Để hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua bán hàng hoá nói riêng đi vào chiều sâu, đòi hỏi mỗi thành phần kinh tế, mỗi cá nhân phải tìm hiểu, tiếp cận và nhận thức đúng đắn các
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
Ngành: LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN THÀNH ĐỨC Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ NHƯỜNG MSSV: 1411271366 Lớp: 14DLK14
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Công Nghệ Tp.HCM nói chung và quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp nói riêng, em đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ và hướng dẫn nhiệt tình từ các thầy, cô trong chuyên ngành Luật kinh tế thuộc Khoa Luật – Trường Trường ĐH Công Nghệ Tp.HCM
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô trong Khoa Luật rất tâm huyết, dạy bảo và dìu dắt chúng em trong suốt bốn năm học đại học tại đây, giúp chúng em có được những kiến thức nền tảng vững chắc nhất trước khi bước vào một môi trường mới đầy thử thách
Và tạo điều kiện để chúng em – khóa sinh viên đầu tiên của ngành Luật kinh tế có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới Thầy giáo Nguyễn Thành Đức – Trưởng Khoa Luật đã hết sức tận tâm chỉ dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận Do thời gian có hạn và kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài làm của em không thể tránh khỏi những sai sót Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy
cô để bài khóa luận được hoàn chỉnh và giúp em trau dồi thêm vốn kiến thức về pháp luật thương mại
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan các tài liệu và thông tin sử dụng trong bài khóa luận tốt nghiệp này được thu thập từ những nguồn đã công khai, cụ thể như: các trang web của chính phủ, sách, báo, tạp chí khoa học chuyên ngành, và tham khảo một số bài
viết nghiên cứu khác trên internet (đã có trích dẫn nguồn đầy đủ theo đúng qui
định);
Nội dung trong khóa luận này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá trình học tập và nghiên cứu cũng như tích lũy được trong khoảng thời gian thực tập tại Tòa án nhân dân Quận 1, TP.Hồ Chí Minh, và cam đoan không sao
chép trái qui định từ bất kỳ nguồn tài liệu, khóa luận, báo cáo nào khác
Nếu có sai sót em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của Nhà Trường và Pháp luật
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Nguyễn Thị Nhường
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS: Bộ Luật Dân Sự
LTM: Luật thương mại
CISG: Công ước viên 1980 Công ước viên của Liên hợp quốc về mua
bán hàng hóa quốc tế UCC: Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
AFTA: Khu Mậu dịch tự do ASEAN
CPTPP: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương GATT: Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
HĐ: Hợp đồng
MBHH: Mua bán hàng hóa
HĐ MBHH: Hợp đồng mua bán hàng hóa
HĐ MBTS: Hợp đồng mua bán tài sản
KDTM: Kinh doanh thương mại
BTTH: Bồi thường thiệt hại
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu khóa luận 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 5
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng 5
1.1.2 Khái niệm hàng hóa 8
1.1.3 Khái niệm mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 10
1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 11
1.3 Phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại theo LTM 2005 và hợp đồng mua bán tài sản theo bộ luật dân sự 2015 17
1.4 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 19
1.5 Phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 21
1.6 Bản chất và nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 21
1.6.1 Bản chất giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 21
Trang 61.6.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 22 CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA – THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 24 2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 24 2.1.1 Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 24
2.1.1.1 Các dấu hiệu nhận biết đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong
hoạt động thương mại 24
2.1.2 Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 29
2.1.2.2 Thay đổi, bổ sung, huỷ bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp
Trang 72.2.2 Một số ví dụ bản án trong thực tế về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại ở Việt Nam 37 2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại 45 KẾT LUẬN 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khi bước vào nền kinh tế thị trường, trong bối cảnh toàn cầu hóa dần mở rộng nhiều quan hệ mua bán hàng hóa, việc mua bán hàng hóa không chỉ diễn ra trong lãnh thổ một nước với nhau mà còn thực hiện các quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa quốc tế Nhất là trong quan hệ mua bán hàng hóa hiện nay, thì việc mua bán cung ứng dịch vụ với nhau thường được thể hiện dưới nhiều cách thức và nội dung khác nhau nên các hành vi mua bán trong thương mại được thể hiện bằng một hình thức nhất định đó là đó là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa rất phong phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật và khá phổ biến trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào Trong hệ thống pháp luật nước ta đã có những quy định cụ thể về sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng ngay từ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật Dân sự 1995, 2005, Luật Thương Mại 1997, và hiện tại tiêu biểu là hai văn bản pháp luật mới nhất hiện hành đó là: Bộ Luật Dân Sự 2015, LTM 2005 và ngoài ra còn có rất nhiều các văn bản hướng dẫn đi kèm Để hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua bán hàng hoá nói riêng đi vào chiều sâu, đòi hỏi mỗi thành phần kinh tế, mỗi cá nhân phải tìm hiểu, tiếp cận và nhận thức đúng đắn các hoạt động thương mại theo đúng luật, nhằm hạn chế những tổn hại kinh tế không đáng có, để các quy định của Luật thương mại thực sự có ích trong cuộc sống, tạo thuận lợi cho mọi chủ thể của hoạt động thương mại Như vậy có thể nói hợp đồng mua bán hàng hóa là nội dung không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh
BLDS năm 2015 thống nhất điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng, cho dù chúng phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại hay tiêu dùng Chứa đựng nhiều nội dung mới
về hợp đồng, và tại Bộ luật cũng dành nhiều quy định cho vấn đề giao kết hợp đồng, tháo
