1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và việc hoàn trả tài sản khi hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

75 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề của hợp đồng như: đề tài luận án tiến sĩ: “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”,

Trang 1

vô cùng quý báu và quan trọng trong học tập cũng như trong cuộc sống

Qua bài viết này, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Luật sư - Thạc sĩ Nguyễn Minh Nhựt giảng viên Khoa Luật đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện Khóa luận tốt nghiệp Trong thời gian thực hiện khóa luận, tôi được trao dồi những kiến thức, thông tin thực tế và rút ra được nhiều kinh nghiệm bổ ích Thời gian thực Khóa luận tuy ngắn nhưng vô cùng quý báu, được sự dìu dắt của Thầy đã giúp đỡ cho tôi hoàn thành bài khóa luận này

Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành trong thời gian hạn chế đồng thời khả năng

có giới hạn của người viết, chắc chắn sẽ có những khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được

sự đánh giá, góp ý của Thầy Luật sư - Thạc sĩ Nguyễn Minh Nhựt để khóa luận được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, tôi xin kính chúc Quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và luôn thành công trong sự nghiệp giảng dạy của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trang 2

ii

LỜI CAM ĐOAN

Là sinh viên lớp 14DLK05, Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khóa luận tốt nghiệp này được chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các trích dẫn trong

ví dụ đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định) ;

Nội dung trong báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình nghiên cứu và thực tế KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, báo cáo khác

Nếu sai sót, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường và Pháp luật

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

LÊ ĐỖ NAM PHƯƠNG

Trang 4

iv

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của khóa luận 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC HOÀN TRẢ TÀI SẢN KHI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 4

1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại 4

1.1.1 Khái quát về hợp đồng kinh doanh thương mại 4

1.1.2 Khái quát hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu 6

1.1.3 Khái quát việc hoàn trả tài sản theo pháp luật Việt Nam 7

1.2 Quy định pháp luật việt nam về Điều kiện có hiệu lực và các trường hợp vô hiệu của hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu 12

1.2.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh thương mại theo pháp luật Việt Nam 12

1.2.2 Các trường hợp vô hiệu của hợp đồng kinh doanh thương mại 13

Kết luận chương 1 38

CHƯƠNG 2: THẨM QUYỀN TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI, TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VỀ VIỆC HOÀN TRẢ TÀI SẢN DO HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 39

2.1 Căn cứ pháp lý, chủ thể có quyền tuyên bố hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu và chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu 39

Trang 5

v

2.2 Quy định pháp luật Việt Nam về trình tự, thủ tục việc tuyên bố hợp đồng

kinh doanh thương mại vô hiệu 44

2.3 Trách nhiệm pháp lý các bên khi hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu 48

2.3.1 Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu (như khi chưa có hợp đồng); hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả 48

2.3.2 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó 49

2.3.3 Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường 50

2.3.4 Hậu quả của giao dịch dân sự do người không đúng thẩm quyền ký kết 55

Kết luận chương 2 59

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VIỆC HOÀN TRẢ TÀI SẢN KHI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ 60

3.1 Thực tiễn việc hoàn trả tài sản khi hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại 60

3.2 Những hạn chế trong việc áp dụng các quy định của BLDS 2015 và các văn bản có liên quan về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại 66

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật 66

Kết Luận 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 6

Công cụ để xác lập quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động thương mại là hợp đồng Do đó, hợp đồng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật để có hiệu lực ràng buộc các bên ký kết, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của những chủ thể kinh doanh chân chính

Bất cứ một vấn đề nào, khi nắm được những kiến thức cơ bản cũng mang lại những lợi ích nhất định Khi có những tranh chấp, rủi ro bất ngờ có liên quan đến hợp đồng và hợp đồng thương mại bị tuyên bố vô hiệu sẽ khó tránh khỏi tổn thất

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về hợp

đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và việc hoàn trả tài sản khi hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại” làm khóa luận tốt nghiệp, mong muốn đem lại cái

nhìn trực quan hơn về việc hoàn trả tài sản khi hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu, đồng thời chỉ ra một số hạn chế và đề xuất nhằm hoàn thiện hơn việc giải quyết các tranh chấp có liên quan đến vấn đề tài sản khi hợp đồng vô hiệu

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề của hợp đồng như:

đề tài luận án tiến sĩ: “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, tác giả Lê Minh Hùng (2010); luận văn thạc sĩ “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu” của tác giả Phan Xuân Tuy (2001); luận văn thạc sĩ “Giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” của tác giả Phạm Ngọc Minh (2006); tóm tắt luận văn thạc sĩ “Hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh thương mại vô hiệu theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Đinh Thị Ngọc Thương (2016);

Ngoài ra còn có các bài báo trên các tạp chí khoa học, hội nghị như “Bàn về hợp đồng vô hiệu do được giao kết bởi người mất năng lực hành vi dân sự qua một vụ án” của Phó giáo sư – Tiến sỹ Đỗ Văn Đại; “Xử lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương

Trang 7

vô hiệu theo quy định của pháp luật nước ta

Đề tài này sẽ có thể giúp hiểu rõ hơn về những biện pháp, chế tài được áp dụng khi xảy ra vấn đề thực hiện không đúng hợp đồng

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại 2005 về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và việc hoàn trả tài sản khi hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại Về phạm vi nghiên cứu, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận quy định pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu trong BLDS 2005, BLDS 2015, LTM 2005 và các văn bản liên quan khác Đề tài nghiên cứu giữa các chủ thể trong nước, không có yếu tố nước ngoài và nghiên cứu trong phạm

vi cả nước

4 Phương pháp nghiên cứu

Với những yêu cầu đặt ra từ đề tài này, khóa luận tốt nghiệp sử dụng phổ biến các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích,so sánh làm phương pháp nghiên cứu chính

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của khóa luận gồm có bốn chương:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và việc

hoàn trà tài sản khi hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

Chương 2 Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại và

trách nhiệm pháp lý về việc hoàn trả tài sản do hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

Chương 3 Thực tiễn việc hoàn trả tài sản khi hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh

thương mại và một số kiến nghị cụ thể

Trang 8

3

Trang 9

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH

THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC HOÀN TRẢ TÀI SẢN KHI HỢP ĐỒNG

VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái quát về hợp đồng kinh doanh thương mại

Khái niệm hợp đồng kinh doanh thương mại

Từ xa xưa đến nay, nhìn nhận một cách khách quan, con người chúng ta tồn tại nhờ vào rất nhiều yếu tố như môi trường, Điều kiện tự nhiên, sự tiến hóa về não bộ,… nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận một Điều kiện chủ quan khác rằng, chúng ta tồn tại là nhờ có sự tương tác, tham gia vào các mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau Xuất phát

từ những nhu cầu thiết yếu và sự phát triển của xã hội, các cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ, khái niệm “giao dịch” xuất hiện trong đời sống

xã hội Để thỏa mãn quy luật phát triển không ngừng của cuộc sống, con người nhận ra cần phải quan tâm và thúc đẩy sự phát triển của các “giao dịch” này, từ đó xuất hiện, hình thành nên khái niệm “hợp đồng” Nói cách khác, “hợp đồng” là một trong những chế định ra đời sớm nhất trong hệ thống pháp luật, gắn bó với con người từ thuở sơ khai

và là cách hiểu tiến bộ của khái niệm “giao dịch”

Ngày nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con người thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu trong đời sống xã hội Tuy vậy, trong lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra một thuật ngữ chính xác, như thuật ngữ

“hợp đồng” đang được sử dụng ở nhiều quốc gia hiện nay là việc không mấy dễ dàng Nhiều quốc gia cho rằng thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) hình thành từ động từ

“contrahere” trong tiếng La- tinh, có nghĩa là “ràng buộc” , và xuất hiện lần đầu ở La Mã vào khoảng thế kỷ V-IV trước công nguyên

“Hợp đồng là một cam kết giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân) để làm hoặc không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật Hợp đồng thường gắn liền với dự án, trong

đó một bên thỏa thuận với các bên khác thực hiện dự án hay một phần dự án cho mình

Và cũng giống như dự án, có dự án chính trị xã hội và dự án sản xuất kinh doanh, hợp đồng có thể là các thỏa ước dân sự về kinh tế (hợp đồng kinh tế) hay xã hội”.1

Từ đây, chúng ta có thể hiểu khái niệm “hợp đồng” một cách chung nhất như sau: hợp đồng là một hay nhiều thỏa thuận của hai hay nhiều bên tham gia giao dịch, khi đó,

