1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn quận 2 tp HCM

76 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 3,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc làm thế nào để có thể mang lại một không gian sống trong lành đảm bảođưa môi trường xanh vào gần gũi với con người, giúp con người sống gần thiênnhiên, đáp ứng được nhu cầu về môi t

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, không gian sống của con người đã bị thu hẹp lại rấtnhiều, việc dân số ngày càng gia tăng cùng với áp lực người dân đổ xô lên nhữngthành phố lớn để sinh sống đã làm cho mật độ dân số tăng lên rất nhiều, tại thànhphố Hồ Chí Minh theo số liệu của Cục Thống kê dân số thành phố vào giữa năm

2010 là 7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km2, mật độ dân số cả nước cao gấp 5lần so với mật độ dân số thế giới Với mật độ dân số cao như thế thì không gian sốngcủa người dân đang gặp phải những vấn đề hết sức khó khăn Từ thực tế đó, việc đưa

ra giải pháp giúp cải thiện không gian sống của con người được quan tâm hơn rấtnhiều Việc làm thế nào để có thể mang lại một không gian sống trong lành đảm bảođưa môi trường xanh vào gần gũi với con người, giúp con người sống gần thiênnhiên, đáp ứng được nhu cầu về môi trường trong lành hơn được đặc biệt quan tâm.Trước những nhu cầu như thế của xã hội thì một giải pháp được con người áp dụng

đó là thiết kế mẫu nhà ở sinh thái cho những thành phố lớn, với mẫu nhà sinh tháinày con người có thể đưa thiên nhiên vào gần gũi với cuộc sống của mình, từ đónâng cao việc yêu môi trường, yêu thiên nhiên vừa có thể đảm bảo mang lại mộtkhông gian sống lý tưởng và cải thiện được tình hình sức khỏe cho bản thân và giađình

Nhà ở sinh thái hiện nay được nhiều người tại thành phố Hồ Chí Minh rất quantâm và ngày càng phổ biến trong kiến trúc xây dựng nhà ở Mẫu nhà sinh thái vớithiết kế đưa cây xanh vào không gian ngôi nhà một cách hợp lý nhất, hài hòa nhất làlựa chọn của rất nhiều người bởi vừa đảm bảo được không gian sống trong lành vừatiết kiệm được chi chí xây dựng một cách thấp nhất so với các mẫu nhà sinh tháikhác Tuy nhiên, việc đưa cây xanh vào trong thiết kế của ngôi nhà sao cho phù hợp

và đảm bảo được sự hài hòa trong kiến trúc tổng thể là không đơn giản vì khôngphải cứ đưa càng nhiều cây xanh vào là có thể mang lại không gian trong lành cho

Trang 2

của những người sống trong ngôi nhà đó, có nhiều loại cây khi chúng ta trồng bênngoài thì có tác dụng tích cực nhưng khi mang vào nhà thì hiệu quả hoàn toànngược lại Thời gian gần đây đã có rất nhiều trường hợp trẻ em và người lớn tuổi bịngộ độc hay dị ứng với các loại cây trồng trong nhà do không hiểu hết đặc điểm

sinh trưởng phát triển của chúng (Trích báo VNEXPRESS.NET ngày 15/5/2010) gây

ra hậu quả rất nghiêm trọng Vì vậy, việc tìm hiểu các đặc điểm trồng và chăm sóccác loại cây cũng như tác dụng của chúng trong thiết kế nhà ở sinh thái là công việcquan trọng và cần thiết nhằm mang lại một ngôi nhà có không gian trong lành đápứng được nhu cầu gần gũi với thiên nhiên của con người vừa an toàn cho sức khỏe

là rất cần thiết

Bên cạnh đó, Quận 2 là quận mới đô thị hóa, nơi có Khu công nghiệp và HầmThủ Thiêm mới được xây dựng, trong tương lai gần Quận 2 là trung tâm tài chínhthương mại mới của Thành phố Hồ Chí Minh, là nơi được quy hoạch theo tiêuchuẩn của một đô thị hiện đại với nhiều mảng cây xanh sinh thái Chính vì các lý do

trên, đề tài “Nghiên cứu sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh” được nghiên cứu nhằm bước đầu đánh giá hiện

trạng sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở và hiểu biết của người dân về các thựcvật này

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở của việc phát phiếu điều tra khảo sát lấy ý kiến của người dân sinhsống trên địa bàn quận 2 thành phố Hồ Chí Minh cộng với việc tham khảo các tàiliệu liên quan khác Đề tài thực hiện một số mục tiêu sau:

• Đánh giá sự hiểu biết về việc sử dụng cây xanh trong thiết kế nhà ở và nhu cầu củangười dân về mô hình nhà sinh thái hiện nay

• Tìm hiểu mối tương quan giữa các yếu tố như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độhọc vấn, thu nhập cá nhân… có ảnh hưởng đến việc trồng cây xanh trong nhà

• Đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng cây xanh trong thiết kế nhà ở

Trang 3

3 NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

Với mục tiêu nghiên cứu như trên, nội dung của đề tài tập trung vào các vấn đềchính sau đây:

• Tổng quan về nhà ở xanh và đô thị sinh thái

• Tổng hợp, biên hội các tài liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và môi trườngcủa Quận 2

• Phát phiếu điều tra khảo sát để lấy ý kiến của người dân

• Phân tích kết quả điều tra được bằng phần mềm thống kê SPSS (phiên bản 16.0)nhằm: (1) đánh giá hiện trạng và nhận thức của người dân về việc sử dụng thực vậttrong thiết kế nhà ở sinh thái; (2) xác định các mối tương quan như giới tính, độtuổi, trình độ, thu nhập với việc trồng cây xanh trong nhà

• Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả việc sử dụngcây xanh trong thiết kế nhà ở sinh thái

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

• Thực vật cảnh (cây cảnh) đang được trồng tại Quận 2

• Người dân sinh sống trên địa bàn Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh

5 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

• Giới hạn về không gian và thời gian: Do thời gian thực hiện đồ án có giới hạntrong khoảng 12 tuần từ ngày 14/11/2011 đến ngày 14/2/2012 nên đề tài chỉ tậptrung vào việc khảo sát lấy ý kiến của người dân trên các phường: Thảo Điền, AnKhánh, Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi, Bình An, Thủ Thiêm, Bình Trưng Đông về việc sửdụng cây xanh trong thiết kế nhà ở sinh thái và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quảcủa việc sử dụng chúng

• Giới hạn về nội dung: Vì nhà ở sinh thái mang nghĩa rộng bao gồm các yếu tố nhưtiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng

Trang 4

ánh sáng mặt trời…Nên đề tài trước mắt chỉ tập trung vào nghiên cứu các loại câycảnh được trồng trong khu vực nhà ở.

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

Ý nghĩa khoa học: đề tài cung cấp một số cơ sở khoa học phục vụ cho việc sửdụng hiệu quả cây xanh trong thiết kế nhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2 nói riêng

và cho thành phố Hồ Chí Minh nói chung trong giai đoạn hiện nay Điểm mới của

đề tài là sử dụng phần mềm thống kê mô tả SPSS để phân tích các mối tương quangiữa các yếu tố ảnh hưởng đến việc trồng cây xanh trong nhà So với những nghiêncứu khác chỉ mang tính đại diện cho một phạm vi, đối tượng nhất định thì với phầnmềm SPSS đề tài còn có ý nghĩa thống kê, suy rộng cho toàn tổng thể, kết quả có độchính xác cao

• Nâng cao hiểu biết về việc sử dụng cây xanh trong mô hình nhà sinh thái

• Đề ra các giải pháp thích hợp cho việc trồng cây xanh trong thiết kế nhà ở sinhthái phù hợp với điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội hiện nay

7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn có bố cục gồm phần mở đầu, 5 chương nội dung : 2 chương tổng quan,

1 chương phương pháp nghiên cứu, 1 chương hiện trạng, 1 chương giải pháp vàcuối cùng là phần kết luận kiến nghị Trong đó:

• Phần mở đầu nêu lên mục đích nội dung và ý nghĩa của đề tài

• Chương 1: Giới thiệu chung về đô thị sinh thái và nhà ở sinh thái

Trang 5

Đưa ra các khái niệm về đô thị sinh thái và nhà ở xanh, đặc điểm cũng như cáctiêu chí quy hoạch mô hình nhà ở sinh thái hiện nay.