gỡ nhiều vướng mắc trong thực tiễn giao kết hợp đồng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật này Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện, trong đó có những quy định về giao kết hợp đồng
Đây chính là lý do em lựa chọn đề tài: PHÁP LUẬT VỂ GIAO KẾT HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
2 Tình hình nghiên cứu
Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là bộ phận pháp luật có vị trí quan trọng trong pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam Chế định về hợp đồng đã được đề cập trong pháp luật Việt Nam ngay từ sự ra đời của Bộ Quốc triều hình luật năm
Trang 91483 và Bộ luật Gia Long năm 1815, Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ thực sự được định hình với các quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 và đặc biệt sau đó là BLDS năm 2005, LTM 2005 và mới nhất
là BLDS 2015 Đối với các công trình nghiên cứu luật hợp đồng mua bán hàng hóa, từ trước đến nay đã được nghiên cứu khá nhiều nhằm phân tích, luận giải và đưa ra những kiến nghị Từ các hướng tiếp cận khác nhau các công trình nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa đã triển khai theo hướng nghiên cứu liên quan đến quan niệm và việc xác định các tiêu chí của hợp đồng mua bán hàng hóa; hoặc
là theo hướng nghiên cứu về các giai đoạn của giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Về quan niệm và việc xác định các tiêu chí của hợp đồng mua bán hàng hóa
đã có nhiều công trình đề cập trong đó tiêu biểu là Giáo trình Luật thương mại Việt Nam Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ biên: TS Phan Duy Nghĩa (2002); Giáo trình Luật kinh tế, Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ Trường ĐH Luật TP.HCM (2012), NXB Hồng Đức, hay Giáo trình Luật thương mại – Khoa Luật ,Trường ĐH Công Nghệ TP.HCM, Những nghiên cứu trong các công trình này đã đưa ra quan niệm và xác định tương đối rõ các tiêu chí của hợp đồng MBHH
Về các giai đoạn của giao kết hợp đồng MBHH cũng đã có nhiều công trình đề cập đến điển hình: Giáo trình Luật thương mại của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002, bài viết của Tòa án nhân tối cao:
“Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự” Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về vấn đề này đều quan niệm quá trình giao kết hợp đồng phải trải qua hai giai đoạn là đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học luật, sinh viên viết khóa luận đã tiếp cận về lĩnh vực này Mỗi bài đều đề cập và tiếp cận đến nhiều khía cạnh khác nhau của pháp luật về HĐ MBHH Trong đó, có thể nói đến như
luận văn: Luận văn thạc sỹ luật học - Đinh Thị Thanh Huyền (2007): “Hợp đồng
mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay”- Khoa Luật – ĐH QG HN
bài viết đề cập chung đến gần như hầu hết các quy định của pháp luật về HĐ MBHH theo BLDS 2005 và LTM 2005, từ đó đưa ra một số kiến nghị theo hướng hoàn thiện pháp luật về quan hệ này, Hay với Luận văn thạc sỹ luật học - Phạm
Công Dân (2010): “Những điểm mới về giao kết hợp đồng trong bộ luât dân sự
năm 2005” – Khoa Luật – ĐH QG HN, tại đây luận văn tập trung phân tích những điểm mới về giao kết hợp đồng và từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng trong BLDS 2005 Tuy nhiên, nội dung của các bài
Trang 10luận văn này đang chỉ dẫn chiếu các quy định của BLDS 2005 mà hiện tại Bộ luật này đã hết hiệu lực và được thay thế bởi BLDS 2015
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là những vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa như: Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa, về đặc điểm, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa và tập trung đi sâu vào những vấn đề về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại cũng như thực tiễn áp dụng từ đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết HĐMBHH
Phạm vi nghiên cứu:
Bài viết xác định rõ nội dung phạm vi nghiên cứu đó là: Xoay quanh những vấn
đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết HĐMBHH trong hoạt động thương mại theo luật Việt Nam hiện hành Đồng thời, có so sánh và liên hệ trực tiếp với pháp luật quốc tế, pháp luật của các nước phát triển để từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm nhằm đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp chủ yếu phải kể đến đó là: Phương pháp thu thập dữ liệu, phân tích - tổng hợp, thống kê chọn lọc, phương pháp luận so sánh Các phương pháp này được vận dụng trong nhiều phần khác nhau của đề tài:
Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu sẵn có từ các phương tiện
thông tin đại chúng như: Sách điện tử, báo giấy, báo mạng, tivi, internet, Ngoài
ra, tác giả còn thu thập từ thư viện sách của các trường ĐH như: Trường ĐH Luật TP.HCM, ĐH Công nghệ TP.HCM, hay hỏi ý kiến của các thầy cô có chuyên môn trong Khoa Luật – Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, những người có kinh nghiệm lâu năm về lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa, và bằng cách thông qua những buổi thảo luận nhóm với các bạn sinh viên có chung đề tài nghiên cứu
Phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê chọn lọc: Từ những dữ liệu dược
thu thập, tiến hành đi sâu phân tích kỹ càng những vấn đề đặt ra, từ đó tổng hợp lại một cách có hệ thống bài bản, theo hướng dễ tiếp cận, và dễ hiểu
Phương pháp luận so sánh: Kết hợp với phương pháp luận so sánh vào từng
vấn đề cụ thể, để từ đó giúp cho bài khóa luận trở nên đầy đủ ý kiến đa chiều, tăng
Trang 11tính thuyết phục cho bài viết, khiến cho người đọc có cái nhìn toàn diện về lĩnh vực đang nói đến trong bài
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung của bài khóa luận gồm 2 chương
Chương 1: Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Chương 2: Pháp luật Viêt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa – Thực
tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa trong hoạt động thương mại
Trang 12CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng
Trong những năm qua, có rất nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về hợp đồng giữa pháp luật của các quốc gia trên thế giới và của các nhà nghiên cứu Ngày nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con người thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu trong đời sống xã hội Tuy vậy, trong lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra một thuật ngữ chính xác, như thuật ngữ “hợp đồng” đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia hiện nay là việc không mấy dễ dàng Nhiều quốc gia cho rằng thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) hình thành từ động từ “contrahere” trong tiếng La- tinh có nghĩa là “ràng buộc” và xuất hiện lần đầu ở La Mã vào khoảng thế kỷ V- IV trước công nguyên Ban đầu người La Mã cũng không có cái khái niệm chung “contractus” mà sử dụng các thuật ngữ riêng để chỉ các hợp đồng cụ thể phổ biến như mua bán (sponsio), vay mượn (mutuum), gửi giữ (depositum), ủy thác (mandatum), Mãi đến thời của luật gia La-be-ôn (thế kỷ 1 sau công nguyên), người La Maz mới sử dụng chính xác thuật ngữ “contractus” trong luật, và quan hệ hợp đồng được pháp luật công nhận
và bảo vệ dưới thời Justinnian Sau này các nước phương Tây đã kế thừa và phát triển quan niệm pháp lý từ thời La Mã và đã sử dụng chính thức thuật ngữ “hợp đồng” mà trong tiếng anh được viết là “contract”, trong tiếng Pháp là “contrat”1
Ở Việt Nam trong thực tế đời sống, có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ hợp đồng: khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, cam kết, tờ giao ước, tờ ưng thuận, Trong cổ luật, dựa vào các dữ liệu lịch sử còn lại cho đế nay, thuật ngữ “văn tự” hay “văn khế” hay mua, bán, cho, cầm đã được sử dụng khá sớm trong Bộ Quốc triều Hình luật Ngoài ra, trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936-1939 và Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 còn sử dụng thuật ngữ
“hiệp ước” , trong đó các nhà làm luật xem “khế ước” là một “hiệp ước” hoặc đồng nhất giữa “khế ước” và “hiệp ước”2 Hiện nay các văn bản pháp luật của nước ta không còn sử dụng thuật ngữ “khế ước” hay “hiệp ước” như trước đây nữa ví dụ
ở BLDS 2005 sử dụng các thuật ngữ có tính chất “chức năng” “công cụ” như: Hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại,
Trang 13Xét từ góc độ luật học ở Việt Nam thì pháp luật cũng quy định cụ thể trong
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 tại Điều 385 quy
định như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy, điểm mới ở đây là trong BLDS
hiện hành đã chọn cụm từ “hợp đồng” thay vì “hợp đồng dân sự” quy định trong
BLDS 2005 Và điểm mới này không chỉ là sửa đổi về kỹ thuật lập pháp mà còn thể hiện tính minh bạch Đồng thời, nó phù hợp với thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh: Hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, hợp đồng đầu tư, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, 3
Còn bản chất của hợp đồng từ góc độ kinh tế học theo PGS.TS Dương Anh
Sơn, PGS.TS Hoàng Vĩnh Long, Trường Đại học Kinh tế-Luật, ĐHQG TP HCM thì họ lại phân tích để làm sáng tỏ hai vấn đề sau: i) Tại sao pháp luật cần phải tôn
trọng và thừa nhận sự thỏa thuận của các bên; và ii) Trong những trường hợp, hoàn cảnh nào pháp luật không thừa nhận giá trị pháp lý của một hoặc một số thỏa thuận nào đó và tại sao?4
Tương tự, pháp luật của các quốc gia có những cách diễn đạt khác nhau về hợp đồng như: tại khoản 1, Điều 420 BLDS của Liên bang Nga (1994) quy định hợp đồng là thỏa thuận, ký kết bởi hai hoặc nhiều người làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự5 Hay theo điều 110 BLDS Pháp quy
định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam
kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”6
Cùng liên quan đến vấn đề này thì các luật gia Hoa Kỳ cũng đưa ra một số định nghĩa về hợp đồng như luật sư Hoa Kỳ Steven.H Gifis định nghĩa ngắn gọn
hợp đồng (contract) là “một lời hứa có quy định biện pháp khắc phục
(remedy); hoặc thực hiện các nghĩa vụ được pháp luật công nhận; một giao dịch
313514
http://baobinhphuoc.com.vn/Content/che-dinh-hop-dong-trong-bo-luat-dan-su-2015-4https://docs.google.com/document/d/1mHBZdfcCfCeRR1zHdmL9VGTPSQODaJCMn0CKtt2jY5A/edit (trang 1)
5 http://www.russian-civil-
code.com/PartI/SectionIII/Subsection2/Chapter27.html
6 Bộ luật Dân sự Pháp (2005), NXB Tư Pháp, Hà Nội, (trang 667)
Trang 14bao gồm 2 hay nhiều cá nhân có quyền đối ứng yêu cầu bên còn lại thực hiện lời hứa” 7
Mục §1-201(12) Bộ luật thương mại mẫu hay còn gọi là Bộ luật thương mại
thống nhất của Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code – UCC) định nghĩa: “Hợp
đồng, để phân biệt với “thoả thuận”, có nghĩa là tổng nghĩa vụ pháp lí mà kết quả
từ thoả thuận của các bên được quy định bởi [UCC] cũng như bổ sung bởi bất kì luật áp dụng khác”8 Nói chung, pháp luật Hoa Kỳ nhìn nhận hợp đồng là một thoả thuận giữa hai bên hoặc nhiều bên có thẩm quyền, dựa trên những lời hứa lẫn nhau, để làm hoặc không làm một việc cụ thể hợp pháp và có thể thực hiện Kết quả thoả thuận là nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ có thể được thi hành tại toà án5
Như vậy, dù ở góc độ nào đi chăng nữa thì hợp đồng cũng mang một số đặc điểm quan trọng sau:
Thứ nhất: Yếu tố cơ bản nhất của một hợp đồng là sự thoả hiệp ý chí giữa
các chủ thể của hợp đồng đó Yếu tố này xuất phát từ một nguyên tắc rất cơ bản
và quan trọng trong giao kết hợp đồng – đó là nguyên tắc tự do ý chí, tự do hợp đồng9 Nhưng không phải mọi sự thoả thuận đều được coi là hợp đồng Chỉ những
sự thoả thuận nào được xác lập dựa trên ý chí đích thực của các bên chủ thể và đáp ứng đủ các điều kiện của pháp luật mới được coi là hợp đồng Đồng thời, để đảm bảo sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng thể hiện ý chí thực của họ thì pháp luật của hầu hết các quốc gia đều có quy định: chủ thể tham gia giao kết hợp đồng phải có năng lực chủ thể Nhưng cũng cần nói thêm rằng: tự do ý chí, tự do hợp đồng không mang tính tuyệt đối Để đảm bảo trật tự xã hội và lợi ích công cộng, pháp luật buộc các chủ thể khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức xã hội và không được thoả thuận trái với các quy định của pháp luật Và trong những trường hợp cần thiết, khi mà lợi ích công cộng và trật tự xã hội có nguy cơ bị xâm hại bởi các thoả thuận của hợp đồng cụ thể nào đó thì Nhà nước sẽ nhân danh quyền lực công can thiệp vào việc kí kết và thực hiện hợp đồng Trong những trường hợp này, quyền tự do hợp đồng đã bị giới hạn Tuy nhiên, sự can thiệp này cũng phải đảm bảo tính hợp lý, có cơ sở được pháp luật quy định rõ ràng, chặt chẽ nhằm tránh sự lạm dụng quyền lực Nhà nước để vi phạm quyền tự do hợp đồng từ phía
cơ quan công quyền
7 Brown, Gordon.W., Sukys Paul A., Business law with UCC applications (9th edition), Glencoe, Mc GrawHill, NewYork, USA, 1993, p 94
8 Nguyễn Ngọc Bích, Buôn bán với Mỹ, Nxb Trẻ TP Hồ Chí Minh, 2002
9 Trường ĐH Công Nghệ TP.HCM (2016), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng, biên soạn – ThS Mai Xuân Minh
Trang 15Thứ hai: Một yếu tố cơ bản, không thể thiếu trong bất cứ hợp đồng nào là đối
tượng của hợp đồng Sự thống nhất ý chí của các bên chủ thể hợp đồng phải nhằm vào một đối tượng cụ thể, và ngược lại, mọi hợp đồng phải có đối tượng xác định Đối tượng của hợp đồng phải rõ ràng, hợp pháp (nghĩa là không bị pháp luật cấm đưa vào các giao lưu dân sự - kinh tế - thương mại)
Thứ ba: Về chủ thể tham gia hợp đồng: Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng
phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng là một giao dịch pháp lý song phương hay đa phương Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể, tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự
Tóm lại, hợp đồng là hình thức pháp lý của các quan hệ trao đổi hàng hoá
- tiền tệ nói chung Về bản chất, hợp đồng là tập hợp những thoả thuận, cam kết hình thành trên cơ sở tự do ý chí của các bên chủ thể của hợp đồng làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ nhất định Hợp đồng có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên giao kết Pháp luật tôn trọng, thừa nhận và bảo vệ mọi cam kết hợp đồng được hình thành hợp pháp
1.1.2 Khái niệm hàng hóa:
Trên thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hàng hoá Có quan điểm cho rằng: hàng hoá là tất cả những đối tượng được sản xuất ra để phục vụ tiêu dùng hay trao đổi trên thị trường10
Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) có đưa ra khái niệm như sau:
“Hàng hoá là mọi vật (bao gồm cả những hàng hoá được sản xuất đặc biệt) mà là
động sản tại thời điểm tham gia hợp đồng mua bán, khác hơn tiền, chứng khoán đầu tư và những quyền vô hình Hàng hoá cũng bao gồm súc vật chưa ra đời và cây trồng, và những vật được nhận biết khác gắn liền với bất động sản như được
mô tả trong phần nói về hàng hoá được tách rời từ bất động sản” Theo cách định
nghĩa này thì đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá có phạm vi rất rộng, là tất
cả những động sản hữu hình (kể cả những động sản được hình thành trong tương lai), chỉ loại trừ tiền, chứng khoán các loại và các quyền vô hình
Cũng tương tự như tinh thần của định nghĩa trên, tại Luật mua bán hàng hoá
của Anh (1893), sửa đổi năm 1973, quy định: “hàng hoá là tất cả những động sản
khác hơn các quyền vô hình và tiền”11
10 Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Nxb Thống kê Hà Nội, [2001]
11 Luật mua bán hàng hóa của Anh năm 1893, sửa đổi năm 1973 (Điều 62.1)
Trang 16Theo Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (CISG) lại quy định về hàng hoá với tính cách là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế bằng phương pháp loại trừ Tại Điều 2, Công ước này liệt kê những đối tượng không được coi là hàng hoá, cụ thể như sau: Hàng hoá được mua
để dùng cho cá nhân, gia đình, trừ các trường hợp mà người bán trong bất kỳ thời gian nào trước hoặc tại thời điểm kí kết hợp đồng không biết hoặc không buộc phải biết rằng hàng hoá được mua nhằm mục đích đó; Hàng bán đấu giá; Hàng thuộc
vụ án đang xét xử hoặc đang phải chịu sự quản lý của pháp luật; Giấy tờ chứng khoán, cổ phiếu, giấy đảm bảo chứng từ và tiền lưu thông; Phương tiện vận tải đường thủy, đường không cũng như phương tiện vận tải bằng khinh khí cầu; Điện năng Các khái niệm về hàng hoá trên đây đều có phạm vi rất rộng, song nhìn chung, "hàng hoá" đều có đặc điểm chung: là động sản, hữu hình, được pháp luật cho phép đưa vào lưu thông (trừ tiền, chứng khoán các loại và các quyền vô hình)12 Cũng trên cơ sở khái niệm này, ta có thể suy luận rằng: các quyền vô hình (như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng
từ có giá và các loại tài sản vô hình nói chung,…) đều không được coi là hàng hoá, không thể trở thành đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá Do đó, những tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng có đối tượng là các tài sản loại này sẽ không được coi là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
Theo kinh tế chính trị Marx-Lenin: Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó Vậy để đồ vật
trở thành hàng hóa cần phải có những đặc điểm sau: i) Tính ích dụng đối với người
dùng; ii) Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động; iii) Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm13
Trong từ điển Việt Nam có định nghĩa: Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được
Còn pháp luật hiện hành Việt Nam cũng quy định trong Luật Thương mại
năm 2005 tại khoản 2 Điều 3 cụ thể là: "hàng hoá là tất cả các loại động sản, kể
12 Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Mai (2014): “Công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế”- Khoa Luật – ĐH QG HN
13 https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0ng_h%C3%B3a
Trang 17cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai" Quy định
này về cơ bản tương đối hợp lý, ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo bao quát được phạm
vi những đối tượng có khả năng tham gia vào quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá Theo đó, động sản là những tài sản không phải là bất động sản, còn bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, các tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, các tài sản khác do pháp luật quy định14 Như vậy, theo cách hiểu của LTM 2005 quyền sử dụng đất
là đối tượng trong các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì không phải
là hàng hóa Vì vậy, hàng hóa mua bán theo quy định của LTM 2005 có phạm vi hẹp hơn tài sản có thể mua bán theo quy định của BLDS 2015
Tóm lại, xây dựng được một khái niệm đúng đắn về “hàng hoá” là một việc quan trọng, tạo cơ sở cho việc xây dựng hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá Không phải mọi sản phẩm bất kỳ đều được coi là hàng hoá, mà chỉ những sản phẩm thoả mãn những điều kiện nhất định mới trở thành hàng hoá và được phép lưu thông trên thị trường Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá phải hợp pháp, nghĩa là không thuộc danh mục hàng hoá cấm lưu thông trong nước hoặc cấm xuất, nhập khẩu tại thời điểm diễn
ra hợp đồng mua bán Nếu hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mà không đáp ứng
đủ các yêu cầu của pháp luật thì hợp đồng đó sẽ bị vô hiệu, hàng hoá liên quan bị tịch thu và tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của vụ việc mà các chủ thể liên quan có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý về hình sự
1.1.3 Khái niệm mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không quy định cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hoá mà chỉ quy định về hoạt động mua bán hàng hoá (Khoản 8, Điều
3), đồng thời quy định: "hoạt động này phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng"15 Theo đó, mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại mà bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua
có nghĩa vụ nhận hàng, quyền sở hữu hàng hoá và thanh toán cho bên bán theo thoả thuận
Thông thường, giá trị trao đổi của hàng hoá được xác định bằng tiền Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động thương mại có nhiều phương thức thanh toán khác nhau, trong đó có phương thức hàng đổi hàng hoặc thanh toán bù trừ theo thời hạn
14 Điều 107, BLDS 2015
15 Điều 24, LTM 2005
Trang 18Ở các phương thức này, người mua hàng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán bằng tiền mà bằng tài sản khác có giá trị tương ứng dựa trên việc định giá bằng tiền đối với tài sản dùng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán đó16 Trong các trường hợp này, mặc dù người mua hàng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán bằng tiền, song nếu
có tranh chấp phát sinh từ các giao dịch này, thì đó vẫn được coi là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá Theo quan điểm từ cuốn Giáo trình môn Luật thương mại
– Trường ĐH Công Nghệ TP.HCM thì: “Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả
thuận của các chủ thể của quan hệ mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại để thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá” 17
Nhưng về cơ bản, hợp đồng mua bán hàng hoá có đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng nói chung Do đó, nó cũng phải tuân theo các quy định chung về hợp đồng trong BLDS năm 2015 Tuy nhiên, do hoạt động mua bán hàng hoá có những điểm đặc thù nên Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 cũng có những quy định nhằm cụ thể hoá các quy định về hợp đồng trong BLDS Việt Nam năm 2015 để điều chỉnh hoạt động này được hiệu quả
1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng ra thì để nhận biết một hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại cần đáp ứng những yếu tố riêng biệt sau:
Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động
thương mại:
Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐ mua bán hàng hóa18 Theo khoản 3 Điều 1 LTM
2005, hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo LTM 2005 khi chủ thể này lựa chọn áp dụng LTM 2005
16 Phạm Duy Nghĩa (chủ biên), [2002], Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội
17Trường ĐH Công Nghệ TP.HCM (2016), Giáo trình Luật thương mại, biên soạn – Khoa Luật
18 Căn cứ theo khoản 1, Điều 6, LTM 2005
Trang 19Theo Bộ luật Thương mại Pháp 1807, Điều 1, quy định: “Thương nhân là người thực hiện các hành vi thương mại và lấy đó làm nghề nghiệp thường xuyên của họ” Tức là để trở thành thương nhân phải đáp ứng đủ hai điều kiện: (1) Thực hiện những hành vi thương mại; (2) thực hiện những hành vi thương mại mang tính thường xuyên Ngoài ra họ còn thực hiện một cách độc lập, mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của mình19
Bộ luật Cộng hòa Liên bang Đức thì có cách định nghĩa hoàn toàn khác, và
có phần phức tạp hơn Theo đó thương nhân (thương gia) gồm: Thương gia đương nhiên và thương gia do đăng ký, thương gia do hình thức pháp lý, thương gia nhỏ
và thương gia giả tạo
Còn theo Luật Thương mại Việt Nam hiện hàng năm 2005, quy định:
“thương nhân là những chủ thể có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên” 20 Theo cách định nghĩa này, một chủ thể muốn trở thành thương nhân phải hội tụ đủ các dấu hiệu pháp lý sau:
Một là, các chủ thể phải thực hiện các hoạt động thương mại Hoạt động thương mại là một tiêu chí cơ bản để xác định một chủ thể có phải là thương nhân
hay không Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”21 Như vậy, phạm vi các hoạt động được coi là hoạt động thương mại và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005 bị bó hẹp trong bốn nhóm hoạt động là: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư và xúc tiến thương mại Bốn nhóm hoạt động này lại tiếp tục được cụ thể hoá bằng việc liệt kê một loạt các hoạt động thương mại cụ thể 22.Cách quy định như vậy dường như không khác nhiều lắm so với việc Luật Thương mại 1997 liệt kê 14 hành vi thương mại Nhìn chung, Luật thương mại 2005 không thể hiện được tính khái quát cao hơn so với Luật Thương mại 1997 trong việc quy định về “hoạt động thương mại” để làm cơ sở cho việc xác định tư cách pháp lý của thương nhân Như vậy, Luật Thương mại 2005 còn thiếu tính khái quát khi đưa ra khái niệm về hoạt động thương mại bằng cách liệt
kê các hoạt động cụ thể mà chưa thể đưa ra những tiêu chí chung có tính khái quát cao hơn để xác định một hoạt động cụ thể có phải là hoạt động thương mại hay
19Trường ĐH Công Nghệ TP.HCM (2016), Giáo trình Luật thương mại, biên soạn – Khoa Luật (trang 1)
20 Điều 6, LTM 2005
21 Khoản 1, Điều 3, TLM 2005
22Khoản 9, 10, 11, Điều 3, LTM 2005
Trang 20không Và theo Luật Thương mại 2005, chủ thể được coi là thương nhân phải tiến hành một hoặc một số hoạt động đã được liệt kê đó Quy định này khác với pháp luật của nhiều nước trên thế giới Một số nước quy định: các hành vi nhằm mục đích sinh lợi là hành vi thương mại do bản chất, do đó, những chủ thể thực hiện các hành vi đó là thương nhân do bản chất hành vi mà họ thực hiện Ngược lại, một số chủ thể được coi là thương nhân do hình thức pháp lý của chúng và những hành vi mà các thương nhân này thực hiện được coi là hành vi thương mại do hình thức
Hai là, các hoạt động thương mại phải được các chủ thể thực hiện một cách độc lập Pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành chưa đưa ra các tiêu chí cụ thể nào để xác định tính độc lập trong hoạt động thương mại của thương nhân Theo nghĩa thông thường, “hoạt động thương mại một cách độc lập” có thể hiểu là việc một chủ thể thực hiện hoạt động đó nhân danh mình, vì lợi ích của chính mình, không bị ràng buộc hay chi phối bởi ý chí của chủ thể khác Chủ thể đó có toàn quyền quyết định, quy định nội dung, cách thức tiến hành hoạt động, cũng như chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả hoạt động mà mình đã thực hiện Tính độc lập ở đây là độc lập về mặt pháp lý Sự phụ thuộc về kinh tế, tài chính của cá nhân hay tổ chức không làm mất đi tính độc lập về mặt pháp lý của cá nhân hay tổ chức
đó Do đó, văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là thương nhân nhưng các công ty con hay công ty liên kết trong nhóm công ty là thương nhân theo pháp luật thương mại
Ba là, các hoạt động thương mại phải được các chủ thể tiến hành một cách thường xuyên Luật thương mại không đưa ra tiêu chí cụ thể nào để xác định tính chất thường xuyên của các hoạt động thương mại của thương nhân Song, hiểu một cách chung nhất, “các hoạt động thương mại được tiến hành thường xuyên” là những hoạt động được tiến hành trên thực tế, có kế hoạch tương đối lâu dài, liên tục, lặp đi lặp lại và các chủ thể tiến hành hoạt động đó tự coi đó là nghề nghiệp của bản thân và tạo ra nguồn thu nhập chính, thường xuyên của họ Yêu cầu về tính chất thường xuyên của hoạt động thương mại của thương nhân cũng được thể hiện gián tiếp trong các quy định của pháp luật Ví dụ: doanh nghiệp có thể bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (mất tư cách thương nhân) khi không tiến hành các hoạt động kinh doanh trong thời hạn một năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh…
Bốn là, muốn trở thành thương nhân và hưởng các quy chế pháp lý dành riêng cho thương nhân, các chủ thể phải được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.Theo pháp luật thương mại Việt Nam, đăng ký kinh doanh là một thủ tục
Trang 21pháp lý bắt buộc để thiết lập nên tư cách pháp lý của thương nhân, là cơ sở pháp
lý cho các hoạt động thương mại của thương nhân “Thương nhân có nghĩa vụ
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật”23 Đồng thời, đăng ký kinh doanh cũng là một công cụ để cơ quan có thẩm quyền thông qua đó thực hiện quản lý Nhà nước đối với các hoạt động thương mại của thương nhân Mục đích chính của thủ tục này là thống kê các thông tin có ý nghĩa pháp lý liên quan đến hoạt động của thương nhân (như tên thương nhân, tên người có thẩm quyền đại diện cho thương nhân, địa chỉ hoặc trụ sở giao dịch chính, ngành nghề kinh doanh, thời gian hoạt động, mức vốn điều lệ, hoặc vốn đầu tư…), công khai hoá chúng và trên cơ
sở đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, đồng thời đảm bảo
sự ổn định và lành mạnh của môi trường kinh doanh
Năm là, các chủ thể có khả năng trở thành thương nhân theo pháp luật Việt Nam cần đáp ứng đủ bốn điều kiện nêu trên, đồng thời phải tồn tại dưới dạng: cá nhân hoặc tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp24 Khái niệm này đồng nghĩa với việc LTM 2005 đã mở rộng đối tượng áp dụng hơn nhiều so với luật cũ
Về việc phân loại thương nhân dựa vào một số căn cứ dưới đây:
(1) Căn cứ vào tư cách pháp lý:
(i) Thương nhân có tư cách pháp nhân gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn các loại, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp nhà nước (chưa chuyển đổi hình thức pháp lý theo Luật Doanh nghiệp), Hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (không chuyển đổi hình thức pháp lý theo Luật Doanh nghiệp)
(ii) Thương nhân không có tư cách pháp nhân gồm: Doanh nghiệp tư nhân, Hộ kinh doanh
(2) Căn cứ vào hình thức tổ chức hoạt động:
(i) Thương nhân là doanh nghiệp các loại
(ii) Thương nhân là cá nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh
(iii) Thương nhân là hợp tác xã, liên hiệp hợp tã xã
(3) Căn cứ vào chế độ trách nhiệm:
(i) Thương nhân chịu trách nhiệm hữu hạn gồm: Công ty TNHH các loại, Công
Trang 22(ii) Thương nhân chịu trách nhiệm vô hạn: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Hộ kinh doanh 25
Như vậy ta có thể thấy, các quy định về chủ thể có thể trở thành thương nhân theo LTM 2005 đã thể hiện được tính khái quát cao hơn so với LTM 1997 Theo LTM 1997, thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình Với cách quy định thiếu tính khái quát này, các thương nhân là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh sẽ không thuộc loại nào trong bốn loại hình thương nhân đã được liệt kê LTM 2005 đã khắc phục được điều này: quy định về các chủ thể có khả năng trở thành thương nhân trong LTM 2005 đã bao quát được các dạng chủ thể tồn tại trong nền kinh tế hiện nay, đồng thời có khả năng đón trước những chủ thể kinh doanh sẽ xuất hiện trong nền kinh tế
Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại:
Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa (được phân tích rất rõ
ở mục 1.1.2) So với quy định của LTM 1997 thì đối tượng của hợp đồng đã được
mở rộng hơn Liên quan đến việc quy định hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa, pháp luật của các quốc gia cũng như các điều ước có các quy định khác nhau phù hợp với pháp luật và tập quán của mỗi nước Điển hình, theo pháp luật Hoa Kỳ, hàng hóa bao gồm mọi thứ có thể dịch chuyển được (quyền sở hữu) vào thời gian xác định theo hợp đồng mua bán Hay theo luật thương mại của
đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc tế như Hiệp định GATT, Hiệp định thành lập khối thị trường chung châu Âu…; hàng hóa – đối tượng của mua bán thương mại gồm những tài sản có hai thuộc tính cơ bản là: có thể đưa vào lưu thông
và có tính chất thương mại Như vậy, tất cả các quy định đều có xu hướng mở rộng đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông trong thương mại26
Thứ ba, hình thức thể hiện của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại:
Pháp luật các nước trên thế giới quy định không giống nhau về hình thức của hợp đồng Luật của các nước theo hệ thống Thông luật (Anh, Mỹ, Úc) và Công
25 Slide tập bài giảng Luật thương mại của TS.Nguyễn Thành Đức – Trưởng khoa Luật
Đại học Công Nghệ TP.HCM Tài liệu tham khảo
26 Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Tuyết Giang (2008): “Pháp luật áp dụng trong các hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế” – Khoa Luật – ĐH QG HN (trang 13)
Trang 23ước Viên 1980 đều không quy định hình thức bắt buộc nào mà hợp đồng phải tuân
thủ, cụ thể Công ước Viên 1980 quy định: “Không yêu cầu hợp đồng mua bán
phải được ký hoặc phải được xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ mọi yêu cầu nào đó về mặt hình thức Có thể dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng đó” 27 Hay việc không coi trọng hình thức hợp đồng cũng được thể hiện rõ trong Bộ nguyên tắc UNIDROIT
về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 và Bộ nguyên tắc về hợp đồng châu
Âu Theo hai bộ nguyên tắc về hợp đồng này, các bên có thể chứng minh quan hệ hợp đồng bằng bất kỳ hình thức nào Theo đó, điều 1.2 Bộ nguyên tắc UNIDROIT
quy định: “Bộ nguyên tắc UNIDROIT không bắt buộc hợp đồng, tuyên bố hay bất
