 Mặc

dù bản thân người này không phải là người trực tiếp gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo về, tuy nhiên họ là người đã tạo ra nguy cơ đe dọa gây thiệt hại cho các lợi ích đó, do vậy họ phải là người chịu TNBTTH

Thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên

bị hại Theo như quy định tại Khoản 2 Điều 584 BLDS năm 2015: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường

20 Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.411

21 Khoản 2 Điều 595 BLDS năm 2015

Trang 25

18

hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” Ở điều luật này có 2 trường hợp

xảy ra mà người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường:

Thiệt hại xảy ra trong trường hợp sự kiện bất khả kháng: Theo

Khoản 1 Điều 156 BLDS năm 2015: “Sự kiện bất khả kháng là những sự kiện xảy ra

ngoài ý chí của con người khiến chúng ta không thể lường trước và khắc phục được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết, khả năng cho phép” Sự kiện bất khả

kháng này xảy ra không do lỗi của bất kỳ bên nào, mà hoàn toàn ngoài ý muốn và các bên bị thiệt hại cũng không thể dự đoán được, cũng như không thể tránh và khắc phục kịp thời Cho nên người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người người khác trong

sự kiện bất khả kháng không phải chịu trách nhiệm bồi thường Thiệt hại xảy ra hoàn

toàn do lỗi của bên bị thiệt hại Khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 có quy định như

sau: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường

phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra” Điều luật này quy định về trách nhiệm lỗi hỗn

hợp nhưng trách nhiệm lỗi hỗn hợp đã được loại trừ Ở Điều luật trên hình thức lỗi của người gây thiệt hại không cần phải xác định mà lỗi hiểu theo nghĩa hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại Khi áp dụng vấn đề này trong việc giải quyết BTTH ngoài hợp đồng cần làm rõ các vấn đề sau: Thiệt hại xảy ra hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại, thì người gây thiệt hại không phải bồi thường Lỗi của người bị thiệt hại có thể do vô ý hoặc cố ý nhưng phải xác định được lỗi hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại Người gây thiệt hại hoàn toàn không có lỗi thuộc hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay mức độ khác thì người đó không phải bồi thường Người gây thiệt hại phải chứng minh được mình không có lỗi mà lỗi là do người bị thiệt hại

1.2.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nghiên cứu nội dung quy định về nguyên tắc BTTH tại Điều 585 BLDS 2015

có quy định:

Nguyên tắc một: Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Bồi thường toàn bộ là trên thực tế xảy ra những thiệt hại nào thì người chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường toàn bộ thiệt hại Bồi thường kịp thời là việc bồi thường được tiến hành một cách khẩn trương, nhanh chóng ngay sau khi có thiệt hại xảy ra nhằm khắc phục tổn thất cho người bị thiệt hại Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật

có quy định khác Cần phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về mức bồi thường, hình

Trang 26

19

thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì khi giải quyết tranh chấp về BTTH ngoài hợp đồng Trong BLDS năm 2005, nguyên tắc BTTH quy

định tại Khoản 1 Điều 605: “Thiệt hại phải được toàn bộ và kịp thời” Tại Khoản 1 Điều 585 BLDS năm 2015 quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn

bộ và kịp thời” Sự thay đổi này cho thấy chỉ có những thiệt hại thực tế mới được bồi

thường Những thiệt hại do suy đoán hoặc không có căn cứ xác định thì không được bồi thường

Nguyên tắc hai: Người chịu TNBTTH có thể được giảm mức bồi thường

nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của

khi có đầy đủ hai điều kiện là “do không có lỗi hoặc có lỗi vô ý mà gây thiệt hại” và

“thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”, điều này cũng có nghĩa

là thiệt hại xảy ra mà người có hành vi gây thiệt hại của họ cũng như khả năng kinh

tế sau này họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại

đó

Trong nguyên tắc này, đã có sự thay đổi so với BLDS 2005, tại Khoản 2 Điều

605 của BLDS năm 2005 người được giảm mức bồi thường là “người gây thiệt hại”