1 [Từ điển tiếng Việt] https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%A3p_%C4%91%E1%BB%93ng

Trang 10

Qua đó, ta có thể hiểu kinh doanh thương mại là sự đầu tư tiền của, công sức của một cá nhân hay một tổ chức vào việc mua bán hàng hoá đó nhằm mục đích kiếm lợi nhuận Kinh doanh thương mại là lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp trong khâu lưu thông hàng hoá Là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, kinh doanh thương mại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Triết học Marx – Lenin cho rằng, có hai công thức tiêu biểu cho sự lưu thông hàng hóa trong kinh doanh thương mại là “hàng - tiền - hàng” và “tiền - hàng - tiền”

Pháp luật thương mại Việt Nam không quy định cụ thể như thế nào là một hợp đồng kinh doanh thương mại

Dựa vào các yếu tố đã phân tích, ta có thể hiểu hợp đồng kinh doanh thương mại là: sự thỏa thuận để thực hiện các hoạt động thương mại giữa hai hay nhiều chủ thể tham gia Chủ thể tham gia có thể là cá nhân, tổ chức với nhau, nhưng ít nhất phải có một bên

là thương nhân Qua đó, các bên tham gia xác lập quyền và nghĩa vụ ràng buộc với nhau, thực hiện các công việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi

Hiện nay, ta có một số loại hợp đồng điển hình trong hoạt động thương mại: hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại ( hợp đồng đại lý, hợp đồng gia công, …) Và trong thực tế còn có rất nhiều loại hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại khác trong các hoạt động tư vấn, vận tải, tài chính, bưu chính viễn thông, du lịch, giáo dục, giải trí…

Đặc điểm hợp đồng kinh doanh thương mại

Hợp đồng kinh doanh thương mại có những đặc điểm của các hợp đồng trong hoạt động kinh doanh nói chung và có những đặc điểm riêng của các hoạt động thương mại:

- Chủ thể của hợp đồng: thương nhân hoặc một bên là thương nhân Thương nhân

là tổ chức kinh tế, cá nhân có đăng ký kinh doanh và tiến hành hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập Trong trường hợp thương nhân là người nước ngoài sẽ được đặt Văn phòng đại diện, Chi nhánh tại Việt Nam, thành lập tại Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam quy định

Trang 11

6

Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo khoản 3 Điều 1 LTM 2005, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng luật thương mại

- Hình thức của hợp đồng: có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Thông điệp dữ liệu cũng được coi là hình thức văn bản

- Mục đích của hợp đồng: nhằm sinh lợi Sinh lợi được hiểu là tìm lợi nhuận (không nhất thiết phải có lợi nhuận) Mục đích lợi nhuận luôn được thể hiện hàng đầu trong các hợp đồng thương mại

- Nội dung của hợp đồng: xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ

cụ thể khi tiến hành hoạt động thương mại Khái niệm hoạt động thương mại theo LTM

2005 đều có sự mở rộng của hầu hết các lĩnh vực kinh doanh

- Đối tượng của hợp đồng

Hợp đồng kinh doanh thương mại có đối tượng là hàng hóa được phép giao dịch “Theo nghĩa thông thường có thể hiểu hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, được tạo

ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người” 2 Bên cạnh đó, theo LTM 2005 hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại

1.1.2 Khái quát hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu

Khái niệm hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu

Vô hiệu là “Không có hiệu lực, không mang lại kết quả; trái với hữu hiệu” 3 Theo cách hiểu này, hợp đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng không có giá trị (hiệu lực) về mặt pháp lý, không được pháp luật công nhận Do đó, nó không làm phát sinh hậu quả pháp

lý mà các bên mong muốn

“Vô hiệu là không thể phát sinh ra một hiệu lực nào Nếu trong sự kết lập mà các Điều kiện hình thức cũng như về nội dung không được tôn trọng, khế ước đó phải được coi như không được kết lập và vì vậy không thể phát sinh một hiệu lực nào cả”4

2 Nguyễn Viết Tý (chủ biên), Giáo trình Luật Thương Mại, tập 2, Nxb Công an nhân dân

3 Theo tudien.com, http://www.xn t-in-1ua7276b5ha.com/v%C3%B4%20hi%E1%BB%87u

4 Trần Trúc Linh, Danh từ pháp luật lược giả, NXB Khai Trí, trang 750

Trang 12

7

Mặc dù hệ thống pháp luật Điều chỉnh về lĩnh vực kinh doanh thương mại ngày càng được hoàn chỉnh nhưng cho đến nay, LTM vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu Với một khái niệm mà luật chuyên ngành không quy định cụ thể như trên, ta sử dụng phương pháp: luật chuyên ngành không quy định thì sử dụng luật nền tảng làm quy định Do đó, khái niệm về hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu sẽ dùng quy định của hợp đồng dân sự vô hiệu theo khoản 1 Điều

407 BLDS 2015

Đặc điểm hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu

- Một là, hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu phải là những hợp đồng vi phạm một trong các Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

- Hai là, hợp đồng kinh doanh thương mại vi phạm Điều kiện có hiệu lực có thể bị tuyên bố vô hiệu hoặc không bị tuyên bố vô hiệu

- Ba là, hợp đồng kinh doanh thương mại bị tuyên bố vô hiệu không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa các bên

1.1.3 Khái quát việc hoàn trả tài sản theo pháp luật Việt Nam

Khái niệm và đặc điểm của việc hoàn trả tài sản theo pháp luật dân sự Việt

hư hỏng thì phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.6

Tài sản ở đây được hiểu theo tinh thần của Điều 105 BLDS 2015:

- Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

Trang 13

đó phải chiếm giữ được; vật đó có thể dùng trong quan hệ dân sự, có giá trị trao đổi, thanh toán,…

Ngoài ra, khi xem xét tài sản là vật cần xác định quan hệ cụ thể mà vật đó tham gia vào Ví dụ như tờ séc, giấy chứng nhận cổ phiếu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,… đều là những vật hữu hình, đều là tài sản Nhưng những tờ giấy séc, giấy chứng nhận cổ phiếu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… không được xem dưới góc độ tài sản là vật,

mà chủ yếu xem xét chúng ở nội dung ghi nhận quyền tài sản trong từng loại giấy tờ này + Giấy tờ có giá

Quay lại vấn đề với các loại giấy tờ như séc, giấy chứng nhận cổ phiếu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,… được gọi chung là giấy tờ có giá BLDS 2015 không định nghĩa cụ thể giấy tờ có giá là gì mà chỉ nêu giấy tờ có giá là một loại tài sản Theo khoản

8 Điều 6 Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010; khoản 1 Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN về quỹ tín dụng nhân dân và khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN quy định về chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với

tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, quy định: “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, Điều kiện trả lãi và các Điều kiện khác"

Giấy tờ có giá gồm “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của

Trang 14

- Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp

- Qua đó ta có thể nói, giấy tờ có giá là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Qua việc liệt kê như trên, giấy tờ có giá chia làm hai loại:

- Giấy tờ có giá ngắn hạn có thời hạn dưới một năm gồm các loại giấy tờ như

kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác;

- Giấy tờ có giá dài hạn có thời hạn từ một năm trở lên như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và giấy tờ có giá dài hạn khác

Các hình thức phát hành giấy tờ có giá như: ghi sổ/ ghi danh hoặc vô danh

Theo quy định của pháp luật hiện hành, giấy tờ có giá được coi là tài sản phải thỏa mãn những Điều kiện sau:

- Phải được lập theo hình thức, trình tự nhất định;

- Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá thể hiện giá trị quyền tài sản, quyền tài sản

và được pháp luật bảo vệ;

Trang 15

10

Nhắc đến tài sản, ta không thể không nhắc đến tiền Xưa kia, khi xã hội loài người còn chưa biết đến tiền tệ thì các quan hệ giao lưu hàng hoá được thực hiện thông qua phương thức trao đổi, vật đổi lấy vật Xã hội càng ngày càng phát triển thì việc trao đổi

đó ngày càng khó thực hiện hơn và không đáp ứng được nhu cầu giao dịch ngày càng tăng của xã hội Thực trạng khó khăn đó làm phát sinh đòi hỏi phải tìm ra được một công

cụ trao đổi đa năng, hữu hiệu giúp cho việc giao dịch được thực hiện dễ dàng hơn Công

cụ trao đổi đa năng đó phải đáp ứng được ba Điều kiện là: phải có giá trị, mang lại lợi ích nào đó cho con người, phải mang tính thông dụng và cuối cùng là dễ dàng tích trữ Qua các tài liệu thời Nhà nước La Mã để lại cho chúng ta thấy được rằng dưới thời tiền khởi của xã hội La Mã cổ đại thì công cụ trao đổi đa năng được dùng là các gia súc, gia cầm phổ biến nuôi trong nhà Qua một thời gian dài dùng gia súc, gia cầm làm vật trao đổi đa năng, người ta đã dần nhận ra một số những nhược điểm nhất định của thứ công

cụ trao đổi này Dần dần công cụ gia súc, gia cầm đó được thay thế bằng một công cụ khác tiện dụng hơn – đó là kim loại Để đảm bảo tính chính xác và thuận tiện hơn cho các chủ thể khi thực hiện các giao dịch, Nhà nước bắt đầu phải can thiệp vào bằng việc đúc sẵn những thỏi kim loại giống nhau, có dấu hiệu riêng của Nhà nước và chất lượng được nhà nước bảo đảm – đó là hình thức đầu tiên của tiền Tiền bắt đầu được chính thức

ra đời từ đây Nói cách khác, các công cụ trao đổi đa năng chỉ được coi là “tiền” từ khi

có sự can thiệp của Nhà nước lên chúng

Tiền được nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học khác nhau như: kinh tế - chính trị, tài chính – ngân hàng, triết học,… Theo kinh tế học thì tiền tệ là tiền khi xét tới chức năng là phương tiện thanh toán, là đồng tiền được luật pháp quy định để trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền kinh tế Theo quan điểm triết học Marx – Lenin, tiền là hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác

Xét về bản chất, tiền cũng là vật nhưng điểm đặc biệt của nó là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản Trước đây, khi BLDS năm 1995 ban hành, tiền được quy định chỉ là Việt Nam đồng nhưng đến BLDS năm 2005, tiền được hiểu là Việt Nam đồng và ngoại tệ Quy định này tạo được sự phù hợp hơn ở góc

độ thực tiễn và pháp luật chuyên ngành đã ban hành trước và sau đó Pháp luật Việt Nam coi tiền là một loại tài sản độc lập trong bốn loại tài sản được liệt kê tại Điều 105 BLDS năm 2015 Tuy vậy, trải qua các thời kỳ kinh tế, mỗi quốc gia phát hành những loại tiền khác nhau nhằm đảm bảo chính sách về kinh tế, chính trị… Theo cách nói của pháp luật dân sự Việt Nam thì tiền ở đây bao gồm tiền đồng Việt Nam và các ngoại tệ nhưng ngoại

tệ chỉ được dùng trong thanh toán, lưu thông trong các trường hợp pháp luật cho phép chứ không được tự do lưu thông như đồng tiền Việt Nam Thực tế, những loại tiền đó,

Trang 16

11

tức ngoại tệ vẫn được coi là tiền về cách gọi thông thường nhưng dưới góc độ pháp lý

nó tồn tại dưới dạng vật Vì khi tài sản tồn tại dưới dạng tiền sẽ phải thỏa mãn hai thuộc tính: có giá trị lưu hành và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát hành Tiền được coi là tài sản khi nó đang có giá trị lưu hành Sở dĩ, tiền được coi là tài sản thuộc quyền

sở hữu bởi nó là phương tiện dùng để thanh toán, là đối tượng trong các quan hệ hợp đồng, bồi thường thiệt hại

Lẽ đương nhiên là các bên tham gia giao dịch phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, còn đối với người bị hạn chế năng lực hành vi hoặc bị mất năng lực hành vi thì phải có người đại diện phù hợp với quy định của pháp luật Nguyên tắc các bên tham gia giao dịch trên cơ sở tự nguyện đã tồn tại ở pháp luật của tất cả các nước trên thế giới Ở Việt Nam, nguyên tắc trên được ghi nhận ở các văn bản pháp luật như: BLDS, Luật lao động,… Chế tài trong giao dịch dân sự mang tính bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt Pháp luật phần lớn trên thế giới hiện nay đều xây dựng các chế định trong giao dịch dân

sự trên nguyên tắc tự do thỏa thuận, tự do cam kết và xác định chế tài Nội dung của giao dịch không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội Trong giao dịch, các bên tham gia đều nhằm vào một mục đích nhất định và mong muốn đạt được mục đích của mình, do

đó các chủ thể có quyền đặt ra những yêu cầu, cam kết phù hợp với ý chí của mình Tuy nhiên các cam kết đó không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội bởi lẽ pháp luật

8 Điều 115 BLDS năm 2015

9 Theo từ điển Tiếng Việt https://vi.wikipedia.org/wiki/Quy%E1%BB%81n

Trang 17

12

được đặt ra nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội Việc hoàn trả tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam có đặc điểm là một vật được chủ sở hữu chuyển giao cho một người, nhưng có thể người đó không vừa ý hoặc có vấn đề trong việc thỏa thuận trao đổi mà người đó lại hoàn trả lại cho người chủ sở hữu của vật

Khái niệm và đặc điểm của việc hoàn trả tài sản do hợp đồng kinh doanh

thương mại vô hiệu

Khái niệm việc hoàn trả cũng tương tự như với khái niệm việc hoàn trả tài sản trong hợp đồng dân sự thông thương Nhưng điểm khác biệt cần lưu ý ở đây là tài sản hoàn trả là tài sản như thế nào ? Chúng ta đã biết, đối tượng của một hợp đồng kinh doanh thương mại là một loại hàng hóa, và hàng hóa đó phải sinh lợi Theo khoản 2 Điều

3 LTM 2005 hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại

Đặc điểm việc hoàn trả tài sản khi hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu cũng tương tự với đặc điểm của việc hoàn trả tài sản trong hợp đồng dân sự thông thường Bên cạnh đó, chủ thể hoàn trả tài sản trong hợp đồng kinh doanh thương mại này bắt buộc một trong hai bên phải là thương nhân

1.2 Quy định pháp luật việt nam về Điều kiện có hiệu lực và các trường hợp vô

hiệu của hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu

1.2.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh thương mại theo pháp luật

Việt Nam

Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu chính là bản chất của hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh thương mại tuân theo các quy định của BLDS 2015 Một giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các Điều kiện10 sau đây: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Bên cạnh đó, hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định

Theo đó có thể xác định, một hợp đồng kinh doanh thương mại có hiệu lực khi có

đủ các điều kiện sau đây:

10 Điều 117 BLDS 2015

Trang 18

13

- Một là, chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành

vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Ngoài năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, trong thực tiễn hoạt động mua bán, chủ thể tham gia hợp đồng chủ yếu là thương nhân Do đó, khi tham gia hợp đồng mua bán nhằm mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán

- Hai là, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

- Ba là, sự tự nguyện của các chủ thể, trong giao kết hợp đồng các bên phải hoàn toàn tự nguyện đó là tự do ý chí nhằm bảo đảm hiệu lực của hợp đồng trên thực tế phù hợp với ý chí đích thực của các bên Nếu khác đi thì không còn là hợp đồng

- Bốn là, hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật (nếu pháp luật có quy định) Hợp đồng kinh doanh thương mại được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Theo đó, đối với những trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được lập bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương thì các bên phải tuân thủ các quy định của pháp luật Nếu các bên không lập bằng văn bản thì đó có thể được coi là căn cứ tuyên bố hợp đồng vô hiệu

1.2.2 Các trường hợp vô hiệu của hợp đồng kinh doanh thương mại

Phân loại hợp đồng vô hiệu

Phân loại hợp đồng vô hiệu là việc chia hợp đồng dân sự vô hiệu thành những nhóm theo những tiêu chí nhất định với những mục đích nhất định, nhằm có cách nhìn toàn diện về hợp đồng dân sự vô hiệu theo những khía cạnh, phương diện khác nhau, từ đó xác định căn cứ cho việc xác định các chế tài, cũng như đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp đối với từng trường hợp vô hiệu

 Căn cứ vào tính chất trái pháp luật dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng, hợp đồng vô

hiệu được chia thành vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối

Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối (hay còn gọi là đương nhiên vô hiệu): Vô hiệu không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Những trường hợp vô hiệu này thường do nó xâm hại đến lợi ích công cộng Các dạng thường gặp của hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là các hợp đồng có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, hợp đồng giả tạo, vi phạm về hình thức của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định

Trang 19

Ở Việt Nam, khoa học pháp lý có quan điểm phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối Tuy nhiên trong Điều 132 BLDS 2015, sự phân biệt này rất

mờ nhạt, ngoại trừ quy định về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu:

- Những hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối có thời hiệu tuyên bố vô hiệu không hạn chế như: Hợp đồng có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; Hợp đồng dân sự do giả tạo

- Các trường hợp vô hiệu tương đối thông thường có thời hạn được giới hạn là 2 năm kể từ ngày:

+ Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

+ Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

+ Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

+ Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

+ Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức (hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức có thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu là 2 năm, nhưng được xếp vào vô hiệu tuyệt đối) Hiện nay, trong lý luận cũng như trong thực tiễn chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn thật rõ ràng để phân biệt hợp đồng vô hiệu tương đối và hợp đồng vô hiệu tuyệt đối Tuy nhiên thông qua các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu ta có thể thấy rõ hợp đồng dân

sự vô hiệu tương đối - có thể bị vô hiệu căn cứ vào ý chí của chính các bên trong quan

hệ hợp đồng

 Căn cứ vào mức độ của sự vô hiệu, hợp đồng vô hiệu được phân chia thành vô

hiệu toàn bộ và vô hiệu từng phần

Trang 20

15

Pháp luật dân sự Việt Nam có quy định “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”.11 Ví dụ: công ty A và công ty B ký kết hợp đồng giao nhận hàng hóa, địa điểm giao hàng tại cảng C nhưng do người giao hàng lại đưa hàng tới cảng

D gần đó Trong trường hợp này hợp đồng vô hiệu từng phần do vi phạm về địa điểm giao nhận hàng hoá nhưng không ảnh hưởng tới hiệu lực của những phần khác như (chất lượng sản phẩm, thời gian thực hiện…)

Trong hợp đồng vô hiệu từng phần, chỉ những phần hợp đồng vi phạm bị vô hiệu, không ảnh hưởng đến hiệu lực của toàn bộ hợp đồng Nói cách khác, khi hợp đồng được xác định là vô hiệu từng phần thì hợp đồng vẫn tồn tại và có hiệu lực Hợp đồng vô hiệu toàn bộ được xác định khi các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng không được đảm bảo, làm cho toàn bộ hợp đồng không có hiệu lực Trường hợp vô hiệu toàn phần khi: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội Trong trường hợp này toàn bộ nội dung của hợp đồng bị vô hiệu Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từng phần

Hợp đồng kinh doanh thương mại vô hiệu trong các trường hợp cụ thể

Ngoài việc phải thỏa mãn các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng,12 các hợp đồng kinh doanh thương mại không được vi phạm một trong các trường hợp quy định từ Điều 123 đến Điều 129 BLDS 2015 như sau:

- Vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

- Vô hiệu do giả tạo

- Vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

- Vô hiệu do bị nhầm lẫn

- Vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

- Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi

- Vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

11 Điều 130 BLDS 2015

12 Điều 117 BLDS 2015

Trang 21

Để xác định khả năng tham gia giao dịch dân sự của một các nhân, pháp luật nước ta

căn cứ vào độ tuổi cá nhân: “Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên”16

và “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”.17

- Năng lực hành vi dân sự của người thành niên18 là năng lực hành vi đầy đủ, trừ trường hợp pháp luật quy định người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong việc nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người hạn chế năng lực hành vi dân sự Qua

đó, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người được pháp luật cho phép tự do giao kết dân sự theo quy định của pháp luật, không bị hạn chế

- Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là người có năng lực hành vi dân sự hạn chế.19 Hạn chế ở đây thể hiện ở chỗ những cá nhân đó khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự đòi hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, nếu không có sự đồng ý của người này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ giao dịch nhỏ phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi Điều này có nghĩa tùy theo từng loại hay nhóm quan hệ dân sự mà người chưa thành niên có thể tự do hoặc thông qua người đại diện để tham gia giao dịch

- Người chưa đủ 6 tuổi là người không có năng lực hành vi dân sự,20 mọi giao dịch của họ đều do người đai diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Điều đó có nghĩa là họ không thể tự mình tham gia vào bất kỳ giao dịch dân sự nào

- Một quy định ngoại lệ của BLDS 2015 “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định

Trang 22

17

của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”.21 Quy định này phù hợp với

quy định của Luật lao động 2012 nước ta: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, Điều hành của người sử dụng lao động”.22

Căn cứ vào khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cũng như khả năng thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân, pháp luật nước ta quy định:

- Người mất năng lực hành vi dân sự là người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền lợi, lợi ích liên quan mà Tòa án ra tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự dựa trên kết luận cúa giám định pháp y tâm thần Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc người có quyền lợi, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22 BLDS 2015

- Ngoài ra, điểm mới của BLDS 2015 là đã ghi nhận, người mắc các bệnh khác bệnh tâm thần như bệnh viêm màng não, già yếu lú lẫn, không hiểu và làm chủ được hành vi của mình, được xem là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, theo Điều 23 Bộ luật này Nhóm người này khi tham gia giao dịch dân sự sẽ gây hại đến quyền lợi, lợi ích bình thường của chính cá nhân người đó hay người khác, vì vậy theo yêu cầu của chính người đó, người có quyền lợi, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong việc nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ, trên cơ sở kết luật giám định pháp y tâm thần Cũng như quy định người mất năng lực hành vi dân sự, khi không còn căn cứ cho rằng người đó là người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của người đó, theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền lợi, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan

- Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tài sản của gia đình và bị Toàn án tuyên bố là người hạn chế năng lực hành vi dân sự khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan Khi đó, Tòa án cũng quyết định người đại diện theo pháp luật của cá nhân này và phạm vi đại diện Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị tuyên là người hạn

21 Khoản 4 Điều 21 BLDS 2015

22 Khoản 1 Điều 3 Luật lao động 2012

Trang 23

18

chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày như ăn uống, mặc, học hành,… hoặc luật liên quan có quy định khác Khi không còn căn cứ cho rằng đây là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền lợi, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự của người đó, theo Điều 24 BLDS 2015

 Giao dịch dân sự vô hiệu do người tham gia giao dịch không tự nguyện

Trong giao dịch dân sự, yếu tố tự nguyện đóng vai trò vô cùng quan trọng, có thể nói

là yếu tố đặc trưng của pháp luật dân sự nói chung và giao dịch dân sự nói riêng, là căn

cứ các chủ thể xác lập một giao dịch làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Ý chí

tự nguyện của chủ thể là tiền đề quan trọng để hình thành giao dịch, nhưng chỉ giao dịch hợp pháp, được pháp luật công nhận mới phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự trên thực tế

Vì lẽ đó, yếu tố tự nguyện là một trong bốn điều kiện cơ bản không thể thiếu trong giao

dịch dân sự được cho là hợp pháp là “chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”.23

Để xác định một chủ thể tham gia giao dịch có hoàn toàn tự nguyện hay không, thì Điều kiện cần là được pháp luật cho phép tham gia giao dịch dân sự và Điều kiện đủ là hành vi tham gia giao dịch của các chủ thể phải thể hiện ý chí đích thực của chủ thể tham gia trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt được mục đích nhất định Điều kiện cần

để “một người” tham gia vào một giao dịch dân sự một các tự nguyện, thì người đó phải

có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự như đã phân tích ở mục trên BLDS

2015 tuy không có quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng như BLDS 2005, nhưng

lại có quy định về nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm Điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.24 Khi chủ thể tham lập một giao dịch dân sự, thì yêu cầu đầu tiên của pháp luật dân sự là các chủ thể đó phải tự do và tự nguyện Sự tự nguyện của các bên trong giao dịch dân sự được thể hiện ở việc các bên tham gia giao dịch có quyền tự do ý chí và bình đẳng ý chí Chỉ có tự do và không có bất kỳ sự ràng buộc nào, thì chủ thể mới đích thực được tự nguyện thỏa thuận Các bên phải được biểu lộ ý chí bên ngoài, không bị áp lực bởi bất cứ một lý do nào như: bị khống chế, bị đe dọa, bị cưỡng ép, bị lừa dối,… Nếu trong trường hợp ý chí của chủ thể tham gia giao dịch bị áp đặt, cấm đoán bởi tác động

23 Điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015

24 Điều 3 BLDS 2015

Trang 24

19

của người khác hoặc ngoại cảnh để dẫn đến chủ thể tham gia giao dịch không thể hiện thực sự được ý chí của mình trong giao dịch dân sự thì họ hoàn toàn có quyền không chấp nhận giao dịch đó, họ có thể tự mình hoặc yêu cầu Tòa án hủy bỏ giao dịch

Trong giao dịch dân sự, tự do ý chí có nghĩa là chủ thể tham gia giao dịch có quyền:

- Quyền tự do ý chí về việc ký kết hợp đồng với ai, với nội dung gì và có nghĩa vụ ràng buộc với các chủ thể tham gia;

- Quyền tự do tổ chức, thực hiện giao dịch theo ý muốn của các chủ thể như: thời gian, địa điểm thực hiện, phương thức thực hiện, Điều kiện thực hiện giao dịch,…

- Quyền tự do lựa chọn hình thức giao dịch như: bằng văn bản, bằng lười nói hay bằng hành động, trừ trường hợp có quy định giao dịch nào phải tuân theo một hình thức nhất định

Yếu tố bình đẳng: chủ thể tham gia giao dịch bình đẳng với nhau, không được lấy bất kỳ

lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân

và tài sản

Sự tự nguyện trong giao dịch còn thể hiện ở việc không bị lừa dối hay đe dọa,… Các bên

có quyền thể hiện ý chí chấp nhận hay không chấp nhận điều kiện của giao dịch Mọi sự tác động làm cho việc biểu lộ ý chí không phù hợp với mong muốn đích thực của các chủ thể đều bị coi là vi phạm điều kiện tự nguyện

 Giao dịch dân sự vô hiệu do mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều

cấm của luật, trái với đạo đức xã hội

Trong giao dịch dân sự, sự tự do thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch là nguyên tắc cơ bản, đặc trưng và được pháp luật thừa nhận, nhưng không phải tự do đó

là vô tận và không có sự hạn chế của pháp luật trong trường hợp vì lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, thì tự do ý chí của các chủ thể có thể bị hạn chế nhất định Sự hạn chế

đó là quy định “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.25

Theo tratu.soha,26 “mục đích” có thể hiểu là “cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được” Trong pháp luật dân sự Việt Nam thì mục đích của giao dịch dân sự được hiểu là

lợi ích mà các bên tham gia giao dịch đã vạch sẵn ra cho mình và mong muốn đạt được khi tham gia giao dịch Để xác định được mục đích của các chủ thể tham gia giao dịch ngoài việc dựa vào yếu tố chủ quan còn phải dựa vào yếu tố khách quan khi xác lập giao

25 Điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015

26 Theo tratu.soha http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/M%E1%BB%A5c_%C4%91%C3%ADch

Trang 25

20

dịch như: khi tham gia giao dịch có thể hiện được ý muốn đích thực của họ không, có bị nhầm lẫn, lừa dối hay đe dọa và phù hợp với các nguyen tắc, đối tượng của pháp luật dân sự và có phù hợp với lợi ích chung của xã hội hay không…

“Nội dung” theo Wikipedia27 là “phạm trù chỉ tổng hợp tất cả những mặt, những yếu

tố, những quá trình tạo nên sự vật” Trong giao dịch dân sự, nội dung được hiểu theo

nghĩa rộng là tất cả các Điều kiện liên quan đến giao dịch như Điều kiện về đối tượng,

số lượng, về giao dịch có Điều kiện hoặc các nguyên tắc của giao dịch,… Còn theo nghĩa hẹp, nội dung được hiểu là tổng hợp các Điều khoản mà các bên thỏa thuận hoặc tuyên

bố nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Mục đích, nội dung của giao dịch dân sự là sự thể hiện hành vi có ý thức của con người khi xác lập, thực hiện giao dịch, được pháp luật công nhận và bảo vệ Do vậy, nó

là Điều kiện cần và đủ của mọi giao dịch dân sự Khi đánh giá một giao dịch dân sự có Điều kiện pháp luật hay không, trong thực tiễn, ngoài việc xét các nội dung còn phải xem xét đến mục đích của giao dịch có trái pháp luật và đạo đức hay không Mục đích

và nội dung của giao dịch là hai yêu cầu cần và đủ trong một giao dịch vì có những trường hợp, tuy nội dung không trái với pháp luật, đạo đức xã hội nhưng mục đích của giao dịch lại trái với pháp luật và ngược lại

“Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định”28 Pháp luật Xã hội chủ nghĩa được hiểu là ý chí của nhân dân lao động được đề lên thành luật, phù hợp với Điều kiện kinh tế xã hội Trong đó chứa những quy phạm hành vi do Nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo, nhằm Điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội Vì vậy tính không trái pháp luật là không trái với hệ thống pháp luật Ngành luật dân sự cũng như các ngành luật khác như luật hình sự, luật lao động, luật hành chính,… đều đặt trong một hệ thống pháp luật thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ trợ cho nhau nhằm đạt được mục đích chung của Nhà nước và xã hội Cho nên dù các ngành luật có Điều chỉnh các quan

hệ xã hội khác nhau, nhưng đều chịu sự tác động và Điều chỉnh bởi một số nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa như nguyên tắc thống nhất quyền và nghĩa

vụ, nguyên tắc công bằng… Các nguyên tắc này đã được ghi nhận ở Hiến pháp nước ta Hiểu theo nghĩa này thì mọi công dân có quyền được phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, không được làm những gì mà pháp luật không cho phép

27 TheoWikipedia

https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_dung_v%C3%A0_h%C3%ACnh_th%E1%BB%A9c_( Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Marx-Lenin)

28 Điều 123 BLDS 2015

Trang 26

21

Như vậy, các thỏa thuận trái pháp luật ở đây được hiểu là các thỏa thuận mà mục đích và nội dung vi phạm các quy định của pháp luật dân sự Trái pháp luật ở đây không chỉ là trái với pháp luật mà còn trái với các văn bản pháp luật khác hoặc trái với chính sách Nhà nước như: Không được trái với nguyên tắc của giao dịch dân sự hoặc các văn bản pháp luật khác, ví dụ như: trong trường hợp pháp luật dân sự không quy định cụ thể

về nội dung giao dịch, các bên có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhưng không được trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật về dân sự

Khi những giao dịch vi phạm Điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội thì đều bị vô hiệu tuyệt đối, tài sản và hoa lợi, lợi tức đều bị tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước

Trong pháp luật dân sự, cũng tại Điều 123, tuy có quy định về khái niệm đạo đức

xã hội, nhưng hiện nay chúng ta chưa có một văn bản pháp luật chính thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết về việc này Đạo đức co thể được hiểu là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Như vậy, chúng ta có thể thấy đạo đức xã hội

là những chuẩn mực xã hội, xử sự được xã hội thừa nhận và nó thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử nhất định, phụ thuộc vào Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và nó có một

số yếu tố sau:

- Nội dung của nó nói lên cái thiện - ác trong quan hệ giữa con người với con người;

- Đạo đức xã hội là môt hệ thống các tiêu chuẩn, chuẩn mực được hình thành trong đời sống con người đối với cộng đồng, được mọi người thừa nhận thành quy tắc sử xự chung Những quy ước này phù hợp với Điều kiện kinh tế, chính tri, xã hội của đất nước Tuy nó không ghi thành văn bản nhưng có ý nghĩa trong việc duy trì trật tự xã hội, hướng hành vi của cá nhân, của cộng đồng con người trong việc hành xử trong các mối quan hệ

xã hội tới cái thiện, sự công bằng, bình đẳng cho xã hội và lên án những hành vi trái với đạo đức xã hội

- Đạo đức xã hội được mọi người tự giác thực hiện, không có sự cưỡng chế, bị lên

án bằng dư luận, tập quán xã hội

- Đạo đức xã hội thay đổi theo bề dài lịch sử, thay đổi theo các yếu tố kinh tế, chính trị, tôn giáo,…

Có thể so sánh đôi nét giữa quy phạm pháp luật và đạo đức xã hội như sau: pháp luật do Nhà nước ban hành, có tính chất giai cấp và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Còn đạo đức xã hội được hình thành tự phát, được cộng đồng con người chấp nhận, được thừa nhận chung, được duy trì đảm bảo bằng

dư luận xã hội và không có tính cưỡng chế thực hiện Tuy những quy phạm pháp luật và

Trang 27

22

đạo đức xã hội có sự khác nhau nhưng có thuộc tính chung là tính quy phạm phổ biến, được áp dụng chung cho tất cả mọi người Trong quá trình giải quyết các tranh chấp thì quy phạm pháp luật luôn được ưu tiên áp dụng trước, trường hợp không có quy phạm pháp luật Điều chỉnh thì mới áp dụng các chuẩn mực về đạo đức Nếu các chuẩn mực về đạo đức được Nhà nước thừa nhận thì sẽ trở thành quy phạm pháp luật

Tóm lại, thực tiễn xem xét giao dịch dân sự có vi phạm Điều cấm của pháp luật

và trái với đạo đức xã hội cho thấy, các nhà thực thi pháp luật thường xem xét đến những vấn đề cụ thể như:

- Giao dịch dân sự có vi phạm Điều cấm của pháp luật hoặc đã xâm hại đến trật tự công cộng chưa;

- Nội dung của giao dịch, có xâm phạm tập quán hoặc luật pháp kinh tế không;

- Phần nội dung bất hợp pháp của giao dịch có thể tách ra khỏi những nội dung còn lại hay không;

- Những nội dung bất hợp pháp của giao dịch đã gây ra hậu quả hay chưa, nếu đã gây hậu quả, cần cân nhắc giải quyêt như thế nào cho vừa đúng pháp luật nhưng lại vừa phù hợp thực tiễn

Khi đã xem xét toàn bộ các yếu tố này, xác định giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì tuyên bố giao dịch đó vô hiệu và các bên tham gia phải chịu những chế tài nhất định Chế tài này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên tham gia

 Giao dich dân sự vô hiệu do vi phạm về mặt hình thức

Hình thức của giao dịch dân sự được tách ra thành một điều khoản riêng, như một

trường hợp đặc biệt “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.29

“Hình thức” theo Wikipedia là “toàn thể những gì nói chung làm thành mặt bề ngoài của sự vật, cái chứa đựng nội dung”.30 Đặc điểm chung của giao dịch dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí phải được trình bày dưới một hình thức nhất định phù hợp với

ý chí đích thực của các bên như: bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi được ghi nhận dưới những dạng nhất định để biểu lộ sự tồn tại của giao dịch dân sự Thông qua các hình thức

đó, mọi người có thể thấy được các bên tham gia giao dịch đã cam kết thỏa thuận những

29 Khoản 2 Điều 117 BLDS 2015

30 TheoWikipedia

https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%99i_dung_v%C3%A0_h%C3%ACnh_th%E1%BB%A9c_( Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Marx-Lenin)

Trang 28

23

gì Trong một số trường hợp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể kiểm tra, kiểm soát được tính hợp pháp hay không hợp pháp của giao dịch đó và đồng thời là chứng cứ quan trọng trong tố tụng dân sự Vì trong trường hợp cần thiết, nó là bằng chứng cụ thể

mô tả lại các nội dung và lý trí mà các chủ thể tham gia giao dịch đã xác lập, thực hiện Trên cơ sở đó, các cơ quan có thẩm quyền có thể xác định được trách nhiệm cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi có tranh chấp Như vậy, có thể thấy giao dịch dân sự

là sự biểu lộ ý chí của chủ thể ra bên ngoài bằng những hình thức cụ thể Có thể hiểu hình thức của giao dịch dân sự là cách biểu hiện ra bên ngoài, là phương thức thể hiện ý chí của các chủ thể trong giao dịch dân sự

Pháp luật dân sự quy định về hình thức giao dịch dân sự31 như sau:

“Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

BLDS 1995 chỉ quy định giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Nhưng thực tế hiện nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, xuất hiện rất nhiều các hình thức giao dịch như: điện báo, telex, fax, thư điện tử Các loại hình thức này cũng đã được đề cập trong LTM 2005, do vậy BLDS 2005 cũng đã bổ sung hình thức giao dịch dưới dạng dữ liệu điện tử cũng được coi là giao dịch bằng văn bản Kế thừa BLDS 2005 và bắt kịp được sự phát triển ngày càng nhanh của khoa học

kỹ thuật và xã hội, BLDS 2015 cũng thừa nhận các giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu là giao dịch được xác lập dưới hình thức văn bản Tất nhiên những giao dịch này phải tuân theo những quy định của pháp luật về giao dịch điện tử thì mới được xem là hợp pháp

Pháp luật dân sự cho phép các chủ thể được tự do lựa chọn hình thức của giao dịch dân sự Tuy nhiên, không phải tất cả các giao dịch dân sự nào mà pháp luật cũng quy định các bên tham gia giao dịch có thể lựa chọn bất cứ một hình thức thể hiện nào Bởi

lẽ khách thể của giao dịch dân sự rất phong phú và đa dạng, mỗi loại đều có đặc trưng

và công dụng khác nhau Để bảo vệ vấn đề an toàn pháp lý trong các giao dịch cũng như bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích công cộng, những giao dịch đó phải tuân theo một hình thức nhất định được pháp luật dân sự quy định như bằng văn bản thì phải có công chứng, chứng thực, đăng ký

31 Điều 119 BLDS 2015

Trang 29

24

Ví dụ hợp đồng mua bán nhà ở “Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan”.32 Về trình tự, thủ tục trong giao dịch về nhà ở theo khoản 3 Điều 93 Luật Nhà ở 2014:

Hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn, trừ các trường hợp sau đây:

- Cá nhân cho thuê nhà ở dưới sáu tháng;

- Bên bán, bên cho thuê nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở;

- Thuê mua nhà ở xã hội;

- Bên tặng cho nhà ở là tổ chức

Hay ví dụ về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 502

BLDS 2015 “Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan” Và Luật đất đai 2013 cũng có quy định về hình thức của hợp

đồng theo khoản 3 Điều 167 như sau:

- Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản 3;

- Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

- Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

- Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã

Tuy nhiên, BLDS 2015 còn có quy định một Điều khoản “mở” cho rằng mặc dù một giao dịch dân sự tuy vi phạm quy định về Điều kiện có hiệu lực về hình thức, nhưng:

- Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba

32 Điều 430 BLDS 2015

Trang 30

25

nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;

- Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc

về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực

Đây cũng là điểm mới tiếp theo trong BLDS 2015 Như vậy, với quy định này, một giao dịch vi phạm quy định về hình thức nhưng các bên tham gia giao dịch tích cực, thiện chí thực hiện giao dịch (đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch) thì giao dịch không bị vô hiệu Đây một cơ chế pháp lý linh hoạt, giảm thiểu rủi ro pháp lý cho bên thiện chí không muốn phá vỡ quan hệ giao dịch Qua đó, góp phần hạn chế việc tuyên bố giao dịch dân sự bị vô hiệu một cách tùy tiện vì lý do không tuân thủ quy định hình thức, bảo đảm sự ổn định của quan hệ thị trường

 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Giao dịch giả tạo theo quy định của pháp luật Việt Nam “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân

sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”.33 Nói cách khác, giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch có nội dung được thiết lập không phản ánh ý chí đích thực của các bên Trên thực tế các bên trong giao dịch không có ý định tạo lập quyền, nghĩa vụ pháp lý qua các giao dịch dân sự này Thông thường, các giao dịch này được thiết lập là để lẩn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước hoặc nghĩa vụ đối với người thứ ba hoặc để che giấu một hành vi trái pháp luật Trường hợp giao dịch vô hiệu do giả tạo có điểm đặc biệt là các bên trong giao dịch đó hoàn toàn tự nguyện xác lập giao dịch nhưng lại cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí thực của họ (

có sự tự nguyện nhưng không có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí) Tuy nhiên, không phải sự thể hiện ý chí giả tạo nào cũng đưa đến sự vô hiệu của giao dịch dân sự Chỉ có những giao dịch mà ở đó ý chí giả tạo tồn tại ở cả hai bên trước khi giao kết, xác lập các giao dịch dân sự như vậy mới đưa dến sự vô hiệu của giao dịch dân sự Nói cách khác, ở đây phải có sự thông đồng của các chủ thể khi giao kết xác lập các giao dịch giả tạo như vậy

Có hai trường hợp giả tạo:

33 Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015

Trang 31

26

- Thứ nhất, giả tạo nhằm cố ý giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo bị vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của bộ luật này hoặc luật khác có liên quan theo khoản 1 Điều 124 BLDS

2015 Ví dụ: T không phải là đối tượng làm dịch vụ môi giới cho Công ty A, nhưng T

đã giả tạo ra một số hợp đồng mua bán giữa các công ty khác với Công ty A và nhờ X lập các hợp đồng môi giới giả tạo để rút tiền hoa hồng của Công ty A thì những hợp đồng

đó đều vô hiệu

- Thứ hai, giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba “Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự

đó vô hiệu”. 34 Ví dụ: giá ghi trong hợp đồng là 100 triệu trong khi giá thực tế hai bên giao dịch là 500 triệu Sự che giấu này trước tiên là nhằm mục đích trốn thuế Hợp đồng giả tạo này sẽ bị tuyên bố vô hiệu do trốn tránh nghĩa vụ đóng thuế cho cơ quan Nhà nước

 Giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lưc hành vi dân sự,

người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

Tương tự như đối với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do người không có năng lực hành vi dân sự thực hiện, các chủ thể này không có đủ Điều kiện để tự do thể hiện ý chí Vì vậy các giao dịch của họ phải được xác lập, thực hiện dưới sự kiểm soát và đồng

ý của người đại diện

Tuy nhiên, giao dịch do những người này xác lập không mặc nhiên bị coi là vô hiệu

mà chỉ vô hiệu khi “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý”.35 Ngoài ra, điểm mới của BLDS 2015 là đã đưa ra quy định về việc mặc dù một bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự là những người chưa thành niên, người mất năng lưc hành vi dân sự, người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự, xác lập, thực hiện giao dịch, nhưng không bị vô hiệu theo khoản 2 Điều 125 trong các trường hợp sau đây:

34 Khoản 2 Điều 124 BLDS 2015

35 Khoản 1 Điều 125 BLDS 2015

Trang 32

đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ

- Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự

Bên cạnh đó, Điều 128 BLDS 2015 quy định khá giống với quy định tại khoản 1

Điều 125 bộ luật này: “Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”

 Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn

BLDS 2015 quy định tại Điều 126 như sau:

- Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều này

- Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được

Từ BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đến BLDS năm 2015 đều có quy định do

bị nhầm lẫn Có thể nhận thấy rằng, quy định của BLDS năm 2015 được xây dựng hoàn toàn khác với quy định của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 là bỏ yếu tố khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự”mà thay vào

đó là có sự nhầm lẫm làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích Điều 131

BLDS năm 2005 quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu; trường hợp một bên do lỗi cố

ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của bộ luật này” Do đó, theo BLDS năm 2005, muốn xác định hợp đồng

vô hiệu do bị nhầm lẫn phải có 3 căn cứ:

- Thứ nhất, có lỗi vô ý của chủ thể gây ra nhầm lẫn;

Trang 33

28

- Thứ hai, có sự nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng;

- Thứ ba, bên gây ra nhầm lẫn không chấp nhận sửa đổi hợp đồng theo yêu cầu của bên nhầm lẫn

Còn theo quy định của BLDS năm 2015 thì nhầm lẫn là Điều kiện cần, không đạt được mục đích của giao dịch là Điều kiện đủ để yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Như vậy, BLDS năm 2015 chỉ quan tâm đến hậu quả của việc nhầm lẫn dẫn đến

không đạt được mục đích của giao dịch Thực chất nhầm lẫn trong giao dịch dân sự “là

sự không trùng hợp ý chí được thể hiện với mong muốn thật sự của người thể hiện ý chí”36 Tôi cho rằng, quy định của BLDS năm 2015 là không rõ ràng và thiếu tính hợp

lý, vì quy định không cho biết thế nào là nhầm lẫn và không thể chỉ căn cứ vào việc có đạt được mục đích của giao dịch hay không để yêu cầu tuyên vô hiệu Ví dụ một trường hợp đã xảy ra trên thực tế được trích từ bài viết của phó giáo sư, tiến sĩ Dương Anh Sơn trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật37:

“Ngày 01/4/2015, anh A (ở TP Hồ Chí Minh) mua xe hơi Toyota Corola Altis mới 100% với giá 950 triệu đồng Mục đích mua xe của ông A là để làm phương tiện di chuyển phục vụ cho công việc của cá nhân ông A Ngày 15/5/2015, ông A được Điều chuyển ra Hà Nội làm việc Chưa bán được xe vì vội ra Hà Nội nên ông A cho bạn mình

là ông B mượn sử dụng Trong thời gian sử dụng, ông B gặp tai nạn và xe bị hỏng phần đầu Ông B không thông báo cho ông A về tai nạn đó, tự sửa chữa Ngày 20/7/2015, ông

A vào TP Hồ Chí Minh với mục đích bán xe Biết ông C có nhu cầu mua xe để làm phương tiện đi lại, ông A bán chiếc xe đó cho ông C và nói với ông C rằng, xe mới mua gần 4 tháng, chưa bị sửa chữa lần nào và vì không có nhu cầu sử dụng nên bán lại Giá

xe ông A bán cho ông C là 850 triệu đồng Có thể nói rằng, việc ông C mua xe và xe được sử dụng tốt là đã đạt được mục đích của hợp đồng Sau khi mua 02 tháng, ông C tình cờ biết được xe của ông đã một lần bị hỏng đầu và đã được sửa chữa Vấn đề đặt

ra ở đây là ông C có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu hay không?

Theo ý kiến của tác giả, ví dụ nói trên có 03 khả năng sau đây: (i) Nếu khi bán xe cho ông C, ông A không nói với ông C rằng, xe mới mua và chưa bị hư hỏng và sửa chữa lần nào thì khả năng ông C yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu khó có thể xảy ra; (ii) Nếu ông A biết hoặc buộc phải biết xe bị hư hỏng vì tại nạn và được sửa chữa nhưng không nói cho ông C biết, thì ông C có quyền yêu cầu hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối (ông A lừa dối ông C về tình trạng của xe); (iii) Ông A không biết và không buộc phải

36 Hoàng Thế Liên (1996), Bình luận BLDS Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.122

37 Tạp chí Dân chủ và pháp luật luat.aspx?ItemID=338

Trang 34

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-29

biết về tình trạng của xe nên cam kết với ông C như đã nói ở trên, trong trường hợp này thì sự nhầm lẫn của ông C có nguyên nhân từ thông tin do ông A cung cấp và đương nhiên có ông C có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Rõ ràng, mặc dù mục đích của hợp đồng vẫn đạt được nhưng nếu ông C biết được thông tin xe bị tai nạn thì sẽ không mua hoặc nếu mua thì với giá thấp hơn rất nhiều Và chắc chắn rằng, ông

A biết, buộc phải biết rằng ông C nếu biết được sự thật đã không ký kết hợp đồng mua

xe hoặc mua nhưng với các Điều khoản hoàn toàn khác Qua việc xem xét tình huống nói trên, chúng tôi cho rằng, không nên chỉ lấy tiêu chí đạt hay không đạt được mục đích của giao dịch dân sự để xác định nhầm lẫn là Điều kiện để yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, mà còn cần phải xem xét vấn đề người mua và những người bình thường khác có ký kết hợp đồng hay không nếu họ biết được tình trạng thực tế liên quan đến hợp đồng Ngay cả khi lấy tiêu chí có hay không đạt được mục đích của giao dịch dân

sự để xác định nhầm lẫn là Điều kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì vấn đề đặt ra là có phải trong mọi trường hợp, khi một hoặc các bên của giao dịch không đạt được mục đích của giao dịch thì đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và không có ngoại lệ cho trường hợp này? Chúng tôi cho rằng, có nhiều lý do dẫn đến nhầm lẫn làm cho một hoặc các bên không đạt được mục đích của việc ký kết hợp đồng và đều có thể là căn cứ để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Cụ thể:

Thứ nhất, một bên bị nhầm lẫn do bên kia cung cấp thông tin không xác thực nhưng bên đó đã không biết và không buộc phải biết những thông tin mà họ cung cấp là không xác thực Loại nhầm lẫn này được quy định rõ trong Nguyên tắc luật hợp đồng thương mại quốc tế và trong Nguyên tắc luật hợp đồng của châu Âu Trong ví dụ trên, ông A không biết và không buộc phải biết về việc xe bị hư hỏng nên đã cam kết với ông

C Như vậy ở đây, ông C nhầm lẫn là do thông tin do ông A cung cấp Trong trường hợp này, cam kết của ông A làm cho ông C tự tin hơn, tin tưởng hơn vào đối tượng của hợp đồng nên đã thực hiện giao dịch Giả định nếu không có sự cam kết của ông A thì rất có thể ông C sẽ không thực hiện giao dịch với ông A Loại nhầm lẫn này, như đã đề cập ở trên, cho dù mục đích hợp đồng có thể đạt được thì vẫn có thể là căn cứ để yêu cầu Toà

án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Thứ hai, nhầm lẫn do bên bị nhầm lẫn không biết và không buộc phải biết rằng

họ bị nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng và hậu quả là họ không đạt được mục đích của hợp đồng Sự nhầm lẫn này có thể xuất phát từ Điều kiện, hoàn cảnh hoặc khả năng nhận thức của bên bị nhầm lẫn Trong trường hợp này, bên bị nhầm lẫn có thể có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, bởi lẽ họ không nhận thức được hậu quả của hành

vi

Trang 35

30

Thứ ba, bên bị nhầm lẫn biết hoặc buộc phải biết rằng họ bị nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng Trong trường hợp này, bên bị nhầm lẫn mặc dù không biết nhưng xuất phát từ Điều kiện, hoàn cảnh cụ thể họ buộc phải biết về khả năng họ bị nhầm lẫn nhưng

đã không có những hành vi, biện pháp để khắc phục (trong tình huống này, những người bình thường khác sẽ không ký kết hợp đồng, thực hiện giao dịch) Như vậy, mặc dù không đạt được mục đích của hợp đồng nhưng bên bị nhầm lẫn không có quyền yêu cầu tuyên

bố hợp đồng vô hiệu Điều này được lý giải rằng, bên bị nhầm lẫn theo nguyên tắc buộc phải nhận thức được hậu quả của hành vi

Thứ tư, có những lĩnh vực của hoạt động thương mại, có những hành vi được đặc trưng bởi sự nhầm lẫn, có nghĩa là nhầm lẫn thường xuyên xảy ra trong những tình huống đó và các bên của giao dịch biết và buộc phải biết về những tình huống này Ví

dụ, trên thị trường mua bán ô tô đã qua sử dụng thì người mua cần phải ý thức và phải biết rằng, nhầm lẫn là Điều không tránh khỏi Nhận thức được như vậy nhưng họ vẫn ký kết hợp đồng mua bán có nghĩa là họ chấp nhận rủi ro Điều này cũng có nghĩa là họ nhận thức được hậu quả của hành vi và việc không đạt được mục đích của giao dịch không được coi là căn cứ yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu”

Từ những phân tích trên, có thể nói rằng, nhầm lẫn không chỉ nên xác định căn

cứ vào mục đích của giao dịch có đạt được hay không và không phải mọi nhầm lẫn làm cho một hoặc các bên không đạt được mục đích của giao dịch đều là căn cứ để yêu cầu toàn án tuyên bố giao dịch vô hiệu Bên cạnh đó, BLDS cần thiết phải phân định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể liên quan khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu

do nhầm lẫn Việc quy định rõ ràng như vậy bắt buộc bên bị nhầm lẫn phải có sự cân nhắc kỹ trước khi yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, qua đó đảm bảo được trật

tự cho lưu thông dân sự Cũng trong bài viết trên,38 Phó giáo sư, tiến sĩ Dương Anh Sơn

cho rằng “sẽ thuyết phục và hợp lý hơn nếu Điều 126 BLDS năm 2015 có những nội dung như: (i) Bên nhầm lẫn về thông tin hoặc pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch dân sự có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, nếu sự nhầm lẫn là nghiêm trọng và lớn đến mức mà một người bình thường, trong hoàn cảnh tương tự sẽ không giao kết hoặc chỉ giao kết với Điều kiện hoàn toàn khác nếu người này đã biết rõ tình trạng thực tế; (ii) Bên nhầm lẫn không được quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu nếu buộc phải biết về sự nhầm lẫn nhưng đã không tìm hiểu kỹ thông tin; buộc phải biết rằng nhầm lẫn là đặc trưng của loại giao dịch đó; (iii) Bên bị nhầm lẫn

có quyền yêu cầu bên còn lại bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được rằng nhầm lẫn xuất phát từ hành vi hay những thông tin do bên đó cung cấp; (iv) Bên bị nhầm lẫn phải

38 Tạp chí Dân chủ và pháp luật luat.aspx?ItemID=338

Trang 36

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-31

bồi thường thiệt hại cho bên còn lại nếu không chứng minh được nhầm lẫn là do lỗi của bên còn lại”

 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Giao dịch được coi là một sự thỏa thuận ý chí trong việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch Ý chí của các bên trong giao dịch dân sự vô cùng quan trọng trong việc xác định sự tồn tại của giao dịch dân sự Các biểu hiện của sự không thống nhất ý chí hoặc sự trái ngược giữa biểu hiện và ý chí đích thực của các bên tham gia giao dịch sẽ không hình thành nên một giao dịch dân sự có hiệu lực Nói cách khác, một giao dịch được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép sẽ không có giá trị vì trong các hoàn cảnh như vậy, các cam kết được đưa ra không xuất phát từ ý chí đích thực của chủ thể tham gia giao dịch

Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối

Lừa dối là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày Theo cách nói thông thường, lừa dối là lừa bằng thủ đoạn nói dối, gian lận để làm cho người

ta nhầm tưởng, mà nghe theo, tin theo Theo ngôn ngữ pháp luật, lừa dối là một xảo thuật dùng để lừa gạt người khác, từ những lời lẽ gian dối đến mánh khóe xảo trá dùng để

khiến người ta tham gia xác lập giao dịch đều là lừa dối “Lừa dối trong giao dịch dân

sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”.39

Các nhà làm luật Việt Nam coi lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dụng của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó Việc xác định có tồn tại hay không sự lừa dối trong một giao dịch dân sự phải có hai điều kiện:

- Một bên phải sử dụng thủ đoạn để lừa người khác

- Bên kia phải nghe theo, làm theo một việc nào đó (xác lập giao dịch)

Về mặt khách quan, một bên hoặc người thứ ba đã có hành vi lừa dối nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng dân

sự Hành vi có thể là hành động, tạo lập cho bên kia hiểu sai lệch vấn đề, chẳng hạn dùng lời lẽ gian dối, thủ đoạn sảo trá, cũng có thể là lạm dụng sự nhầm lẫn đã tồn tại của bên kia, bằng cách không có hành động gì hoặc im lặng, mặc dù có nghĩa vụ phải hành động hoặc giải thích Ví dụ: Trong hợp đồng bảo hiểm, các điều khoản của hợp đồng thường

39 Điều 127 BLDS 2015

Trang 37

32

phức tạp, người mua khó có thể hiểu hết nội dung của nó Do đó, công ty bảo hiểm có nghĩa vụ phải giải thích rõ cho người mua biết các nội dung này, nếu không có sự thông tin, làm người mua không hiểu rõ được có thể được coi là hành vi lừa dối Lừa dối dẫn đến hệ quả là hợp đồng dân sự có thể vô hiệu do thỏa thuận không thể hiện đúng ý chí đích thực của các bên Thông thường, hành vi lừa dối do chính một bên giao kết hợp đồng thực hiện, tuy nhiên nó cũng có thể do người thứ ba thực hiện Khi hợp đồng có yếu tố lừa dối, bên bị lừa dối không cần phải chứng minh Điều kiện nào khác, mà có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa

Đe dọa trong hợp đồng dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia sợ hãi mà phải thực hiện hợp đồng dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những người cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con mình, theo Điều 127 BLDS 2015 Như vậy, một bên tham gia hợp đồng dân sự hoặc người thứ ba đã có hành vi trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội:

đe dọa gây tổn tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những người cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con bên kia Sự đe dọa phải đến mức độ làm cho bên bị đe dọa khiếp sợ, khiến người này phải giao kết hợp đồng ngoài ý muốn của

họ Trên thực tế, khi xem xét có hay không yếu tố đe dọa, phải xác định: đe dọa phải có tính tức thời và nghiêm trọng, nghĩa là bên bị đe dọa trong tình thế không còn cách nào khác hơn là phải ký kết hợp đồng Để cụ thể hơn tính nghiêm trọng của sự đe dọa, BLDS

2015 coi có sự đe dọa nếu nhằm vào chính người giao kết hợp đồng hoặc cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con của người đó Hợp đồng giao kết có yếu tố đe dọa phải có lỗi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba Trường hợp không có lỗi cố ý, hoặc phía bên kia lầm tưởng có sự đe dọa từ phía bên kia không thể coi là có yếu tố đe dọa

Sự đe dọa có thể gây ra từ phía người thứ ba đối với một bên của hợp đồng dân

sự Điều này cũng dẫn đến hệ quả hợp đồng dân sự khiếm khuyết ý chí đích thực của một bên, đồng thời bên cùng giao kết được hưởng lợi từ hành vi đe dọa đó Hậu quả trên

có thể xảy ra ngay cả trong trường hợp bên giao kết không biết có sự đe dọa đó Do đó,

đe dọa do người thứ ba thực hiện cũng là yếu tố dẫn đến hợp đồng dân sự vô hiệu Việc xác định bên kia có hay biết hay không chỉ giúp xác định trách nhiệm của các chủ thể

mà không ảnh hưởng tới việc xác định hiệu lực của hợp đồng

Giao dịch dân sự vô hiệu do bị cưỡng ép

Khái niệm cưỡng ép được định nghĩa như sau: “Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực

Ngày đăng: 04/03/2021, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w