Góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp tại Việt Nam là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn rất nhiều khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam, chính vì thế, pháp luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ
MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN, PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO
CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : NGUYỄN THÀNH ĐỨC
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2thống tôn sư trọng đạo bởi lẽ mới có câu tục ngữ “ Không thầy đố mày làm nên” nhằm khẳng định vai trò của người thầy trong công tác giáo dục và nhắc nhở con cháu phải biết ơn, tôn trọng thầy
Mỗi sinh viên đều mang trong mình những ước mơ và khao khát chinh phục nó
Là sinh viên của một ngôi trường danh giá, tôi ý thức được rằng, mình phải thật nghiêm túc với những năm tháng học tập và rèn luyện tại đây Và cuộc hành trình dài nào cũng đều phải bắt đầu bằng những bước chân chập chững đầu tiên Thật khó có thể tránh được những lạ lẫm, bỡ ngỡ khi lần đầu được trải nghiệm những công việc thực tế sau ba năm học Hơn tháng thực tập - khoảng thời gian không đủ dài để khẳng định khả năng của bản thân, nhưng phần nào đã giúp tôi hình dung rõ hơn định hướng công việc của mình trong tương lai, cũng như tiếp thêm cho tôi sức mạnh và niềm tin vào con đường mà mình đang lựa chọn
Trong suốt khoản thời gian gắng bó với nhà trường từ khi là sinh viên khoa Luật – Trường Đại học Công Nghệ Tp.HCM – HUTECH em đã nhận được rất nhiều sự
hỗ trợ, giúp đỡ của quý Thầy, Cô, gia đình và bạn bè Dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng là một phần to lớn giúp em có được thành công như ngày hôm nay Với lòng biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến quý thầy cô trường Đại học Công Nghệ Tp.HCM nói chung và quý Thầy Cô Khoa Luật – đại học Công Nghệ Tp.HCM nói riêng Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới thầy Nguyễn Thành Đức - giảng viên hướng dẫn đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Những lời chia sẻ, lời khuyên và bài học của thầy không những trong khóa luận này mà còn những môn học mà tôi được học từ thầy: “ Thủ tục thành lập doanh nghiệp” mang đến cho tôi những cái nhìn mới, những kiến thức mới mà tới giờ tôi đã và đang áp dụng tại công ty tôi đang thực tập Cám ơn thầy vì đã đồng hành cùng tôi để tôi có thể hoàn thành tốt bài khóa luận này Dẫu kết quả đạt được thế nào thì tôi cũng cảm thấy hài lòng vì mình đã dốc sức mình vào nó Một lần nữa em xin trân trọng cám ơn thầy
Bên cạnh đó, xin chân thành cám ơn các thầy cô, các bạn của tôi đã có thêm những lời khuyên cũng như giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành bài luận văn này
Trang 3Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khóa luận tốt nghiệp này được thu thập từ nguồn thực tế tại Đơn vị thực tập, trên các sách báo khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định)
Nội dung trong khóa luận này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình nghiên cứu và thực tế tại đơn vị thực tập KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, khóa luận khác
Nếu sai sót Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường
và Pháp luật
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Thảo
MAI THỊ THU THẢO
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Kết cấu của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN, PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm về góp vốn, mua cổ phẩn, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam 6
1.1.1 Khái niệm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp……….6
1.1.2 Đặc điểm của góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam 13
1.2 Vài trò, ý nghĩa của góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam 14
1.2.1 Vai trò của việc góp vón, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam 14
1.2.2 Ý nghĩa của góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam……….16
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN, PHẦN VỐN GOP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 21
2.1 Quy định pháp luật hiện hành về góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam 21
Trang 52.1.2 Trình tẹ thủ tục hồ sơ về gopd vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam………22 2.2 Những bất cập của pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 28 2.2.1 Tình hình góp vốn 28 2.2.2 Những bất cập của pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 37 CHƯƠNG III: TÌNH HÌNH GÓP VỐN VÀ KIẾN NGHỊ VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN, MUA PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NUỚC NGOÀI VÀO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 38 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam 38 3.2 Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam 39
KẾT LUẬN 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT LĐT Luật đầu tư
LDN Luật doanh nghiệp
FDI Foreign Direct Investment đầu tư trực tiếp nước ngoài NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài
CTCP Công ty cổ phần
TNHH Tránh nhiệm hữu hạn
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, đầu tư nước ngoài là hoạt động thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của các quốc gia Bởi lẽ, đầu tư nước ngoài góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao Việt Nam đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp (FDI) đã tăng trưởng nhanh chóng, cho thấy tầm quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với sự phát triển kinh tế – xã hội nước ta Trong bối cảnh ấy, đòi hỏi các quy định của pháp luật về hoạt động này phải được xây dựng một cách chặt chẽ và hợp lý, đảm bảo thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà vẫn bảo vệ và phát triển thành phần kinh tế trong nước Cân bằng lợi ích của nhà nước và nhà đầu tư, tạo ra mối liên hệ hai bên cùng
có lợi