Tuy nhiên, theo BLDS năm 2015, người được giảm mức bồi thường được xác định

là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại” tại Khoản 2 Điều 585 Việc thay đổi

như thế là rất hợp lý, bởi vì có những trường hợp người gây ra thiệt hại là người khác còn người chịu TNBTTH lại là một chủ thể khác Ví dụ: cha mẹ BTTH cho con chưa thành niên, pháp nhân BTTH do người của mình gây ra… Ngoài ra, cũng tại Khoản

2 Điều 585 BLDS năm 2015 còn thêm một căn cứ để được giảm mức bồi thường có

thể là “người không có lỗi”, ở Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2005 chỉ quy định những người “có lỗi vô ý” Việc quy định của BLDS năm 2005 là không phù hợp, dẫn đến

nhiều khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc giảm mức bồi thường trong trường

hợp người chịu trách nhiệm bồi thường nhưng “không có lỗi”

Nguyên tắc ba: Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có

22 Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015

23 Khoản 3 Điều 585 BLDS năm 2015

Trang 27

20

hội, sự biến động về giá cả mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức BTTH không còn phù hợp với sự thay đổi

đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện thực tế Khi xảy ra các điều kiện này người bị thiệt hại hoặc người chịu TNBTTH có quyền yêu cầu Tòa

án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường Ví dụ: Tại thời điểm hai bên thỏa thuận tài sản bồi thường là 35 chỉ vàng 24K, nhưng thời gian sau đó, giá vàng trong nước đột biến tăng mạnh, từ đó, so với thời điểm thỏa thuận, làm cho người vi phạm khó có thể thực hiện nghĩa vụ bồi thường Như vậy, bên gây thiệt hại

có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường cho phù hợp

Nguyên tắc bốn: Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không

được quy định rõ tại Điều 605 của BLDS năm 2005 Với lý lẽ công bằng, gây thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó, nhưng trong nhiều trường hợp bên bị thiệt hại lại là bên có phần lỗi dẫn đến thiệt hại Luật quy định bên bị thiệt hại sẽ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra Vậy thiệt hại không được bồi thường ở đây được hiểu như thế nào cho đúng.Với trường hợp mỗi bên đều có lỗi cố ý, đều bị thiệt hại về tài sản, sức khỏe … thì không có gì đáng nói Nhưng với trường hợp, cả hai bên đều có lỗi cố ý, nhưng thiệt hại mà bên bị thiệt hại gây ra cho bên gây thiệt hại không đáng kể (có thiệt hại xảy ra nhưng không lớn), còn thiệt hại mà bên gây ra thiệt hại cho bên bị thiệt hại tính toán được bằng con số cụ thể, vấn đề đặt ra, tòa án

có xem xét mức độ lỗi của bên bị thiệt hại khi ấn định mức BTTH đối với bên gây ra thiệt hại không Xoay quanh vướng mắc này, thực tế thường xảy ra hai trường hợp sau:

Thiệt hại hoàn toàn do người bị thiệt hại gây ra, như vậy, người bị thiệt hại sẽ không nhận được bồi thường, tức là người gây ra thiệt hại không có lỗi thì họ không phải BTTH Ví dụ: Một người cố ý lao vào ô tô để tự tử

Thiệt hại một phần do người bị thiệt hại gây ra, còn một phần do lỗi của người gây thiệt hại Như vậy, người bị thiệt hại vẫn được bồi thường phần thiệt hại không phải do lỗi của mình Nghĩa là, họ vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với

24 Khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015

Trang 28

21

mức độ lỗi của mình Trong trường hợp này, tòa án cần xác định rõ mức độ lỗi của mỗi bên để ấn định trách nhiệm bồi thường cho tương xứng Vì người bị thiệt hại cũng có lỗi, và chính yếu tố lỗi của họ là chất xúc tác, là nguyên nhân, dẫn đến phản ứng tiêu cực của bên gây ra thiệt hại và hậu quả thực tế xảy ra, nhưng họ lại là người

bị thiệt hại, do vậy, họ phải tự “bồi thường” cho mình tương ứng với mức độ lỗi đó Nguyên tắc năm: Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường

nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn,

chuyển bằng đường hàng không Theo đó, phía bên cung cấp dịch vụ vận chuyển sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào về thiệt hại đối với vật dụng bị cấm theo quy định

mà do hành khách mang theo trong hành lý; hoặc trong hành lý ký gửi của hành khách, bao gồm: thiệt hại đối với các đồ vật dễ vỡ, hàng mau hỏng (đồ tươi sống, thực phẩm dễ hư hỏng…), tác phẩm nghệ thuật, máy ảnh, máy quay phim, tiền, đồ trang sức, kim loại quý, đồ làm bằng bạc, đá quý, thuốc chữa bệnh, hàng hóa nguy hiểm, máy tính, các thiết bị điện tử, giấy tờ có giá trị chuyển đổi thành tiền, chứng khoán, tài liệu đàm phán, hợp đồng, tài liệu kinh doanh, hàng mẫu, hộ chiếu, giấy tờ tùy thân khác… để trong hành lý ký gửi mà không khai báo vận chuyển theo dạng hành lý có giá trị cao và thiệt hại đối với các đồ vật tương tự khác cho dù phía bên cung cấp dịch vụ có biết hay không biết Do đó, để bảo đảm quyền lợi của chính mình, theo quy định tại Khoản 5 Điều 585 BLDS năm 2015, hành khách có thể kê khai giá trị hoặc có thể tự mua thêm bảo hiểm riêng cho hành lý của mình trong trường hợp giá trị thực tế hoặc chi phí thay thế của hành lý ký gửi hoặc hành lý xách tay vượt quá mức giới hạn trách nhiệm của phía nhà cung cấp dịch vụ

1.3 Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra

1.3.1 Điều kiện phát sinh và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra

Điều kiện phát sinh TNBTTH do người chưa thành niên gây ra, bao gồm: Điều kiện phát sinh TNBTTH của cha mẹ khi con chưa thành niên gây ra

bao gồm: Điều kiện thứ nhất, quan hệ cha mẹ đối với người gây thiệt hại: Trách nhiệm

của cha mẹ chỉ phát sinh đối với thiệt hại do con gây ra Được hiểu là giữa người gây

25 Khoản 5 Điều 585 BLDS năm 2015

Trang 29

22

ra thiệt hại và người chịu TNBTTH ở đây phải có quan hệ cha mẹ con Ngoài ra, trong ngôn ngữ thông thường chúng ta vẫn thường hay nghe đến “cha nuôi”, “mẹ nuôi” Thực chất quan hệ giữa con đối với “cha mẹ nuôi” chỉ mang tính chất tình cảm Cho nên việc cha mẹ nuôi về tình cảm không chịu sự chi phối của chế định này,

cha mẹ ở đây được hiểu là có quan hệ gia đình Điều kiện thứ hai, tuổi của con chưa

thành niên gây thiệt hại Trong dân luật hiện đại, cha mẹ chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường với hành vi gây thiệt hại của con chưa thành niên, còn pháp luật phong kiến, cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với hành vi của các con sống chung

phụ thuộc vào độ tuổi con chưa thành niên Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa

đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì cha mẹ chỉ phải chịu BTTH trong trường hợp con

chưa thành niên không có tài sản hoặc có nhưng không đủ để bồi thường Điều kiện

thứ ba, tài sản của cha mẹ và con gây thiệt hại Trong chế định BTTH do người chưa

thành niên gây ra thì điều kiện về xác định tài sản của cha mẹ và con là không thể thiếu Vì khi con gây thiệt hại không phải mọi trường hợp đều buộc cha, mẹ dùng tài sản của mình để bồi thường cho hành vi gây thiệt hại của con mình Đối với trường hợp con chưa đủ mười lăm tuổi thì cha mẹ phải dùng tài sản của mình để bồi thường, nhưng khi con từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại, cha mẹ chỉ chịu trách nhiệm bồi thường khi con “không đủ tài sản để bồi thường” nên trước khi quy trách nhiệm bồi thường cho cha mẹ thì Tòa án phải xác định được con có hay không có tài sản riêng hoặc có tài sản nhưng không đủ để bồi thường

Điều kiện phát sinh đối với người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại trong thời gian trường học quản lý bao gồm: Điều kiện thứ nhất, tuổi của người gây thiệt hại

Trong BLDS năm 1995 (Điều 625) và BLDS năm 2005 (Điều 621) người gây thiệt hại phải “dưới mười lăm tuổi” BLDS năm 2015 có sự thay đổi về chủ đề này theo hướng người gây thiệt hại phải là người “chưa đủ mười lăm tuổi” (Điều 599) để có

Điều kiện thứ hai, trong thời gian trường học quản lý Tại Điều 599 BLDS năm 2015

quy định người gây thiệt hại phải trong “thời gian trường học trực tiếp quản lý”, khác

so với quy định tại Điều 621 BLDS năm 2005 “trong thời gian học tại trường” Việc thay đổi này có thể bao quát hết những tình huống như trường hợp gây thiệt hại khi

26 PGS.TS Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án

(tập 2), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.44-45

27 PGS.TS Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án

(tập 2), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.77

Trang 30

23

đi du lịch ngoài trường dưới sự quản lý của nhà trường Ngoài ra, sự thay đổi này còn khẳng định nhà trường còn chịu trách nhiệm giám sát và bảo đảm quản lý hoạt động

của các em trong giờ ra chơi Điều kiện thứ ba, trường học có lỗi trong quản lý Để

phát sinh trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này cần phải có hội thêm điều kiện nữa là trường học có “lỗi trong quản lý” Yếu tố lỗi này là yếu tố lỗi được suy đoán tồn tại khi đáp ứng đủ các điều kiện thứ nhất và thứ hai được đáp ứng Nhưng nếu trong trường hợp, nhà trường có thể chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì không phải bồi thường

Điều kiện phát sinh TNBTTH đối với người giám hộ, để phát sinh

TNBTTH đối với người giám hộ thì điều kiện cần và đủ để người giám hộ dùm tài

sản của mình trong việc bồi thường là: Điều kiện thứ nhất, người chưa thành niên gây thiệt hại và không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường Điều kiện thứ hai,

người giám hộ không chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ

Năng lực chịu TNBTTH do người chưa thành niên gây ra Người gây thiệt hại

là bất kỳ chủ thể nào, nhưng việc BTTH phải do người có khả năng bồi thường và cũng chính họ tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dù việc gây ra thiệt hại không phải

do họ thực hiện

Đối với người chưa thành niên gây ra thiệt hại, thì ngoài việc áp dụng những nguyên tắc chung như trên để là căn cứ xác định trách nhiệm bội thường thiệt hại, thì điều quan trọng hơn cả là phải xác định năng lực chịu TNBTTH của đối tượng này

Đối với người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại Trường hợp người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha,

mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để

sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc thực hiện quyền, nghĩa

vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.”29 Trường hợp này, với tư cách tham gia tố tụng thì cha mẹ của người gây thiệt hại là bị đơn dân sự

28 Khoản 2 Điều 586 BLDS năm 2015

29 Khoản 5 Điều 69 BLTTDS năm 2015

Trang 31

24

Nếu người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha,

khác với trường hợp người chưa đủ mười lăm tuổi, thì người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại là bị đơn dân sự và ba, mẹ người gây thiệt hại lúc này là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Nếu người chưa thành niên gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không

có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường31 Trong trường hợp này người giám hộ là bị đơn dân sự Người chưa thành niên được giám

hộ khi không còn cha, mẹ hay có cha mẹ nhưng cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình; hạn chế năng lực hành vi dân sự; bị Tòa tuyên hạn chế quyền đối với con; không có điều kiện chăm sóc, giáo

cụ thể tại Điều 52 BLDS năm 2015 là anh chị ruột (anh cả, chị cả), nếu anh chị cả không đủ điều kiện để làm người giám hộ thì anh chị ruột tiếp theo là người giám hộ Trong trường hợp anh chị ruột không thể là người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ và những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ Trường hợp người chưa thành niên không có người giám hộ đường nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người chưa thành niên có trách nhiệm cử người giám hộ33

Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý

mà gây thiệt hại thì trường học phải BTTH xảy ra34 Đối với các em học sinh tiểu học, trung học cơ sở thì trong thời gian học tập trên lớp, thời gian sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn đội, hoặc các hoạt động tập thể khác, thì thầy cô là người trực tiếp quản lý các

em học sinh Tuy nhiên, có những thời gian nhà trường không quản lý trực tiếp các

em như thời gian trước và sau khi học tập Đối với người mất năng lực hành vi dân

sự thì bệnh viện, pháp nhân có nghĩa vụ trông coi người này trong suốt thời gian trực

30 Khoản 2 Điều 586 BLDS năm 2015

31 Khoản 3 Điều 586 BLDS năm 2015

32 Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 BLDS năm 2015

33 Xem quy định tại Khoản 1 Điều 54 BLDS năm 2015 về việc cử, chỉ định người giám hộ

34 Khoản 1 Điều 599 BLDS năm 2015

Trang 32

25

tiếp quản lý Tuy nhiên, có những thời gian người mất năng lực hành vi dân sự do gia đình chăm sóc… Đây là những thời gian bệnh viện, pháp nhân khác không trực tiếp quản lý người mất năng lực hành vi dân sự Trong trường hợp người chưa đủ mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác mà nhà trường, bệnh viện, pháp nhân không trực tiếp quản lý thì cha mẹ, người giám hộ phải BTTH

Pháp luật hiện hành chưa có quy định về phương thức lấy tài sản của cha,

mẹ đã ly hôn để bồi thường thay cho con chưa thành niên Tuy nhiên, theo nguyên tắc bình đẳng, tự do thỏa thuận thì phần tài sản của cha mẹ phải bồi thường thay cho người chưa thành niên sẽ được phân chia theo sự thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được thì phần bồi thường sẽ được lấy theo tỷ lệ bằng nhau, có tính đến khả năng kinh

tế của mỗi người

1.3.2 Xác định thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra

Xác định thiệt hại, thiệt hại là điều kiện đầu tiên làm phát sinh nghĩa vụ bồi

thường Nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại chỉ có thể thực hiện được đầy đủ và

chính xác khi xác định “toàn bộ thiệt hại” là bao nhiêu và trên cơ sở đó ấn định mức

định của pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng nói chung, BTTH do người chưa thành niên gây ra nói riêng là những quy định mang tính “định tính” chứ không “định lượng” cụ thể Mặt khác, ngoài thiệt hại về vật chất còn có thiệt hại về tinh thần Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà việc xác định thiệt hại được tính toán khác nhau

TNBTTH do người chưa thành niên gây ra là một chế định trong TNBTTH ngoài hợp đồng Nên khi người chưa thành niên gây ra thiệt hại thì việc xác định thiệt hại cũng dựa trên xác định thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự về việc xác định thiệt hại ngoài hợp đồng Việc xác định thiệt hại là một điều rất khó khăn và phức tạp Mục 2 chương XX Phần thứ ba BLDS năm 2015 quy định về các loại thiệt hại được bồi thường và cách thức xác định thiệt hại một cách khái quát Những thiệt hại phải bồi thường là thiệt hại về tài sản (Điều 589 BLDS năm 2015), thiệt hại về

35 Giáo trình luật dân sự Việt Nam (2017), Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản công an nhân dân, tr.326

Trang 33

26

sức khỏe (Điều 590 BLDS năm 2015), thiệt hại về tính mạng (Điều 591 BLDS năm

Về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, quyền sở hữu tài sản của cá nhân,

pháp nhân và các chủ thể được pháp luật bảo vệ Khi tài sản của chủ sở hữu bị xâm phạm thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường Tại Điều 589 BLDS

2015 có quy định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm gồm: “tài sản bị mất, bị hủy hoại

hoặc bị hư hỏng”, “lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút”, “chí phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại” Thiệt hại về tài