• Chương 2: Tổng quan về điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội của Quận 2

Nêu lên các đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và các vấn đề về hiệntrạng sử dụng đất, hiện trạng mảng xanh, trình độ học tập, thu nhập bình quân củangười dân Quận 2

• Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Nêu ra cơ sở của việc nghiên cứu và các thức áp dụng, các bước của quy trìnhchọn mẫu và phát phiếu điều tra khi thực hiện nghiên cứu

• Chương 4: Hiện trạng sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở sinh tại quận 2

Đưa ra kết quả nghiên cứu cụ thể về hiện trạng sử dụng cây xanh trên địa bànQuận 2 và phân tích các yếu tố liên quan đến việc trồng cây xanh trong không giannhà ở hiện nay

• Chương 5: Đề xuất các phương hướng, giải pháp sử dụng thực vật trong thiết kếnhà ở sinh thái trên địa bàn Quận 2

Đưa ra các giải pháp đối với từng yếu tố, đối tượng riêng nhằm nâng cao hiệu quảviệc trồng cây xanh, cây cảnh trong nhà

• Phần kết luận, kiến nghị

Trang 6

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐÔ THỊ SINH THÁI VÀ NHÀ Ở SINH THÁI

1.1 ĐÔ THỊ SINH THÁI

1.1.1 Khái niệm chung

Đô thị sinh thái là đô thị đảm bảo sự cân bằng với thiên nhiên, hay cụ thể hơn là

sự định cư cho phép các cư dân sinh sống trong điều kiện chất lượng cuộc sốngnhưng sử dụng tối thiểu các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Ý tưởng về một đô thị sinh thái ban đầu đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX dướitên gọi Thành phố vườn (Garden-City), là một phương án quy hoạch đô thị củaEbenezer Howard nhằm giải quyết các vấn đề môi sinh của đô thị ở thời điểm khởiđầu quá trình hiện đại hóa Ý tưởng này ngay lập tức trở thành một phong trào lanrộng trong cộng đồng Châu Âu và các nước công nghiệp trên thế giới, và lúc bấygiờ được xem như công cụ hữu hiệu để giải quyết các vấn đề môi trường đô thịđang là hậu quả của quá trình công nghiệp hóa Đối với các nước công nghiệp, đây

là bước tất yếu trong quá trình phát triển nhằm đạt đến một đô thị phát triển bềnvững Nhìn lại lịch sử phát triển, đô thị hóa ở quy mô lớn thực tế là hậu quả của quátrình công nghiệp hóa, phát sinh từ nhu cầu tập trung lực lượng sản xuất để phục vụsản xuất công nghiệp, tạo thành các khu dân cư đông đúc Đô thị hóa diễn ra làmphát sinh vô vàn các vấn đề về môi trường tự nhiên và xã hội và kết cục là đòi hỏicác phương án hiện đại hóa để giải quyết các vấn đề đó khi nhu cầu đòi hỏi và điềukiện cho phép Việc quy hoạch sinh thái đô thị là khâu tiếp theo tất yếu của quátrình hiện đại hóa đô thị

1.1.2 Những nguyên tắc của Đô thị sinh thái

Những đô thị sắp xây dựng nên quy hoạch theo kiểu đô thị sinh thái, trong đó có

cả khu công nghiệp sinh thái, khu dân cư sinh thái Có 4 nguyên tắc chính để tạo

Trang 7

1- Xâm phạm ít nhất đến môi trường tự nhiên

2- Đa dạng hóa nhiều nhất việc sử dụng đất, chức năng đô thị và các hoạt độngkhác của con người

3- Trong điều kiện có thể, cố giữ cho hệ thống đô thị được khép kín và tự cânbằng

4- Giữ cho sự phát triển dân số đô thị và tiềm năng của môi trường được cânbằng một cách tối ưu

1.1.3 Những tiêu chí quy hoạch của đô thị sinh thái

Các tiêu chí quy hoạch đô thị sinh thái có thể được khái quát trên các phươngdiện sau: kiến trúc công trình, sự đa dạng sinh học, giao thông, công nghiệp và kinh

tế đô thị

- Về kiến trúc, các công trình trong đô thị sinh thái phải đảm bảo khai thác tối

đa các nguồn mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứngnhu cầu nước của người sử dụng Thông thường là nhà cao tầng để dành mặtđất cho không gian xanh

- Sự đa dạng sinh học của đô thị phải được đảm bảo với các hành lang cư trú

tự nhiên, nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiênnhiên để nghĩ ngơi giải trí

- Giao thông và vận tải cần hạn chế bằng cách cung cấp lương thực và hàng

hóa chủ yếu nằm trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận Phần lớn dân

cư đô thị sẽ sống và làm việc trong phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp đểgiảm thiểu nhu cầu di chuyển cơ giới Sử dụng các phương tiện giao thôngcông cộng nối liền các trung tâm để phục vụ nhu cầu di chuyển xa hơn củangười dân

Trang 8

- Công nghiệp của đô thị sinh thái sẽ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa có thể

tái sử dụng, tái sản xuất và tái sinh Các quy trình công nghiệp bao gồm cảviệc tái sử dụng các sản phẩm phụ và giảm thiểu sự vận chuyển hàng hóa

Để đạt được các tiêu chí trên, cần có những nghiên cứu sâu sắc về điều kiện tựnhiên và xã hội của khu vực hay vùng quy hoạch để đưa ra các giải pháp và quyếtđịnh phù hợp Trong quá trình vận hành, để duy trì và đạt được mục tiêu sinh thái,cần có những biện pháp phối hợp liên ngành như tăng cường khả năng tiếp cậnthông tin, nâng cao nhận thức cộng đồng, áp dụng công nghệ sạch, sử dụng các vậtliệu xây dựng sinh học, sử dụng các nguồn thiên nhiên có thể tái tạo được, giảm tiêuthụ năng lượng, tránh lãng phí và tái sinh phế thải

1.1.4 Một số mô hình đô thị sinh thái

1.1.4.1 Một số mô hình đô thị sinh thái trên thế giới

Khái niệm Đô thị sinh thái xuất hiện trên thế giới vào cuối thập kỷ 80, đầu 90của thế kỷ XX ở các nước phát triển đề cập đến vấn đề chất lượng môi sinh của đôthị với các tiêu chí rất cụ thế nhắm tới việc nâng cao điều kiện và chất lượng sốngcho các cư dân đô thị Khơi nguồn cho trào lưu này là hội thảo quốc tế của Liênhiệp quốc về "Thành phố và sự phát triển bền vững" diễn ra ở Rio de Janeiro, Brasilnăm 1992 Sau đó Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thế gới chính thức banhành một chương trình có tên là "Thành phố sinh thái" được đánh dấu bằng hội nghịthượng đỉnh của Liên hiệp quốc năm 1996

Trung Quốc có tham vọng xây dựng thành phố Dongtan thành đô thị sinh tháiđầu tiên trên thế giới trong kế hoạch xây dựng 400 đô thị mới đến năm 2020 Đây sẽ

là một thành phố "xanh" thử nghiệm, tái sinh nước và năng lượng, qui mô đến năm

2040 sẽ là 500.000 dân Thành phố này nằm giữa biển, ở cực Đông của Chongming,không có một toà nhà nào cao quá tám tầng Mái của các tòa nhà được che phủ bằngcác bãi cỏ và cây xanh để điều nhiệt và để tái sinh nước Thành phố dành cho mỗi

Trang 9

cam kết ngày 17 tháng 10 năm 2001 rằng sẽ biến đổi thủ đô Bắc Kinh thành mộtthành phố sinh thái quốc tế hạng nhất trước năm 2007 nhằm phục vụ tổ chức "Thếvận hội Olimpic xanh" vào năm 2008.

Hình 1.1: Mô hình đô thị sinh thái hiện nay

Dự án quy hoạch phát triển tiểu khu Christie Walk nằm trong trung tâm buônbán của thành phố Adelaide, đã phối hợp nhiều yếu tố sinh thái bền vững và nângcao tính cộng đồng Diện tích khu đất khoảng 2000 m2, giành cho 27 hộ gia đình vớitổng số dân cư khoảng 40 người, địa chỉ số 105, phố Sturt, thành phố Adelaide Cáckết quả mong muốn thu được gồm: bảo tồn nước và năng lượng; tái sử dụng và táisinh vật liệu; tạo ra các không gian công cộng thân thiện, có lợi cho sức khỏe Cácđặc điểm chính của dự án là: các không gian thân thiện cho người đi bộ; vườnchung, bao gồm cả vườn mái; sản xuất lương thực địa phương trong các khu vườnlương thực công cộng tại chỗ; trữ nước mặt để sử dụng cho các vườn và nước xả vệsinh; thiết kế thuận lợi với khí hậu/mặt trời để sưởi, làm mát và điều hòa độ ẩmbằng gió, ánh sáng mặt trời và hệ thực vật; nước nóng sử dụng mặt trời; năng lượngquang điện thu bằng các tấm panô lắp đặt vào các hệ khung giàn trên vườn mái; sử

Trang 10

dụng các vật liệu tái sinh, không độc hại và tiêu thụ ít năng lượng; giảm thiểu sựphụ thuộc vào ôtô con do bối cảnh nội thành.

Ở Việt Nam, mô hình như vậy rất khó khả thi vì đầu tư ban đầu đòi hỏi khoảnkinh phí lớn (khoảng 4,5 tỉ euro cho một đô thị như ở khu hải cảng cũ Stockholm).Nhưng Việt Nam có điều kiện phát triển mô hình sinh thái gần giống như vậy,chẳng hạn như mô hình thành phố vườn Đà Lạt Để làm được mô hình Thành phốsinh thái vườn này thì vấn đề đặt ra là phải có kinh phí, có sự chủ động và tham giacủa chính quyền và ý thức của người dân

Hình 1.2: Thành phố Đà Lạt

1.1.4.2 Một số mô hình đô thị sinh thái ở Việt Nam

Hiện nay, Ở Việt Nam có một số dự án về đô thị sinh thái đang được triển khainhư:

a/ Dự án khu đô thị sinh thái Nam Tân Phú

 Giới thiệu

Trang 11

vấn Xây dựng 533 làm chủ đầu tư Đây là Khu đô thị sinh thái có qui mô lớn đượcđầu tư trên địa bàn Xã Tam Phú, Phường An Phú thuộc Thành phố Tam Kỳ tỉnhQuảng Nam (Cách Thành phố Tam Kỳ 2 Km về phía Đông).

Trang 12

9 Đất giao thông đô thị 301.940

Tổng diện tích đất quy hoạch giai đoạn 1 936.420

b/ Khu đô thị sinh thái Giang Điền

 Giới thiệu dự án

Dự án Khu đô thị sinh thái thác Giang Điền với tổng diện tích 118 ha, trong đódiện tích sông suối và hồ điều hòa là 22.432,4 m2 ( chiếm 94,7%), ngụ tại ấp HòaBình – Xã Giang Điền – Huyện Trảng Bom – Tỉnh Đồng Nai Với Chủ đầu tư làCông ty Cổ phần Du Lịch Giang Điền và Công ty Cổ phần Dịch Vụ và xây dựngĐịa Ốc Đất Xanh hợp tác đầu tư

 Vị trí dự án

Khu đô thị dịch vụ Du lịch Sinh Thái Thác Giang Điền từ tuyến Quốc Lộ 1A đi vào 2

km, cách thành phố Biên Hòa: 8km, tiếp giáp với Khu Công Nghệ cao Giang Điền vàkhu dân cư Suối Son, cách Sân Golf Long Thành 3 km và sân bay quốc tế Long Thành 8km

Khu Đô thị dịch vụ du lịch sinh thái Giang Điền đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng caocủa khách tham quan thuộc tầng lớp trung lưu; các nhu cầu về lưu trú, nghỉ dưỡng cuốituần và trong các ngày lễ lớn hoặc sinh sống tại đây

1.2 NHÀ Ở SINH THÁI

1.2.1 Khái niệm chung

Trang 13

lượng của không gian trong và ngoài công trình nhằm chuyển đổi tuần hoàn trong một hệthống nhất định với hiệu quả cao, tiêu thụ ít năng lượng, cân bằng sinh thái và không gây

ô nhiễm môi trường Không thể không có nhà ở sinh thái nếu không áp dụng hàng loạtcác tiến bộ về vật liệu xây dựng, thiết bị, kỹ thuật xây dựng cũng như các công nghệmới về thông tin điện tử, năng lượng mới và tái tạo năng lượng, nghĩa là mọi điều kiệncần thiết cho việc sinh thái hoá nhà ở

1.2.2 Đặc điểm và phân loại nhà ở sinh thái

1.2.2.1 Đặc điểm

Nhà ở sinh thái trước kia là tổ chức không gian điển hình nhà ở Việt truyềnthống: ngôi nhà + sân + vườn + ao, một cấu trúc sinh thái đặc trưng Ngôi nhà chínhbao gồm ba hoặc năm gian, nhiều khi thêm hai chái Nhà là một không gian thốngnhất, tạo điều kiện tối ưu cho không khí lưu thông, đặc biệt trong điều kiện khí hậunóng ẩm Hàng hiên và sân sạch là những nhân tố chuyển tiếp từ thiên nhiên vàonhà và ngược lại Vườn không chỉ cung cấp rau quả, củi và vật liệu xây dựng; nó làphương tiện điều tiết khí hậu trong khuôn viên nhà Ao là một phát minh kỳ lạ vềmặt sinh thái của văn minh cư trú Việt: Đào ao lấy đất đắp nền, lấy nơi thả bèo vàthả cám, tắm giặt, thoát nước mưa, làm mát không khí

Cấu tạo nhà ở Bắc Bộ và Nam Bộ có sự khác biệt: Nhà ở phía bắc có kết cấubao che lưỡng tính, bởi nó phải vừa mở tối đa vào mùa hạ và lại vừa khép kín ởchừng mực có thể vào mùa đông Trong khi đó, kết cấu bao che của nhà ở phía namlại mỏng manh, bổn phận của nó chỉ thuần túy che mưa chắn nắng

Trang 14

Hình 1.3 Mô hình nhà 3 gian Bắc Bộ

Như vậy, không gian nhà Việt cổ truyền được triển khai theo sơ đồ khép Cuộcsống cũng diễn ra theo sơ đồ khép Đầu vào và đầu ra cùng một nơi Mọi chất thảiđều tiêu tan tại chỗ hoặc ngay trên cánh đồng làng Kiến trúc hầu hết có nguồn gốchữu cơ, không có móng, cũng tự xóa dấu vết Thiên nhiên bị dùng cả ngàn vạn năm

và trăm kiếp, ít bị suy chuyển

Ngày nay, diện tích đất ngày càng thu hẹp bởi tốc độ gia tăng dân số nên môhình nhà ở sinh thái có nhiều thay đổi Thay vì cấu trúc ngôi nhà + sân + vườn + ao,ngôi nhà ngày nay là một không gian khép kín với bốn bức tường, không gian sống

bị thu hẹp lại rất nhiều Để đảm bảo sự thông thoáng cho không gian của ngôi nhànên cây xanh được sử dụng trong thiết kế nhà ở sinh thái hiện nay

Trang 15

lượng, nâng cao vai trò của cây xanh đối với không gian nhà, phân loại và xử lý rácthải để tận dụng ở mức tối ưu

Nhà ở lành mạnh chú trọng hơn đến vai trò của con người trong môi trường sinhthái, đặc biệt chú trọng hai yếu tố ánh sáng tự nhiên và lưu thông không khí nhờ vàocây xanh; các biện pháp ô nhiễm gian bếp và nhà vệ sinh cũng được quan tâm Tấtnhiên, loại hình này còn đòi hỏi chống ồn tốt và cũng phải phủ xanh môi trường bênngoài như nhà ở xanh nêu trên

1.2.3 Tiêu chí xây dựng nhà ở sinh thái

Những tiêu chí xây dựng nhà ở sinh thái bao gồm:

- Hướng ra và mở tối đa vào thiên nhiên.

- Sử dụng đất hết sức tiết kiệm, bằng mọi cách giữ lại nhiều đất không bị chiếm

cứ bởi xây dựng, dành nhiều đất cho việc tạo mảng xanh xung quanh nhà

- Không gian của ngôi nhà phải là không gian thống nhất, không bị xé vụn, tránh

những diện tích thiếu ánh sáng tự nhiên và không khí ít lưu thông

- Sử dụng nhiều các vật liệu có xuất xứ tự nhiên, đặc biệt vật liệu địa phương.

- Kéo gần trời đất và thiên nhiên vào nhà, bằng việc thiết kế lôgic, ban công, hàng

hiên, mái che; bố trí cây xanh ở mọi nơi có thể; biến mái nhà thành vườn cây cỏ.Trồng cây cỏ sân vườn và thiết lập hệ thống phun tưới thường xuyên Đây là tiêuchí quan trọng nhất mà đề tài tập trung nghiên cứu

- Tận dụng tối đa gió tự nhiên, kích thích sự lưu thông của không khí; tăng cường

sử dụng ánh sáng tự nhiên

- Hạn chế bằng mọi cách việc sử dụng các phương tiện và thiết bị tạo tiện nghi

khí hậu và tiện nghi sống nhân tạo

- Ưu tiên tối đa cho việc sử dụng các nguồn năng lượng tự nhiên, tận dụng hết các

Trang 16

- Kết hợp thông minh các chu trình mở và chu trình khép kín trong một căn nhà ở.

- Nhà ở sinh thái sử dụng thực vật trong thiết kế phải là nhà hô hấp nghĩa là có

khả năng điều hòa và lưu thông không khí tốt

1.2.4 Tình hình nhà ở sinh thái trên thế giới và Việt Nam

1.2.4.1 Tình hình nhà ở sinh thái trên thế giới

Những ngôi nhà sinh thái đã trở thành trào lưu ở Đan Mạch và Thụy Điển.Trong thập niên qua tại châu Âu đã xuất hiện cả những khu phố sinh thái dần dần

mở rộng thành các thành phố sinh thái Riêng tại Đan Mạch có 6 điểm dân cư đượcchính thức công nhận là thành phố sinh thái Tại thủ đô Copenhagen của Đan Mạch,những ngôi nhà sinh thái sử dụng rất nhiều cây xanh và thân thiện với môi trườngxuất hiện

Hình 1.4: Công trình kiến trúc Helsingor của Đan Mạch

Thành phố nhỏ Malmo bây giờ nổi tiếng nhờ khu nhà sinh thái và tòa nhà chọctrời có tên gọi Chiếc ly xoay do hãng năng lượng khổng lồ Đức E.ON đầu tư Ở khusinh thái, có một ngôi nhà hai tầng tràn ngập ánh sáng và rợp bóng cây xanh với ítchi tiết nhắc nhở về chức năng tiết kiệm năng lượng và tạo bóng mát của cây cối

Trang 17

nhận ra bằng mắt thường, chẳng hạn như cửa sổ có ba lớp kính và tường nhà đượcsưởi ấm rất hiệu quả, cây xanh giúp lưu chuyển không khí bên trong nhà Trênphòng gác mái có đường ống gắn với cánh quạt đưa khí nóng chạy vòng vèo trướckhi nhả hơi lạnh ra khỏi căn nhà Đây là cách tiết kiệm năng lượng triệt để Tất cảnước nóng thải ra từ mùa Hè chảy vào những hang động tự nhiên ngầm dưới đất vàchờ đến mùa Đông sẽ được tái sử dụng Ngôi nhà này được xây dựng năm 1999 vàvào thời điểm đó, nó tiêu thụ năng lượng chỉ bằng phân nửa so với một ngôi nhàbình thường ở Malmo Bây giờ khoảng cách đó đã được nới rộng ra nhiều Thêmnữa, giá thị trường của một căn nhà sinh thái hai tầng có mái hiên rộng đứng sátbiển cũng chỉ ở mức 5.000 euro.

1.2.4.2 Tình hình nhà ở sinh thái ở Việt Nam

Khái niệm nhà ở sinh thái xuất hiện khá phổ biến trong thời gian gần đây ở nước

ta nhưng chưa có một công trình nào mang đầy đủ điều kiện của một kiến trúc sinhthái

Gần đây, mô hình nhà ở sinh thái đô thị của nhóm sinh viên Đại học Kiến trúc

Đà Nẵng đang được nhiều người quan tâm và hỗ trợ kinh phí xây dựng thí điểm.Theo thiết kế ngôi nhà này được xây dựng khá kiên cố và quy mô (gồm 3 tầng), cókết cấu bê tông nhẹ và hài hòa bởi hệ thống nhà – vườn – cây cảnh… và sử dụng hệthống điện năng từ gió Ngoài ra sân thượng phía trước tầng 3, nơi có mái nhà tứgiác và vườn sinh thái để trồng cây ăn quả, rau sạch, các loại hoa và cả ao cá Điềunày tạo cho ngôi nhà có cảm giác thân thiện với môi trường và tạo nên một khônggian sống lý tưởng

Trang 18

Hình 1.5: Mô hình nhà ở sinh thái tại Việt Nam

1.3 SỬ DỤNG THỰC VẬT TRONG THIẾT KẾ NHÀ Ở XANH

1.3.1 Vai trò của cây xanh trong xây dựng nhà ở

Dưới sự phát triển và tác động của con người, các yếu tố thuộc về tự nhiên, thiênnhiên đang dần bị mất đi Khí hậu thay đổi, thời tiết bất thường cộng với nhiềunguồn ô nhiễm gây ra cho con người những bất lợi về sức khỏe đặc biệt là về yếu tốtinh thần Để bảo vệ môi trường và cải thiện không gian sống quanh ta, ngoài cácbiện pháp giảm thiểu nguồn ô nhiễm thì việc sử dụng cây xanh có vai trò vô cùngquan trọng Hệ thống cây xanh xung quanh nhà ở có những vai trò chính sau:

- Trước hết, hệ thống cây xanh có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có khả

năng ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước,giữ độ ẩm đất và độ ẩm không khí thông qua việc hạn chế bốc hơi nước,kiểm soát gió và lưu thông gió

- Cây xanh có tác dụng bảo vệ môi trường: hút khí CO2 và cung cấp O2, ngăngiữ các chất khí bụi độc hại Ở vùng ngoại thành, cây xanh có tác dụngchống xói mòn, điều hoà mực nước ngầm Cây xanh còn có tác dụng hạn chếtiếng ồn nhất là ở khu vực nội thành

Trang 19

- Cây xanh có vai trò quan trọng trong kiến trúc và trang trí cảnh quan Những

tính chất của cây xanh như: hình dạng (tán lá, thân cây), màu sắc (lá, hoa,

thân cây ) là những yếu tố trang trí làm tăng giá trị thẩm mỹ của công trình

kiến trúc cũng như cảnh quan chung

- Số lượng cành nhánh chặt tỉa và đốn hạ những cây già cỗi còn có tác dụng là

nguồn cung cấp gỗ củi cho gia đình

1.3.2 Đặc điểm của một số loài cây cảnh thường trồng trong nhà

Không khí trong nhà có nhiều chất độc, bay ra từ các đồ đạc hay việc sử dụng

các thứ (khói thuốc lá, khói hương, bếp gaz, sơn tường, đồ nhựa, bột giặt, chất bảo

quản gỗ, chất bảo quản da, đồ xây dựng, chất thải…) Ngoài khí độc còn có sóng

độc, chủ yếu là sóng điện từ phát xạ từ các máy móc như tivi, màn hình máy tính,

máy vi sóng, điện thoại di động Cây xanh trồng trong nhà có tác dụng hút các khí

độc, làm sạch không khí và ngoài ra có cây có thể làm giảm ảnh hưởng của các

sóng độc Trung bình cứ khoảng 9m2 diện tích nhà thì nên có ít nhất 1 cây xanh nhỏ

trồng trong nhà (Theo nghiên cứu của chương trình cây xanh làm sạch không khí

trong nhà ở Pháp hay còn gọi là gọi là Phyt’air), và nên có nhiều loại cây khác

nhau vì chúng sẽ bổ sung cho nhau trong việc hút khí độc Nói chung, cây xanh nào

cũng có tác dụng hút khí độc nhưng mức độ hút các loại khí độc của các cây là khác

nhau Các cây khác nhau cũng đòi hỏi điều kiện về ánh sáng và độ ẩm khác nhau,

thích hợp cho những chỗ khác nhau trong nhà Dưới đây là một số cây xanh trồng

trong nhà phổ biến nhất và đặc điểm của từng loại:

Bảng 1.2: Các loại cây xanh trồng trong nhà và đặc điểm của từng loại

Cây Lượng ty: thích chỗ râm, không chịu được ánh sángmạnh Mùa hè có thể phun nước lên lá, mùa đông chỉ cần ítnước (tưới không quá 1 lần 1 tuần)

Trang 20

Cây Nha đam: Thích chỗ nửa sáng nửa râm Mùa đông cần rất

ít nước (đất mà nhiều nước quá có thể làm thối cây)

Cây xương rồng: Làm giảm tác hại của các phát xạ từ các máymóc như tivi, máy tính … Những người bị nhức đầu vì làmviệc với máy tính nhiều tìm lại thăng bằng cơ thể nhờ đặtxương rồng chỗ làm việc

Cây Vạn niên thanh: không cần nhiều ánh sáng nhưng thích

ẩm, có thể đặt cây ở phòng khách hay gần cầu thang

Trang 21

Cây hoa đá: cây này cũng có tác dụng làm giảm các sóng điện

từ có hại cho sức khỏe Có thể đặt ở bếp hay phòng tắm để hútammoniac Loại cây sa mạc, hợp với nhiều nắng và ít nước,không nên tưới nhiều

Cây hồng môn: cây này có tác dụng trang trí cao, thường hoa

đỏ 1 cánh nên gọi là cây “lưỡi lửa”, hay còn gọi là cây “hạchồng” Cần nhiều ánh sáng và độ ẩm cao, tưới nhiều nước.Cây có thể hút nhiều chất khí độc

Cây si: Thích ánh sáng, tưới nước vừa phải, không nhiều Chú

ý là khi cây si đang thích hợp với chỗ nào rồi, thì tránh chuyểnchỗ nó, vì nó sẽ bị rụng lá trong những ngày sau khi chuyểnchỗ

1.3.3 Một số cách bài trí cây xanh trong thiết kế nhà ở xanh

Nhà ở của người Việt thường gắn liền và hòa hợp với thiên nhiên Một không

gian xanh trong nhà không chỉ là mang ý nghĩa đó mà còn có ý nghĩa về mặt tâm

linh Chọn lựa cây xanh trong nhà ở không những đem lại vẻ tươi mát mà còn đem

lại sinh khí cho nơi ở Việc đưa cây xanh vào nội thất nhà phố rất quan trọng để

hình thành nên các cảnh quan thiên nhiên thu nhỏ, cải thiện môi trường ở và điều

chỉnh luồng khí Cây xanh cho nội thất nên là những loại cây xanh tốt, có nhiều

mầm lộc phù hợp với môi trường sống ít ánh sáng trực tiếp và chịu bóng râm Nên

tránh các loại cây thô nhám, xù xì, gai góc

Bước chân vào nhà cũng như đang dạo chơi trong vườn cùng với chuối cảnh, cọ

và dương xỉ Tùy theo kiến trúc của ngôi nhà và sở thích của bản thân mà sẽ có

những vị trí đặt cây xanh nhất định, xu hướng chung nên đặt cây xanh vào những vị

trí nhiều ánh sáng, vị trí trống của ngôi nhà, những vị trí muốn che khuất tầm nhìn,

điểm nhấn trong ngôi nhà cần làm nổi bật…

Trang 22

Hình 1.6: Trang trí cây cảnh trên tường

Với người Việt, khi mang cây xanh vào nhà đều có sự cân nhắc về ý mặt nghĩacủa chúng Ở những không gian đối ngoại như tiền sảnh, phòng ăn vào dịp lễ tiệcthường chọn đặt các cây có dáng cân đối, bề thế Ví dụ chậu mai thế hay quất, đàongày Tết, chậu phát tài đặt ở góc phòng khách hoặc phát tài núi đặt đầu cầu thangđều là những cây có dáng đẹp, hoa tươi, đem lại điều tốt đẹp trong quan niệm củangười Việt Cần chú ý cây có sắc xanh, đỏ và vàng tượng trưng cho mùa xuân – hè,kích hoạt nguồn khí

Cây đại đề cùng những bình cây treo với ánh sáng đèn đã biến góc chết gầm cầuthang thành một tiểu cảnh sinh động Ở ban công hay cửa sổ, nên dùng những loạicây treo và những chậu cây nhỏ để trên bờ tường Có khi chỉ cần dùng một bồn câyhình chữ nhật trồng rau má kiểng, các giống cây cùng họ với trầu bà dễ sống Bồncây cảnh này có thể di chuyển nhiều vị trí khác nhau trong nhà do gọn và nhẹ Trênthành cửa sổ, dùng những bình cắm cây cũng là một cách, những bình mộc mạcđem lại sự gần gũi với tự nhiên hơn Trên sân thượng, những chậu cây xếp gần nhau

sẽ tạo cảm giác giống như vườn cây nhỏ

Với khu vực nhiều người đi lại như cầu thang, hành lang… nên bố trí các câynhỏ, ít gai nhọn, thân cành gọn không vướng víu như: Trúc nhật, trúc quân tử, hay

Trang 23

một số cây bụi nhỏ khác không cản trở việc đi lại như hồng môn, đỏ môn, hoàngyến

Với những không gian riêng như phòng ngủ, phòng làm việc thiên về không giantĩnh nên bố trí các loại cây dung dị không nên quá sặc sỡ hay tưng bừng sắc hoa vànên bổ sung tính dương như: các loại cây xương rồng, các cây bonsai, những chậucây lá sáng màu

Hình 1.7: Trang trí cây cảnh ở phòng làm việc

Trong khu vực phòng ăn và bếp nên bố trí các loại cây gọn, tán nhỏ và có chứcnăng khử mùi như: dương xỉ, ngũ gia bì,… Trong khu vực đặt bàn ăn nên có nhữngchậu hoa màu sắc tươi sáng, kích thích sự tiêu hóa như: tía tô cảnh, đỗ quyên… Với những không gian chuyển tiếp phía ngoài nhà thì việc bố trí cây xanh tùytheo ý thích vì khu vực này là nơi cây có thể tiếp xúc với điều kiện tự nhiên nên dễsinh sống phát triển bình thường

Nếu bố trí cây xanh trong nhà ở vị trí ít ánh sáng thì có thể dùng đèn chiếu sángcho cây Loại đèn này phát ra ánh sáng giống ánh sáng mặt trời giúp cây sinh trưởng

và quang hợp một cách bình thường

1.3.4 Lợi ích của việc sử dụng thực vật trong thiết kế nhà ở xanh

Cây xanh không chỉ làm đẹp ngôi nhà mà còn mang đến nhiều tác động có lợikhác Theo nhiều nghiên cứu khoa học, thực vật rất có ích nếu biết cách trồng chúngtrong nhà Sau đây là những lợi ích của việc trồng cây trong nhà mang lại:

Trang 24

Nhiều nghiên cứu trước đây chứng minh chất lượng không khí trong nhà tănglên khi có cây xanh Một số người cho rằng chúng làm tăng lượng O2 trong nhà,nhưng thực tế không hoàn toàn đúng như vậy Thực vật còn có thể hấp thụ nhữngđộc tố như carbon monoxide (CO), một số hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và thậm chícác nhóm xyanua và chuyển hóa chúng Cây cối cũng có thể hấp thụ các phân tửkim loại nặng và giữ chúng bên trong thân Trước khi sơn tường, bạn nên trồng một

số cây trong nhà để chúng "hút" các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi thoát ra từ sơn, nhờ

đó mọi người sẽ không hít phải chúng Theo nghiên cứu của NASA cây cau có khảnăng loại bỏ các tạm chất có trong không khí; cây tre có khả năng loại bỏ benzen,

trichloroethylene và formaldehyde; cây dương xỉ có khả năng loại bỏ các chất độc là tácnhân của bệnh hen suyển, các bện về đường hô hấp; cây lan ý có khả năng loại bỏ như cồn,acetone, formandehyde và trichloroethylene; cây cọ có khả năng hút hút tolurne, xylene,

và formaldehyde…

2- Ngăn chặn dị ứng

Cây cối góp phần làm tăng độ ẩm không khí, bởi khi một giọt nước xâm nhậpvào rễ cây, nó sẽ di chuyển lên thân qua hệ thống mao mạch rồi hòa lẫn vào khôngkhí Khi độ ẩm không khí tăng, các chất có hại cho sức khỏe như bụi và phấn hoa sẽgiảm vì hơi ẩm khiến những hạt nhỏ li ti nặng hơn và rơi xuống dưới Một điềunghịch lý là thực vật ngoài trời là một trong những tác nhân gây dị ứng cho conngười, trong khi cây cối trong nhà giúp chúng ta ngăn chặn hiện tượng dị ứng Tiêubiểu có nghiên cứu của William Wolverton (Mỹ) nghiên cứu trên những loại câydùng trang hoàng trong các phòng làm việc và nhà ở Từ nhiều lần thí nghiệm, ôngxác định được là mỗi loài cây có khả năng hấp thu được một số hóa chất gây ô

nhiễm Sau 24 giờ trong điều kiện luôn luôn có ánh sáng một cây lô hội (Aloe vera)

khử được đến 90% forrnaldehyd trong 1m3 không khí Cũng trong điều kiện đó dây

thường xuân (Lierre commun) hấp thu 90% và cây bồng bồng (Dracaena) hấp thu

Trang 25

3- Tăng năng suất lao động

Sự hiện diện của cây xanh trong môi trường làm việc cũng là đề tài nghiên cứucủa nhiều nhà khoa học Con người là tài sản đáng giá nhất của mọi doanh nghiệp

và tổ chức Vì thế, nếu tìm ra một biện pháp nào đó để nhân viên cảm thấy hứng thúlàm việc, năng suất lao động sẽ tăng và công ty sẽ có lợi thế so sánh Nhiều nghiêncứu tại Mỹ chứng minh rằng, cây xanh trong nhà chẳng những làm tăng năng suấtlao động mà còn giúp làm giảm hiện tượng đau đầu, mệt mỏi và căng thẳng trongmôi trường làm việc

1.3.5 Những loài thực vật có khả năng gây độc trong nhà

Thực vật trồng trong nhà ngoài việc đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thì cũng

có nhiều loại cây có khả năng gây độc nếu không hiểu rõ về đặc điểm sinh trưởngphát triển của từng loài Bảng 1.3 là một số loài thực vật có khả năng gây độc đượctrồng phổ biến hiện nay:

Bảng 1.3: Những loài thực vật có khả năng gây độc

Môn kiểng: Tên khoa học là Caladium hortulanum Tất cả

các bộ phận của cây đều có chất độc Calcium oxalate và Asparagine Khi ăn phải sẽ dẫn đến nguy cơ bị bỏng, ngứarát vùng miệng, niêm mạc ruột

Xương rồng bát tiên: Tên khoa học là Euphorbia milii splendens Nhựa cây gây bỏng rát da khi tiếp xúc.

Cà độc dược, một số loại cà kiểng, hoa Lưu ly: Tên khoa

học là Datura metel, thuộc họ cà Solanaceae Tiếp xúc

qua da với bất kì vị trí nào trên cây đều có thể gây nổi mẩn đỏ, ngứa, chóng mặt, nhức đầu, thấy ảo giác, hôn mê

Trang 26

Thơm ổi: Tên khoa học là Lantana spp Quả có chất độc

Lantanin alkaloid Hoặc lantadene A gây bỏng rát đường ruột, giãn cơ, rối loạn tuần hoàn máu và có thể dẫn đến tử vong

Chuỗi ngọc: Tên khoa học là Sedum morganianum: Tất cả

bộ phận có chấtGlucosides gây mệt mỏi, khó thở, tiêu chảy nếu ăn phải

Môn lá lớn: Tên khoa học là Colocasia spp Tất cả các bộ

phận trên cây đều chứa chất Calcium oxalate Asparagine gây ngứa và bỏng rát cổ họng, tiêu chảy nếu

ăn phải

Hồng môn: Tên khoa học là Anthurium spp Tất cả các bộ

phận của cây đều có độc tố Calcium oxalate và Asparagine Việc ăn phải loại thực vật này có thể gây bỏngrát vùng họng, dạ dày và ruột

Xương rồng kiểng: Tên khoa học là Euphorbia trigona Nhựa cây Có thể gây bỏng da và mắt nếu tiếp

xúc, gây tê cứng lưỡi và miệng, nôn mửa nếu ăn phải

Một số loại trầu (Trầu bà, Trầu ông, ): Có tên khoa học

là Philodendron spp Lá và thân cây có chất độc Calcium

oxalate gây tiêu chảy, buồn nôn, bỏng rát niêm mạc miệng

Trang 27

Lục bình: Tên khoa học là Eichhornia crassipes Tất cả

các bộ phận của cây đều có độc gây chứng ăn không tiêu,

ói mửa trên chó, mèo và một số vật nuôi khác khi ăn phải.

Huệ Lili: Tên khoa học là Hippeastrum puniceum Củ cây

có chất độcLycorine gây tiêu chảy, buồn nôn, ói mửa khi

ăn phải Nhựa cây có thể gây nôn mửa nếu ăn phải Tránh tiếp xúc trực tiếp với da vì có thể gây bỏng rát, ngứa

Cẩm tú cầu: Tên khoa học là Hydrangea macrophylla Lá

và củ cây có chất Hydragin-cyanogenic glycoside gây tiêuchảy, ói mửa, thở gấp

Thiên điểu: Tên khoa học là Strelitzia reginae Hoa và hạt

của cây có các chất gây ngộ độc đường ruột Tiếp xúc hoặc ăn hoa, hạt sẽ khiến buồn nôn, tiêu chảy, chóng mặt

Khi trồng các loại cây trên chúng ta cần tìm hiểu về đặc điểm của từng loại để cómục đích sử dụng hợp lý, tránh trường hợp không hiểu biết về cây gây nguy hiểmcho bản thân và gia đình

Trang 28

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ

MÔI TRƯỜNG QUẬN 2

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

2.1.1 Vị trí địa lý

Quận 2 có vị trí nằm về phía Đông thành phố Hồ Chí Minh, có tổng diện tíchkhoảng 50 km2 và dân số 145.981 người được bao quanh bởi 2 con sông Sài Gòn vàsông Đồng Nai Theo địa giới hành chính, quận 2 được chia thành 11 phường và có

vị trí:

- Phía Bắc giáp quận Thủ Đức

- Phía Đông giáp quận 9

- Phía Nam giáp quận 7 và tỉnh Đồng Nai

- Phía Tây giáp quận 4, quận 1 và quận Bình Thạnh

Trang 29

Hình 2.1: Vị trí địa lý Quận 2

Theo quy hoạch tổng thể Quận 2 có khu công nghiệp Cát Lái diện tích khoảng

800 ha, khu trung tâm hành chính của Quận chiếm khoảng 600 ha, khu trung tâmTài chính- Thương mại 650 ha, khu thể thao Rạch Chiếc khoảng 400 ha, còn lại làcác công trình phúc lợi và khu dân cư

2.1.2 Điều kiện khí tượng, thủy văn

2.1.2.1 Khí hậu

Khí hậu Quận 2 mang đặc trưng của khí hậu Nam Bộ: khí hậu nhiệt đới gió mùa,tương đối ôn hòa, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa

- Nhiệt độ trung bình 27,9 0C (dao động từ 16-34 0C)

- Thời gian chiếu sáng trong ngày giữa các tháng trong năm thay đổi rất nhỏ:

tháng 6 có thời gian chiếu sáng dài nhất là 12 giờ 42 phút, trong khi đó tháng

12 có số giờ chiếu sáng ngắn nhất là 11 giờ 32 phút

- Lượng mưa cao nhất: 2178 mm/ năm

- Lượng mưa trung bình 1895 mm/ năm, trong đó lượng mưa của cả mùa mưa

( từ tháng 6 đến tháng 11) chiếm 60% - 95%

- Lượng mưa thấp nhất: 1329 mm/ năm.

Trang 30

- Hường gió chủ đạo: Tây Nam ( tháng 4-9); Tây Bắc (tháng 11-12); Đông

vụ sinh hoạt và hoạt động sản xuất nông nghiệp

Đối với khu vực bưng trũng mực nước ngầm từ 0,5 – 0,8m, có độ pH cao vàthường xuyên bị nhiễm phèn, cần xử lý mới có thể sử dụng được

2.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI

2.2.1 Tình hình kinh tế

2.2.1.1 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Ngành Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp là ngành chủ lực của Quận, đónggóp giá trị sản xuất nhiều nhất trong các ngành kinh tế Tuy nhiên từ năm 2001-

2004 giá trị sản xuất của ngành Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp có xu hướnggiảm do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, cụ thể năm 2001, ngànhCông nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp đóng góp 90,97% trong tổng số giá trị sản xuấttrên địa bàn, năm 2002 là 89,1%, năm 2003 giảm xuống còn 81,57% và năm 2004chỉ còn 70,86%

Trên địa bàn Quận tập trung 318 cơ sở Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp,trong đó doanh nghiệp Trung Ương và Thành Phố là 2 cơ sở, 4 cơ sở liên doanhnước ngoài, 312 cơ sở ngoài Quốc doanh gồm 27 Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn,

14 Doanh Nghiệp Tư Nhân và 271 hộ cá thể

Hoạt động Tiểu thủ công nghiệp trong Quận tập trung ở một số ngành như: dầu

Trang 31

Đặc biệt là các cơ sở Tiểu thủ công nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư hoạt độnggây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.

Bảng 2.1 Danh sách các cơ sở SXCN trên địa bàn Quận và giá trị sản xuất các năm

Loại hình cơ sở

SXCN

Số cơsở

Giá trị(tỷ đồng)

Số cơsở

Giá trị(tỷ đông)

Số cơsở

Giá trị(tỷ đồng)

% và năm 2004 tăng mạnh đạt 28,5 %

Trang 32

Mạng lưới Thương mại – Dịch vụ của Quận gồm 5.294 cơ sở, thu hút 12.421 laođộng với 58 Doanh Nghiệp Tư Nhân, 85 Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn và Công ty

Cổ phần, 5.151 hộ cá thể hoạt động trên các lĩnh vực thương nghiệp ăn uống, kháchsạn và dịch vụ, trong đó thương nghiệp là ngành đóng góp giá trị sản xuất cao nhất,chiếm 53 % trong tổng số giá trị sản xuất của ngành Thương mại – dịch vụ

Bảng 2.2 Cơ cấu giá trị Sản Xuất ngành Thương mại – dịch vụ năm 2000 – 2004

Cơcấu(%)

Giá trị(tỷđồng)

Cơcấu(%)

Giá trị(tỷđồng)

Cơcấu(%)

Giá trị (tỷđồng)

Cơ cấu(%)

%; năm 2002 là 1,27 %; năm 2003 giảm còn 1,07 %; năm 2004 chỉ còn 0,64 %

Hiện trạng sử dụng đất chiếm tối đa là sản xuất nông nghiệp trồng lúa với năngsuất và hiệu quả sản xuất rất thấp, bình quân đạt trên dưới 2 tấn/ha trên một vụ mùa

Do là vùng sản xuất nông nghiệp nên lượng thuốc bảo vệ thực vật dùng rất nhiều,đây là một nguồn ô nhiễm quan trọng đến mạch nước ngàm và nguồn nước mặt

Trang 33

ảnh hưởng tới việc tưới tiêu và thoát nước mưa gây nên tình trạng ngập úng ở một

Bảng 2.4 Hoạt động chăn nuôi giai đoạn năm 2000 – 2005

Trang 34

Về chăn nuôi: chủ yếu là chăn nuôi heo và gia cầm Ngoài ra còn có nuôi bò

và nuôi trồng thủy sản nhưng không đáng kể Số hộ dân chăn nuôi heo ở tất cả cácphường của Quận tập trung nhiều ở phường An Lợi Đông, Bình Khánh, Cát Lái, AnKhánh

2.2.1.4 Về đầu tư, đô thị và môi trường

Tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn ước tính thực hiện 3.515 tỷđồng Các công trình vốn ngân sách do Ban quản lý Dự án Quận làm chủ đầu tư, có

94 công trình ( giá trị thực hiện 74,3 tỷ đồng) Đã thực hiện 62,7 tỷ đồng

Những công trình thực hiện tốt: trung tâm y tế, trung tâm dạy nghề, trung tâmvăn hóa đã đưa vào sử dụng

2.2.2 Tình hình xã hội

2.2.2.1 Dân số

Dân số Quận 2 là 145.981 người (theo Điều tra dân số năm 2009), phân bốkhông đồng đều, những phường có diện tích nhỏ nhưng là trung tâm kinh tế củaQuận thường tập trung đông dân cư Phường có mật độ dân số cao nhất là phường

An Khánh với 9.363 người/km2 mặc dù diện tích tự nhiên nhỏ nhất (1,77 km2),phường có mật độ dân số cao thứ hai là phường Bình An với mật độ dân số 8.195người/km2 Trong hki đó phường Thanh Mỹ Lợi có diện tích 13,01 km2, lớn nhấttrong toàn Quận nhưng mật độ dân cư thưa thớt chỉ 757 người/km2 Trong tương laiQuận 2 cần có sự phân bố lại dân cư ở các phường, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất,

hạ tầng kỹ thuật đồng đều giữa các phường để có sự phát triển đồng bộ, tạo điềukiện phát triển nguồn nhân lực, vật lực của các phường

Trang 35

Bảng 2.5 Diện tích, dân số, mật độ dân số thường trú Quận 2 năm 2005

(km 2 )

Dân số (người)

Mật độ dân số (người/km 2 )

(Nguồn: niên giám thống kê Quận 2, 2005)

Dân số trung bình của Quận 2 tăng đáng kể trong những năm qua, tuy nhiên tỷ

lệ gia tăng này đa số là gia tăng cơ học, tỷ lệ tăng tự nhiên không cao thậm chí có

xu hướng giảm trong những năm gần đây Tỷ lệ tăng cơ học có thể do các nguyênnhân sau: sự phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất…Sự di chuyển dân

số từ nội thành ra vùng ven, sự hình thành của các khu đô thị mới cao cấp, khu dâncư…

Trang 36

Bảng 2.6 Tỷ lệ biến động dân số Quận 2 qua các năm Loại tỷ lệ

Năm

Tăng tự nhiên (%)

Tăng cơ học (%)

Tăng chung (%)

Chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu được thực hiện tốt, tình hình dịchbệnh giảm do được phát hiện và xử lý sớm nhất là bệnh sốt xuất huyết, thương hàn.Đội vệ sinh phòng dịch Quận 2 thường xuyên tổ chức, kiểm tra, ngăn chặn cácnguồn dịch bệnh giữ cho môi trường trong sạch, tổ chức việc thanh khiết môitrường sau khi bốc mộ Về rác y tế tại các trạm y tế phường đề có họp đồng thu gomvới Công ty môi trường đô thị thành phố, còn với các phòng khám tư nhân chưa co

biện pháp xử lý rác y tế theo đúng quy định.

2.2.2.3 Trình độ học vấn

Trang 37

Theo số liệu thống kê của phòng giáo dục, năm 1998- 1999 toàn quận có 13trường mẫu giáo, 9 trường tiểu học, 5 trường trung học cơ sở, 1 trường cấp II-III, 1trường bổ túc và 1 trường cấp III Số lớp học, phòng học, giáo viên và học sinh năm

2004 chia theo các cấp được trình bày sau đây:

- Mẫu giáo: 91 lớp học với 162 giáo viên và 3.193 học sinh.

- Phổ thông: 423 lớp học với 623 giáo viên và 16.200 học sinh.

- Bổ túc: 10 lớp học với 10 giáo viên và 329 học sinh.

Quận cũng đã quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo Ngay từ đầu đã tậptrung nâng cấp, sữa chữa trường lớp, xây dựng những ngôi trường mới khang trangđạt tiêu chuẩn quốc gia, trang bị các thiết bị mới hiện đại cho việc dạy và học Năm

2000 đã xóa tình trạng lớp học ca 3, hoàn thành công tác xóa mù chữ, năm 2002hoàn thành phổ cập giáo dục bậc Trung học sơ sở, học sinh tốt nghiệp các cấp học,học sinh giỏi ngày càng nhiều Đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa ngày càng cao

2.2.2.4 Thu nhập bình quân

Theo số liệu của tổng cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, thunhập bình quân của người dân tại Thành phố là 3.220 USD/người/năm, sắp xỉ gần 6triệu đồng/ người/tháng Dự kiến năm 2012 sẽ đạt 3.600 USD/người/năm

2.3.1 Hiện trạng môi trường đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của Quận là 5.017,55 ha Căn cứ vào nguồn gốc phátsinh được chia thành 4 nhóm đất chính sau:

- Nhóm đất xám: chiếm 7 % diện tích chủ yếu ở phường Bình Trưng Đông, BìnhTrưng Tây, và một số ít ở phường Thạnh Mỹ Lợi

- Nhóm đất phù sa: chủ yếu ở phường Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi chiếm 13 % diệntích đất trên địa bàn Quận 2 Đặc điểm có nhiều sét thịt trên mặt do bị ngập nước,giàu chất hữu cơ, cation kiềm trung tính, nghèo lân dễ tiêu

- Nhóm đất phèn phát triển: chiếm 16 % diện tích, phân bố rộng rãi ở các phường

Trang 38

khả năng rửa phèn, độ pH nhỏ dưới 4,5, thành phần cơ giớ nhiều sét, tầng mặt nhiềuchất hữu cơ và có độ dãn lớn, mùa khô dễ bị nứt nẻ, giàu mùn và đạm.

- Nhóm đất phèn tiềm tàng: chiếm tỷ trọng cao nhất 64 %, ở Đông và Đông Namcủa Quận, thuộc các phường Thủ Thiêm, Bình Khánh, An Khánh, An Phú, An LợiĐông, Bình An và một số ở Cát Lái Nhóm này có thành phần cơ giới nặng, giàu séthữu cơ, độ co rút lớn, đất hơi chua, độ pH từ 5,3- 5,7, nghèo lân

Theo số liệu tổng kiểm kê đất năm 2005, diện tích đất tự nhiên của Quận 2chiếm 2,39 diện tích đất của Thành Phố và đã được khai thác đưa vào sử dụng toàn

bộ diện tích cho việc phát triển của Quận Có một thực tế đáng lo ngại là diện tíchđất sử dụng cho việc trồng cây xanh ngày cành bị teo tóm do rất nhiều dự án khudân cư không tuân thủ phát triển mảng xanh đúng như quy hoạch, nhiều diện tíchđất dành cho phát triển mảng xanh lại bị sử dụng cho mục đích khác Theo quy địnhtại Quyết định 01/2006/QĐ-BXD ngày 5-1-2006 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, tiêuchuẩn đất cây xanh công viên của đô thị đặc biệt là 7-9 m2/người, đô thị loại I-II : 6-7,5 m²/người, loại III-IV: 5-7 m²/người, loại V: 4-6 m²/người Thành phố Hồ ChíMinh là đô thị đặc biệt nhưng diện tích cây xanh trên đầu người hiện chỉ đạtkhoảng gần 1m²/người Nguyên nhân dẫn đến tình trạng công viên, cây xanh trênđịa bàn thành phố bị thu hẹp đáng kể trong thời gian qua là do quá trình đô thị hóađang diễn ra nhanh chóng ở các quận huyện vùng ven với nhiều công trình xâydựng các khu dân cư, trung tâm thương mại, nhà cao tầng tăng lên làm cho quỹ đấtdành cho công viên, cây xanh ở nội thành cũng như ngoại thành đang bị giảm đinhanh chóng

2.3.2 Hiện trạng môi trường nước

Nguồn tài nguyên nước ở Quận 2 rất phong phú do được bao bọc bởi 2 con sônglớn là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Ngoài ra Quận 2 còn có hệ thống kênhrạch nội đồng tập trung ở các phường như:

- Phường Cát Lái: rạch Bà Cua, rạch Cỏ Chi.

- Phường Thảo Điền: rạch khu phố 1, rạch Ông Cua, rạch Báo Chí, rạch Ông

Ngày đăng: 04/03/2021, 20:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w