Kinh tế phát triển, đất nước trên đà hội nhập kinh tế quốc tế, muốn phát triển xa hơn, rộng hơn, ngoài những nguồn lực tự thân, cần có những nguồn lực từ bên ngoài Kinh tế Việt Nam từ khi mở cửa hội nhập, đặc biệt là từ khi luật Đầu tư nước ngoài lần đầu tiên được ban hành vào năm 1987 đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn, bên cạnh những nỗ lực của nhà nước và nhân dân trong công cuộc đổi mới, không thể không kể đến những sự hỗ trợ từ bên ngoài, những nhà đầu tư nước ngoài đã góp một phần không nhỏ vào những thành tựu ấy
Luật đầu tư 2014 đã dùng khái niệm “Đầu tư kinh doanh” để thay thế hai khái niệm trên Tuy nhiên, dù được diễn đạt ở khái niệm nào đi chăng nữa thì về bản chất vẫn là việc nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nguồn vốn đầu tư vào các doanh nghiệp tại Việt Nam
Pháp luật góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp cùa nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp Việt Nam là bộ phận cấu thành không thể thiếu của pháp luật kinh doanh để tạo thành làng pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp và đầu
tư gián tiếp vào thị trường Việt Nam thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào các doanh nghiêp tại Việt Nam Góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp tại Việt Nam là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn rất nhiều khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam, chính vì thế, pháp luật góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là bộ phận cấu thành không thể thiếu của pháp luật kinh doanh để tạo hành lang pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư của họ Nước ta trong gần 30 năm qua đã có nhiều lần thay đổi pháp luật về đầu tư nhằm tạo một môi trường minh bạch, thông thoáng, hấp dẫn hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, pháp Luật góp
Trang 8vốn, mua cổ phần của nhà Đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam còn một số hạn chế, bất cập Đó là, hệ thống pháp luật về đầu tư còn chưa đồng bộ; quản lý nhà nước chưa theo kịp với yêu cầu phát triển, thủ tục hành chính còn rườm
rà đối với nhà đầu tư nước ngoài; thủ tục thực hiện góp vốn, mua cổ phần còn vòng quanh đến mức không khả thi khiến nhà đầu tư nước ngoài mất rất nhiều thời gian, chi phí và cơ hội đầu tư; sự quy định không thống nhất giữa các văn bản pháp luật về các trường hợp được coi là nhà đầu tư nước ngoài; mức góp vốn, mua cổ phần vẫn chưa rõ ràng, cụ thể, chẳng hạn về mức góp vốn, mua cổ phần đối với doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề có những điều kiện hạn chế khác nhau… Những bất cập này cần được khắc phục nhằm phát huy hơn nữa vai trò của pháp luật góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam nhằm đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Luật Đầu tư năm 2014 (LĐT 2014) được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014 Nhìn tổng thể, LĐT 2014 giữ nguyên phạm vi điều chỉnh của LĐT 2005, bao gồm quy định
về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài Dù vậy, đâu đó vẫn còn một sự lưỡng lự giữa mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hộ đầu tư trong nước, giữa quyền quản lý của Nhà nước
và quyền tự do đầu tư của nhà đầu tư
Hiện nay, Việt Nam quy định còn chưa rõ ràng và đầy đủ về các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó còn có những mặc tích cực khiên các doanh nghiệp Việt Nam gặp một số hạn chế, bất cập nhất định Vướng mắc về quy định pháp luật hoặc vấn đề được hiểu theo một chiều, không thống nhất và gây nhiều tranh cãi nhất là về mặt thủ tục hành chính vẫn còn chồng chéo, không rõ ràng Quản
lý nhà nước chưa theo kịp với nhu cầu phát triển, các thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà đối với nhà đầu tư nước ngoài, Những bất cập này cần được khắc phục sửa đổi kịp thời nhằm phát huy hơn nửa vai trò của góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp cùa nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế Trong bối cảnh đã và đang hòa mình vào cộng đồng kinh tế ASIAN với sức ép ngày càng khốc liệt Việt Nam cần có một môi trường đầu tư chuyên nghiệp
và hoàn thiện để tạo được lợi thế cạnh tranh với các nước trên thế giới
Với việc tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO và kí kết Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP, pháp luật đầu tư đặt dưới sức ép buộc phải thực hiện những điều chỉnh về chính sách và pháp luật liên quan đến môi trường kinh doanh nhằm đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc và quy định của WTO Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu để có những kiến thức tổng quát cũng như những đánh giá khách quan về pháp luật góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là thực sự cần thiết
Trang 9Nghiên cứu đề tài này là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và môi trường kinh tế quốc tế góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế ở Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam là lĩnh vực được nhiều tác giả quan tâm Những công trình của tác giá đi trước là kết quả nghiên cứu quý báu nên tác giá đã kế thừa những thành tựu đã đạt được và nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam Việc đề ra các chính sách pháp luật để thu hút và thực hiện quản lý hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không còn là một vấn đề quá mới mẻ, nhưng vẫn luôn được quan tâm bởi tính chất quan trọng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, trong những năm qua, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên đây cũng không phải là đề tài cũ Bởi kể từ khi luật mới được ban hành và có hiệu lực, vẫn chưa có công trình nào thực sự đi phân tích sâu về vấn đề góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp tại Việt Nam, khi
mà luật mới còn quá mới mẻ với nhiều người và họ chưa biết quy cách áp dụng nó trong thực tiễn ra sao, và theo nhiều chuyên gia, ngay cả luật mới cũng còn nhiều điểm gây tranh cãi, vậy những bất cập của luật cũ là gì, luật mới giải quyết nó ra sao
và còn điều gì chưa hoàn thiện? Từ những lý do này, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài này, nhằm mục đích nghiên cứu một cách sâu sắc vấn đề góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp tại Việt Nam trên dựa trên Luật Đầu tư 2014 vừa có hiệu lực vào 01/07/2015, mang lại cho sinh viên và người đọc quan tâm một góc nhìn toàn diện về hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vào trong các doanh nghiệp Việt Nam
tư nước ngoài có tác động rất mạnh đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhờ có “trụ cột” này mà Việt Nam trong nhiều năm qua được biết đến là một quốc gia phát triển
Trang 10năng động, đổi mới, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Chính vì vậy mục đích khi nghiên cứu đề tài này là:
- Làm rõ được những điểm mạnh cũng như hạn chế trong hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong luật Đầu tư 2014
- Đưa ra được ra được cái nhìn khái quát nhất về hoạt động đầu tư của nhà đầu
tư nước ngoài vào doanh nghiệp Việt Nam và phần nào đó góp phần hoàn thiện phát luật về đầu tư trong tương lai
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục hạn chế của pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư nói chung cũng như về góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam nói riêng
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề về góp, mua cô phần, mua phần vốn góp của nhà đâu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam theo LĐT 2014 LDN 2014 và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cùng một số Luật chuyên ngành
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một só vấn đề pháp lý cơ bản nhất liên quan đén góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp cảu nhà đâu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam Trong luận văn này tập nghiên cứu các quy định của LĐT 2014, LDN 2014 và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cùng một số Luật chuyên ngành, điều ước quốc tế có liên quan
Đề tài nghiên cứu sẽ tập trung vào các vấn đề pháp lý cơ bản nhất của pháp luật về đầu tư:
- Thứ nhất, đề tài sẽ đi vào phân tích hai khái niệm cơ bản là khái niệm “góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài” và khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” qua đó làm rõ thêm đặc điểm, vai trò của hoat động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong pháp luật Việt Nam
- Thứ hai là phân tích về các hình thức góp vốn, mua cổ phần; điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần cũng như là mức góp vốn, mua cổ phần cụ thể đối với một số ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp có khả năng chi phối mạnh mẽ đến kinh tế Việt Nam cũng như là thủ tục tương ứng với các trường hợp Bên cạnh đó, đề tài còn đi nghiên cứu, đánh giá một số lĩnh vực có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong cam kết của Việt Nam với WTO như lĩnh vực ngân hàng, viễn thông, vận tải biển… để từ
đó có cái nhìn tổng quát nhất nhằm đưa ra phương hướng hoàn thiện cho pháp luật
Trang 11về đầu tư liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong tương lai
6 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận này được vận dụng phương pháp luận Trên nền tảng của phương pháp luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp triển khai, khái quát, đánh giá, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp tiên hành nghiên cứu làm sang tỏ các vấn đề của đề tài Đưa ra các nhận xét về pháp lý có liên quan đến góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của NĐT nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam Để từ đó, nêu lên được những thành tựu, những điểm tiến bộ của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư 2014 và đồng thời tìm các ra các vấn đề còn tồn đọng
và nguyên nhân của những hạn chế đó cũng như là một số rủi ro đối với hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài
Trong suốt hành trình nghiên cứu của khóa luận không sử dụng riêng một phương pháp mà sẽ vận dụng kết hợp một cách linh hoạt để hoàn thành khóa luận của mình một cách tốt nhất
7 Kết cấu của đề tài
Bố cục được chia thành ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và kết luận phần nội dung được chia thành 3 chương bao gồm:
CHƯƠNG I: Tổng quan về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp việt nam
CHƯƠNG II: Thực trạng pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn gop của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam
CHƯƠNG III: Tình hình góp vốn và kiến nghị về góp vốn, mua cổ phần, phần vốn gop của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN, PHẦN VỐN GÓP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và đặc điểm về góp vốn, mua cổ phẩn, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam
1.1.1 Khái niệm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp
Khái niệm góp vốn
Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp tròn các doanh nghiệp Việt Nam là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn rất nhiều khi tiến hành đầu
tư vào Việt Nam Theo từ điển Luật học góp vốn là việc nhà đầu tư đưa tài sản dưới dạng hình thức khác nhau vào doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu doanh nghiệp
Dưới góc độ kinh tế, góp vốn là hành vi mà các tổ chức, cá nhân gộp tài sản của mình lại thành một phần chung để cùng thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, tỉ
lệ tài sản góp của các bên sẽ được dùng làm căn cứ để phân chia lợi nhuận, tài sản sau này Theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp 2014 thì “Góp vốn là việc góp tài sản để trở thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập” Theo
đó, tài sản đưa vào góp vốn bao gồm Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam
Góp vốn được hiểu là “ Việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập”1
Như vậy góp vốn chỉ đặt ra với loại hình doanh nghiệp là các loại công ty còn doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp đặc thù do môt cá nhân làm chủ nên
1 Theo quy định tại khoản 13 điều 4 Luật Doanh Nghiệp 2014
Trang 13không cần phải việc tiến hành hoạt động góp vốn Vốn của doanh nghiệp tư nhân gọi
là vốn đầu tư và do chủ doanh nghiệp tư nhân tư đăng ký Ngoài ra theo quy định pháp luật, khi chủ doanh nghiệp muốn tăng vốn đầu tư thì cũng không cần tiến hành thủ tục chuyển quyền sở hữu công ty cổ phần, công ty tránh nhiệm hữu hạn và công
ty hợp danh
Thành viên sở hữu phần vốn góp trong công ty TNHH còn cố đông sở hữu cổ phần trong công ty cổ phần Về bản chất, phần vốn góp và cổ phần thể hiện quyền sở hữu của thành viên và cổ đông với phần vốn của mình Luật đầu tư 2014 quy định nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế So với Luật đầu tư 2005, Luật đầu tư 2014 quy định cụ thể, chi tiết hơn về hình thức cũng như điều kiện đối với hình thức đầu tư này
Luật đầu tư 2005 còn hạn chế về tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần đối với Nhà đầu tư trong nhiều ngành nghề Tuy nhiên thời điểm đó Luật đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 22 tháng 9 năm 2006 hướng dẫn Luật đầu tư lại có hiệu lực thi hành vài tháng trước khi Việt Nam gia nhập WTO và thực hiện lộ trình cam kết với Tổ chức này về mở cửa thị trường đầu tư trong các ngành nghề dịch
vụ cũng như các cam kết khác liên quan đến hoạt động đầu tư Phải đến năm 2015,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới hoàn tất và công bố Danh điều kiện đầu tư với Nhà đầu
tư nước ngoài lên trang Hệ thống thông tin về đầu tư nước ngoài Danh mục được áp dụng với trường hợp đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, trong đó quy định cụ thể về điều kiện tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ với Nhà đầu tư Vậy, phải mất 10 năm quy định trong Luật đầu tư 2005 mới có thể đi vào thực hiện Ngoài ra, với hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, Nghị định 108/2006/NĐ-CP cũng không đưa ra được hướng dẫn cụ thể, chỉ có thể quy định dẫn chiếu đến “Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan” Từ đó có thể thấy rằng Luật đầu tư 2014 đã hoàn thiện một khối lượng rất lớn những quy định mà Luật đầu tư
2005 còn bỏ ngõ, quy định chưa tới đối với hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp
Góp vốn được hiểu là “việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty”, bao gồm “góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập” Luật Đầu tư 2014 dành riêng quy định cụ thể về hình thức
và điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài Theo đó, hoạt động đầu tư góp vốn vào tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện dưới một trong ba hình thức sau: mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công
ty cổ phần; góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; hoặc góp vốn vào tổ chức kinh tế khác
Trang 14Luật Đầu tư 2014 cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của công
ty cổ phần, mua phần vốn góp từ các thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và các tổ chức kinh tế khác Đối với hình thức mua cổ phần, nhà đầu tư nước ngoài có thể mua trực tiếp từ công ty hoặc từ các cổ đông trong công ty Đối với hình thức mua phần vốn góp, nhà đầu tư nước ngoài sẽ trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn, thành viên góp vốn của công ty hợp danh hoặc thành viên của các loại hình tổ chức kinh tế khác
Tương tự hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài và
tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm đa số khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế không bị hạn chế về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, trừ các trường hợp quy định tại các Điểm a, b, c Khoản 3 Điều 22 Luật Đầu tư 2014 và
tuân theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Khái niệm về mua cổ phần
Cổ phần là “Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau”2 Giá trị của mỗi phần chia được gọi là mệnh giá của cổ phần đó, mệnh giá bao nhiêu là do công
ty quyết định, Luật Doanh nghiệp 2014 không quy định mệnh giá của cổ phần, mệnh giá luôn luôn bằng nhau giữa các cổ phần và giữa các thời điểm Khác với mệnh giá, thị giá của cổ phần là giá giao dịch của cổ phần đó trên thị trường, thị giá không luôn bằng nhau giữa các cổ phần, nó phụ thuộc vào giá thỏa thuận dựa vào sự biến động của thị trường Thị giá không phụ thuộc vào mệnh giá, nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá Do đó, việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần là việc mà nhà đầu tư thực hiện các giao dịch nhằm nhận chuyển giao quyền sở hữu đối với cổ phần, trở thành cổ đông của công ty đó Từ việc sở hữu cổ phần, cổ đông sẽ tham gia chia sẻ rủi ro và lợi nhuận trong các hoạt động của công ty, và nếu tỉ lệ cổ phần đạt mốc luật định, cổ đông còn có thể tham gia vào việc quản lý Công ty cổ phần (CTCP) Việc mua cổ phần có thể thực hiện ở thị trường sơ cấp hoặc thị trường thứ cấp Trong đó, thị trường sơ cấp là thị trường phát hành lần đầu các loại chứng khoán ra thị trường, thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã qua giao dịch
ở thị trường sơ cấp Việc mua cổ phần được thể hiện thông qua việc mua giấy tờ có giá Cổ phiếu là một loại giấy tờ có giá, nó là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu Thủ tục mua
cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có sự khác biệt nhất định so với nhà đầu tư trong
2 Theo khái niệm tại điểm a khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 15nước, nhà đầu tư nước ngoài không được mua cổ phần của các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề cấm đối với họ Ngoài ra, thủ tục mua bán cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài còn phải tuân thủ các quy định của Luật đầu tư 2014 Đồng thời, mức sở hữu của họ đối với cổ phần trong các công ty kinh doanh một số ngành nghề đặc thù cũng phải tuân thủ các luật liên quan khác
Mua cổ phần là một trong những biện pháp nhầm tăng cường kiểm soát công ty
và tăng giá cổ phần cho các doanh nghiệp và đưa vào điêu lệ cho các công ty cổ phần Tác dụng của việc mua cổ phần có thể thấy là làm tăng lợi nhuận cho nhà đầu
tư đang nắm giữ cổ phiếu đó Công ty chỉ mua cổ phần khi có kết quả kinh doanh tốt
và dư giả tiền mặt Việc mua lại cổ phần sẽ bị giới hạn lại số cổ đông được chia cổ tức, làm cho số cổ tức được chia tăng lên, tức lợi nhuận trên mỗi cổ phần cũng tăng lên
Nhìn từ góc độ kỹ thuật, việc mua lại cổ phần của công ty sẽ giúp cải thiện một
số chỉ số tài chính cơ bản của công ty Việc mua lại cổ phần sẽ làm giảm lượng tiền mặt, khi đó tiền măt cũng chính là một tài sản, điều này dẫn đến suất sinh lowijj trên tổng sản tăng lên đáng kể Cho nên vậy, rất nhiều công ty niêm yết mua lại cổ phiếu
sẽ làm đáng kể số lượng cổ phiếu đang lưu hành Từ đó giảm áp lực pha loãng cổ phiếu do các đợt phát hành cổ phiếu ồ ạt gây ra Điều này có thể góp phần hữu hiệu giảm bớt nguồn cung chứng khoán trên thi trường nói chung, làm giá cổ phiếu có xu hướng tăng lên Do tác động trên, thực tế còn nảy sinh cả tác động về mặt tâm lý với nhà đầu tư khi có tin về việc mua lại cổ phần
Khái niệm về phần vốn góp
Trong xã hội hiện đại phần góp vốn trong công ty có tư cách pháp nhân gọi là phần góp vốn là tài sản có giá trị lớn trong sản nghiệp của chủ sở hữu Không phải được hình hành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình Cũng không phải là sản phẩm hình thành từ con tim và khối óc như các đối tượng của sỏ hữu trí tuệ Phần góp vốn là kết quả của sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty Phần góp vốn và tài sản góp vốn vào công ty là hai tài sản độc lập và thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể khác nhau
Phần góp vốn là tài sản, sản nghiệp của người góp vốn Tài sản đem góp vốn là tài sản thuộc sản nghiệp của công ty nhận tài sản góp vốn Thế nhưng không phải lúc nào người ta cũng phân biệt được sự khác nhau này
Góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân là việc một người thông qua hợp đồng góp vốn, chuyên quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản của mình cho công
ty có tư cách pháp nhân và đổi lại họ trở thành chủ sở hữu đối với phần vốn góp của
Trang 16công ty đó Tài sản góp vốm có thể bằng tiền hoặc hiện vật Hiện vật theo nghĩa rộng nhất là tài sản hữu hình hoặc vô hình mà không phải là tiền
Ví dụ: vàng, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất các yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại ( biển hiệu, tên thương mại, nhãn hiệu, mạng lười tiêu thụ hàng hóa, )
Hoặc có thể định giá tài sản góp vốn Luật doanh nghiệp có quy định có thể đinh giá tài sản góp vốn không phải là tiền (tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi), vàng thì phải được định giá như các tải sản góp vốn được nêu ở ví dụ trên
Bằng việc góp vốn người góp vốn được nhận phần vốn góp có giá trị tương đương ứng với giá trị tài sản góp vốn Giá trị phần vốn góp là tham số cho rất nhiều quyền của chủ sở hữu phần vốn góp có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp, được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp, nhận giá trị tài sản khi phá sản hoặc tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp của mình,
Theo quy định của luật doanh nghiệp 2014 có quy định về phần góp vốn “Phần vốn góp là tổng giá trị tài sản của thành viên đã góp hoặc cam kết góp vốn vào công
ty tránh nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh Tỷ lệ phần vốn góp là tỷ lệ của phần vốn góp của một thành viên và vốn điều lệ của công ty tránh nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh”3
Như vậy, góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là một hình thức nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn ra thực hiện đầu tư kinh doanh tại Việt Nam để được trao quyền quản lý và được quyền phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp đó Pháp luật về góp vôn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam là bộ phận của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầ tư nước ngoài
Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài
Trong một nền kinh tế thị trường, khai niệm đầu tư không còn xa lạ Liên quan đến việc sử dụng vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh, người ta còn có thể dễ dàng bắt gặp các thuật ngữ: “đầu tư tài chính”, “đầu tư thương mại”, “đầu tư phát triển” hay một khía cạnh khác về nguồn vốn vô hình gắn liền với từng chủ thể nhất định chỉ xuất hiện khi chủ thể đó tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, đầu tư vào vốn con người
Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài là một trong những thuật ngữ được tranh cãi nhiều nhất trong suốt quá trình ban hành và áp dụng pháp luật về đầu tư cho nhà đầu
3 Quy định khoản 21 đíều 4 luật doanh nghiệp 2014
Trang 17tư nước ngoài tại Việt Nam Trong lĩnh vực khoa học, khái niệm đầu tư được nghiên cứu và tiếp cận từ nhiều góc độ dưới góc độ kinh tế, góp vốn là hành vi mà các tổ chức, cá nhân gộp tài sản của mình lại thành một phần chung để cùng thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, tỉ lệ tài sản góp của các bên sẽ được dùng làm căn cứ để phân chia lợi nhuận, tài sản sau này
Theo quy định tại Luật Đầu tư 2014: “Nhà đầu tư (NĐT) là tổ chức, cá nhân
thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước
ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ” 4 và Luật Đầu tư 2014 cũng có đưa ra khái niệm về nhà đầ tư nước ngoài: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu
tư kinh doanh tại Việt Nam” Như vậy, sẽ có hai đối tượng “thực hiện hoạt động đầu
tư5:
Đối tượng 1: đối tượng đã bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư
Đối tượng 2: là pháp nhân mới được hình thành để thực hiện dự án đầu tư (đối với trường hợp dự án đầu tư có thành lập pháp nhân mới)
Theo đó, NĐTNN chỉ là những chủ thể tham gia góp vốn để thực hiện hoạt động đầu
tư, trường hợp dự án sử dụng nguồn vốn FDI nhưng có thành lập pháp nhân mới thì không xem pháp nhân đó là NĐTNN Như vậy, doanh nghiệp FDI được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nhằm mục đích thực hiện dự án đầu tư thì được xem là NĐTTN.Tuy nhiên, các văn bản khác và thực tiễn đều ghi nhận những doanh nghiệp FDI loại này vẫn được xác định là NĐTNN Quy định tại khoản 5 điều 3 Luật Đầu tư và khoản 20 Điều 4 Luật Doanh nghiệp là hạn chế của nhà lập pháp trong quá trình soạn thảo, cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp và thống nhất với các văn bản hướng dẫn và thực tiễn, đảm bảo quản lý hiệu quả hoạt động đầu tư Luật Đầu tư 2014 chỉ ra cụ thể bốn hoạt động đầu tư kinh doanh bao gồm thành lập tổ chức kinh tế; góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng và thực hiện dự án đầu tư 6 Như những phân tích trên, dù khái niệm “đầu tư” được diễn đạt bằng nhiều cách thức khác nhau nhưng một cách khái quát được hiểu là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành những hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội với hi vọng thu được những lợi ích trong tương lai
4 Khoản 13 Điều 3 Luật Đầu tư 2014
5 Khoản 14 điều 3 Luật Đầu tư 2014
6 Khoản 5 điều 3 luật đầu tư 2014
Trang 18Chủ thể tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh được gọi chung là “nhà đầu tư” Tuy cùng tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh nhưng khác với nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đó thông qua hành vi mang tài sản
từ quốc gia này sang quốc gia khác, tức là “di cư” có tính toán để nhằm mục đích lợi nhuận bởi vì ở đó, họ sẽ “sở hữu lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư; được ưu đãi và có điều kiện thuận lợi tại nước tiếp nhận đầu tư và có lợi ích về đầu tư lớn hơn so với doanh nghiệp nước tiếp nhận đầu tư”
Tại Việt Nam, khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” không chỉ được sử dụng trong Luật Đầu tư mà còn xuất hiện trong các đạo luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp Điều này là dễ hiểu, bởi các văn bản quy phạm pháp luật trên đều do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành và là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh, do đó yêu cầu về tính thống nhất trong phải được đảm bảo những trường hợp nhất định
Việc xác định tư cách nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài có vai trò rất quan trọng, không chỉ riêng đối với nhà đầu tư mà còn với các cơ quan có thẩm quyền, vì thông qua đó sẽ xác định được điều kiện và thủ tục đầu tư áp dụng
Luật Đầu tư 2014 quy định các cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài nếu thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam thì đều là nhà đầu tư nước ngoài Với quy định này, nhà đầu tư nước ngoài là chủ thể có quốc tịch nước ngoài (đối với cá nhân) hay được thành lập theo pháp luật nước ngoài (đối với tổ chức) thực hiện hoạt động kinh doanh mang bản chất của đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam Hoạt động đầu tư này tương tự nhưng cao hơn xuất khẩu hàng hóa vì hoạt động xuất khẩu hàng hóa (hay chính là hoạt động buôn bán hàng hóa ở nước sở tại) là bước đi tìm kiếm thị trường, tìm hiểu luật lệ để có cơ sở ra quyết định đầu tư
Đối với nhà đầu tư có quốc tịch nước ngoài và nhà đầu tư là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm đa số sẽ áp dụng các quy định của nhà đầu tư nước ngoài khi thành lập mới doanh nghiệp; góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế
Luật Đầu tư 2014 có quy định, nếu doanh nghiệp đó có vốn đầu tư nước ngoài
từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh là cá nhân nước ngoài thì được đối xử như nhà đầu tư nước ngoài7 Đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải căn cứ vào việc người này còn mang quốc tịch Việt Nam hay không Nếu họ không còn quốc tịch Việt Nam thì
7 Theo Điều 23 Luật Đầu tư 2014
Trang 19là nhà đầu tư nước ngoài Ngược lại, trong cả hai trường hợp trên, pháp luật xem họ
là nhà đầu tư trong nước
Như vậy, theo quy định của Luật Đầu tư 2014, việc xác định chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài chỉ dựa vào tiêu chí quốc tịch và số vốn điều lệ họ nắm giữ trong công ty
Và điều này đã gây ra không ít khó khăn, bởi không có sự thống nhất khi mà các văn bản có liên quan này chỉ điều chỉnh trong một phạm vi nhất định Khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 tiếp cận khái niệm nhà đầu tư nước ngoài từ góc độ quốc tịch Dù hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn thi hành nhưng theo quy định trong văn bản luật này, khái niệm nhà đầu tư nước ngoài được và chỉ được xác định theo tiêu chí quốc tịch Đối với quy định tỉ lệ phần vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Điều 23 Luật Đầu tư 2014 chỉ nhằm mục đích xác định cách thức đối xử với tổ chức này mà thôi, còn về bản chất, đó vẫn là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, bên cạnh nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước Do đó, không thể xem đây là tiêu chí về vốn để xác định tư cách nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, quy định này không phải không có hạn chế Bởi vì “sự thay đổi tỉ lệ vốn góp trong các doanh nghiệp là thường xuyên, nếu căn cứ vào tỉ lệ % vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, sẽ xảy ra tình trạng doanh nghiệp bị thay đổi địa vị pháp lý liên tục
1.1.2 Đặc điểm của góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài
vào các doanh nghiệp tại Việt Nam
Thủ tục đầu tư mang những đặc điểm chung của thủ tục hành chính đồng thời
có những đặc điểm riêng biệt Trong đó có thể rút ra những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, thủ tục đầu tư được điều chỉnh bởi các quy phạm thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư
- Thứ hai, thủ tục đầu tư là trình tự thực hiện thẩm quyền quản lý nhà nước về đầu tư
- Thứ ba, thủ tục đầu tư do chủ thể tiến hành hoạt động đầu tư thực hiện nhằm mục đích sinh lợi
- Thứ tư, thủ tục đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút đầu tư, phát triển kinh tế đất nước
- Cổ phần được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác bât kì lúc nào ( trừ ngoại tệ) Cổ đông có khả năng chuyển vốn từ nơi này sang nơi khấc,
từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác một cách dễ dàng thông qua hình thức chuyển nhượng, mua bán cổ phần tạo cho cac cổ đông có được sự linh hoạt trong đầu tư vốn của mình Các cổ phần của công ty cổ phần (trừ các trường hợp bị cấm hoặc
Trang 20hạn chế chuyển nhượng) đều có thể được chuyển nhượng dễ dàng, chúng được ghi lại vào danh mục chuyển nhượng tại trung tâm/sở giao dịch chứng khoán và có thể được mua bán trong các phiên mở cửa một cách nhanh chóng
- Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần giúp các nhà đầu tư dễ dàng tham gia vào và rút khỏi công ty bằng cách mua hay chuyển nhượng cổ phần, đồng thời giúp công ty thu hút vốn đầu tư một cách thuận lợi hơn so với cac loại hình doanh nghiệp khác
- Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại cũng như trái phiếu và các công cụ chứng khoán khác để huy động vốn Vấn đề này
- Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác
- Các cổ đông có thể duy trì tính thanh khoản của cổ phiếu Tính thanh khoản của cổ phiếu là khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền mặt hoặc thành chứng khoán của cổ phiếu
1.2 Vài trò, ý nghĩa của góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam
1.2.1 Vai trò của việc góp vón, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại Việt Nam
Hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có cách hiểu khác nhau về đầu tư
Trong một xã hội có giai cấp, sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật là yếu tố khách quan Nói cách khác nhà nước và pháp luật chính là “ sản phẩm của một xã hội khi đã phát triển đến một giai đoạn nhất định” Nhà nước là chủ thể ban hành ra pháp luật Pháp luật vừa giữ vai trò làm bình ổn quan hệ kinh tế vừa điều chỉnh các quan
hệ kinh tế nhằm tạo dựng lên một nền kinh tế có tính tổ chức cao và phát triển ổn định Pháp luật với tư cách là bộ phận kiến trúc thượng tầng do yếu tố cơ sở hạ tầng
là quan hệ xã hội quyết định Đồng thời phản ánh, định hướng và tác động ngược lại đối với các mối quan hệ này
Trang 21Pháp luật về thủ tục đầu tư nói chung và thủ tục đầu tư nước ngoài nói riêng là tác phẩm do nhà nước tạo nên, là văn bản pháp lý chứa đựng những quy phạm và công cụ pháp lý điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh Việc quy định về thủ tục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trong pháp luật Việt Nam là không thể thiếu và thực sự cần thiết
Sự phát triển của quốc gia được thể hiện thông qua các thông số về phát triển kinh tế Điều đó có nghĩa là phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để đảm bảo cho sự phát triển, là động lực của các quốc gia trên thế giới nói chung và các nước phát triển nói riêng Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào yếu tố nguồn lực và khả năng huy động nguồn lực, sử dụng nguồn lực vào quâ trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quá trình đó được tiếp diễn liên tục và tạo thành chu kì sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng Đây là cơ sở và cũng là kêt quả được tích lũy từ hoạt động đầu tư Như vậy, đầu tư có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Hoạt động đầu tư làm tăng năng lực sản xuất, cung ứng các sản phầm vật chất, dịch vụ cho nền kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyên dịch cơ cấu kinh tế và chuyển giao công nghệ, từ
đó tạo đà cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
Góp vốn, mua cổ phần là một hình thức rất phổ biến khi nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư vào Việt Nam Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, thì hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp tại Việt Nam càng có nhiều vai trò quan trọng Nhìn chung vai trò của việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp đối với sự tăng trưởng kinh tế như sau:
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng phạm vi, quy mô hoạt động, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Với ưu điểm không để lại những món nợ quốc gia và mang tính ổn định cao, hình thức đầu tư này là nguồn bổ sung vốn quan trọng, qua đó góp phần kích thích kinh tế - xã hội phát triển
- Khi nguồn vốn góp, cổ phần đủ lớn để các nhà đầu tư thực hiện quyền quản lý doanh nghiệp hình thức đầu tư trực tiếp , các doanh nghiệp không những đạt được mục tiêu thu hút vốn mà còn có cơ hội được học tập kinh nghiệm quản lý, học tập trình độ phát triển khoa học - công nghệ tiên tiến của nước ngoài, đối với các doanh nghiệp trong nước, ảnh hưởng này tạo ra một động lực giúp họ phải nhanh chóng học hỏi, vươn lên để qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
- Nguồn ngoại tệ đổ vào trong nước giúp các cơ quan quản lý tiền tệ bổ sung được nguồn dự trữ ngoại hối, thực hiện các chính sách tiền tệ được thuận lợi hơn, góp phần cân đối cán cân thanh toán thương mại quốc tế
- Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp cũng là một dạng của hình thức đầu tư trực tiếp, chủ yếu thu hút đầu tư trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ hoặc
Trang 22những ngành mà quốc gia nhận đầu tư có năng lực phát triển, qua đó làm tăng tỉ trọng của những ngành này trong cơ cấu ngành phát triển quốc gia, từ đó thúc đẩy qua trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế cho phù hợp với phân công lao động quốc
tế, phù hợp với lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia
- Pháp luật về thủ tục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài góp phần điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài
- Pháp luật về đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài là phương tiện để nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong quan hệ đầu tư kinh doanh do nhà đầ
tư nước ngoài là một bên chủ thể trong quan hệ này
- Là cơ sở pháp lý ghi nhận những vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đồng thời nhiệm vụ này còn đóng vai trò là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam
- Về pháp luật đầu tư tại Việt Nam còn đóng vai trò là sự nội luật hóa câc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Đầu tư tác động đến quy mô của nền kinh tế, thông qua việc tác động đến tổng cầu và tổng cung
- Quy mô đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng trì trệ trong thời kì kế hoạch hóa tập trung Nhưng sau khi chuyển sang cơ chế thị trường, đặc biệt là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã từng bước phát triển, sản lượng kinh tế ngày càng cao Đây chính là kết quả của quá trình đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đầu tư, đặc biệt là việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp ở Việt Nam
1.2.2 Ý nghĩa góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài
vào các doanh nghiệp tại Việt Nam
Đầu tư trực tiếp nước ngoài với đặc trưng cơ bản là đảm bảo quyền sở hữu và quyền quản lý.Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng mục đích của NĐTNN và nước nhận đầu tư là không giống nhau Nếu NĐTNN mong muốn thu lợi nhuận cao nhất thì nước chủ nhà lại quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế - xã hội và sự phát triển tổng thể của nền kinh tế theo những mục tiêu, chiến lược đã đề ra Việc nghiên cứu và xây dựng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài phải đảm bảo giải quyết được mâu thuẫn này trên cơ sở dung hòa lợi ích của cả hai phía nhằm đạt được những mục
tiêu đã đề ra bởi chỉ trên cơ sở thống nhất lợi ích mới mong có sự hợp tác phát triển
Trang 23Điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam chính là một quy định đòi hỏi phải có sự dung hòa, thống nhất như vậy.Đối với nhà nước, đại diện là các cơ quan quản lý về hoạt động đầu tư, quy định này là cơ chế đảm bảo hiệu quả quản lý Thông qua tài khoản vốn đầu tư và quy định buộc NĐTNN thực hiện mọi hoạt động liên quan đến đầu tư phải thông qua tài khoản
đó, Nhà nước sẽ dễ dàng kiểm soát và ngăn chặn những hành vi không lành mạnh của chủ thể này, điển hình là hành vi tẩu tán tài sản khi thua lỗ hay lợi dụng hoạt động đầu tư để “Rửa tiền” Mặt khác, việc quản lý tốtnguồn vốn đầu tư nước ngoài còn giúp Nhà nước tránh thất thu thuế và kiểm soát chặt chẽ nguồn ngoại tệ Không thể
vì lý do thiếu vốn, khả năng tài chính thấp mà cho phép những hoạt động kinh tế
ngầm diễn ra gây mất uy tín của Nhà nước trên thị trường quốc tế
Dưới góc độ doanh nghiệp nhận đầu tư, quy định về điều kiện góp vốn, mua cổ phần là cơ sở để hợp pháp hóa việc thu hút nguồn vốn và chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các công ty nước ngoài Bên cạnh đó, trên cơ sở một tài khoản vốn đầu tư nằm tại ngân hàng thương mại ở trong nước, các doanh nghiệp Việt Nam có thể nắm bắt và đánh giá về nhu cầu cũng như sự thiện chí của các NĐTNN khi bỏ vốn vào doanh nghiệp của mình, đồng thời đó cũng là một cơ chế bảo đảm
trong những trường hợp NĐTNN thoái vốn, trốn nợ
Như vậy, về mặt lý luận, quy định về tài khoản vốn đầu tư có vai trò hết sức quan trọng, là cơ chế mà thông qua đó nhà nước phát huy được vai trò quản lý và kiểm soát hoạt động đầu tư nước ngoài một cách chặt chẽ Đồng thời, quy định này còn có ý nghĩa bảo vệ nền kinh tế trong nước tránh khỏi những tác động tiêu cực từ nguồn ngoại tệ vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, tránh cho doanh nghiệp Việt Nam bị một số NĐTNN biến thành trung gian để thực hiện hoạt động rửa tiền và những hành vi vi phạm pháp luật khác Tuy nhiên, khi áp dụng quy định này trên thực tiễn thì lại xuất hiện nhiều kẻ hở và hạn chế, cho thấy nhà làm luật cần sớm đưa ra những sửa đổi và
bổ sung sao cho phù hợp với thực tế hiện nay
FDI có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia.Đó là nguồn ngoại tệ chủ yếu để kích thích nền kinh tế, là cơ sở đảm bảo cho sự tăng trưởng cao và ổn định Riêng ở Việt Nam, sau 25 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài, có thể nhìn thấy tầm quan trọng của FDI qua những mặt sau:
Thứ nhất, đầu tư nước ngoài thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới
Trang 24Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, khu vực ĐTNN đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực ĐTNN tạo mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tiếp cận với những thành tựu khoa học – kỹ thuật tiên tiến
Thứ ba, là vai trò tích cực trong việc tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đồi cơ cấu lao động
Hiện nay khu vực ĐTNN tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3- 4 triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài Ngoài
ra, ĐTNN đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệu ứng lan tỏa lao động, cập nhật kỹ năng cho bên cung ứng và bên mua hàng
Thứ tư, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - điện đại hóa
Đầu tư nước ngoài đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất là các dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quán canh tác vớiđiềukiệntầng
Khu vực đầu tư nước ngoài đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê,ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán,
tư vấn luật, vận tải biển, siêu thị Các dịch vụ này cũng góp phần tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thích hoạt động thương mại nội địa và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
Thứ năm, đầu tư nước ngoài có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp
độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm
Thứ sáu, đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh
Thực tiễn đầu tư nước ngoài đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về công tác quản lý kinh tế và doanh nghiệp, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch,
Trang 25phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với xu
thế hội nhập
Thứ bảy, đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế
Hoạt động thu hút ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung với EU, hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 62 Quốc gia và vùng lãnh thổ, Hiệp định đối tác EPA với Nhật Bản và nhiều nước khác
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Nhìn tổng quan qua chương I tác giả đã làm rõ được các khái niệm như: khái niệm về góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài Từ đó tác giả đã đưa ra được đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của NĐTNN vào các doanh nghiệp Từ đó ta có thể dễ dàng nhận thấy được tầm quan trọng của việc đầu tư nước ngoài đối với nền kinh
tế tại Việt Nam