kỳ một hành vi nào khác phải được giao kết hay chứng minh bằng một hình thức đặc biệt Chúng có thể được chứng minh bằng bất kỳ cách thức nào, kể cả bằng nhân chứng” 28 Nguyên tắc này được công nhận trong bộ luật dân sự nhiều nước trên thế giới và nó phù hợp với điều kiện giao dịch thương mại quốc tế
Song trên thực tế, để được Toà án bảo vệ quyền lợi của mình, các chủ thể thường lựa chọn hình thức văn bản cho hợp đồng của họ Lý do là vì hình thức này thường có giá trị làm chứng cứ cao hơn các hình thức khác trong trường hợp có tranh chấp xảy ra
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Điều 24 LTM 2005 quy định: “Hợp
đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”
Như vậy, về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa có thể thiết lập theo cách thức
mà hai bên thể hiện được sự thỏa thuận về việc mua bán hàng hóa với nhau Pháp luật cho phép các bên tự do thỏa thuận và xác lập bằng các hình thức khác nhau sao cho không trái pháp luật So với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 thì đây
là một sự tiến bộ, theo hướng có lợi hơn cho các chủ thể tham gia hợp đồng, bởi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 quy định chỉ được thực hiện bằng hình thức duy nhất là văn bản
Hình thức văn bản của hợp đồng là một hình thức có tính truyền thống, được hiểu là một văn bản (thường là trên giấy) có chứa các điều khoản mà các bên đã thoả thuận và chữ ký xác nhận của các bên Ngày nay, còn có các hình thức khác tương đương văn bản về mặt giá trị pháp lý Pháp luật Việt Nam liệt kê các hình
27 Điều 11, Công ước viên 1980
28 Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004
Trang 24thức (của hợp đồng) có giá trị (pháp lý) tương đương văn bản gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định29 Như vậy những quy định này của LTM 2005 là hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế về mua bán hàng hóa, nó đã tạo điều kiện thuận lợi kích thích các chủ thể trong nước tích cực tham gia quan hệ hợp đồng thương mại với nhau và thu hút được nhiều đối tác nước ngoài vào Việt Nam, để ngày càng phát triển môi trường kinh doanh trong nước
1.3 Phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại theo LTM 2005 và hợp đồng mua bán tài sản theo bộ luật dân sự 2015
Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại cũng
có những đặc điểm chung giống với HĐ mua bán tài sản trong dân sự như:
Một là, hợp đồng ưng thuận: tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của HĐ không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi
là hành động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của HĐ mua bán đã có hiệu lực
Hai là, Có tính đền bù: bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán
Ba là, hợp đồng song vụ: mỗi bên trong HĐ mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình Trong HĐ mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa
vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán
Thứ hai, Điểm khác nhau lớn nhất giữa hai loại hợp đồng này đó là: dựa
vào bảng so sánh phân tích sau:
Bảng so sánh giữa HĐ MBHH LTM 2005 và HĐ MBTS BLDS 2015
Tiêu chí HĐMBHH LTM 2005 HĐMBTS BLDS 2015
29khoản 15, Điều 3, LTM 2005
Trang 25Đối tượng Theo quy định tại khoản 2
điều 3 Luật thương mại
2005 thì Hàng hoá bao gồm :
- Tất cả các loại động sản, kể
cả động sản hình thành trong tương lai
- Những vật gắn liền với đất đai
Theo quy định tại điều 431 BLDS
2015 thì đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch trong đó tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản ( theo quy định tại điều 105 BLDS 2015 ) Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn ở hợp đồng mua bán hàng hóa
Chủ thể Chủ thể trong quan hệ mua
bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân Theo quy định tại khoản 1 điều 6 Luật thương mại 2005 thì : " Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và
có đăng ký kinh doanh"
Ngoài thương nhân, chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là không phải thương nhân và hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận
Chủ thể trong hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa khi mọi tổ chức, cá nhân đầy đủ năng lực, có nhu cầu mua bán tài sản đều có thể
là chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản
Mục đích Chủ yếu là để kinh doanh thu
lợi nhuận cho các thương nhân Chỉ phần nào đó phục
vụ mục đích tiêu dùng và các mục đích khác cho cả thương nhân và những chủ thể không phải thương nhân tuỳ theo mong muốn và nhu cầu của họ trong từng thời điểm
Có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau như : kinh doanh, tiêu dùng, tặng, cho, làm từ thiện hoặc do sở thích,
Trang 26Hình thức Ưu tiên hình thức văn bản
nhằm giảm rủi ro, đảm bảo tính rõ ràng, và có bằng chứng khi xảy ra tranh chấp
Có thể đa dạng với nhiều hình thức tùy thuộc vào đối tượng, chủ thể và mục đích trong hợp đồng mua bán tài sản
Nội dung Nêu cao nghĩa vụ đảm bảo sở
hữu trí tuệ trong hợp đồng mua bán (tại điều 46 Luật thương mại 2005)
Còn đối với pháp luật Việt Nam hiểu nôm na là nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện dưới dạng các điều khoản cụ thể của hợp đồng, do các bên thỏa thuận về các vấn đề pháp lý liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Cụ thể LTM 2005 cũng tiếp cận vấn đề theo nguyên tắc như sau: (i) nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là do các bên thỏa thuận không trái quy định của pháp luật và (ii) pháp luật thương mại không quy định các nội dung bắt buộc mà các bên phải thỏa thuận trong hợp đồng, đối với những nội dung các bên không thỏa thuận thì áp dụng pháp luật để điều chỉnh Cách thức tiếp cận này thể hiện sự khác biệt giữa LTM 2005 và
30Trường ĐH Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật thương mại tập 2, NXB.Công An Nhân Dân (trang 23)
Trang 27LTM 1997, phản ánh sự thay đổi cơ bản của pháp luật thương mại phù hợp với tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa
Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng31 có ý nghĩa hướng các bên tập trung vào thỏa thuận những nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện, đồng thời phòng ngừa những tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều khoản mà các bên thỏa thuận với nhau Pháp luật chỉ quy định nội dung chủ yếu của hợp đồng hoặc các điều khoản mang tính khuyến nghị
để định huớng cho các bên trong việc thỏa thuận Trên cơ sở các quy định của BLDS 2015 và LTM 2005, xuất phát từ tính chất của quan hệ HĐMBHH trong thương mại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của HĐMBHH thường bao gồm: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng, trách nhiệm vi phạm và phương thức giải quyết,
Mặc dù nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận, nhưng trong mọi quan hệ hợp đồng nói chung và trong quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, các bên không chỉ chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản mà các bên thỏa thuận mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định của pháp luật Ví dụ, các bên không thỏa thuận trong hợp đồng về điều khoản bồi thường thiệt hại cho nhau khi một bên vi phạm hợp đồng, nhưng bên vi phạm hợp đồng vẫn phải có nghĩa vụ bồi thường nếu việc vi phạm đó gây thiệt hại cho bên đối tác Như vậy, nội dung của HĐMBHH không chỉ là các điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn có thể bao gồm cả những điều khoản do các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật các bên có nghĩa vụ phải thực hiện
Nội dung của hợp đồng có thể chia thành ba loại điều khoản với những ý nghĩa khác nhau: điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tùy nghi
Một là, điều khoản chủ yếu: Các điều khoản chủ yếu nêu lên những quyền
và nghĩa vụ chủ yếu của các bên, làm cơ sở cho việc thực hiện mà nếu thiếu nó thì quan hệ hợp đồng chưa được coi là đã được xác lập
Hai là, điều khoản thường lệ: Là điều khoản đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Dù các điều khoản này không được ghi vào hợp đồng nhưng các bên mặc nhiên thừa nhận và phải thực hiện đúng như pháp luật đã quy định
Ba là, điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản được đưa vào hợp đồng theo sự thỏa thuận của các bên, căn cứ vào khả năng, nhu cầu của các bên để xác
31Điều 398 BLDS 2015
Trang 28định thêm một số điều khoản khác Trong khuôn khổ của pháp luật, các bên có quyền lựa chọn và thỏa thuận về những hành vi cụ thể Điều đó nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng nhanh chóng, tránh sự hiểu lầm trong quan hệ hợp đồng
1.5 Phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Hợp đồng có thể được giao kết bởi một trong hai phương thức là phương thức giao kết trực tiếp và phương thức giao kết gián tiếp Phương thức giao kết trực tiếp
là việc các bên hoặc đại diện hợp pháp của các bên gặp gỡ trực tiếp (hoặc gọi điện thoại trực tiếp) để bàn bạc và đi đến sự thống nhất các nội dụng của hợp đồng Phương thức giao kết gián tiếp là phương thức các bên tham gia giao dịch không cần phải trực tiếp gặp nhau để đàm phán về nội dung của hợp đồng mà chỉ cần trao đổi thông tin, trong đó chứa đựng nội dung cần thỏa thuận với nhau với sự giúp đỡ của phương tin thông tin, liên lạc như thư tín điện tín, mạng Internet32 Nội dung của chương tiếp theo tác giả sẽ phân tích kĩ hơn quy định của Pháp luật Việt Nam
về giao kết hợp đồng bằng hình thức chào hàng và chấp nhận chào hàng
1.6 Bản chất và nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
1.6.1 Bản chất giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Bản chất pháp lý của giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại tương tự như giao kết hợp đồng dân sự được quy định cụ thể trong BLDS 2015 Do vậy, phần giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại sẽ được áp dụng theo phần giao kết hợp đồng theo BLDS 2015 nó được xem như một quá trình, trong đó các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng thực hiện các hành vi thỏa thuận, thống nhất, xác nhận với nhau các nội dung của hợp đồng Một mặt được coi là tiền đề cho việc xác lập quan hệ hợp đồng, mặt khác có vai trò quan trọng đảm bảo cho hợp đồng đã ký kết là có hiệu lực pháp luật, đảm bảo tính chặt chẽ trong các nội dung của hợp đồng để ngăn ngừa vi phạm hợp đồng Điều này chính là cầu nối cho việc tạo lập quan hệ ổn định lâu dài cho các bên
32 Kỷ yếu hội thảo khoa học (2009) “Thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo qui định của BLDS 2005, Chủ trì hội thảo NCS: Lê Minh Hùng (Chuyên dề 7: Trang 56)
Trang 29Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể tiếp cận dưới hai góc độ khác nhau Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì giao kết hợp đồng là hành vi xác nhận của các bên về một hợp đồng đã được hình thành Với cách hiểu này giao kết hợp đồng hay bị đánh đồng với khái niệm “ký kết hợp đồng” Hiểu theo nghĩa rộng, giao kết hợp đồng là toàn bộ quá trình tuyên bố (thể hiện) ý chí của các bên về nội dung của hợp đồng Tùy thuộc vào ý chí của các chủ thể mà quá trình đàm phán này được diễn ra trong một khoảng thời gian dài hoặc chỉ diễn ra trong giây lát Về cơ bản quá trình giao kết hợp đồng được bắt đầu bởi việc một bên (bên đề nghị) bày
tỏ ý chí muốn giao kết với bên kia (bên được đề nghị) bằng cách đưa ra đề nghị và kết thúc khi bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị từ bên được đề nghị
1.6.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại
Theo quy định tại BLDS 2015, khi giao kết hợp đồng các chủ thể phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội
Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thoả mãn được các nhu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần, BLDS cho phép mọi chủ thể được quyền "tự do giao kết hợp đồng" Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể đều có quyền tham gia giao kết bất kì một hợp đồng dân sự nào, nếu họ muốn
mà không ai có quyền ngăn cản Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thể có quyền giao kết những hợp đồng dân sự đã được pháp luật quy định cụ thể cũng như những hợp đồng dân sự khác dù rằng pháp luật chưa quy định Tuy nhiên, sự tự do ý chí
đó phải nằm trong một khuôn khổ nhất định Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các chủ thể phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội Vì vậy, tự do của mỗi chủ thể phải không trái pháp luật, đạo đức xã hội Nằm trong mối liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi một chủ thể vừa có quyền "tự do giao kết hợp đồng" vừa có nghĩa
vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội Lợi ích của cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi một chủ thể trong việc giao kết hợp đồng dân sự nói riêng, cũng như đối với mọi hành vi nói chung của họ
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng và đạo đức xã hội không cho phép các cá nhân được tự do ý chí tuyệt đối để biến các hợp đồng dân sự thành phương tiện bóc lột
Thứ hai, các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng