Theo đó, Kho bạc nhà nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, có nhiệm vụ giúp Bộ Trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lí nhà nước về quĩ ngân sách nhà nước, quĩ dự trữ tài chính
Trang 1THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ VẬT CHẤT HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN, CƠ CẤU VÀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA HỆ THỐNG KBNN
+ Giám đốc việc cấp phát các loại vốn theo chế độ, định mức
+ Tổ chức việc theo dõi tình hình thu chi và làm thống kê báo cáo cho Bộ Tài chính
Trang 2+ Giám đốc các cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế trong việc chấp hành chế
độ thu, chi ngân sách nhà nước
Vụ quản lý Ngân Quỹ cùng với NHNN đã thực hiện nhiều biện pháp để tăng cường quản lí thu, chi và huy động vốn cho NSNN Nhưng do nhiều nguyên nhân, việc quản lí chưa đạt được những kết quả như mong muốn
- Giai đoạn 1990 - nay
Quản lí và điều hành quỹ NSNN trở thành một nhiệm vụ cực kì quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện thắng lợi nhiệm vị phát triển kinh tế đất nước Cơ quan quản lí quỹ Ngân sách nhà nước không chỉ làm nhiệm vụ tập trung nhanh chóng các khoản thu và thực hiện kịp thời các nhiệm vụ chi mà còn phải tổ chức công tác hạch toán, kế toán, theo dõi, giám sát, đánh gía chất lượng, hiệu quả các khoản thu, chi của NSNN Mặt khác phải tổ chức công tác điều hoà vốn và tạo nguồn để đáp ứng nhu cầu chi cấp bách cho nền kinh tế
Để đảm bảo thực hiện các yêu cầu nêu trên, phải thành lập một cơ quan quản lí quỹ ngân sách trực thuộc Bộ Tài chính Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy khi cơ quan quản lý quỹ ngân sách được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến địa phương dưới sự quản lí và điều hành của Bộ Tài chính ( hoặc Chính Phủ) thì việc thực hiện các nhiệm vụ tài chính- ngân sách sẽ rất dễ dàng
Sau thời gian dài nghiên cứu, tổ chức thí điểm và điều chỉnh, KBNN đã được hoàn thiện về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức
Theo đó, Kho bạc nhà nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, có nhiệm vụ giúp Bộ Trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lí nhà nước về quĩ ngân sách nhà nước, quĩ dự trữ tài chính nhà nước và các quỹ khác của nhà nước được giao theo qui định của pháp luật, thực hiện huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu
tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo qui định của pháp luật Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính trực tiếp quản lí quỹ ngân sách trung ương: Tập trung và phân chia các khoản thu ngân sách nhà nước phát sinh tại kho bạc nhà nước Trung ương cho các cấp ngân sách theo chế độ qui định, tổ chức kiểm soát chi và thực hiện chi trả, thanh toán NSNN theo chế độ, kiểm tra việc quản lí quỹ các cấp chính quyền địa phương
Sự hình thành, ra đời và phát triển của hệ thống KBNN đã trải qua các thới
kỳ:“Xây dựng, củng cố, ổn định và phát triển " trong những năm đầu; “Tiếp tục duy
trì sự ổn định để phát triển" trong những năm tiếp theo;“Hoàn thiện chức năng, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, mở mang sự nghiệp" ở những năm đầu của thế kỷ
Trang 321; đến nay sau 15 năm hệ thống KBNN đang ở thời kỳ"Duy trì ổn định, hoàn thiện
chức năng, hiện đại hoá công nghệ, phát triển nguồn nhân lực" Lịch sử ngành
KBNN cho thấy, dù ở thời kỳ hay giai đoạn nào đi nữa đều đòi hỏi mỗi cán bộ của hệ thống phải nỗ lực phấn đầu, nêu cao tinh thần đoàn kết vốn có để cùng nhau xây
dựng hệ thống KBNN với mục tiêu lâu dài là“Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng
các mặt hoạt động để phát triển toàn diện và bền vững trên cơ sở hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ Kho bạc Nhà nước phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý tài chính công và cải cách hành chính quốc gia, xây dựng nền công nghệ kho bạc nhà nước hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao”
1.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của KBNN
1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức KBNN
Kho bạc Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, thành
hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương, theo đơn vị hành chính, có cơ cấu tổ chức như sau :
Bộ máy giúp việc Tổng giám đốc:
- Sở Giao dịch Kho bạc Nhà nước
Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc:
- Cụ thanh tra
- Trường nghiệp vụ Kho bạc
- Tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia
Các đơn vị sự nghiệp khác thuộc Kho bạc Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định theo quy định của pháp luật
Trang 4Kho bạc Nhà nước ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung
là Kho bạc Nhà nước tỉnh) trực thuộc Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Kho bạc Nhà nước huyện) trực thuộc Kho bạc Nhà nước tỉnh
Kho bạc Nhà nước được tổ chức điểm giao dịch tại các địa bàn có khối lượng giao dịch lớn
Việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn
vị thuộc Kho bạc Nhà nước thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Lãnh đạo Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước có Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc; số lượng Phó Tổng giám đốc do Bộ trưởng Bộ Tài chính thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng
Bộ Tài chính về toàn bộ hoạt động của hệ thống Kho bạc Nhà nước Phó Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công
Có thể khái quát bộ máy tổ chức cán bộ Kho bạc Nhà nước qua sơ đồ sau:
Được sự tin tưởng Nhà nước, KBNN trực thuộc Bộ Tài Chính có các chức năng và nhiệm vụ sau
1.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ chung của hệ thống KBNN
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính chiến lược phát triển, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm của Kho bạc Nhà nước
- Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về quản lý quỹ ngân sách nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác thuộc
- Hướng dẫn nghiệp vụ công tác thu nộp, chi trả, thanh toán, quyết toán quỹ NSNN, nghiệp vụ hoạt động khác có liên quan và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện nghiệp vụ thống nhất trong hệ thống Kho bạc Nhà nước
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước và chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Sơ đồ tổ chức bộ máy cán bộ Kho bạc Nhà nước
BỘ TÀI CHÍNH
Trang 5Chí QL NQ QG
TT BD NV
KHO BẠC NHÀ NƯỚC TỈNH, THÀNH PHỐ
Phòng KHTHPhòng kế toánPhòng thanh toán VĐTPhòng kho quĩPhòng ktra, kiểm soátPhòng tổ chức cán bộPhòng tin họcPhòng HC, tài vụ, QTKHO BẠC NHÀ NƯỚC QUẬN, HUYỆN
Bộ phận KHTH
Bộ phận kế toánBộphận khoquĩĐiểm giao dịch
Trang 7- Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao theo quy định của pháp luật, bao gồm :
Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước (bao gồm cả thu viện trợ, thu vay nợ trong nước và nước ngoài); tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước do các tổ chức và cá nhân nộp tại hệ thống Kho bạc Nhà nước theo quy định; thực hiện hạch toán số thu ngân sách nhà nước cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước
và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Tổ chức thực hiện chi ngân sách nhà nước, kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi từ Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật;
Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước do Kho bạc Nhà nước quản lý; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
Quản lý các tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước
- Kho bạc Nhà nước có quyền trích từ tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân
để nộp NSNN hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho NSNN theo quy định của pháp luật; có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm
về
- Tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước; hạch toán kế toán các quỹ và tài sản của Nhà nước được giao cho Kho bạc Nhà nước quản lý; định kỳ báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách nhà nước cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan Nhà nước liên quan theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Tổ chức thực hiện công tác thống kê Kho bạc Nhà nước và chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán và điều hành tồn ngân Kho bạc Nhà nước
- Tổ chức huy động vốn trong nước và ngoài nước cho Ngân sách Nhà nước
và cho đầu tư phát triển thông qua phát hành công trái, trái phiếu theo quy định của pháp luật
Trang 8- Thực hiện một số dịch vụ tín dụng nhà nước theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc ủy thác của các đơn vị
- Tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các đơn
vị thuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước theo đúng quy định của pháp luật
- Hiện đại hoá hoạt động của hệ thống Kho bạc Nhà nước :
Tổ chức quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ quản lý, kỹ thuật tiên tiến vào hoạt động của Kho bạc Nhà nước;
Hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống Kho bạc Nhà nước
- Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế thuộc lĩnh vực kho bạc nhà nước theo quy định của pháp luật và phân công của Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong hệ thống Kho bạc Nhà nước; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Quản lý kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp và tài sản được giao theo quy định của pháp luật; được sử dụng các khoản thu phát sinh trong hoạt động nghiệp vụ theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước
- Thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ và cung cấp thông tin
để tạo thuận lợi phục vụ khách hàng
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao
Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc KBNN
- Vụ kế hoạch tổng hợp: có nhiệm vụ giúp Tổng giảm đốc KBNN xây dựng dự
thảo các chiến lược phát triển, quy hoạch, kế hoạc dài hạn, 5 năm, hàng năm của KBNN, xây dựng dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn của KBNN đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị KBNN về: tập trung các nguồn thu, kiểm soát các khoản chi thường xuyên của NSNN, quản lý các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác được giao quản lý, dịch vụ tín dụng nhà nước, công tác thống kê KBNN và quản lý, cấp phát vốn các chương trình, mục tiêu quốc gia theo phân công của Tổng giám đốc KBNN
- Vụ kế toán: có nhiệm vụ giúp Tổng giảm đốc KBNN xây dựng dự thảo chế độ
và các văn bản hướng dẫn chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN, chế
độ thanh toán trong hệ thống KBNN, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị
Trang 9KBNN triển khai công tác kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN, công tác thanh toán trong hệ thống KBNN, thực hiện công tác thông tin, điện báo về số liệu thu, chi NSNN và tổ chức thực hiện công tác kiểm soát, đối chiếu và quyết toán thanh toán liên kho bạc ngoại tỉnh trong hệ thống KBNN
- Vụ thanh toán vốn đầu tư: có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc KBNN xây dựng
dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn của KBNN về công tác kiểm soát thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư và xây dựng thuộc nguồn vốn NSNN các cấp, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị KBNN thực hiện thống nhất chế độ kiểm soát thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư và xây dựng thuộc nguồn vốn NSNN các cấp
- Vụ huy động vốn: có nhiệm vụ giúp Tổng giảm đốc KBNN xây dựng dự thảo
đề án, chính sách, chế độ về huy động vốn trong nước và ngoài nước cho NSNN và cho đầu tư phát triển thông qua phát hành công trái, trái phiếu theo quy định của pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị KBNN triển khai thống nhất công tác phát hành và thanh toán công trái, trái phiếu chính phủ
- Vụ kho quỹ: có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc KBNN xây dựng và tham gia
vào dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn của KBNN về nghiệp vụ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý, quản lý an toàn kho, quỹ trong
hệ thống KBNN, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị KBNN thực hiện thống nhất nghiệp vụ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản quý, quản lý an toàn kho, quỹ tại các đơn vị KBNN
- Vụ kiểm tra, kiểm soát: có nhiệm vụ giúp Tổng giảm đốc KBNN xây dựng dự
thảo các quy định, văn bản hướng dẫn về công tác kiểm tra, kiểm soát, tiếp công dân
và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hệ thống KBNN, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị KBNN thực hiện thống nhất công tác kiểm tra, kiểm soát, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, xây dựng kế hoạc nội dung và tổ chức thực hiện kiểm tra, kiểm soát định kỳ và đột xuất tại các đơn vị KBNN
- Vụ tổ chức cán bộ: có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc KBNN xây dựng chiến
lược về tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức KBNN, xây dựng dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn của KBNN về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức, lao động tiền lương, đào tạo bồi dưỡng, thi đua khen thưởng trong hệ thống KBNN, chỉ
Trang 10đạo hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức
bộ máy, quản lý cán bộ, công chức, lao động tiền lương, đào tạo bồi dưỡng, thi đua khen thưởng trong hệ thống KBNN, làm nhiệm vụ thường trực Hội đồng thi đua KBNN, thực hiện công tác tổ chức và cán bộ tại cơ quan KBNN
- Vụ tài vụ quản trị: có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc KBNN xây dựng quy
hoạch về xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động của KBNN, xây dựng và tham gia vào dự thảo các quy chế quản lý tài chính, tiêu chuẩn định mức trang bị và
sử dụng tài sản, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản nội bộ của hệ thống KBNN, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản nội bộ, quản lý vật tư tài sản, công tác bảo vệ trong hệ thống KBNN, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, đầu tư xây dựng cơ bản nội bộ và nhiệm vụ quản trị tại KBNN
- Văn phòng: có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc KBNN điều phối hoạt động của
các đơn vị trong hệ thống KBNN và các đơn vị thuộc KBNN
Văn phòng có 2 phòng là Phòng hành chính-Lưu trữ và phòng tuyên truyền đối ngoại
- Sở giao dịch KBNN: là đơn vị thuộc bộ máy giúp việc Tổng giảm đốc KBNN,
tổ chức thực hiện các nghiệp vụ giao dịch, thanh toán tại KBNN Sở giao dịch có con dấu riêng, được mở tài khoản tại NHNNVN và các NHTM nhà nước
- Trung tâm tin học và thống kê: là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp
nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại KBNN và tại NH để hoạt động theo quy định của pháp luật Trung tâm tin học và thống kê có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc KBNN quản lý và tổ chức thực hiện việc phát triển, ứng dụng tin học trong hệ thống KBNN, thực hiện các dịch vụ tin học đối với các đơn vị trong và ngoài hệ thống KBNN
- Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ: là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp
nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại KBNN và tại NH để hoạt động theo quy định của pháp luật Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức trong hệ thống KBNN theo phân cấp của Bộ tài chính, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của hệ thống KBNN và thực hiện dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ KBNN theo quy định của pháp luật
Trang 11- Tạp chí quản lý ngân quỹ quốc gia: là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách
pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại KBNN và tại NH để hoạt động theo quy định của pháp luật Tạp chí quản lý ngân quỹ quốc gia thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền, trao đổi các vấn đề về chính sách pháp luật và nghiệp vụ trong lĩnh vực tài chính và KBNN, về thông tin các hoạt động của hệ thổng KBNN và của các ngành, các đơn vị liên quan
Qua việc tìm hiểu chức năng và nhiệm vụ của hệ thống KBNN, với các vai trò quan trọng, thực hiện chức năng tham mưu, giúp bộ trưởng Bộ Tài Chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của nhà nước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho Ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ Do đó việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất cho hệ thống KBNN, góp phần phục vụ cho CBCC làm tốt chức năng nhiệm vụ của mình, góp phần giúp cho toàn ngành kho bạc thực hiện tốt mục tiêu chiến lược phát triển của mình là điều hết sức cần thiết Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, việc áp dụng tin học hóa, hiện đại trong việc quản lý của các cơ quan nhà nước đang được quan tâm phát triển Do đó việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất hệ thống KBNN góp phần xây dựng một nền kho bạc nhà nước tiên tiến, hiện đại, chât lượng cao là vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay
1.2 TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ VẬT CHẤT HỆ THỐNG KBNN GIAI ĐOẠN 2004 – 2009
1.2.1 Khái niệm về “ Phát triển’’ trong mối quan hệ với hoạt động đầu tư phát triển hệ thống KBNN.
Trước khi tìm hiểu về tình hình đầu tư phát triển cơ sở vật chất hệ thống KBNN chúng ta cần hiểu khái niệm về phát triển trong hoạt động đầu tư
Khái niệm phát triển: Phát triển là sự vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên Phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, phát triển sản xuất
Phát triển trong lĩnh vực kinh tế: Sự phát triển kinh tế bao hàm sự tăng trưởng cộng thêm các sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu nền kinh tế, sự tăng lên của các sản phẩm do các ngành sản xuất vật chất tạo ra, sự đô thị hóa và sự tham gia của các dân tộc một quốc gia vào quá trình tạo ra các thay đổi nói trên
Khái niệm phát triển trong quản trị doanh nghiệp: Việc đẩy mạnh sự tham gia
và hỗ trợ của những người có tiền quyên góp thuộc nhiều tầng lớp khác nhau Thông
Trang 12thường khái niệm phát triển được sử dụng với 3 nhóm hoạt động chính, cần phối hợp
có hiệu quả: kế hoạch hóa, quan hệ công chúng, gây vốn
Phát triển một sự vật (một thực thể khách quan) là một quá trình vận động tăng lên về lượng và chất của sự vật đó Phát triển một sự vật là kết quả tương tác liên tục của các yếu tố bên trong sự vật với các yếu tố nằm ngoài (thuộc môi trường bao quanh sự vật đó) Kết quả của phát triển sẽ tạo ra sự vật mới mang những tố chất
có thể giống hoặc khác sự vật tồn tại trước đó
Đầu tư phát triển là bộ phân cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng… ), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển
Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…) Các kết quả đạt được của đầu
tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giưã kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra
để đạt kết quả đó Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giưã các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của
cơ quan quản lý nhà nước các cấp Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo…nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó, cũng được xem là đầu tư phát triển
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư.Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
Đối với hoạt động đầu tư phát triền KBNN thực chất là hoạt động đầu tư công, với nhiệm vụ chính là tạo ra hệ thống các Kho bạc theo chuẩn mực nhất định Mặt khác, số lượng các kho bạc công trong hệ thống các Kho bạc của toàn ngành là rất lớn do vậy đối với việc đâu tư phát triển các KBNN ở tất cả các cấp cần đảm bảo
Trang 13xây dựng các Kho bạc đạt được những yêu cầu đề ra về các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng với chi phí thấp nhất Do đó sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ sở vật chất nội ngành KBNN.
1.2.2 Khái niệm và nội dung của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nội ngành của KBNN
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nội ngành tại KBNN là một hoạt động đầu
sử dụng phần lớn là vốn ngành và một phần nhỏ là vốn NSNN để đầu tư xây dựng mới các công trình hoặc cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các dự án đầu tư xây dựng trong các giai đoạn trước nhằm tạo ra các cơ sở vật chất phục vụ cho KBNN thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Từ đó tạo điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển của các ngành, vùng, lãnh thổ hay toàn bộ nền kinh tế đất nước Bên cạnh đó hoạt động ĐTXDCB nội ngành của KBNN còn bao gồm cả đầu tư mua sắm máy móc thiết bị
và các sản phẩm khoa học công nghệ mới phục vụ cho hoạt động của hệ thống KBNN và các cơ quan chức năng của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan thuộc hệ thống chính trị tại các địa phương trong cả nước…
Do đó có thể hiểu, ĐTXDCB nội ngành tại KBNN là hoạt động bỏ vốn ra để đầu tư ,xây dựng các công trình mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các công trình và các dự án đã đầu tư trước đó nhằm tạo ra cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động của hệ thống KBNN
Nội dung của hoạt động ĐTXDCB nội ngành hệ thống KBNN bao gồm các công việc chính sau:
- Thực hiện đầu tư xây dựng mới các trụ sở làm việc của toàn hệ thống KBNN, trong đó bao gồm KBNN trung ương và KBNN tại các địa phương trên cả nước
- Thực hiện sửa chữa, cải tạo, duy tu, khôi phục các cơ sở KBNN hiện có để nâng cao khả năng đáp ứng của những Kho bạc này
- Thực hiện sửa chữa, duy tu các hạng mục, công trình phụ trợ tại trụ sở làm việc của hệ thống KBNN
- Thực hiện mua sắm mới hệ thống trang thiết bị, tài sản, máy móc và các sản phẩm khoa học công nghệ mới, các phần mềm phục vụ cho hoạt động chuyên môn của hệ thống KBNN
Trang 14- Ngoài việc mua sắm trang thiết bị mới hoạt động đầu tư phát triển hệ thống KBNN cũng bao gồm cả việc đầu tư cho sửa chữa các tài sản, trang thiết bị của hệ thống Từ hoạt động sửa chữa này một lượng vốn rất lớn được tiết kiệm.
1.2.3 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hệ thống KBNN
Đầu tư xây dưng cơ bản nội ngành tại KBNN trước hết cũng là hoạt động ĐTXDCB song lại là hoạt động đầu tư nội ngành của hệ thống KBNN do đó nó vừa mang những đặc điểm chung của ĐTXDCB vừa mang những đặc điểm riêng của đầu
tư xây dựng cơ bản nội ngành
1.2.3.1 Những đặc điểm chung với đầu tư xây dựng cơ bản
Thứ nhất, giống với ĐTXDCB, ĐTXDCB nội ngành KBNN với mục tiêu
nhằm xây dựng mới và cải thiện cơ sở vật chất hạ tầng cho hoạt động của toàn hệ thống KBNN do đó quy mô vốn đầu tư cần thiết và sử dụng là rất lớn và thời gian đầu tư, sử dụng dài đòi hỏi phải xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn kết hợp với việc quản lý chặt chẽ nguồn vốn và quá trình sử dụng vốn đầu
tư, tiến độ giải ngân theo tiến độ đầu tư, đảm bảo không để xảy ra tình trạng bất cập giữa nhu cầu và tiến độ giải ngân vốn, đồng thời cũng cần tránh tình trạng đọng vốn gây lãng phí và phát sinh tiêu cực Ngoài ra, đặc điểm này cũng đòi hỏi việc quản lý ĐTXDCB nội ngành hệ thống KBNN cũng phải thực hiện đầu tư trọng tâm, trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải gây lãng phí trong việc sử dụng vốn đầu tư
Thứ hai, các thành quả của hoạt động ĐTXDCB thường phát huy tác dụng
ngay tại nơi tạo dựng và kết quả đầu tư chụi ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương ( các vùng, miền và tỉnh) Như đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của KBNN tại một địa phương nào đó chính là ĐTXDCB nội ngành tại KBNN, sẽ chụi ảnh hưởng lớn của yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, địa phương đó
Do đó, cần phải lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý - mật độ dân cư, mật độ giao thông
và sự thuận lợi hạ tầng cơ sở về kỹ thuật, khả năng chịu chụi tác động thiên tai,…Để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúng phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hóa Cần xây dựng một hệ thống gồm các tiêu chí khác nhau và xây dựng nhiều phương án đầu tư xây dựng khác nhau để có thể so sánh và ra quyết định lựa chọn đầu tư đúng đắn, cụ thể và hợp lý nhất, sao cho khai thác được tối đa lợi thế của vùng đó, từ đó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư
Trang 15Thứ ba, thời kỳ đầu tư và thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài Do đó
vốn đầu tư nằm khê đọng trong suốt quá thực hiện đầu tư, nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cần tiến hành phân kỳ vốn đầu tư, bố trí nguồn lực và vốn tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoặch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn và nợ đọng vốn đầu tư Mặt khác do thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài do đó cần quản lý tốt quá trình vận hành và có những phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vi mô và vĩ mô về sự phát triển kinh tế và hội
và nhu cầu về kho tàng trụ sở KBNN các tỉnh và thành phố trong cả nước
Thứ tư, giống với ĐTXBCB nói chung, ĐTXDCB nội ngành KBNN cũng
chịu rủi ro cao Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng và vận hành kết quả đầu tư kéo dài do đó ĐTXDCVB nội ngành thường có độ rủi ro cao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân như: Sự yếu kém trong quá trình quản lý đầu tư, sử dụng yếu tố vật chất đầu tư kém chất lượng; do sự biến động của giá cả nguyên vật liệu, sự biến động của tỷ giá, những khó khăn và chi phí đền bù giải phóng mặt bằng cho các công trình dự án đầu tư tăng…Do vậy để việc đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất nội ngành KBNN có hiệu quả cần thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro bao gồm: Xác định ( nhận diện) rủi ro, đo lường đánh giá mức độ rủi ro và xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro
1.2.2.2 Đặc điểm riêng của ĐTXDCB cơ sở vật chất nội ngành KBNN
Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động ĐTXDCB, DTXDCB cơ sở vật chất nội ngành KBNN còn mang những đặc điểm riêng của đầu tư nội ngành
Thứ nhất, Khác với hoạt động đầu tư phát triển khác hoạt động ĐTXDCB cơ
sở vật chất nội ngành KBNN ngoài việc đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, thời gian
và chi phí, việc xây dựng KBNN còn đặc biệt chú trọng tới vấn đề bảo mật và an toàn cho các tài sản quốc gia Bên cạnh đó vấn đề tạo điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất cho các hoạt động giao dịch tại KBNN cũng là một yêu cầu khác biệt trong ĐTXDCB nội ngành KBNN với các hoạt động đầu tư khác
Thứ hai, về quy trình đầu tư Mặc dù xét về tổng thể, quy trình ĐTXDCB cơ
sở vật chất nội ngành kho bạc nhà nước cũng bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư xây dựng; thực hiện đầu tư; vận hành kết quả đầu tư Tuy nhiên do đầu tư xây dựng
cơ bản trong nội ngành hệ thống KBNN phục vụ cho hoạt động của hệ thống KBNN nên từng bước trong quy trình ĐTXDCB cơ sở vật chất của ngành cũng có những đặc điểm riêng biệt :
Trang 16Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Đây là giai đoạn mà chi phí có tỷ trọng không lớn
so với tổng mức đầu tư của dự án hay công trình, nhưng là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng nhất, nó quyết định tới nội dung, mục đích và yêu cầu của quá trình đầu tư:
Quy trình của giai đoạn chuẩn bị đầu tư bao gồm:
- Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư
- Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng
- Lập dự án đầu tư
- Thẩm định dự án để ra quyết định đầu tư
Trong đó việc lập dự án, thẩm định dự án là quan trọng nhất, quá trình này giúp chủ đầu tư (KBNN trung ương và KBNN tỉnh, thành phố trực thuộc trụng ương)
và các cấp ra quyết định đầu tư ( Bộ Tài Chính) lựa chọn phương án tốt nhất và mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất, tiết kiệm chi phí…
Giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng: Đây là giai đoạn sử dụng vốn với quy
mô và tỷ trọng rất lớn trong tổng số vốn đầu tư trong toàn bộ quy trình đầu tư và là giai đoạn quyết định của việc thực hiện nội dung, mục đích của dự án đầu tư xây dựng nội ngành KBNN Quản lý tốt giai đoạn này sẽ góp phần tiết kiệm chi phí, chống thất thoát và lãng phí trong xây dựng đồng thời đây là giai đoạn quyết định tới chất lượng, hiệu quả của cả dự án hoặc công trình đưa vào khai thác sử dụng
Giai đoạn thực hiện đầu tư bao gồm các công việc sau:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của nhà nước
- Tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị mặt bằng để xây dựng kho tàng, trụ
sở làm việc của hệ thống KBNN
- Tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình
- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình
- Tổ chức đấu thầu, mua sắm thiết bị, thi công công trình
- Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án
- Thi công xây lắp công trình
- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng
- Quyết toán vốn đầu tư XDCB sau khi công trình đã hoàn thành và đưa dự án vào khai thác sử dụng
Trang 17Trong giai đoạn này việc quản lý chặt chẽ trong các khâu đều có những ý nghĩa rất quan trọng tới việc tiết kiệm vốn đầu tư, hạn chế sự lãng phí, tiêu cực trong ĐTXDCB, đặc biệt là những công trình xây dựng do nguồn vốn NSNN cấp kinh phí
Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư: Đây là giai đoạn cuối của quá trình thực hiện đầu tư XDCB, chi phí trong giai đoạn này có tỷ trọng nhỏ trong tổng mức đầu
tư Giai đoạn này gồm những công việc cụ thể sau:
- Bàn giao công trình cho KBNN các cấp; bàn giao hồ sơ hoàn công
- Bảo hành công trình
- Vận hành dự án: Sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư ( KBNN Trung ương và KBNN tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) có khai thác, hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ và có hiệu quả các chỉ tiêu kỹ thuật đã được đề ra trong dự án đầu tư
Thứ ba: về nguồn vốn đầu tư: Nguồn vốn ĐTXDCB nội ngành tại KBNN
được cấp một phần rất nhỏ từ NSNN, phần lớn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hệ thống KBNN chủ yếu là nguồn vốn ngành Ở Việt Nam, theo quyết định số 101/2008/QĐ-TTg về việc ban hành cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với hệ thống KBNN giai đoạn 2009- 2013 có nêu rõ “ Hàng năm KBNN được sử dụng nguồn kinh phí NSNN để chi đầu tư hiện đại hóa ngành, tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng kho tàng, trụ sở làm việc và giao dịch, mua sắm các trang thiết bị chuyên dùng, sửa chữa, mua sắm tài sản phục vụ quy trình chuyên môn, nghiệp vụ” Việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí này trong hoạt động ĐTXDCB, hàng năm KBNN có trách nhiệm lập dự toán chi NSNN gửi bộ tài chính để xem xét, tổng hợp gửi Bộ Tài Chính, Bộ kế hoạch và đầu tư và các cơ quan có liên quan theo đúng quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Căn cứ vào dự toán chi NSNN được Thủ Tướng Chính phủ giao, Bộ Tài Chính giao dự toán chi cho KBNN theo quy định hiện hành
Thứ tư: Theo cơ chế chính sách ngoài việc chấp hành các quy định, định mức
chung của Bộ Xây Dựng về đầu tư XDCB thì việc xây dựng cơ sở vật chất nội ngành KBNN cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về diện tích mặt sàn xây dựng kho tàng, trụ sở của KBNN như:
Quy mô đầu tư:
-Trụ sở cấp tỉnh:
Trang 18Cấp 1
KBNN, Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng
Được xác định riêng, tùy thuộc vào địa hình
cụ thể
Cấp 2 Tỉnh có thành phố trực thuộc tỉnh 3 300 m2
Cấp 3 Tỉnh thuộc vùng đồng bằng, cửa khẩu 2 700 m2
Cấp 4 Tỉnh thuộc trung du, miền núi, vùng sâu 2 000 m2
Quận thuộc Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ 1 000 m2 Huyện thuộc Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ 800 m2
Cấp 3 Đồng bằng và trung tâm phát triển 700 - 800 m2
Huyện đồng bằng thuộc trung tâm phát triển 800 m2
Cấp 4 Trung du, miền núi, vùng sâu, vùng xa 500 - 600 m2
Huyện miến núi, vùng sâu, vùng xa 500 m2
Việc quy định này để đảm bảo cho các KBNN các cấp đảm bảo đủ về diện tích, vì do đặc thù của ngành cần kho tàng, trụ sở không những để làm việc mà còn lưu trữ, bảo vệ các tài sản quý như: tiền, vàng, giấy tờ có giá Vừa đảm bảo không lãng phí diện tích đất sử dụng
Trang 191.2.4 Quy trình đầu tư và cấp phát vốn cho hoạt động ĐTXDCB nội ngành KBNN
1.2.4.1 Quy trình đầu tư XDCB nội ngành KBNN
Việc xây dựng cơ bản nội ngành KBNN cũng tuân theo quy trình xây dựng chung đối với các công trình của nhà nước, mặt khác cũng mang những nét riêng của đầu
tư xây dựng cơ bản nội ngành, cụ thể:
Nhu cầu
Đề xuất đầu tư hoặc dự án đầu tư
Cấp có thẩm quyền phê duyệt
Thành lập ban QLDA
Lập dự án đầu tư hoặc BCKTKT
Trình KBNN trung ương phê duyệt
Lựa chọn nhà thầu
Quản lý tiến độ thi công
Quyết toán dự án đầu tư
Quản lý sau đầu tư
Nhu cầu xây dựng các KBNN tại các địa phương phải dự trên quy hoạch tổng thể xây dựng hệ thống KBNN từ 5 tới 10 năm đã được Bộ Tài chính phê duyệt Nhu cầu trên ngoài việc dựa trên quy hoạch chung, tổng thể của toàn ngành còn phải dựa vào các kế hoạch hàng năm cũng như các kế hoạch thực tế phát sinh Từ đó từng đơn
vị kho bạc địa phương mới xây dựng và đề xuất nhu cầu của mình lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền Việc đề xuất nhu cầu cần nêu rõ quy mô đầu tư, nội dung đầu tư
và có kế hoạch xin cấp đất địa phương đối với những dự án xây dựng mới Sau khi đã xác định và xây dựng nhu cầu CĐT ( kho bạc nhà nước địa phương ) đề xuất đầu tư hoặc dự án đầu tư lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và quyết định
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được quy định rõ trong QĐ 2286 của Bộ Tài chính ngày 05/07/2007 về việc phân cấp và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, tài sản nhà nước và đầu tư xây dựng cơ bản trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính Cụ thể: Bộ Tài chính quyết định: Đầu tư xây dựng các dự án không thực hiện phân cấp và ủy quyền cho thủ trưởng các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cấp dưới Quyết toán vốn đầu tư hoàn thành đối với các dự án nhóm A Vụ trưởng vụ Tài vụ qản trị chịu trách nhiệm: Thẩm định, trình bộ xem xét, quyết toán các dự án đầu tư hoàn thành do bộ trưởng bộ tài chính
Trang 20phê duyệt; Thủ trưởng các cơ quan hành chính đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ quyết định các dự án nhóm B, C và các dự án dưới 1 tỷ đồng.
Sau khi dự án đầu tư được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, CĐT trực tiếp hoàn thành và thành lập ban quản lý dự án, đối với những dự án xây dựng kho bạc nhà nước tại các đơn vị có quy mô vốn trên 100 tỷ thì KBNN trung ương cử cán bộ tại trương ương cùng với cán bộ tại đơn vị thành lập ban quản lý dự án, tuy nhiên chủ yếu các công trình đều dưới 100 tỷ dó đó ban quản lý dự án là do chủ đầu tư tự lập Việc thành lập ban Quản lý dự án đầu tư được quy định rõ trong NĐ 12 ngày 12/02/2009 của Chính phủ về đầu tư xây dựng công trình và trong QĐ 2286 của Bộ Tài chính ngày 05/07/2007 về việc phân cấp và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, tài sản nhà nước và đầu tư xây dựng cơ bản trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính
Sau khi thành lập ban quản lý dự án, CĐT tiến hành lập dự án đầu tư hoặc BCKTKT đối với dự án đầu tư dưới 15 tỷ đồng Sau khi tiến hành lập dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật, chủ đầu tư trình KBNN trung ương phê duyệt dự án đầu tư hoặc báo cáo KTKT ( đối với dự án đầu tư dưới 15 tỷ đồng )
Sau khi có kế hoạch đầu tư, CĐT tổ chức lựa chọn nhà thầu Việc tổ chức lựa chọn nhà thầu được sử dụng rộng rãi tất cả các hình thức như cạnh tranh rộng rãi, chỉ định thầu, cạnh tranh hạn chế, chào hàng cạnh tranh… áp dụng cụ thể đối với từng
dự án, từng nguồn vốn được quy định rõ trong nghị định Số 85 ngày 1 tháng 12 năm
2009 của Chính Phủ quy định về hoạt động đấu thầu Chủ đầu tư trực tiếp là người tổ chức thực hiện hoạt động đấu thầu, họ là người lập hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và đánh giá kết quả đấu thầu lựa chọn nhà thầu
Sau khi lựa chọn được nhà thầu và công trình được đưa vào thực hiện, CĐT sẽ quản lý tiến độ thi công công trình CĐT sẽ thực hiện việc giám sát hoặc thuê tư vấn giám sát định kỳ, tiến hành quản lý và điều chỉnh khi cần thiết để dự án được thực hiện đúng tiến độ như trong thiết kế ban đầu Việc quản lý tiến độ và chất lượng công trình được thực hiện theo NĐ 209 / 204/ NĐ – CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng Trong giai đoạn này KBNN hoặc Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước
về đầu tư xây dựng cơ bản như: kiểm tra định kỳ, đột xuất đối với việc thực hiện dự án
Sau khi công trình xây dựng được hoàn thành, dự án được quyết toán A – B giữa các bên như chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan giám sát nhà nước Việc thực hiện quyết toán được quy định rõ ràng về quy mô, khối lượng, đơn giá…Việc quyết toán
Trang 21này được thực hiện theo NĐ 12/ 2009/ NĐ – CP về quản lý đầu tư xây dựng công trình, QĐ 56/ 2008/ QĐ – BTC về việc ban hành quy trình thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành đối với các dự án sử dụng vốn NSNN, theo thông tư số 33 của Bộ Tài chính về quyết toán dự án hoàn thành và công văn số 101/ KBNN – TVQT ngày 17/01/2008 về việc hướng dẫn phân cấp và thực hiện nhiệm vụ quản lý đầu tư XDCB trong nội bộ hệ thống KBNN Sau khi quyết toán xong công trình được đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu của đơn vị.
Khi dự án hoàn thành được đưa vào sử dụng thì vấn đề quản lý sau đầu tư là một phần rất quan trọng góp phần để hoạt động đầu tư phát triển đạt hiệu quả cao nhất Công tác quản lý sau đầu tư nhằm đảm bảo sử dụng hết công suất của các công trình đầu tư, không để tình trạng các công trình xây dựng xong để đấy hay có sử dụng thì chỉ sử dụng một phần không tận dụng hết cơ sở vật chất, hạ tầng đã xây dựng Các công trình sau khi xây dựng xong bên cạnh việc đưa vào sử dụng và vận hành công tác tu sửa bảo dưỡng các công trình cũng phải được tiến hành thường xuyên và định
kỳ góp phần kéo dài tuổi thọ công trình xây dựng Các công trình xây dựng KBNN hầu hết sử dụng hết công suất đã định, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đầu
tư phát triển nội ngành Bên cạnh đó hàng năm ngành cũng trích ra một lượng tiền nhất định phục vụ cho công tác du tu, sửa chữa và bảo trì các công trình của hệ thống
1.2.4.2 Việc cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản nội ngành.
- Việc chuyển vốn đầu tư xây dựng nội ngành được thực hiện như sau:
+ Căn cứ chuyển vốn: Căn cứ vào kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản được KBNN giao hàng năm; căn cứ vào kế hoạch sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản nộ ngành; Báo cáo tình hình thực hiện và sử dụng đầu tư xây dựng cơ bản nội ngành quý
+ KBNN thực hiện chuyển vốn
Đối với công trình duy tu, sửa chữa nhỏ ( dưới 300 triệu đồng) từ kinh phí không thường xuyên : KBNN chuyển vốn một lần ngay sau khi giao dự toán năm.
Đối với giai đoạn chuyển bị đầu tư dự án:
Căn cứ vào kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm KBNN giao cho từng dự
án, kế hoạch sử dụng vốn ĐTXDCB nội ngành năm, Báo cáo tình hình thực hiện đầu
tư XDCB nội ngành quý; KBNN thực hiện chuyển vốn theo quý
Trường hợp cuối quý theo báo cáo tình hình thực hiện và sử dụng vốn đầu tư XDCB nội ngành của KBNN tỉnh, số vốn đầu tư XDCB nội ngành chưa sử dụng còn
dư lớn hơn ( hoặc bằng) kế hoạch sử dụng vốn quý sau và khối lượng hoàn thành
Trang 22chưa thanh toán của quý báo cáo, KBNN sẽ chuyển vốn vào quý tiếp theo Kết thúc
dự án nguồn vốn ĐTXDCB nội ngành còn dư, KBNN tỉnh hoàn trả KBNN vào tài khoản 934.01.00.00003 tại Sở Giai dịch KBNN
- Trách nhiệm của KBNN tỉnh: Để được nhận vốn, KBNN tỉnh thực hiện ( chủ đầu tư) :
+ Lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản nội ngành năm: Căn cứ kế hoạch đầu
tư xây dựng cơ bản nội ngành hàng năm, các hợp đồng xây dựng, tư vấn; kế hoạch tiến độ thi công xác định giữa chủ đầu tư và các nhà thầu xây dựng để lập và gửi về KBNN sau 7 ngày làm việc kể từ ngày KBNN tỉnh nhận được Thông báo kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm
+ Kế hoạch sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản nội ngành hàng năm, được điều chỉnh hành quý, KBNN tỉnh gửi về KBNN trước ngày 5 tháng đầu quý
+ Báo cáo tình hình thực hiện và sử dụng vốn đầu tư XDCB nội ngành quý: căn cứ vào tình hình thực hiện khối lượng hoàn thành ( gồm : xây dựng, thiết bị, chi khác ) và vốn nhận, số vốn đã tạm ứng, thanh toán để lập báo cáo chi tiết từng dự
án gửi KBNN trước ngày 5 tháng đầu quý sau
+ Giám đốc kho bạc tỉnh ( trách nhiệm kiểm soát chi ): giao nhiệm vụ cho phòng thanh toán vốn đầu tư thực hiện kiểm soát thanh toán vốn đầu tư các dự án XDCB nội bộ do KBNN tỉnh làm chủ đầu tư đã được phê duyệt và được ghi trong
kế hoạch đầu tư hàng năm
+ Báo cáo định kỳ hàng quý, năm và 13 tháng: KBNN tỉnh thực hiện nghiêm chế độ báo cáo quy định tại công văn số 12821/ BTC – TVQT ngày 24 tháng 9 năm
2007 của Bộ Tài chính về việc quy trình xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản , thanh toán và quyết toán vốn đầu tư
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư phát triển cơ sở vật chất hệ thống KBNN
1.2.5.1 Nhân tố khách quan
Thứ nhất: Các quy định của nhà nước, được thể hiện ở hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật về ĐTXDCB nói chung và về đầu tư XDCB nội ngành tại KBNN nói riêng Khi hệ thống văn bản pháp luật về hoạt động ĐTXDCB sử dụng vốn ngân sách đầy đủ, cụ thể và thống nhất, sẽ là căn cứ hợp pháp giúp các nhà quản
lý nâng cao hiệu quả trong việc quản lý hoạt động XDCB
Trang 23Hoạt động ĐTXBCB có liên quan tới nhiều lĩnh vực do đó yêu cầu về tính thống nhất trong các văn bản pháp luật giữa các lĩnh vực được đặt lên hàng đầu Luật đất đai, Luật Xây dựng, Luật Ngân sách nhà nước, Các nghị định, Quyết định, Thông
tư, Chỉ thị của chính phủ, các bộ ngành và ở từng địa phương phải có sự thống nhất trong các quy định về hoạt động ĐTXDCB Khi các văn bản này không thống nhất với nhau, sẽ gây khó khăn trong quá trình thực hiện đầu tư cũng như gây khó khăn cho quá trình quản lý ( do không có căn cứ rõ ràng, chắc chắn để viện dẫn trong quá trình quản lý việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất hệ thống KBNN) Do đó để việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất hệ thống KBNN đạt được kết quả cao nhất cần có sự phối kết hợp nhịp nhàng giữa các ngành các cấp và thống nhất trong các văn bản quy định về đầu tư XDCB cũng như đầu tư phát triển nội ngành hệ thống KBNN
Tính đầy đủ, cụ thể là yêu cầu chung đối với tất cả các văn bản pháp luật, không chỉ đối với văn bản pháp luật về vấn đề ĐTXDCB Tuy nhiên, đây là hoạt động đầu tư phát triển cơ sở vật chất nội ngành của hệ thống KBNN, có sử dụng vốn ngân NSNN do vậy đòi hỏi phải có văn bản pháp luật quy định chi tiết, cụ thể hơn nữa đặc biệt là những văn bản được ban hành bởi cơ quan trực tiếp quản lý KBNN KBNN Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Chính, do vậy Bộ Tài Chính cần ban hành những văn bản cụ thể quy định hoạt động ĐTXDCB tại KBNN Trên cơ sở đó, cơ quan quản
lý KBNN trung ương và KBNN các cấp sẽ đưa ra chiến lược, kế hoạch ĐTXDCB tại đơn vị mình Ngoài ra cũng cần có cơ chế giám sát và quy định cụ thể các chế tài sử phạt các hình thức vi phạm trong quản lý các dự án ĐTXDCB
Mặt khác các quy định của nhà nước thường xuyên thay đổi, các công văn hướng dẫn việc thực hiện các quy định của nhà nước được chỉ đạo xuống các cấp, bộ ngành còn chậm Gây khó khăn cho vấn đề thực hiện theo quy định của nhà nước về đầu tư phát triển cơ sở vật chất của ngành
Thứ hai: Các điều kiện khách quan ảnh hưởng tới tiến độ thi công công trình
như thời tiết, khí hậu, khó khăn trong quy trình giải phóng mặt bằng… Một trong
những đặc điểm cơ bản của đầu tư phát triển là tiến hành ngoài trời, chụi ảnh hưởng nhiều của thời tiết, của điều kiện khí hậu nơi diễn ra hoạt động đầu tư Do đó việc thực hiện đầu tư trong điều kiện khí hậu xấu ảnh hưởng rất lớn tới tiến độ thi công công trình Đây là vấn đề khách quan, khó có thể đưa ra một biện pháp quản lý đem lại hiệu quả cao
Trang 24Đối với vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng Đây là một vấn đề lớn trong đầu
tư xây dựng, đặc biệt là những công trình xây dựng kho tàng, trụ sở của KBNN Khi quy trình giải phóng mặt bằng thuận lợi, nhanh chóng sẽ góp phần đẩy nhanh thời gian thi công thực hiện công trình Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, quy trình này gặp phải những trở ngại lớn Nguyên nhân là do quy trình đền bù, giải phóng mặt bằng chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của nhà nước và quyền của người
sử dụng đất đã được pháp luật công nhận; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế xã hội với lợi ích nhà đầu tư với lợi ích của người dân có đất bị thu hồi; không chấp hành đúng quy định của nhà nước về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư…
Thứ tư: Do biến động của nền kinh tế, nền kinh tế luôn biến đổi, đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay, nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với sự thay đổi và biến động của nền kinh tế thế giới, kinh tế nước ta cũng luôn luôn thay đổi Đi cùng với sự biến động của nền kinh tế, là sự biến động của giá cả nguyên vật liệu xây dựng công trình, sự biến động về giá cả trang thiết bị trang bị cho các kho tàng trụ sở của hệ thống KBNN giúp cho các CBCC trong toàn hệ thống thực hiện công việc quản lý của mình dễ dàng hơn, năng suất cao hơn, chất lượng công việc ở mức độ cao Mặt khác, cũng giống với đầu tư phát triển nói chung, đầu tư phát triển
cơ sở vật chất hệ thống KBNN cũng có thời gian thực hiện thi công kéo dài, do đó quá trình xây dựng sẽ chụi ảnh hưởng rất lớn của sự biến động giá cả trên thị trường Đây là một yếu tố khách quan, khó có thể dự đoán chính xác được Đây cũng là một yếu tố gây khó khăn cho việc đầu tư phát triển hệ thống KBNN
Trang 251.2.5.2 Nhân tố chủ quan
Thứ nhất: Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Qua phần tìm hiểu về đặc
điểm của đầu tư cơ sở vật chất nội ngành KBNN ở trên, ta thấy việc đầu tư phát triển
cơ sở vật chất hệ thống KBNN, chủ yếu là sự quản lý đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
hệ thống KBNN, đây chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư phát triển hệ thống KBNN, sự quản lý sử dụng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả và hiệu quả đầu tư cao nhất Chủ thể quản lý bao gồm Ban kiểm soát ĐTXDCB tại KBNN các cấp; Bộ Tài Chính và các cơ quan Nhà nước khác có thẩm quyền Trong tất cả các giai đoạn, hoạt động ĐTXDCB nội ngành tại KBNN đều chụi sự quản lý của các chủ thể quản lý Do vậy, nhân tố con người chính là nhân
tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả của quá trình đầu tư phát triển
cơ sở vật chất hệ thống KBNN
Trong quá trình thực hiện đầu tư phát triển cơ sở vật chất hệ thống KBNN, nhiệm vụ chủ yếu của KBNN là thực hiện chức năng quản lý quá trình đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất của nội ngành mình Việc quản lý được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của hoạt động đầu tư phát triển cơ sở vật chất nội ngành, bao gồm: Xây dựng chiến lược, lập kế hoạch, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư,
tổ chức thực hiện việc đầu tư xây dựng, kiểm tra, kiểm soát quá trình đầu tư phát triển Trong giai đoạn xây dựng chiến lược và lập kế hoạch đầu tư đòi hỏi nhà quản
lý phải có tầm nhìn chiến lược, phải xác định được mục tiêu của việc thực hiện dự án
và đề xuất những giải pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu đó Đối với cán bộ quản lý cấp cơ sở ( KBNN các cấp), việc xây dựng chiến lược và lập kế hoạch phải được thực hiện dựa trên chiến lược phát triển của hệ thống KBNN được nhà nước mà đại diện là Bộ tài chính ban hành
Đối với giai đoạn lập dự án đầu tư: Nhà quản lý có khả năng xem xét, chuẩn
bị, tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế- xã hội, điều kiện tự nhiên, môi trường pháp lý… trên cơ sở đó xây dựng một kế hoạch hoạt động phù hợp nhằm thực hiện một dự án đầu tư
Giai đoạn thẩm định dự án đầu tư, đây được coi là giai đoạn quan trọng nhất nhằm đánh giá tính hợp lý và tính hiệu quả của dự án, trên cơ sở đó ra quyết định có thực hiện dự án hay không Giai đoạn này đòi hỏi người quản lý phải có năng lực trình độ cao trong nhiều lĩnh vực: Kinh tế - kỹ thuật - môi trường, có khả năng phân
Trang 26tích tổng hợp và đánh giá để có thể đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn, mang lại hiệu quả cao nhất cho dự án đầu tư Quan việc thẩm định dự án mà có thể đưa ra quyết định dự án có được phép thực hiện hay không Do đó giai đoạn này là giai đoạn
có tính chất quyết định đối với việc dự án có được thực hiện hay không
Giai đoạn tổ chức thực hiện dự án: Ở giai đoạn này, vai trò quản lý của KBNN lại thể hiện ở trên một phương diện khác, vai trò của nhà quản lý được thể hiện trong việc lựa chọn nhà thầu xây dựng, thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện dự án; kiểm tra, giám sát trong từng công đoạn của quá trình xây dựng nhằm kiểm soát tốt chi phí thực hiện dự án; kiểm tra, giám sát trên tất cả các khía cạnh của dự án như: tiến độ thi công, thiết kế kỹ thuật, môi trường, sử dụng nguồn lực hợp lý, an toàn lao động để đạt được hiệu quả mục tiêu quản lý đề ra của dự án
Trong trường hợp ban quản lý KBNN không có đủ năng lực, khả năng trong việc lập dự án, kiểm tra, kiểm soát quá trình thực thi công trình thì có thể thuê các tổ chức tư vấn Khi đó vai trò của người quản lý ở đây thể hiện ở chỗ, phải thuê được các tổ chức tư vấn có năng lực, trình độ cao và có tư cách đạo đức tốt
Thứ hai: Tư cách đạo đức của nhà quản lý, một nhà quả lý tốt bên cạnh việc
có năng lực, trình độ tốt còn cần phải có tư cách đạo đức tốt Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư phát triển, là hoạt động sử dụng nguồn vốn lớn, thời gian thực hiện dài…hơn nữa các công trình xây dựng các trụ sở, kho tàng phục vụ cho hệ thống KBNN trong các nước, có sử dụng một phần là nguồn vốn NSNN, do đó việc thất thoát, lãng phí là những hiện tượng xảy ra phổ biến Điều này được xuất phát chủ yếu từ tư cách đạo đức của nhà quản lý Do đó đòi hỏi người cán bộ quản lý ngoài trình độ năng lực, kinh nghiệm công tác còn cần phải có tư cách đạo đức Tinh thần, trách nhiệm yếu kém của người lãnh đạo, của các công chức làm công tác quản lý tại chính KBNN và của các chủ thể khác trong thị trường Con người bị sa sút đạo đức thể hiện dưới dạng cửa quyền, đòi hối lộ, đưa đút lót, thông đồng móc ngoặc, gian lận… Đây được coi là cái mốc trong vấn đề thất thoát, lãng phí trong hoạt động đầu tư phát triển cơ
sở vật chất của hệ thống KBNN
Thứ ba: về quy trình nghiệp vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư phát triền cơ
sở vật chất nội ngành của KBNN Đây là cuốn cẩm nang để các cán bộ nghiệp vụ, các bộ phận tham gia quản lý, kiểm soát, cấp phát thanh toán các khoản chi vốn đầu
tư XDCB Quy trình nghiệp vụ khoa học, quy định rõ ràng từng công việc, từng bước
Trang 27thực hiện các thao tác quản lý, kiểm soát, cấp phát thanh toán vốn đầu tư sẽ tạo thuận lợi cho nghiệp vụ của các cán bộ nghiệp vụ
Một trong những vai trò quan trọng của quy trình kiểm soát thanh toán vốn là giảm thất thoát lãng phí trong đầu tư Một trong những đặc điểm của đầu tư xây dựng
cơ bản là thời kỳ đầu tư kéo dài, quy mô vốn, vật tư, lao động cần cho hoạt động đầu
tư phát triển thường rất lớn Do đó nếu không có sự quản lý và kiểm soát vốn tốt sẽ dẫn tới những thất thoát lãng phí lớn trong đầu tư, đặc biệt đối với nước ta hiện nay, nguồn vốn là cực kỳ khan hiếm Qua hoạt động kiểm soát vốn mỗi năm KBNN đã từ chối thanh toán một lượng VĐT tương đối lớn, tiết kiệm cho nhà nước trung bình gần bốn nghìn tỷ đồng mỗi năm Qua kiểm soát thanh toán cũng đã tác động mạnh mẽ tới công tác quản lý dự án của chủ đầi tư, các bộ ngành và các cấp có liên quan góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thanh toán VĐT của nhà nước Bên cạnh đó việc từ chối thanh toán VĐT cũng làm tăng tính pháp lý trong hoạt động thanh toán vốn đầu tư, tiết kiệm vốn đầu tư cho những dự án mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, giảm thất thoát lãng phí và đầu tư dàn trải, đầu tư trọng tâm trọng điểm và thực hiện đầu tư có hiệu quả
Thứ tư: Các trang thiết bị, phương tiện làm việc, các trang thiết bị, phương
tiện làm việc ở đây bao gồm cả các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, các trang thiết bị tại làm việc phục vụ cho công tác quản lý của các cán bộ công chức thuộc KBNN Những trang thiết bị này góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng quản lý của KBNN Việc đầu tư trang thiết bị phục
vụ cho công việc của các cán bộ KBNN được thường xuyên nâng cấp, đặc biệt trong thời gian gần đây, KBNN đã chú trọng đầu tư cho các phần mền, tin học hóa, trang bị máy móc thiết bị, đẩy mạnh quá trình tin học hóa, hiện đại hóa hệ thống KBNN Vừa qua, việc áp dụng tin học hóa, (chương trình DTKB/ WAN ) mới được xây dựng và đưa vào vận hành thử nghiệm tại Sở Giao dịch và 3 KBNN tỉnh (các tỉnh còn lại vẫn thực hiện chương trình cũ (ĐTKB/LAN), tuy vậy chương trình mới chưa ổn định, còn chưa đảm bảo các yêu cầu của công tác quản lý đầu tư hàng năm của hệ thống KBNN nói chung và việc quản lý đầu tư phát triển cơ sở vật chất nội ngành nói riêng, chưa đáp ứng được trong công tác báo cáo cũng như quyết toán vốn đầu tư hàng năm tại KBNN, vì vậy chương trình này cần được nghiên cứu, hoàn thiện Trong tương lai khi vận hành hệ thống TABMIS đòi hỏi việc quản lý của hệ thống
Trang 28KBNN phải thay đổi cho phù hợp và giao diện được với hệ thống và đảm báo các yêu cầu về công tác báo cáo cũng như quyết toán VĐT hàng năm
Trang 291.2.6 Tình hình đầu tư phát triển cơ sở vật chất hệ thống KBNN
Qua 15 năm hoạt động, Kho bạc Nhà nước Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, từng bước ổn định và phát triển, cùng với toàn ngành tài chính đạt được nhiều kết quả tích cực trong hoạch định chính sách, quản lý phân phối nguồn lực của đất nước, góp phần tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao Có thể khẳng định rằng hệ thống KBNN đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia thông qua những kết quả cụ thể trong việc tập trung nhanh, đầy đủ nguồn thu cho NSNN, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, thực hiện các chính sách xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng; Huy động một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển; Kế toán, thông tin Kho bạc nhà nước đã đảm bảo cung cấp thông tin nhanh, chính xác về tình hình thu chi ngân sách phục vụ sự chỉ đạo điều hành của các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương, góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng quản lý, hiệu quả sử dụng NSNN
Những kết quả đã đạt được qua quá trình hình thành và phát triển KBNN đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong công cuộc đổi mới ngành tài chính tiền tệ KBNN đã phát triển đúng định hướng, từng bước xác lập vai trò, vị thế của mình trong hệ thống quản lý tài chính ngân sách nhà nước
Để đảm bảo KBNN thực hiện được chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và
Bộ Tài chính giao, trước tiên kho bạc nhà nước cần đầu tư trang bị đầy đủ cơ sở vật chất để phục vụ công tác của các cán bộ KBNN
1.2.6.1 Khái quát chung về tình hình đầu tư phát triển cơ sở vật chất hệ thống KBNN từ những ngày đầu thành lập cho tới nay
Khi mới thành lập, cơ sở vật chất nói chung, trụ sở làm việc nói riêng của ngành
rất đơn sơ, nghèo nàn Các đơn vị Kho bạc hầu hết thuê địa điểm làm việc Qua quá trình đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng kho tàng, trụ sở làm việc 19 năm qua (1990-2009), đến nay hầu hết các đơn vị Kho bạc Nhà nước đã có kho tàng, nơi làm việc, giao dịch với khách hàng (trừ một số nơi Kho bạc mới được thành lập do việc tách địa giới hành chính)
Trong giai đoạn đầu từ năm 1990 đến năm 1993 do nguồn vốn đầu tư còn eo hẹp
do vậy các KBNN cấp huyện được xây dựng chủ yếu là nhà 1 tầng, cấp 4, một số tuy xây 2 tầng nhưng cũng chỉ có từ 200 ~ 300 m2 sàn Từ năm 1994 đến năm 1999, các Kho bạc cấp tỉnh cũng chỉ được triển khai xây mới và cải tạo, mở rộng với qui mô từ
Trang 301.200 ~ 2.000 m2 sàn, các Kho bạc quận, huyện chủ yếu được xây dựng với qui mô
320 m2 sàn, 360 m2 sàn và chỉ một số ít được triển khai với qui mô 420 m2 sàn
Từ năm 2000 đến nay cùng với vốn đầu tư tập trung của NSNN, KBNN đã dành ra từ các nguồn quĩ phát triển của ngành để đầu tư xây dựng mới, cải tạo mở rộng KBNN cấp tỉnh và cấp quận huyện Vốn đầu tư đã được KBNN chú trọng và tăng dần tổng mức qua các năm Nguồn vốn tuy không lớn nhưng do có sự quan tâm sắp xếp hợp lý, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm theo chiến lược và qui hoạch phát triển chung của ngành nên cơ bản đã đảm bảo tốt được việc phục vụ cho các cơ quan, đơn vị giao dịch trên toàn quốc và sự điều hành chung của Bộ Tài chính và Chính phủ
Để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Bộ Tài chính giao, Kho bạc Nhà nước cũng đã quan tâm đầu tư trang bị tương đối đầy đủ và đồng bộ các tài sản, phương tiện, dụng cụ để hoạt động, bao gồm: hệ thống trụ sở, kho tàng và cơ sở hạ tầng; hệ thống thiết bị chiếu sáng bảo vệ; hệ thống báo động, báo cháy, các phương tiện vận chuyển; thiết bị kho quỹ; két sắt, máy đếm tiền, đèn kiểm tra tiền, xe đẩy và các công cụ hỗ trợ như: súng hơi cay, roi điện, bình xịt…; hệ thống thiết bị tin học, thông tin liên lạc và các tài sản phục vụ công tác chung như: máy phát điện, máy photocopy, điều hòa không khí, bàn ghế, tủ tài liệu và các tài sản phục vụ công tác chuyên môn khác
Bảng 1: Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hệ thống KBNN giai đoạn 2005 - 2009
Vốn đầu tư CTMR, nâng cấp 86000 185000 50000 89297 7200
Nguồn: Ban tài vụ - quản trị
Qua bảng số liệu về đầu tư CSHT của hệ thống KBNN, ta thấy nguồn vốn đầu
tư tăng lên qua các năm, đặc biệt là năm 2007, tốc độ tăng nguồn vốn đầu tư là 59,46% ( tăng 221584 triệu đồng, từ 372663 triệu đồng năm 2006 lên tới 401150 triệu đồng năm 2007) Qua bảng số liệu ta thấy tình hình đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng kho tàng, trụ sở cho hệ thống KBNN thực sự đang quan tâm trong thời gian vừa
Trang 31qua Số lượng và chất lượng các kho tàng, trụ sở của hệ thống KBNN trong cả nước
Nguồn: Ban tài vụ - quản trị
Qua bảng số liệu ta thấy vốn đầu tư cho trang bị tài sản cho hệ thống KBNN ngày càng tăng qua các năm Đặc biệt trong năm 2007 nguồn vốn đầu tư cho trang thiết bị lên tới 317283 triệu đồng, trong đó vốn đầu tư cho mua sắm tài sản mới là
312283 triệu đồng, vốn đầu tư cho sửa chữa tài sản là 5000 triệu đồng Do giai đoạn này số công trình được xây dựng mới và sửa chữa, nâng cấp trong hệ thống các KBNN từ trung ương tới địa phương chiếm con số lớn nhất ( xây dựng mới 37 công trình; cải tạo sửa chữa 43 công trình ) do vậy nguồn vốn dành cho trang thiết bị tài sản cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất
1.2.6.2 Tình hình đầu tư phát triển kho tàng, trụ sở của hệ thống KBNN giai đoạn 2005-2009
Xuất phát từ tính chất và đặc điểm hoạt động của KBNN, trụ sở làm việc của các KBNN phải đảm bảo các nhu cầu về: nơi làm việc cho cán bộ công chức viên chức, nơi giao dịch với khách hàng, kho tiền an toàn vững chắc, kho lưu trữ chứng
từ, kho bảo quản các chứng chỉ có giá, vàng bạc, kim khí…; có đủ diện tích để bố trí
hệ thống thiết bị (thiết bị vi tính, trung tâm lưu trữ, xử lý số liệu, truyền tin, quản trị mạng…), phòng lớp đào tạo huấn luyện, phòng họp giao ban, họp khách hàng, hội thảo… Yêu cầu về trụ sở của Kho bạc Nhà nước phải đảm bảo tuyệt đối an toàn, qui
mô phù hợp với các qui định chung của Nhà nước và hoạt động đặc thù của ngành theo xu hướng hiện đại hóa
Như đã phân tích ở trên, quản lý đầu tư xây dựng nội ngành KBNN, việc trước tiên là phải xây dựng chiển lược và kế hoạch đầu tư Chiến lược và kế hoạch đầu tư phải phù hợp và phục vụ chiến lược kế hoạch hoạt động của KBNN Những chiến lược và kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản hệ thống KBNN bao gồm số lượng các
Trang 32công trình đầu tư xây dựng, kế hoạch thực hiện tiến trình đầu tư, kế hoạch chi phí các công trình đầu tư… Cụ thể:
Quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bản hệ thống KBNN giai đoạn 2006 – 2010
Việc xây dựng quy hoạch của KBNN dựa trên các nguyên tắc:
- Quan điểm đầu tư: Một lần, tập trung, dứt điểm, không dàn trải; đảm bảo tới năm 2010 trụ sở làm việc và giao dịch của các đơn vị được đầu tư đồng bộ, cơ bản đảm bảo diện tích và điều kiện làm việc theo quy định của Nhà nước và
Bộ Tài Chính
- Nguyên tắc lập quy hoạch:
Đầu tư xây dựng mới với các trường hợp: Các đơn vị chưa có trụ sở làm việc ( mới thành lập, đang ở chung, thuê trụ sở…); các đơn vị đã đầu tư từ năm 1999 trở về trước, có quy mô nhà chính < 60% quy mô tiêu chuẩn tối thiểu nhưng không có điều kiện mở rộng: đấp hẹp, kết cấu cũ và không cho phép; các đơn vị phải di chuyển do thay đổi quy hoặch, thiên tai…
Đầu tư cải tạo mở rộng với các trường hợp: Chỉ đưa vào quy hoạch đầu tư cải tạo mở rộng các công trình có quy mô< 80 % quy mô tiêu chuẩn tối thiểu; Hoàn chỉnh các hạng mục phụ trợ ( nhà phụ, sân đường, tường rào, cổng, bế cứu hỏa, gara
- XD mới 2006 - 2010: 104 công trình (1 TW, 12 tỉnh, 90 huyện, 1 khác)
- CTMR, nâng cấp, phụ trợ : 150 công trình (11 tỉnh, 135 huyện, 4 khác)
- Dự phòng (thành lập mới, di chuyển): 21 công trình (21 huyện)
Gồm: + 01 dự án thuộc TW (Quản trị toà nhà 32 Cát Linh )
+ 23 KBNN cấp tỉnh, Thành phố trực thuộc TW
+ 246 KBNN cấp Quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh, Thành phố
+ 5 loại hình khác: 3 điểm thu, 1 kho lưu trữ tập trung, 1 trung tâm đào tạo
Trang 33Về nguồn vốn đầu tư:
Tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2006 - 2010 được Bộ Tài chính phê duyệt:
2 050 tỷ đồng, trong đó:
- Thực hiện quy hoạch đầu tư XDCB hệ thống Kho bạc Nhà nước giai đoạn 2006 -
2010: 1 083 tỷ đồng, gồm:
+ 103 công trình xây dựng mới (1 TW, 12 tỉnh, 90 huyện)
+ 150 công trình cải tạo, mở rộng (11 tỉnh, 135 huyện, 4 khác)
- Hoàn thành các công trình đang xây dựng dở dang, chuyển tiếp sang năm 2006, vốn
bố trí: 527 tỷ đồng
- Thực hiện Đầu tư Trung tâm bồi dưỡng cán bộ ngành Tài chính với vốn bố trí giai
đoạn 2006-2010: 350 tỷ đồng
- Dự phòng cho các trường hợp: mới thành lập, di chuyển; phòng ngừa thiên tai, thảm
hoạ; quy hoạch lại khu Trung tâm hành chính; trường hợp bất khả kháng khác: 90 tỷ
Cụ thể theo quy hoạch nguồn vốn đầu tư cho đầu tư xây dựng cơ bản của hệ thống
KBNN giai đoạn 2006-2010 như sau:
Bảng 3: Quy hoạch XDCB hệ thống KBNN giai đoạn 2006 – 2010
Đơn vị: Triệu đồng
Tổng vốn đầu tư 380000 400000 400000 300000 220000 1700000 Xây dựng mới 268200 247100 205200 48000 30500 799000 CTMR, nâng cấp, phụ cấp 51700 72400 66000 48400 27500 266000 XDDD chuyển sang 55100 5520 117700 145000 142000 525000
Nguồn: Ban tài vụ - quản trị
Qua bảng số liệu ta thấy :
Giai đoạn 2006 – 2008 quy hoạch VĐT cho xây dựng cơ bản liên tục tăng (do giai đoạn dự báo có nhiều biến động về giá cả nguyên vật liệu Mặt khác giai đoạn này đang triển khai xây dựng nhiều trụ sở KBNN mới ở các tỉnh )
Đặc biệt trong năm 2006 triển khai xây dựng dự án thuộc TW ( Toà nhà 32 Cát Linh trên 300000 triệu đồng và Quản trị toà nhà 32 Cát Linh với số VĐT là
70000 triệu đồng ) Được đầu tư xây dựng mới và đưa vào sử dụng cuối năm 2008 với qui mô 24 000 m2 sàn được bố trí TTDL của hệ thống và trang bị hệ thống công nghệ để quản trị toà nhà
Trang 34Trong giai đoạn vừa qua nguồn vốn quy hoạch chủ yếu cho xây dựng mới, nguồn vốn cho xây dựng mới là 799 000 triệu đồng gấp gần 3 lần nguồn vốn dành cho CTMR, nâng cấp, phụ trợ (266000 triệu đồng)
Theo quy hoạch phát triển cơ sở vật chất giai đoạn 2006-2009 của hệ thống KBNN số dự án và công trình được xây dựng mới và cải tạo mở rộng từ trung ương
tới địa phương là:
Bảng 4: Số dự án quy hoạch thực hiện xây dựng mới trong giai đoạn 2006-2010
Nguồn: Ban tài vụ - quản trị
Bảng 5:Số dự án quy hoạch thực hiện xây dựng mở rộng, nâng cấp trong giai
Nguồn: Ban tài vụ- quản trị
Qua bảng 3 và 4 ta thấy theo quy hoạch hàng năm trung bình có khoản 30 dự
án được xây dựng và mở rộng Chất lượng các công trình được nâng cấp về tiêu chuẩn, quy mô và diện tích Với điều kiện cơ sở vật chất những ngày đầu còn nhiều khó khăn, cùng với sự phát triển của hệ thống KBNN, cơ sở hạ tầng phục vụ cho các