sản bao gồm thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp

Thiệt hại trực tiếp bao gồm thiệt hại do tài sản bị mất, tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng Tài sản bị mất là trường hợp tài sản rời khỏi chủ sở hữu mà không thể tìm lại được Đây là trường hợp tài sản bị thiệt hại hoàn toàn, không thể khắc phục được, do đó người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản Tài sản bị hủy hoại là những tài sản bị thiệt hại nặng, không thể phục hồi chức năng như ban đầu, cho nên chủ sở hữu không thể khai thác tính năng, công dụng của tài sản Xác định thiệt hại đối với tài sản bị hủy hoại giống với trường hợp tài sản bị mất Tài sản bị hư hỏng là những tài sản bị hỏng mốc một số bộ phận nhất định, làm giảm hay mất khả năng sử dụng tài sản Đối với tài sản bị hưng hỏng vẫn có khả năng sửa chữa, phục hồi lại tính năng sử dụng So với BLDS năm 2005 thì quy định về “tài sản bị mất, tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng” tại Điều 589 của BLDS năm 2015 được đặt chung trong cùng một khoản, thay vì đặt riêng ở hai khoản khác nhau tại Điều 608 BLDS năm 2005 Điều này cho thấy rất hợp lý, bởi vì bản chất, hai loại thiệt hại này đều là những thiệt hại trực tiếp do tài sản bị xâm phạm, nên việc tách ra là không cần thiết Nếu tách hai khoản này ra với nhau có thể ngầm hiểm rằng những thiệt hại này độc lập với nhau Ngoài ra, Điều 589 BLDS năm 2015 còn bổ sung thêm quy định về

“thiệt hại khác do luật quy định” Quy định này cũng hợp lý, bởi vì khi tài sản bị xâm

phạm có thể chủ sở hữu sẽ mất đi những lợi ích mà lẽ ra họ sẽ được hưởng Việc bổ sung này sẽ bao quát đầy đủ các thiệt hại mà chủ sở hữu phải gánh chịu khi tài sản bị xâm phạm

Về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, sức khỏe được xem là một tài sản

quý giá nhất trong cuộc đời con người, không có gì có thể quy đổi được và khi bị xâm

36 Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2), Nhà xuất bản công an nhân dân, Hà

Nội, tr.326

Trang 34

27

phạm cũng không thể nào xác định chính xác bằng một khoản tiền Việc BTTH do sức khỏe bị xâm phạm thực chất chỉ mang ý nghĩa là đền bù một khoản thiệt hại về những tổn thất, mất mát về tinh thần cũng như tinh thần mà người có hành vi gây thiệt hại gây cho người bị thiệt Tại Điều 590 BLDS năm 2015 quy định những thiệt

hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm: “Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng,

phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại” là những

chi phí hợp lý để khắc phục thiệt hại về mặt sức khỏe cho người bị thiệt hại, những chi phí này bao gồm: tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở y tế, siêu âm, xét nghiệm, mổ… theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ; và các chi phí khác trong quá trình điều trị

cho người bị thiệt hại “Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt

hại” Về thu nhập thực tế được hiểu là những khoản thu nhập mà người bị thiệt hại

không được hưởng trong thời gian điều trị Còn đối với thu nhập bị giảm sút là khoản thu nhập bị giảm so với thu nhập trước đó của người bị thiệt hại Để xác định mức thu nhập bị mất của người bị thiệt hại thì cần phải có sự so sánh mức thu nhập thực

tế trước và sau khi bị xâm phạm đến sức khỏe “Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực

tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại” Chi phí

hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có thể là tiền xe

đi lại, tiền tàu, tiên thuê nhà trọ hay nhà nghỉ mà theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế Người gây thiệt hại phải bồi thường cho số người chăm sóc cho người bị thiệt hại có thể là một hoặc cũng

có thể là hai người Những người chăm sóc cho người bị thiệt hại có thể mất thu nhập thực tế, cho nên người gây thiệt hại phải bồi thường cho những thu nhập bị mất của người chăm sóc cho người bị thiệt hại Nếu người bị thiệt hại sau thời gian điều trị họ mất khả năng lao động và cần người chăm sóc thường xuyên thì người gây thiệt hại

phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại “Thiệt hại khác

do luật quy định”, đây là một quy định mới so với BLDS năm 2005, quy định này

mang tính chất mở nhằm xác định những thiệt hại mà luật liên quan khác có quy định thì áp dụng để tính toán và ấn định mức BTTH Việc bổ sung này là hoàn toàn hợp

lý, bởi vì trên thực tế khi cá nhân bị xâm phạm về sức khỏe, ngoài những thiệt hại mà

cá nhân phải gánh chịu như đã phân tích ở phía trên thì họ còn mất đi những lợi ích khác Ví dụ: A có ký một hợp đồng khoán việc với thời gian là một tháng và mức thù lao là 30 triệu Tuy nhiên, A bị xâm phạm đến sức khỏe trước khi bắt đầu làm việc 1

Trang 35

28

ngày Khiến A không thể làm được công việc đó và mất khoản thu nhập mà lẽ ra có được37

Về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, tính mạng con người là vô giá

không thể tính thành tiền Vì vậy, BTTH về tính mạng thực chất là bồi thường vật chất phải bỏ ra liên quan đến cái chết của người bị thiệt hại38 Để xác định thiệt hại

do tính mạng bị xâm phạm quy định tại Điều 591 BLDS năm 2015 bao gồm: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của BLDS năm 2015 (phần

này đã được làm rõ và phân tích ở phần trên) “Chi phí hợp lý cho việc mai táng”

Được hiểu là những khoản chi cho việc chôn cất hay hỏa táng, … người chết Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ… Cách tính cho những khoản chi phí này có thể được dựa theo Khoản 4 Điều 25 Luật

Trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017: “Chi phí cho việc mai táng người bị

thiệt hại chết được xác định theo mức trợ cấp mai táng theo quy định của pháp luật

về bảo hiểm xã hội” Tại Khoản 2 Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì khoản trợ

cấp được quy định: “Trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng mà

người quy định tại khoản 1 Điều này chết” Tiền cấp dưỡng cho những người mà

người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng

bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Đối tượng

được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng bao gồm: “Vợ hoặc chồng không có khả năng

lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng; Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha,

mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng; Cha, mẹ là người không

có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng

37 Luật Gia Trương Hồng Quang (2018), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS 2015

và những tình huống thực tế, Nhà xuất bản chính trị sự thật, Hà Nội, tr.50

38 Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập 2, Nhà xuất bản công an nhân dân, Hà

Nội, tr.329

Ngày đăng: 04/03/2021, 20:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự năm 2005 , Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự năm 2005
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2005
2. Quốc hội (2012), Bộ luật Lao động 2012, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động 2012
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2012
3. Quốc hội (2014), Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo hiểm xã hội 2014
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2014
4. Quốc hội (2014), Luật hôn nhân và gia đình 2014, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình 2014
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2014
5. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự năm 2015 , Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2015
6. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2015
7. Quốc hội (2017), Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nhà nước 2017, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nhà nước 2017
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2017
8. Quốc hội (2017), Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) , Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2017
9. Quốc hội (2018), Luật Trẻ em 2016 (sửa đổi, bổ sung 2018), Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Trẻ em 2016 (sửa đổi, bổ sung 2018)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2018
11. Chính Phủ (2018), Nghị định 72/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 Quy định về mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính Phủ (2018)
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2018
12. Chính phủ (2019), Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 09 tháng 05 năm 2019 Quy định về mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức, và lực lượng vũ trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2019)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
14. Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
16. Đặng Ngọc Cả (2006), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Đại học luật TP.HCM, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra
Tác giả: Đặng Ngọc Cả
Năm: 2006
17. Luật gia Trương Hồng Quang (2018), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự (Năm 2015) và những tình huống thực tế (sách tham khảo), Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự (Năm 2015) và những tình huống thực tế (sách tham khảo)
Tác giả: Luật gia Trương Hồng Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2018
18. PGS.TS Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (sách chuyên khảo)
Tác giả: PGS.TS Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2016
19. PGS.TS Phùng Huy Tập (2017), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nhà xuất bản công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả: PGS.TS Phùng Huy Tập
Nhà XB: Nhà xuất bản công an nhân dân
Năm: 2017
20. PGS.TS Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án (tập 1), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án (tập 1)
Tác giả: PGS.TS Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2018
21. PGS.TS Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án (tập 2), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận án (tập 2)
Tác giả: PGS.TS Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2018
34. Mục II các Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do, 1990, Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Quy-tac-cua-Lien-hop-quoc-ve-bao-ve-nguoi-chua-thanh-nien-bi-tuoc-tu-do-1990-275829.aspx, truy cập ngày 14/5/2019 Link
35. Hướng dẫn Riyadh, hướng dẫn số 12, Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Huong-dan-phong-ngua-pham-phap-o-nguoi-chua-thanh-nien-1990-275803.aspx, truy cập ngày 15/5/2019 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm